Tải bản đầy đủ (.doc) (17 trang)

Bài thu hoạch môn Xã hội học trong lãnh đạo quản lý

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (173.45 KB, 17 trang )

MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU............................................................................................2
B. NỘI DUNG........................................................................................3
I. KHÁI NIỆM DƯ LUẬN XÃ HỘI:.................................................3
II. CÁC TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA DƯ LUẬN XÃ HỘI:.............3
1. Tính khuynh hướng:....................................................................3
2. Tính lợi ích:.................................................................................4
3. Tính lan truyền: ..........................................................................6
4. Tính bền vững tương đối và tính dễ biến đổi:.............................7
a) Tính bền vững tương đối:........................................................7
b) Tính biến đổi của dư luận xã hội:...........................................7
5. Tính tương đối trong khả năng phản ánh thực tế xã hội của dư
luận xã hội:................................................................................................8
III. TÁC ĐỘNG CỦA DƯ LUẬN XÃ HỘI ĐẾN Ý THỨC PHÁP
LUẬT:...........................................................................................................9
1. Tác động của dư luận xã hội đến hệ tư tưởng pháp luật:............9
2. Tác động của dư luận xã hội đến tâm lý pháp luật: ..................10
IV. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỊNH HƯỚNG DƯ
LUẬN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY:................................................11
1. Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
định hướng dư luận xã hội:......................................................................11
2. Nâng cao chất lượng nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội:.......12
3. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng năng lực định hướng dư luận xã
hội cho cán bộ truyền thông và cán bộ làm công tác dư luận xã hội:.....13
4. Phối hợp đồng bộ, chặt chẽ các phương tiện truyền thông trong
định hướng dư luận xã hội:......................................................................14
5. Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, hạn chế nhận
thức sai lệch và loại bỏ các tin đồn nhảm, kích động, chia rẽ:................14
C. KẾT LUẬN......................................................................................16
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................17



2

A. MỞ ĐẦU
Trong công tác tư tưởng của Đảng, dư luận xã hội vừa là một xuất phát
điểm, vừa là một mục tiêu cần đạt tới. Kết quả nghiên cứu dư luận xã hội
không chỉ là một trong những căn cứ để xây dựng chủ trương, xác định giải
pháp công tác tư tưởng cũng như công tác lãnh đạo, quản lý xã hội, mà còn là
một trong những cơ sở của việc định hướng dư luận xã hội. Định hướng dư
luận xã hội nhằm thúc đẩy dư luận xã hội lành mạnh, tích cực phát triển theo
xu hướng đồng thuận với lợi ích của nhân dân, của quốc gia - dân tộc là một
trong những mục đích của cơng tác tư tưởng và là nhiệm vụ quan trọng của
các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đồn thể nhân dân.
Sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với
nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu làm cho cơ cấu xã hội ngày
càng đa dạng. Sự phân hóa về giai tầng xã hội, về thu nhập và mức sống gia
tăng, theo đó sự phân hóa về lợi ích, sự đa dạng về tư tưởng, quan điểm cũng
ngày một phát triển hơn. Sự khác biệt trong nhận thức, nhất là trong phán xét
đánh giá về các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội của các giai tầng, các
nhóm xã hội, các tổ chức xã hội sẽ gia tăng và phát triển như một xu hướng
tất yếu.
Trong điều kiện bùng nổ thông tin, sự phát triển mạnh mẽ của các
phương tiện truyền thông mới và mạng xã hội, công chúng tiếp xúc với nhiều
luồng thơng tin đa dạng, đa chiều. Trong đó, có những thơng tin trái chiều,
thất thiệt từ các thế lực thù địch, nhưng cịn một bộ phận cơng chúng “miễn
dịch” chưa được, chưa đủ sáng suốt để đánh giá sự đúng - sai, thật - giả trong
các luồng thông tin ấy.
Đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin, tun truyền cịn hạn chế năng
lực định hướng thơng tin. Đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu, định
hướng dư luận xã hội còn thiếu kỹ năng nghiên cứu, nắm bắt, phân tích, dự

báo xu hướng vận động của dư luận xã hội, đặc biệt là khả năng phối hợp với
những người làm công tác truyền thông tại các cơ quan trong hệ thống chính
trị để định hướng dư luận xã hội.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, cần tạo ra dư luận xã hội nhằm thực
hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Dư luận
xã hội là nguồn thông tin công cộng rất cần cho việc phát hiện vấn đề và
phương án để giải quyết vấn đề. Do đó em chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả
định hướng dư luận xã hội ở nước ta hiện nay” làm bài thu hoạch cho môn
học Xã hội học trong lãnh đạo, quản lý.

Nguyễn Xuân Chiến

Lớp CCLLCT K71-C13


3
B. NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM DƯ LUẬN XÃ HỘI:

Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến, thái độ có tính chất phán xét, đánh
giá của các nhóm xã hội hay của xã hội nói chung trước những vấn đề mang
tính thời sự, có liên quan tới lợi ích chung, thu hút được sự quan tâm của
nhiều người và được thể hiện trong các nhận định hoặc hành động thực tiễn
của họ. Về chủ thể của dư luận xã hội chính là cộng đồng người haynhóm
người mang dư luận xã hội. Đặc biệt chúng ta cần chú ý phân biệt dư luận xã
hội với tin đồn để tránh sự nhầm lẫn. Tin đồn cũng là hiện tượng tâm lí xã hội
nhưng khác với dư luận xã hội, tin đồn không phải là sản phẩm của tư duy
phán xét của cá nhân mang nó. Tin đồn chỉ là tin tức về sự việc, sự kiện hay
hiện tượng có thể có thật, có thể khơng có thật hoặc chỉ có một phần sự thật
được lan truyền từ người này sang người khác. Tin đồn là dạng thơng tin

khơng chính thức, chưa được kiểm chứng về sự trung thực và chủ thể thường
không được xác định rõ ràng. Tin đồn lan càng xa thì nội dung của nó càng
khác so với nội dung ban đầu. Ngược lại, dư luận xã hội là sản phẩm của tư
duy phán xét của cá nhân mang nó. Dư luận xã hội thể hiện quan điểm thái độ
của cá nhân mang nó trước các sự 2 kiện, hiện tượng vấn đề mà cá nhân đó
quan tâm và dư luận xã hội lan càng rộng thì càng có xu hướng thống nhất về
nội dung phán xét hoặc tích tụ lại thành vài hướng cơ bản.
II. CÁC TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA DƯ LUẬN XÃ HỘI:

1. Tính khuynh hướng:
Thái độ chung của dư luận xã hội đối với mỗi sự kiện, hiện tượng, q
trình xã hội có thể khái quát theo các khuynh hướng nhất định gồm tán thành,
phản đối hay lưỡng lự (chưa rõ thái độ). Cũng có thể phân chia dư luận xã hội
theo các khuynh hướng như tích cực hoặc tiêu cực; tiến bộ hoặc lạc hậu… Ở
mỗi khuynh hướng, thái độ tán thành hoặc phản đối lại có thể phân chia theo
các mức độ cụ thể như rất tán thành, tán thành, lưỡng lự, phản đối, rất phản
đối.
Tính khuynh hướng cũng biểu thị sự thống nhất hay xung đột của dư
luận xã hội. Xét theo các mức độ tán thành hoặc phản đối được nêu ở trên,
nếu đồ thị phân bố dư luận xã hội có dạng hình chữ U thì biểu thị sự xung đột;
còn nếu đồ thị phân bố dư luận xã hội có dạng hình chữ J thì biểu thị sự thống
nhất. Đồ thị phân bố dư luận xã hội có dạng hình chữ U khi trong xã hội có
hai loại quan điểm mâu thuẫn, đối lập nhau về cùng một sự kiện, hiện tượng,

Nguyễn Xuân Chiến

Lớp CCLLCT K71-C13


4

q trình xã hội nào đó đềucó tỉ lệ số người ủng hộ cao. Ví dụ: Nhiều ý kiến
trái chiều xung quanh đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu. Theo Điều 187, Bộ luật Lao
động hiện hành quy định nam 60 tuổi nghỉ hưu, nữ 55 tuổi, trừ một số lao
động ở ngành, lĩnh vực đặc thù. Theo đề xuất của Bộ LĐ-TB&XH liên quan
tới việc tăng tuổi nghỉ hưu cho người lao động có trình độ chun mơn cao,
người làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt thêm 5 năm so
với quy định hiện hành. Ngoài phương án tăng tuổi nghỉ hưu cho cả nam và
nữ thêm 5 năm để áp dụng từ ngày 1-1-2014, Bộ LĐ-TB&XH cũng đề xuất
phương án hai:
Tăng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ theo lộ trình. Hai phương án này
đang được Bộ đưa ra lấy ý kiến và nhận được nhiều phản hồi trái chiều. Một
mặt dư luận rất ủng hộ việc triển khai thực hiện đề xuất này. Việc tăng tuổi
nghỉ hưu cho NLĐ đặc biệt là nữ giới sẽ góp phần tận dụng được nguồn lao
động có trình độ, chất lượng và kinh nghiệm công tác, đồng thời việc tăng
tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ sẽ tạo ra sự bình đẳng giới trong xã hội.
Bên cạnh những ý kiến đồng thuận từ cấp quản lý tới người dân thì cũng có
khơng ít ý kiến cho rằng tăng tuổi nghỉ hưu đồng nghĩa với việc tăng “gánh
nặng” lên người lao động, đồng nghĩa với việc người trẻ bị giảm cơ hội việc
làm. Mặt khác, ở một số lĩnh vực, người lao động chưa hẳn đã muốn tăng thời
gian làm việc. Chẳng hạn, người lao động trực tiếp sản xuất, nếu đã lớn tuổi
thì tay yếu, mắt kém, hiệu quả làm việc khơng cao. Do đó, tăng tuổi nghỉ hưu
không chỉ tạo áp lực cho người lao động mà còn tạo gánh nặng cho cả đơn
vị sử dụng lao động do phải trả lương cao nhưng nhận lại hiệu quả lao động
thấp. Còn khi đồ thị phân bố dư luận xã hội có dạng hình chữ J thì chỉ có một
loại quan điểm (tán thành hoặc phản đối) có tỉ lệ số người ủng hộ cao mà thơi,
điều đó thể hiện sự thống nhất cao trong dư luận xã hội. Chẳng hạn trong thời
gian vừa qua, trên mạng lại xuất hiện sê-ri ảnh giết khỉ tàn bạo của một thanh
niên Quảng Nam. Những hình ảnh khiến người xem phải “rợn tóc gáy” vì
mức độ kinh khủng và dã man của nó. Vẻ mặt vơ tâm của thanh niên này
nhanh chóng trở thành đề tài bàn luận trong giới trẻ. Trước hiện tượng này

khơng có nhiều luồng dư luận trái chiều mà đại đa số dư luận đều phản đối và
lên án kịch liệt.
2. Tính lợi ích:
Như đã phân tích ở trên, để trở thành đối tượng của dư luận xã hội thì
các sự kiện, hiện tượng xã hội đang diễn ra phải có mối quan hệ mật thiết với
lợi ích của các nhóm xã hội khác nhau trong xã hội. Tính lợi ích của dư luận
xã hội được nhìn nhận trên hai phương diện đó là lợi ích vật chất và lợi ích

Nguyễn Xuân Chiến

Lớp CCLLCT K71-C13


5
tinh thần. Lợi ích vật chất được nhận thức rõ nét khi các hiện tượng trong diễn
ra trong xã hội có liên quan chặt chẽ đến hoạt động kinh tế và sự ổn định cuộc
sống của đông đảo người dân. Ví dụ như vấn đề tăng giá điện: Theo quyết
định số 24/2011/QĐTTg của thủ tướng Chính phủ thì Tập đồn Điện lực Việt
Nam (EVN) được điều chỉnh giá bán điện theo cơ chế thị trường. Thực hiện
quyết định trên, trong năm 2011 giá bán điện bình quân đã được điều chỉnh
hai lần (từ ngày 01/3/2011 giá bán điện tăng thêm 15,28% tương đương 165
đồng/kwh so với năm 2010 và từ ngày 20/12/2011 tăng thêm 5% tương đương
62 đồng/kwh). Đặc biệt việc giá điện tăng đột ngột vào ngày 20/12/2011
khiến dư luận khơng khỏi bất bình bởi việc tăng giá điện bất ngờ vào thời
điểm cuối năm là thời điểm “nhạy cảm” - thời điểm mà chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) thường ở mức cao, sẽ có tác động mạnh, kéo theo sự tăng giá của các
loại hàng hóa khác. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân
mà cụ thể là tác động đến các lợi ích về kinh tế. Đồng thời lí do mà EVN đưa
ra để giải thích cho việc tăng giá điện là để bù lỗ cho chi phí sản xuất cũng
khơng được dư luận ủng hộ bởi sự thiếu công khai, minh bạch trong việc

kê khai các chi phí.
Lợi ích tinh thần được đề cập khi các vấn đề, các sự kiện đang diễn ra
đụng chạm đến hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội, các phong tục tập
quán, khuôn mẫu hành vi ứng xử văn hóa của cộng đồng xã hội hoặc của cả
dân tộc. Ví dụ trong thời gian gần đây, xuất hiện vụ việc “dẫm chân lên đầu
rùa” tại Văn Miếu của nam sinh Mai Trung Kiên. Chỉ một vài giờ sau khi hình
ảnh này được lan truyền trên mạng đã có hơn 500 lượt người chia sẻ cùng
hàng nghìn bình luận với nội dung lên án hành vi vô học, thiếu suy nghĩ của
bạn trai này. Chưa đầy hai giờ đồng hồ sau, 5 “tung tích” của người pose
những bức ảnh “khiêu khích” này cũng được dân mạng truy tìm ra. Tuy nhiên
cần phải hiểu rằng lợi ích mới chỉ là điều kiện cần để thúc đẩy việc tạo ra dư
luận xã hội. Điều kiện đủ ở đây chính là sự nhận thức của các nhóm xã hội
về lợi ích của mình và mối quan hệ giữa chúng với các sự kiện, hiện tượng,
quá trình xã hội đang diễn ra. Cần lưu ý rằng:
- Thứ nhất, bản thân nhận thức về lợi ích là một tiến trình biến đổi và
phát triển giữa tính cá nhân và tính xã hội; giữa tính vật chất và tính tinh
thần; giữa tính trước mắt và tính lâu dài.
- Thứ hai, q trình trao đổi, thảo luận ý kiễn để dẫn đến dư luận xã hội
là quá trính giải quyết mâu thuẫn lợi ích. Trong cơng việc này, nhóm xã hội
nào có tổ chức tốt thành lực lượng thì nhóm xã hội đó sẽ thành công hơn
trong việc bảo vệ quan điểm, lợi ích của mình và ngược lại.

Nguyễn Xuân Chiến

Lớp CCLLCT K71-C13


6
3. Tính lan truyền:
Dư luận xã hội được coi là biểu hiện của hành vi tập thể. Mà cơ sở của

bất kì hành vi tập thể nào cũng là hiệu ứng phản xạ quay vịng, trong đó khởi
điểm từ cá nhân hay nhóm xã hội nhỏ sẽ gây nên chuỗi các kích thích của cá
nhân khác, nhóm xã hội khác. Để duy trì được chuỗi kích thích này ln cần
có các nhân tố tác động lên cơ chế hoạt động và tâm lí của các cá nhân và
nhóm xã hội. Đối với dư luận xã hội, các nhân tố tác động đó có thể được coi
là các thơng tin bằng các hình ảnh, âm thanh sống động, trực tiếp, có tính thời
sự. Dưới tác động của các luồng thơng tin này, các nhóm cơng chúng khác
nhau sẽ cùng được lơi cuốn vào quá trình bày tỏ sự quan tâm của mình thơng
qua các hoạt động trao đổi, bàn bạc, tìm kiếm thơng tin, cùng chia sẻ trạng
thái tâm lí của mình với những người xung quanh.
Chúng ta 6 có thể theo dõi và ghi nhận được ảnh hưởng của các luồng
thông tin đến các hành động quan tâm của công chúng. Khi đó, sự hình thành
mạnh mẽ và lan truyền nhanh chóng của dư luận xã hội được thể hiện rất rõ
nét.
Ví dụ sau đây có thể minh chứng rõ nét cho tính lan truyền của dư luận
xã hội: Ngày 13/10/2011, tại một khu chợ thuộc thành phố Phật Sơn, tỉnh
Quảng Đông, Trung Quốc, bé Yue Yue (2 tuổi) bị hai chiếc xe tải lần lượt cán
qua và đã có 18 người đi qua hiện trường nhưng không một ai dừng lại giúp
đỡ cô bé. Sự việc đã được một camera an ninh ghi hình lại và được phát trên
sóng Đài truyền hình Phương Nam, Quảng Đơng vào ngày 17/10. Ngay sau
khi được phát sóng, đoạn băng đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo
người dân Trung Quốc nói riêng cũng như các quốc gia khác. Các bản tin thu
lại của đài truyền hình được phát lại trên trang truyền hình Internet của mạng
Youku thu hút được hơn 2 triệu lượt xem chỉ trong mấy giờ đồng hồ đồng thời
được chia sẻ và bình luận trên các trang mạng xã hội của Trung Quốc như trên
trang Sina Weibo với 4,4 triệu bình luận. Khơng chỉ giới hạn trên lãnh thổ
Trung Quốc, thông tin này đã được nhiều trạng tin thế giới đưa tin như CNN,
People’s Daily… và trên các mạng xã hội như facebook, twitter…
Như vậy có thể thấy rằng dưới tác động của các phương tiện truyền
thông, từ một vụ việc xảy ra ở thành phố Phật Sơn đã nhanh chóng lan truyền

trong xã hội, thu hút được sự quan tâm của đông đảo người dân Trung Quốc,
dẫn đến sự hình thành và lan truyền mạnh mẽ của các luồng dư luận bàn về
đạo đức xã hội của người Trung Quốc trong xã hội hiện đại. Vụ việc của bé
Yue Yue đã khiến dư luận Trung Quốc hết sức phẫn nộ và lên án gay gắt sự

Nguyễn Xuân Chiến

Lớp CCLLCT K71-C13


7
thờ ơ, vô cảm của những người đi đường đã bỏ mặc em bé nói riêng cũng như
sự lãnh đạm, sự xuống dốc của các giá trị đạo đức trong xã hội nói chung.
4. Tính bền vững tương đối và tính dễ biến đổi:
a) Tính bền vững tương đối:
Dư luận xã hội vừa có tính bền vững tương đối vừa có tính dễ biến đổi.
Có những dư luận xã hội chỉ qua một đêm là thay đổi nhưng cũng có những
dư luận xã hội qua hàng thập niên vẫn không thay đổi. Tính bền vững tương
đối của dư luận xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố đặc biệt đối với những sự
kiện, hiện tượng hay các quá trình quen thuộc, dư luận xã hội thường rất bền
vững. Ví dụ như trong số các nhân vật trong lịch sử thế giới hiện đại, Adolf
Hitler có lẽ là cái tên được nhiều người quan tâm nhất, là kẻ gây ra bao tội ác
ghê tởm, gieo rắc bao nỗi kinh hoàng cho người do thái, và làm thay đổi
tiến trình của nhân loại. Trải qua bao nhiêu năm hành động này của Hitler vẫn
luôn bị dư luận lên án dẫn đến các cuộc đấu tranh địi lại cơng lí cho các nạn
nhân.
b) Tính biến đổi của dư luận xã hội:
Tính biến đổi của dư luận xã hội thường được xem xét trên hai phương diện sau:
- Thứ nhất, biến đổi theo không gian và mơi trường văn hóa: Sự phán
xét, đánh giá của dư luận xã hội về bất kỳ sự kiện, hiện tượng hay quá trình

xã hội nào cũng phụ thuộc vào hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội đang
tồn tại trong nền văn hóa của cộng đồng người. Với cùng sự việc, sự kiện xảy
ra, dư luận xã hội của các cộng đồng người khác nhau lại thể hiện sự phán
xét, đánh giá khác nhau. Chẳng hạn tại một số quốc gia như Thái
Lan, Singapore… mại dâm được coi là một nghề nghiệp khơng bị pháp luật
cấmdo đó những người hành nghề mại dâm không hề bị dư luận lên án. Còn
tại Việt Nam, mại dâm được coi là hành vi trái pháp luật, vi phạm chuẩn
mực đạo đức, đi ngược lại lợi ích của người phụ nữ do đó bị dư luận xã hội
lên án.
- Thứ hai, biến đổi theo thời gian: Cùng với sự phát triển của xã hội,
nhiều giá trị văn hóa, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán có thể bị biến đổi
ngay trong cùng nền văn hóa - xã hội, dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn
nhận, đánh giá của dư luận xã hội. Ví dụ trước đây trong xã hội phong kiến,
đàn ông được phép lấy nhiều vợ mà không bị lên án bởi nó phù hợp với chuẩn
mực xã hội thời bấy giờ. Còn hiện tại việc người đàn ơng ngoại tình,
chung sống với người phụ nữ khác ngồi vợ mình là việc làm bị dư luận lên
án thậm chí có thể bị xử phạt do vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng
Nguyễn Xuân Chiến

Lớp CCLLCT K71-C13


8
đã được pháp luật ghi nhận. Từ đó có thể thấy được sự thay đổi các chuẩn
mực đạo đức đã kéo theo sự thay đổi của dư luận xã hội theo thời gian. Phụ
thuộc vào bối cảnh cụ thể, dư luận xã hội còn biến đổi theo đối tượng của
các phán xét, đánh giá khi công chúng phát hiện thêm các mối liên quan giữa
đối tượng ban đầu với các sự kiện, hiện tượng, quá trình diễn ra kèm theo nó.
Mặt khác, xuất phát từ các phán xét, đánh giá bằng lời, dư luận xã hội có thể
chuyển hóa thành các hành động mang tính tự phát hoặc có tổ chức để thể

hiện thái độ đồng tình hay phản đối của mình.
Dư luận xã hội về những vấn đề của đời sống xã hội có thể ở trạng thái
tiềm ẩn, không bộc lộ bằng lời (dư luận của đa số im lặng). Trong những xã
hội thiếu dân chủ, dư luận xã hội đích thực thường tồn tại dưới dạng tiềm ẩn.
Trong xã hội cũng thường có dư luận xã hội tiềm ẩn về những sự việc, sự kiện
sắp tới, chưa xảy ra hiện thời chưa cấp bách.
5. Tính tương đối trong khả năng phản ánh thực tế xã hội của dư luận
xã hội:
Sự phản ánh thực tế xã hội của dư luận xã hội có thể đúng, có thể sai.
Dù có đúng đến mấy thì dư luận xã hội vẫn có những hạn chế, khơng nên
tuyệt đối hố khả năng nhận thức của dư luận xã hội. Dù có sai đến mấy,
trong dư luận xã hội cũng có những hạt nhân hợp lý. Chân lý của dư luận xã
hội không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó. Khơng phải lúc nào dư
luận của đa số cũng đúng hơn dư luận của thiếu số. Cái mới, lúc đầu thường
chỉ có một số người nhận thấy do đó dễ bị đa số phản đối. Đối với những vấn
đề trừu tượng, phức tạp, dư luận của giới trí thức, của những người có trình
độ học vấn cao thường chín chắn hơn so với những người có trình độ học vấn
thấp. Chẳng hạn trong thời gian vừa qua vấn đề tranh chấp Biển Đông giữa
Việt Nam và Trung Quốc là vấn đề nóng bỏng được dư luận hết sức quan tâm.
Những hành động gây hấn của Trung Quốc như bắn đuổi, bắt giữ ngư dân
Việt Nam, phá hoại thiết bị, cản trở việc khảo sát địa chấn của tàu Bình Minh
02, cắt dây cáp của tàu Viking II,… đã khiến dư luận Việt Nam hết sức bất
bình. Và đã có nhiều ý kiến khơng ủng hộ trước phản ứng có phần chưa cứng
rắn của Chính phủ Việt Nam, nhiều người dân đã tụ tập trước cửa đại sứ quán
và lãnh sự quán Trung Quốc tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để biểu
tình với khẩu hiệu “Phản đối Trung Quốc gây hấn”. Đây có thể coi là một
hành động tự phát xuất phát từ nhưng nhận thức chưa đầy đủ và thực sự đúng
đắn của một bộ phận người dân. Đối với những người có trình độ nhận thức
cao hơn, họ có thể thấy rõ được bên cạnh các cuộc biểu tình chính là sự xúi
Nguyễn Xn Chiến


Lớp CCLLCT K71-C13


9
giục, kích động của các thế lực chống đối nhà nước Việt Nam trong, ngồi
nước và những cuộc biểu tình, tuần hành này có thể gây ảnh hưởng xấu đến
trật tự an toàn xã hội cũng như tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định về chính
trị, tác động tiêu cực đến việc thực hiện đường lối, chính sách ngoại giao của
nhà nước để giải quyết tranh chấp. Như vậy có thể thấy trong ví dụ này dư
luận của một bộ phận xã hội đã bị lợi dụng và phản ánh khơng hồn tồn
chính xác thực tế khách quan đang diễn ra.
III. TÁC ĐỘNG CỦA DƯ LUẬN XÃ HỘI ĐẾN Ý THỨC PHÁP LUẬT:

Ý thức pháp luật là một hình thái của ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn
tại xã hội từ góc nhìn pháp luật, là toàn bộ các tư tưởng, quan điểm của một
giai cấp về bản chất và vai trò của pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của nhà
nước, các tổ chức xã hội và cơng dân, về tính hợp pháp hay khơng hợp pháp
của hành vi con người trong xã hội.
Ý thức pháp luật có cấu trúc tương đối phức tạp, có thể được nhìn nhận
trên nhiều phương diện khác nhau. Căn cứ vào nội dung và tính chất của các
bộ phận hợp thành, ý thức pháp luật bao gồm: hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý
pháp luật. Căn cứ vào cấp độ và giới hạn nhận thức, ý thức pháp luật được
chia thành hai bộ phận cơ bản: ý thức pháp luật thông thường và ý thức pháp
luật lý luận. Căn cứ vào chủ thể của ý thức pháp luật, ý thức pháp luật được
chia thành: ý thức pháp luật của cá nhân, ý thức pháp luật của nhóm xã hội và
ý thức pháp luật xã hội nói chung.
Dựa vào cấu trúc của ý thức pháp luật, chúng ta có thể có thể đứng trên
nhiều phương diện khác nhau để thấy được tác động của dư luận xã hội đối
với ý thức pháp luật. Sau đây em xin phân tích tác động của dư luận xã hội

đối với hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật.
1. Tác động của dư luận xã hội đến hệ tư tưởng pháp luật:
Hệ tư tưởng pháp luật là tổng hợp các tư tưởng, quan điểm, quan niệm
có tính chất lý luận và khoa học về pháp luật, phản ánh về pháp luật và các
hiện tượng pháp luật một các sâu sắc, tự giác dưới dạng các khái niệm, các
phạm trù khoa học. Dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ đến hệ tư tưởng
pháp luật thể hiện ở: Dư luận xã hội tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự
hình thành và phát triển của hệ tư tưởng pháp luật: Với tư cách là một hiện
tượng xã hội, dư luận xã hội không chỉ phản ánh tồn tại xã hội nói chung mà
cịn phản ánh các sự kiện, hiện tượng pháp lý xảy ra trong đời sống xã hội.
Trên cơ sở sự phán xét, đánh giá về các sự kiện, hiện tương pháp luật diễn ra
trong đời sống xã hội, dư luận xã hội làm nảy sinh trong nhận thức của mọi

Nguyễn Xuân Chiến

Lớp CCLLCT K71-C13


10
người những tri thức phản ánh đúng đắn bản chất của các hiện tượng pháp lý.
Từ đó hình thành lên các quan điểm, quan niệm, tư tưởng phản ánh những vấn
đề có liên quan đến pháp luật và các hiện tượng pháp luật một cách sâu sắc,
có tính hệ thống trong xã hội, đó chính là hệ tư tưởng pháp luật.
Dư luận xã hội có tác dụng phổ biến, tuyên truyền trong các tầng lớp xã
hội những giá trị pháp luật, các tư tưởng, quan điểm pháp luật. Vai trò này
được thực hiện thơng qua tính lan truyền của dư luận xã hội. Dư luận xã hội là
sản phẩm của tư duy phán xét, là sự thể hiện quan điểm, thái độ của cá nhân
trước các hiện tượng pháp lý. Khi dư luận xã hội lan truyền càng rộng thì
càng có xu hướng thống nhất về nội dung các phán xét, đánh giá và càng làm
cho mọi người trong xã hội nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề mang tính

bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật.
Dư luận xã hội có thác dụng củng cố, bảo vệ tính dân chủ, tính khoa
học và tính xã hội của hệ tư tưởng pháp luật. Bởi một trong những tính chất
cơ bản của dư luận xã hội là tính lợi ích. Do đó mỗi khi quyền lợi của quốc
gia, dân tộc bị xâm hại sẽ lập tức xuất hiện dư luận xã hội với thái độ lên án,
phản đối gay gắt, gây sức ép nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm lợi ích quốc
gia, dân tộc. Trong trường hợp này, nội dung phản ánh các sự kiện, hiện tượng
pháp lý của dư luận xã hội phù hợp với hệ tư tưởng pháp luật tiến bộ, đang
phổ biến trong xã hội, đáp ứng được lợi ích, nguyện vọng của đơng đảo các
lực lượng tiến bộ trong xã hội.
2. Tác động của dư luận xã hội đến tâm lý pháp luật:
Tâm lý pháp luật là tổng thể các trạng thái tâm lý của con người như
tình cảm, cảm xúc, tâm trạng của các cá nhân và các nhóm xã hội đối với
pháp luật, cũng như những hiện tượng pháp lý diễn ra trong đời sống xã hội.
Tác động của dư luận xã hội đến tâm lí pháp luật được thể hiện trên các
phương diện sau:
Dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ đến tình cảm pháp luật: Tình cảm
pháp luật là yếu tố cơ bản của tâm lý pháp luật, thường được hình thành một
cách tự phát dưới ảnh hưởng của hoạt động giao tiếp hành ngày của con người
với môi trường pháp lý xung quanh. Trước những sự kiện, hiện tượng diễn ra
trong thực tế, tình cảm pháp luật có thể biểu hiện dưới dạng tích cực hoặc tiêu
cực. Nhưng dù biểu hiện dưới dạng nào thì cũng đều là đối tượng phán xét,
đánh giá của dư luận xã hội. Về mặt tình cảm, khơng ai muốn mình trở thành
đối tượng phán xét của dư luận xã hội, do đó mỗi cá nhân đều mong muốn có
thể kiểm sốt, điều chỉnh tình cảm, hành vi của mình phù hợp với ý chí chung
của cộng đồng xã hội. Với ý nghĩa đó, dư luận xã hội tác động mạnh mẽ tới
Nguyễn Xuân Chiến

Lớp CCLLCT K71-C13



11
tình cảm pháp luật, góp phần định hướng cho sự hình thành tình cảm pháp
luật tích cực, đúng đắn của mỗi công dân. Dư luận xã hội tác động tới tâm
trạng của con người trước pháp luật: Tâm trạng của con người trước luật pháp
là sự thể hiện trạng thái tâm lý của các cá nhân trước các sự kiện, hiện tượng
pháp lý diễn ra trong đời sống xã hội thường ngày. Đây là yếu tố rất linh
động, dễ thay đổi của tâm lý pháp luật. Dưới tác động của các yếu tố khác
nhau, tâm trạng của con người trước thực tiễn cuộc sống thường được thể
hiện ra ở các trạng thái đối lập: hưng phấn - ức chế, lạc quan – bi quan,
hi vọng – thất vọng, quan tâm – thờ ơ… Những tâm trạng này sẽ được bộc lộ
trong nội dung các phán xét, đánh giá của dư luận xã hội qua đó tác động tới
tâm trạng của con người trước pháp luật.
Dư luận xã hội tác động đến sự tự đánh giá, tự điều chỉnh hành vi ứng
xử của mỗi cá nhân trong phạm vi điều chỉnh của các quy phạp pháp luật
hiện hành: Không chỉ được biểu hiện ở tình cảm, tâm trạng của con người
trước pháp luật, tâm lý pháp luật còn được biểu hiện ở việc cá nhân tự đánh
giá về hành vi ứng xử của mình trong mơi trường điều chỉnh của pháp luật.
Những phán xét, đánh giá của dư luận đối với hành vi của cá nhân, ở một mức
độ nào đó, đều tham gia vào việc điều chỉnh hành vi pháp luật của cá nhân.
Sức mạnh đặc trưng của dư luận xã hội khiến cho mỗi cá nhân luôn phải suy
nghĩ, xem xét trước khi thực hiện một hành vi pháp luật nào đó: hành vi đó
đúng hay sai? phù hợp hay không phù hợp với các quy định của pháp luật
hiện hành? Nếu thực hiện một hành vi nào đó thì có bị dư luận xã hội lên án
hoặc phải chịu sự xử lý theo các nguyên tắc luật định khơng? Điều đó cho
thấy, dư luận xã hội ln có tác động tới cách thức mà mỗi cá nhân tự đánh
giá về hành vi ứng xử của mình.
IV. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY:


1. Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác định
hướng dư luận xã hội:
Đảng lãnh đạo toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, do vậy Đảng
lãnh đạo công tác tư tưởng và công tác định hướng dư luận xã hội là một nội
dung quan trọng của công tác tư tưởng và công tác lãnh đạo, quản lý xã hội.
Định hướng dư luận xã hội trước hết và chủ yếu bằng việc cung cấp
thơng tin đầy đủ, chính xác, kịp thời và có chọn lọc, có định hướng cho dư
luận xã hội thông qua tất cả các phương tiện truyền thông cả truyền thống và
hiện đại.

Nguyễn Xuân Chiến

Lớp CCLLCT K71-C13


12
Để đảm bảo cho việc đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng nhằm
nâng cao hiệu quả công tác định hướng dư luận xã hội cần quan tâm đến các
vấn đề sau:
Thứ nhất, lãnh đạo, chỉ đạo phải kịp thời. Để các phương tiện truyền
thông, trước hết là báo chí thơng tin đầy đủ, chính xác, kịp thời về sự kiện,
hiện tượng, các cấp ủy Đảng thông qua các cơ quan chuyên môn, cần sớm
đưa ra quan điểm chỉ đạo chính thức để các phương tiện truyền thơng có
phương hướng thông tin thống nhất, kịp thời. Nếu lãnh đạo, chỉ đạo chậm,
quan điểm chính thức, chính thống của cơ quan lãnh đạo thiếu kịp thời thì
hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo sẽ hạn chế, theo đó hiệu quả định hướng dư luận
xã hội cũng bị hạn chế.
Thứ hai, lãnh đạo, chỉ đạo phải đảm bảo tính khoa học, tính thống nhất
cao: Để định hướng dư luận xã hội theo mục đích đặt ra, các cơ quan thơng
tin, tun truyền của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân rất

cần nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, chặt chẽ, khoa học, chính
xác, đặc biệt là phải có tính thống nhất, nhất qn cao từ phía các tổ chức, cá
nhân có trách nhiệm của Đảng. Nếu sự chỉ đạo thiếu thống nhất, diễn ra theo
kiểu “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, các cơ quan truyền thông, nhất là
truyền thơng đại chúng rất khó khăn trong việc đưa tin và trong một số trường
hợp buộc phải dừng việc thông tin, tác động định hướng dư luận xã hội sẽ
giảm, thậm chí khơng có.
2. Nâng cao chất lượng nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội:
Dư luận xã hội là hiện tượng xã hội có thể định hướng được, nhưng
định hướng dư luận xã hội là công việc khó khăn, phức tạp. Để có cơ sở cho
việc xác định nội dung, lựa chọn phương pháp định hướng dư luận xã hội,
phải có thơng tin đầy đủ về thực trạng và xu hướng vận động của dư luận xã
hội nghĩa là phải nghiên cứu về nó. Các nghiên cứu làm căn cứ cho việc định
hướng dư luận xã hội phải hướng vào việc làm rõ bản chất, các tính quy luật
và những nhân tố khách quan, chủ quan tác động, ảnh hưởng đến quá trình
phát sinh, phát triển của các luồng dư luận khác nhau cũng như cơ sở khoa
học để đánh giá, phân tích một luồng dư luận nào đó. Việc nghiên cứu, nắm
bắt dư luận xã hội cần tuân thủ nghiêm ngặt các công đoạn, các khâu, các yêu
cầu kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu, đảm bảo kết quả nghiên cứu mang
tính khách quan, chân thực.
Các cuộc điều tra phục vụ công tác định hướng dư luận xã hội cần được
tổ chức theo các định hướng chủ yếu sau:

Nguyễn Xuân Chiến

Lớp CCLLCT K71-C13


13
- Các cuộc điều tra do cơ quan chức năng của cấp ủy Đảng, chính

quyền, Mặt trận và đồn thể các cấp tiến hành định kỳ nhằm giúp cơ quan
truyền thông nắm bắt dư luận xã hội về những vấn đề, sự kiện thời sự, nóng
bỏng trong từng thời điểm nhất định. Kết quả nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã
hội theo hướng này giúp các cơ quan truyền thông những căn cứ cho việc xây
dựng chiến lược, kế hoạch thông tin - truyền thông. Để chủ đề nghiên cứu
phục vụ hữu ích cho cơng tác định hướng dư luận xã hội của cơ quan truyền
thông, trước khi tiến hành điều tra, cơ quan chức năng có thể trưng cầu, tham
khảo ý kiến của cơ quan truyền thông về nội dung nghiên cứu.
- Các cuộc điều tra xuất phát từ yêu cầu của cơ quan truyền thông.
Theo hướng nghiên cứu này, một cơ quan truyền thơng có thể độc lập nghiên
cứu hoặc các cơ quan truyền thông liên kết, phối hợp với nhau cùng nghiên
cứu hay “đặt hàng” các cơ quan chuyên nghiên cứu dư luận xã hội thực hiện.
Ngoài ra, tất cả các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, đặc biệt
là Ban Tuyên giáo cấp ủy và Mặt trận Tổ quốc cần chủ động, kịp thời nắm bắt
dư luận xã hội về các sự kiện, hiện tượng mang tính thời sự, liên quan đến lợi
ích của cơ quan, tổ chức mình và lợi ích của quốc gia - dân tộc, lợi ích của
nhân dân. Những thơng tin dư luận xã hội được nắm bắt qua kênh này là cơ sở
rất quan trọng để định hướng dư luận xã hội trong nội bộ cơ quan, tổ chức đó
và định hướng dư luận xã hội trên quy mơ toàn xã hội.
3. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng năng lực định hướng dư luận xã hội
cho cán bộ truyền thông và cán bộ làm công tác dư luận xã hội:
Những kiến thức và kỹ năng công tác dư luận xã hội nói chung và kỹ
năng định hướng dư luận xã hội nói riêng cần được đào tạo, bồi dưỡng cho
cán bộ chuyên trách, các cộng tác viên dư luận xã hội và cán bộ truyền thông,
bao gồm: kiến thức lý luận và nghiệp vụ công tác tư tưởng, kiến thức về tâm
lý học xã hội, xã hội học, khoa học chính trị, những hiểu biết cơ bản và
chuyên sâu về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước. Đồng thời, họ cần được đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức lý luận về dư
luận xã hội, các kỹ năng điều tra, nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội, kỹ năng
tổng hợp, phân tích, dự báo dư luận xã hội. Biết xây dựng kế hoạch và thành

thục các bước tiến hành một cuộc điều tra dư luận xã hội…
Hình thức đào tạo, bồi dưỡng có thể là: đào tạo dài hạn các ngành xã
hội học, tâm lý học, cơng tác tư tưởng, hoặc có thể tham gia các khóa bồi
dưỡng ngắn hạn, bồi dưỡng chuyên đề, bồi dưỡng nâng cao, bồi dưỡng theo
chức danh, bồi dưỡng dưới hình thức hội nghị, hội thảo, tham quan, trao đổi
kinh nghiệm…
Nguyễn Xuân Chiến

Lớp CCLLCT K71-C13


14
Để các chương trình đào tạo, bồi dưỡng thiết thực, đáp ứng nhu cầu
công tác cần tổ chức các cuộc thăm dò nhu cầu về số lượng, về nội dung,
phương thức đào tạo, bồi dưỡng. Tổ chức các buổi tọa đàm, giao lưu, rút kinh
nghiệm về nghiệp vụ của cộng tác viên dư luận xã hội là một hình thức bồi
dưỡng vì qua đây các cộng tác viên có thể trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm cơng
tác của mình. Đồng thời, đây cũng là một kênh để phát hiện, nắm bắt nhu cầu
đào tạo, bồi dưỡng các cộng tác viên dư luận xã hội hiện nay.
4. Phối hợp đồng bộ, chặt chẽ các phương tiện truyền thông trong định
hướng dư luận xã hội:
Tham gia định hướng dư luận xã hội là tất cả các lực lượng, phương
tiện truyền thông bao gồm các phương tiện truyền thông trực tiếp (truyền
thông cá nhân, truyền thơng nhóm) và truyền thơng gián tiếp (truyền thông
qua các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội). Trong các phương
tiện truyền thơng trên đây, vai trị to lớn thuộc về các phương tiện truyền
thông đại chúng, tuyên truyền miệng và hoạt động của báo cáo viên cũng như
vai trò của các thủ lĩnh dư luận (những người lãnh đạo, quản lý, những người
có uy tín trong cộng đồng).
Đối với các sự kiện, vấn đề nhạy cảm, dư luận xã hội lan tỏa nhanh, tác

động mạnh mẽ, sâu sắc trong đời sống xã hội, nếu thiếu sự phối hợp, thống
nhất, chia sẻ quan điểm vì lợi ích chung sẽ dẫn đến hỗn loạn, mất định hướng,
công chúng hoang mang vì khơng biết tin vào ai, chủ thể nào, phương tiện
truyền thông nào.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp cần chủ động phối hợp với Ban
Tuyên giáo cấp ủy các cấp, với Quốc hội và Hội đồng nhân dân, với các tổ
chức chính trị - xã hội các cấp trong việc nắm bắt nhu cầu, nguyện vọng, lợi
ích của các tầng lớp nhân dân để làm căn cứ cho việc định hướng dư luận xã
hội tích cực phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

5. Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, hạn chế nhận thức
sai lệch và loại bỏ các tin đồn nhảm, kích động, chia rẽ:
Nhận diện được những quan điểm cơ bản mà các thế lực thù địch tuyên
truyền chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đặc biệt khi chúng sử dụng
mạng xã hội như một cơng cụ, vũ khí hữu hiệu tấn cơng chúng ta, công tác tư
tưởng của Đảng cần tập trung vào những nội dung và phương pháp sau đây:
Một là, nâng cao nhận thức trong toàn xã hội về nội dung và tầm quan
trọng của công tác đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên
mạng xã hội. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải hết sức cảnh giác, tỉnh

Nguyễn Xuân Chiến

Lớp CCLLCT K71-C13


15
táo trước những thông tin sai trái để kịp thời phát hiện, vạch mặt, chỉ tên và
tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin, nhất là trên không
gian mạng.
Hai là, không ngừng tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng nâng cao bản

lĩnh chính trị, kĩ năng và phương pháp đúng đắn, khoa học cho đội ngũ cán
bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân trong cuộc đấu tranh chống lại các quan
điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội hiện nay.
Ba là, tạo lập môi trường thơng tin thuận lợi để phát huy vai trị của cả
hệ thống chính trị và tồn xã hội trong cuộc đấu tranh chống lại các luận điệu
sai trái, thù địch trên mạng xã hội, bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của
Đảng. Để tạo lập được một môi trường thông tin thân thiện trong giai đoạn
hiện nay, cần chú ý đến tính cơng khai, minh bạch, cập nhật về thơng tin, tăng
cường thơng tin chính thống, đặc biệt là những thông tin liên quan đến công
tác tổ chức cán bộ, cơng tác nhân sự trước mỗi kì Đại hội Đảng để đáp ứng
nhu cầu thông tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tránh gây hoang mang,
nghi ngờ trong nhân dân. Bên cạnh đó, phải chủ động và kịp thời lên tiếng,
đấu tranh, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, bịa đặt, kiên quyết không để kẻ xấu coi
thường luật pháp, bơi nhọ uy tín, thanh danh của Đảng, Nhà nước và cá nhân
các đồng chí lãnh đạo, gây hoang mang dư luận.

Nguyễn Xuân Chiến

Lớp CCLLCT K71-C13


16

C. KẾT LUẬN
Từ những phân tích ở trên ta có thể nắm được các tính chất cơ bản của
dư luận xã hội đó là tính khuynh hướng, tính lợi ích, tính lan truyền, tính bền
vững tương đối, tính dễ biến đổi và tính tương đối trong khả năng phản ánh
thực tế xã hội. Từ đó có thể thấy được các đặc trưng của dư luận xã hội so với
các hiện tượng xã hội khác cũng như vai trị của nó đối với đời sống xã hội.
Đặc biệt thông qua việc đánh giá tác động của dư luận xã hội đối với ý thức

pháp luật thông qua hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật không chỉ giúp
các nhà lập pháp trong quá trình ban hành pháp luật mà còn giúp việc thực thi
pháp luật được hiệu quả hơn trong thực tế.
Định hướng dư luận xã hội là để hình thành dư luận xã hội đúng đắn,
tích cực, có lợi cho việc ổn định và phát triển xã hội. Điều đó tất yếu địi hỏi
phải đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, các thông tin sai lệch,
xuyên tạc, khẳng định quan điểm đúng đắn, chính thức của Đảng và Nhà nước
ta. Đồng thời, cần minh bạch hóa các nguồn thơng tin, phân biệt rõ dư luận xã
hội và tin đồn, loại bỏ tin đồn thất thiệt, các luận điệu kích động, xuyên tạc,
chia rẽ nội bộ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Ủng hộ các luồng dư
luận xã hội đúng đắn, tích cực.
Trong các ý kiến, quan điểm của dư luận xã hội có nhiều ý kiến, quan
điểm đúng đắn, khách quan, nhưng cũng có một số luồng ý kiến, quan điểm
sai lầm, chủ quan, thiên lệch mà những ý kiến, quan điểm này có ngun nhân
từ việc thiếu thơng tin hoặc có thơng tin nhưng bị bóp méo, bị biến dạng bởi
lợi ích cá nhân cực đoan hoặc “lợi ích nhóm” cục bộ. Trong điều kiện ấy cần
cung cấp thông tin đầy đủ, khách quan và quan trọng hơn là phải phân tích rõ
các mối quan hệ về lợi ích để trên cơ sở đó hạn chế, chấn chỉnh các nhận thức
sai lệch, tạo môi trường, điều kiện cho dư luận xã hội đúng đắn, lành mạnh
phát triển và phát huy tác dụng trong đời sống xã hội.
Nghiên cứu, nắm bắt và định hướng dư luận xã hội là hai nội dung, hai
nhiệm vụ quan trọng ngang nhau của công tác dư luận xã hội. Nếu kết quả
nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội là một nguồn thông tin cần thiết để làm
căn cứ cho việc hoạch định, bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính
sách, pháp luật và mọi chủ trương cơng tác thì định hướng dư luận xã hội là
kết quả trực tiếp của việc nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội, là một mục
đích của cơng tác dư luận xã hội mà các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các
tổ chức chính trị - xã hội không thể xem nhẹ. Công tác định hướng dư luận xã
hội một khi được coi trọng đúng mức, chất lượng, hiệu quả được nâng cao thì
tình hình tư tưởng xã hội sẽ ổn định, trật tự, an toàn xã hội sẽ được đảm bảo,

sự thống nhất giữa ý Đảng - lịng dân sẽ nâng cao, đồn kết xã hội sẽ bền
vững./.

Nguyễn Xuân Chiến

Lớp CCLLCT K71-C13


17

D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Cao cấp lý
luận chính trị: Xã hội học trong lãnh đạo, quản lý, Nxb.Lý luận chính trị,
H.2018.
2. TS. Ngọ Văn Nhân, Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức
pháp luật của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật,
Hà Nội, 2011.
3. Mai Quỳnh Nam: Về bản chất của dư luận xã hội, Tạp chí Nghiên
cứu con người, số 2 (77), 2015.

Nguyễn Xuân Chiến

Lớp CCLLCT K71-C13



×