Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

Hoàng thành thăng long

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (159.94 KB, 27 trang )

BÀI THUYẾT MINH HOÀNG THÀNH THĂNG
LONG - HÀ NỘI
Khu di tích Hồng Thành Thăng Long Hà Nội có tổng khoảng 20ha. Mùa Thu năm
1010, Lý Thái Tổ hay Lý Công Uẩn công bố chiếu rời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về
thành Đại La ( Hà Nội ngày nay). Ngay khi rời đô, Lý Công Uẩn đã cho gấp rút xây
dựng theo mơ hình Tam Trùng Thành Qch tức là 3 vịng thành .Vùng ngồi cùng
gọi là La Thành bao quanh tồn bộ Kinh Đơ và men theo bờ sơng của 3 con sơng
chính đó là sơng Hồng, sơng Tơ Lịch, sơng Kim ngưu. Kinh Thành thứ 2 của Hồng
Thành là khu Triều chính, nơi ở của các quan lại trong triều. Thành nhỏ nhất ở trong
cùng là Cấm Thành, nơi chỉ dành cho vua, hoàng hậu và cung tần mĩ nữ.
Nhà Trần khi lên ngôi đã tiếp quản kinh thành Thăng Long rồi tiếp tục tu bổ, xây
dựng các cơng trình mới.Sang tới thời Lê Sơ,Hồng Thành cũng như Kinh Thành
được xây đắp mở rộng thêm. Trong thời gian từ thế kỉ thứ 16 đến thế kỉ 18 thời nhà
Mạc, Kinh Thành Thăng Long bị tàn phá nhiều lần. Đầu năm 1789 vua Quang Trung
rời đô về Phú Xuân, Thăng Long chỉ còn là Bắc Thành.
Sang đến thời Nguyễn những gì cịn xót lại của Hồng Thành lần lượt bị chuyển vào
Phú Xuân phục vụ cho việc xây dựng kinh thành mới. Chỉ duy có điện Kính Thiên và
Hậu Lâu đươc giữ lại làm hành cung cho các vua Nguyễn khi ngự giá Bắc
Thành.Năm 1805 vua Gia long cho phá bỏ tường của Hoàng Thành Thăng Long cũ và
xây lại với quy mô nhỏ hơn. Năm 1831, vua Minh Mạng đã cho đổi tên Thăng Long
thành tỉnh Hà Nội.Khi Pháp chiếm đóng thì đã chọn nơi đây là liên Bang Đông
Dương, thành buộc bị phá hủy, Pháp xây dựng trại lính. Từ Năm 1954 khi bộ đội ta
tiếp quản giải phóng thủ đơ thì chuyển thành trụ sở khu A Bộ Quốc Phòng.
Trải qua bao biến động của lịch sử nước nhà,ngày hơm nay Hồng thành Thăng Long
vẫn sừng sững giữa lịng Hà Nội như một nhân chứng sống.Chính vì những giá trị nổi
bật mang trong mình mà vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 31/7/2010 theo giờ địa phương
tại Brasil, tức 6 giờ 30 phút ngày 1/8/2010 theo giờ Việt Nam, Ủy ban di sản thế giới
đã thông qua nghị quyết cơng nhận khu Trung tâm hồng thành Thăng Long - Hà Nội
là di sản văn hóa thế giới. Những giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản này được ghi
nhận bởi 3 đặc điểm nổi bật: chiều dài lịch sử văn hóa suốt 13 thế kỷ; tính liên tục của
di sản với tư cách là một trung tâm quyền lực, và các tầng di tích di vật đa dạng,


phong phú.


1.Cột cờ Hà Nội: Lê Minh Châu:
Cột cờ Hà Nội nay là cơng trình cịn ngun vẹn và hồnh tráng nhất trong quần thể di
tích Hồng thành Thăng Long, được cơng nhận là di tích lịch sử vào năm 1989. Và
hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đỉnh cột cờ. Và đã có một bài thơ viết về Kì
đài rất hay:
“Kỳ đài 5 thước vút trời cao.
Thơng đạt trong tâm có đường vào.
Trong sáng mn nơi dồn cả lại.
Trung tâm thiên hạ đẹp biết bao!”
Vào ngày 10-10-1954, cả Hà Nội tưng bừng rạo rực chào đón ngày hội lớn, ngày hội
chiến thắng, Thủ đơ Hà Nội hồn tồn giải phóng. Cả Hà Nội dồn về “Cột Cờ Hà
Nội” chờ đón giây phút lịch sử: Lễ thượng cờ Tổ quốc trên đỉnh “Cột Cờ Hà Nội”.
Lần đầu tiên lá cờ Tổ quốc tung bay trên đỉnh “Cột Cờ Hà Nội”.Kể từ đó đến nay,
hình ảnh Hà Nội trong tâm thức mỗi người không chỉ là Tháp Rùa, cầu Thê Húc, Đền
Ngọc Sơn mà còn là “Cột Cờ Hà Nội”.
Đặc biệt Cột cờ Hà Nội cịn là di tích được bảo tồn nguyên vẹn nhất trong quần thể
khu di tích thành cổ,và là một trong những biểu tượng thiêng liêng của Thăng Long
xưa và nay. Nơi đây đã trở thành một biểu tượng lịch sử cho sự bất khuyết, dũng cảm
của nhân dân thủ đô trong cuộc chiến tranh chống thực dân pháp.Được xây dựng dưới
thời vua Gia Long , từ năm 1805 đến năm 1812, Cột Cờ Hà Nội ngày nay nằm tại số
28A, đường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình.Đứng đây chúng ta có thế nhìn thấy, Cột
Cờ được xây dựng bao gồm ba tầng đế và một thân cột. Các tầng đế hình chóp vng
cụt, nhỏ dần, chồng lên nhau, xung quanh xây ốp gạch.
Thân cột cờ hình trụ tám cạnh, Tồn thể được soi sáng (và thơng hơi) bằng 39 lỗ hình
hoa thị và 6 lỗ hình dẻ quạt. cầu thang có hình chơn ốc, với 54 bậc lên tới đỉnh. Đỉnh
Cột Cờ được cấu tạo thành một cái lầu hình bát giác. Tồn bộ Cột Cờ cao 33,4m, nếu
kể cả cán cờ thì là 41,4m.

Với chiều cao đáng kể, Từ đỉnh cột cờ có thể quan sát cả một vùng rộng lớn, do vậy
thời nhà Nguyễn, kì đài cịn có chức năng là vọng canh. Đó chính là lí do thực dân
pháp đã khơng những khơng phá hủy mà cịn dùng cột cờ làm đài quan sát và trạm
thông tin liên lạc giữa ban chỉ huy với những đồn bốt xung quanh.
Cột cờ Hà Nội xây dựng năm 1805, là một trong 3 cột cờ của nước ta được xây dựng
từ thế kỷ 19 ở 3 nơi đó chính là ở Hà Nội, Huế và Gia Định nhưng nay cột cờ thành
Gia Định đã bị mất, chỉ còn cột cờ Hà Nội và Huế. Cột cờ Huế đã được chứng kiến sự
kiện vua Bảo Đại đọc lời thoái vị và giao nộp ấn, kiếm cho đại diện Chính phủ nước


Việt Nam Dân chủ Cơng Hồ tại Ngọ Mơn năm 1945 trước hàng vạn quần chúng
tham dự, cờ đỏ sao vàng dã được kéo lên Kỳ Đài, đánh dấu chấm hết một chế độ
phong kiến đã tồn tại hàng ngàn năm trên đất nước ta, mở ra một trang sử mới cho dân
tộc Việt Nam.
Gần hai thế kỉ kể từ khi được xây dựng, trải qua bao nhiêu mưa nắng, Cột cờ
Hà Nội vẫn bề thế, sừng sững hiên ngang cho đến ngày nay, chứng kiến những nét
thăng trầm của thủ đô, đất nước. Cột cờ Hà Nội từng chứng kiến cuộc đấu tranh anh
dũng của quân ta chống thực dân Pháp với sự kiện tử tiết của Nguyễn Tri Phương
(1800-1873) và sự tuẫn tiết của Hoàng Diệu (1820-1882).Cột cờ Hà Nội cũng
đã chứng kiến lễ hạ cờ của thực dân Pháp và sự rút lui của đạo quân bại trận sau chiến
thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” của nhân dân Việt Nam.
Lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đỉnh cột cờ luôn là một trong những hình ảnh để lại
ấn tượng sâu sắc nhất cho những du khách đến với Hà Nội nghìn năm văn hiến. Chính
vì vậy thế hệ trẻ chúng ta càng nên trân trọng hơn nền hịa bình được đổi bằng xương
và máu của ơng cha ta.
Phía bên trái của khu di tích Hồng Thành đây chính là con đường Nguyễn Tri
Phương. Đây là con đường mang tên vị tổng đốc trấn giữ thành đến tận hơi thở cuối
cùng .Con đường này nối từ phố Phan Đình Phùng đến đường Điện Biên Phủ và tên
đường được đặt vào năm 1964.
Nguyễn Tri Phương sinh năm 1800 mất năm 1873, quê huyện Phong Điền, tỉnh Thừa

Thiên.Ông xuất thân trong một gia đình làm ruộng và nghề thợ mộc.Nhà nghèo lại
khơng xuất thân từ khoa bảng nhưng nhờ ý chí tự lập,tài năng lỗi lạc, ông đã làm nên
sự nghiệp lớn và làm đến các chức quan đầu triều,nhiều lần giữ chức thống đốc quân
vụ Bắc và Nam Kì.
Năm 1858, tàu Pháp đến uy hiếp Đà Nẵng, ông đã dũng cảm lãnh đạo quân ta phòng
thủ kiên cường.Năm 1859, Pháp chuyển hướng đánh thành Gia Định lần này ông đã bị
thương và để mất thành nên bị giáng chức. Về sau ông lại được bổ nhiệm là kinh lược
sứ Bắc kì để đối phó với quân Pháp đang lăm le đánh thành Hà Nội.
Sáng ngày 20/11/1873 chỉ huy quân Pháp cho quân tấn cơng thành Hà Nội.Nguyễn
Tri Phương đích thân ra chỉ huy chiến đấu tại cửa Nam thành và ông bị thương,quân
pháp tràn vào chiếm thành bắt giữ ông toan cứu chữa nhưng ông quyết tử tiết theo
thành nên ông đã tuyệt thực được vài ngày thì ơng qua đời.
Khơng hề thua kém tấm thân cảm tử của Nguyễn Tri Phương,Hoàng Diệu cũng là vị
tổng đốc đã có cơng lớn trấn giữ thành ở thế kỷ 19. Ở bên phải của khu di tích
,Hồng Diệu là một đường trong thành Hà Nội cũ đi từ cửa bắc đến phố Nguyễn Thái
Học. Con đường được mang tên Hồng Diệu, ơng là một quan thời nhà Nguyễn,
người đã quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi Pháp tấn công năm 1882, khi ông làm tổng


đốc Hà Ninh, tức Hà Nội và Ninh Bình. Ơng tên thật là Hồng Kim Tích sau đó đổi
thành Hồng Diệu,sinh năm1829 trong một gia đình có truyền thống nho giáo tại
huyện Diên Phước tỉnh Quảng Nam (nay thuộc huyện Điện Bản). Gia đình ơng có 7
anh em và họ đều nổi tiếng là những người thông minh trong vùng. Sử chép rằng gia
đình Hồng Diệu có 1 người đỗ phó bảng, 3 người đỗ cử nhân, hai người đỗ tú tài
trong kì thi dưới thời vua Tự Đức. Một trong những hậu duệ của ơng là giáo sư tốn
học Hồnh Tuy- một cây đại thụ của nền tốn học hiện đại Việt Nam.
Hoàng Diệu là người nổi bật nhất trong số anh em trong gia đình.Khi thực dân Pháp
tấn công thành Hà Nội, ông đã cố gắng trấn giữ thành.Nhưng trước thế tấn công như
vũ bão của Pháp và sự tương quan lực lượng khơng đều cuối cùng Hồng Diệu đành
phải hạ lệnh cho quân lính giải tán để tránh thương vong. Cịn lại một mình, Hồng

Diệu quay về hành cung cắn đầu ngón tay lấy máu thảo di biểu tạ tội với nhà vua. Sau
đó, ơng ra trước Võ miếu dùng khăn quấn đầu thắt cổ tự vẫn để không rơi vào tay
giặc. Trong bức di biểu gửi nhà vua, Hồng Diệu viết: " Thành mất khơng sao cứu
được, thật hổ với nhân sĩ Bắc Thành lúc sinh tiền. Thân chết có quản gì, nguyện theo
Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương muôn dặm, huyết lệ đôi hàng..."
Cho đến hơm nay thì Kỳ Đài, và 2 con đuờng vẫn ở đó, ơm trọn khu di tích nghìn
năm tuổi trong mình.Hồng thành Thăng Long là một nơi mà du khách nào ghé qua
Hà Nội cũng đểu muốn quay lại một kần nữa. Hiận nay, thì Cột cờ Hà Nội vẫn đang
thuốc sự quản lý của bảo tàng Quân Sự Việt Nam nêm chưa trả về nguyên vẹn cụm di
tích Hoàng Thành.Mong rầng lần sau một ngày gần nhất,Kỳ Đài sẽ về đúng với vị trí
của nó để cùng với các hạng mục khác trong khu đi tích trường tồn mãi với thơig gian
và cũng là để du khách được trải nghiệm trọn vẹn Hoàng thành.


2. Đoan Mơn, đường Nguyễn Tri Phương , đường Hồng Diệu
Dạ thưa cô và các bạn, lịch sử Việt Nam trải qua bao biến cố thăng trầm có lúc suy lúc
thịnh, có những thứ mãi rơi vào ký ức hồi cổ, nhưng cũng có những cơng trình
trường tồn mãi với thời gian.Và Hoàng Thành Thăng Long là nơi như thế. 1000 năm
rồi nó vẫn sừng sững nơi đây, kinh thành xưa tráng lệ một thời. Không để cô và các
bạn chờ lâu, chúng ta sẽ bắt đầu đi khám phá, vén từng bức màn lịch sử của khu di
tích nổi tiếng này.
Đoan Mơn là một trong những cổng chính dẫn lối vào Cấm thành. Trong quy hoạch
tổng thể, kinh thành TL xưa gồm 3 lớp: la Thành rộng lớn bao quanh phía ngồi, tiếp
đến là Hồng thành , cấm Thành là lớp nằm trong cùng. Đoan Môn là lần cửa cuối
cùng dẫn vào cung vua.
Thời Lê Trug Hưng, Đoan Môn được ghi chép vs cả 2 tên gọi: Đoan Môn và Ngũ
Mơn. Dựa vào kiến trúc và tài liệu cịn sót lại thì ta có thể khẳng định: Đoan Mơn
được xây dựng từ thời Lê và đã được tu bổ sửa sang vào thời Nguyễn.Các bạn có thấy
những viên gạch dùng để xây tường Đoan Môn kia không ạ? Vâng đó chính là loại
gạch vồ thời Lê đấy ạ và có bạn nào thắc mắc xem là làm thế nào người ta gắn kết

những viên gạch đó đạt độ khít cao và bền vững theo thời gian như vậy không ạ?
Trước đây khơng hề có xi măng để xây dựng như bây giờ và người ta đã sử dụng mật
mía để gắn kết các viên gạch tạo nên một kết cấu vô cùng vững chắc như cô và các
bạn thấy ở đây. Đoan Mơn cho đến ngày nay cịn khá nguyên vẹn, di tích này nằm
thẳng trục cột cờ, phía Nam của điện KínhThiên.
Đoan Mơn cịn khá ngun vẹn như thuở ban đầu.Đoan Mơn có hệ thống gồm 5 cửa
ra vào: cửa giữa cao nhất chỉ dành riêng cho vua đi, 4 cửa 2 bên nhỏ hơn dành cho các
quan đại thần và hồng thân quốc thích ra ngồi cung cấm. Ngồi ra, người có số điểm
cao nhất trong kì thi Đình sẽ được vua ân sủng cho đi vào bằng lối cửa này. Nếu như 3
cửa chính giữa vạch thành 3 đường hầm song song với trục thần đạo thì 2 cửa 2 bên
lại xây theo hình chữ U. Lối kiến trúc này không chỉ mang ý nghĩa hội tụ về triều đình
mà cịn giúp đồn qn hộ giá nhà vua triển khai đội ngũ chỉnh tề hơn. Trên hết, nếu
từ trên cao nhìn xuống, chúng ta sẽ thấy cổng thành có hình chữ U quay hướng về
triều đình với tư thế cực kì vững trãi.
Các cánh cổng thành ở đây được làm từ những phiến gỗ lim nguyên khối, mỗi cánh
cửa dày gần 20 cm. Các cánh cửa này được lắp đặt trên hệ thống bánh xe gỗ chắc chắn
có bịt sắt xung quanh và các trụ cửa được lắp vào các cối kê và khuy giữ bằng đá
ngun khối, đục lỗ tạo thành. Vì đây khơng phải là cửa treo nên các cánh cửa ở đây
được bảo vệ bằng hệ thống chốt ngang, chốt dưới y hệt với kiến trúc nhà Việt cổ ta
thời trước. Sau 2 bên cánh cửa là 2 lỗ vuông bằng đá mỗi cạnh khoảng 20cm được đục


ẩn sâu bên trong tường, đó chính là các lỗ then cửa. Khi đóng cổng thành, người ta sẽ
dùng 1 thanh gỗ lớn chẹn ngang qua 2 lỗ then này.
Tầng 2 của Đoan Môn được xây dựng theo lối vọng canh với hệ thống cửa trổ đều các
hướng. tuy nhiên, kiến trúc này đã được đổi khác so với ban đầu. Trên cửa chính giữa
của tầng lầu thứ 2 có đắp nổi 3 chữ hán: Ngũ Mơn Lầu. vì thế, một số người cịn quen
gọi Đoan Mơn là Ngũ Mơn Lầu.
Mặt sàn của tầng lầu thứ 2 thì khá rộng rãi. Khoảng không gian này không chỉ đủ để
dựng Ngũ Mơn Lầu làm nhà ở mà cịn cịn tạo khơng gian thoáng đãng. Ngay tại đây

người ta đã đổ đất, trồng cỏ và những cây đại thụ to gần bằng một vịng tay người lớn
như cơ và các bạn đang thấy đó ạ. Sự xuất hiện của vườn cây này đã cho thấy kết cấu
của bề mặt thành xưa vô cùng chắc chắn. Cũng chính ngay tại nơi này, xưa kia, các vị
vua đã ngự giá ở đây để úy nạo binh sỹ lúc ra trận, lúc thắng trận trở về hay xem các
trị chơi dân gian, lễ hội phía dưới sân kia.
Nếu như lối dẫn lên tầng 2 là 2 cầu thang gạch lộ thiên rộng lớn thì lối dẫn lên tầng 3
lại là 2 cầu thang nhỏ ẩn bên trong tầng 2. Mời cơ và các bạn nhìn theo hướng tay chỉ
của em lên cao một chút. Cũng giống như tầng 2, tầng 3 của Đoan Môn đã được cải
tạo lại, hình dạng đã có nhiều đổi khác, tuy nhiên, kiến trúc thuở ban đầu vẫn còn
được trân trọng và giữ gìn. Tầng lầu thứ 3 được xây dựng theo lối vọng lâu, nóc 2 tầng
8 mái, mái lợp ngói ta, các góc mái được trang trí tượng rồng cuốn.
Tiếp theo là quan một con đường mà trước kia, nó được ví như một tấm thảm đá được
trải cầu kì để nâng đỡ gót rồng. Đó chính là con đường lát gạch đá hoa chanh.
Trước đây khi con đường này chưa được phát hiện , các nhà sử học đã tranh cãi rất
quyết liệt xung quanh vị trí của Hoàng Thành . Một số cho rằng , vị trí của Hồng
Thành nằm lệch hẳn về phía Tây so với khu Thành Cổ Hà Nội thời Nguyễn. Một số
thì cho rằng, Hồng Thành nằm ở chính khu Thành Cổ Hà Nội thời Nguyễn.Cuộc
tranh cãi nảy lửa tới mức không bên nào thuyết phục được bên nào, vì cả hai bên đều
có những lý lẽ cho riêng mình. Cho đến khi con đường lát đá hoa chanh được tìm thấy
ngay trên trục chính của Đoan Mơn, cuộc tranh cãi tốn biết bao mực giấy này mới đến
hồi kết. Các nhà khoa học đã thống nhất được với nhau rằng : Hồng Thành Thăng
Long thửa trước nằm ngay chính giữa tại vị trí Thành Cổ Hà Nội thời Nguyễn
Theo tích xưa truyền lại,con đường lát gạch hoa chanh được xây dựng từ thời nhà
Trần. Là con đường chính chạy qua cổng chính của Hồng Thành nên đường lát đá
hoa chanh được xây dựng rất cầu kì, có tính thẩm mĩ cao. Lịng đường lát gạch bìa
chắc chắn, hai bên xếp gạch lát thành hình hoa chanh. Nếu nhìn từ xa lại hoặc từ trên
Đoan Mơn nhìn xuống thì con đường lát đá hoa chanh vạch một đường thẳng tới điện
Thiên An.



Diện tích con đường được khai quật là 24m vng, với kích thước là 6x3,9 m. Tức là
chiều dài là 6m còn chiều rộng là 3.9 mét ạ. Về lòng đường rộng chừng 1,3m được lát
bằng gạch có kích thước 36.19.6 m. Những viên gạch này được xếp vuông vức, tạo
thành bề mặt đường phẳng và êm. Hai bên đường là hai hàng gạch xếp hình hoa
chanh.Nhưng phần trơng được cắm kín bằng những mảnh ngói mỏng tạo thành ơ hoa
văn mang tính thẩm mỹ cao.
Cịn về nền đường lát gạch hoa chanh được gia cố bằng 12 lớp vật liệu chắc chắn, độ
dày trung bình mỗi lớp là 8 cm. Vật liệu gia cố nền đường lát gạch hoa chanh là đất
trộn gạch, sỏi, đất sét, mảnh phế liệu ồm đồ gốm sứ. Với bề dày móng gia cố gần 1m,
đường lát gạch đá hoa chanh cực kì bền chắc, nó có thể chịu được tác động lớn mà
khơng bị lún sụt.
Phía trên đường lát đá hoa chanh các nhà khảo cổ học đã tìm thấy tầng văn hóa thời
Lê với khoảng sân lát gạch vồ có đường viền ôm khít với cổng Đoan Môn. Điều nay
cho thấy Đoan Mơn cịn tồn tại đến ngày nay chính là Đoan Mơn được xây dựng từ
thời Lê. Nói cách khác , nhà Lê đã xây dựng Hồng Thành trên chính trục thần đạo,
chạy qua cổng chính phía Nam này
Từ độ sâu 1,2 đến 1,8 m, các nhà khảo cổ đã tìm thấy đường viền đá lát chân tường
Đoan Môn. Đá được dùng lát chân tường Đoan Mơn có hình dáng kích thước khơng
giống nhau, nhưng đều có màu trắng đục, được mài cơng phu.( Ngồi cùng là hàng đá
cỡ 75x20 cm, cấp dưới cao 8cm, cấp trên cao 4cm. Hàng đá tiếp theo có kích cỡ
75x42 cm, xếp thành nền . Cuối cùng là 6 hàng đá nhỏ hơn, cỡ 60.20 cm, xếp cao về
phía tường tạo thành góc 45 độ). Tiếp giáp với đường viền đá trên là sân lát gạch vồ
có kích thước 42.19 cm
Từ độ sâu 1,8 đến 2,5 m, các di vật khảo cổ học được tìm thấy bao gồm gạch bìa, gạch
lát nền, ngói ống lá cùng những mảnh vỡ gốm sứ thời Lý Trần nằm lẫn trong tro than.
Điều đó chứng tỏ tần gvăn hóa này phải trải qua thời kì bị đốt phá rất dữ dội.Những di
vật tìm thất giúp các nhà khả cổ học khẳng định đây là tầng văn hóa thời Trần.
Con đường lát đá hoa chanh chính là chứng tích thuyết phục nhất khẳng định khu vực
thành cổ Hà Nội ngày nay chính là phần giữa của HTTL thời Trần. Theo tư liệu lịch
sử thì nhà Trần tiếp nhận hồng cung từ thời Lý bằng một cuộc chuyển giao hịa bình

và êm đẹp. Nhà Lê cũng tiếp nhận lại từ nhà Trần mà khơng có sự xê dịch nào về vị trí
địa lý.Như vậy trải từ thời Lý Trần Lê đến nhà Nguyễn sau này khu vực chính của
HTTL khơng bị xê dịch. Đây là căn cứ quan trọng để chúng ta có thể tiến hành phục
dựng lại những cơng trình kiến trúc hồng cung thời xưa, góp phần gìn giữ nét đẹp
văn hóa kiến trúc dân tộc, đồng thời mang lại nhiều cơ hội phát triển cho du lịch của
thủ đô trong tương lai.


3.Nhà Trưng bày – Vũ Thị Bảo Dung (25 phút)
Việc được UNESCO cơng nhận là di sản văn hóa thế giới, Khu trung tâm Hoàng
thành Thăng Long – một trong những di sản quý báu và lâu đời nhất của quốc gia –
chính thức trở thành báu sản của tồn nhân loại. Hoàng Thành Thăng Long đã tọa lạc
sừng sững tại trung tâm Hà Nội hơn 1000 năm nay, trải qua 8 triều đại bắt đầu từ thời
Đại La. Và rất nhiều các hiện vật, di vật mang nét đặc trưng văn hóa của từng triều đại
đều được lưu giữ, bảo tồn trong Nhà Trưng Bày mà chúng ta đang tiến tới đây.
Khu trưng bày hiện vật là nơi lưu giữ những di vật lịch sử tìm thấy được trong cuộc
khai quật khảo cổ học từ tháng 12/2002 do Viện khảo cổ học Việt Nam thực hiện.
Cùng với việc phát lộ quần thể dấu tích kiến trúc đã phát hiện được hàng vài triệu di
vật cho thấy lịch sử tồn tại liên tục, lâu dài không đứt đoạn của trung tâm quyền lực
qua 1300 năm, từ thời Tiền Thăng Long đến thời Thăng Long dưới sự trị vì của các
vương triều Lý-Trần-Lê-Mạc (1010-1789).
Trước mặt chúng ta là tượng đầu Rồng thế kỷ XI-XII nó có niên đại lâu nhất và lớn
nhất trong khu khảo cổ học thuộc thời nhà Lý. Vương triều nhà Lý kéo dài 216 năm.
Hình tượng Rồng có 1 phong cách độc đáo, chân thực, khẻo mạnh, đơn giản như là:
đầu nhỏ với miệng mở đang vờn 1 viên ngọc , răng nanh kéo dài xoắn với mơi trên
thành đường sống của chiếc mào có đường viền loăn xoăn như ngọn lửa đang bốc cao,
phía trên viền mắt có những họa tiết 2 đầu cuộn lại cùng chiều như số 3 ngửa & ngược
lại thì như hình chữ S quanh mép có những lơng măng & từ đó có 1 mảng lơng kéo
dài vút nhọn ra phía sau. Trên thực tế khảo sát cho thấy rằng, bất kỳ hình Rồng ở di
tích nào thời Lý, dù ở cách xa nhau, dù làm vào những năm khác nhau , dù kiến trúc

vương quyền hay thần quyền thì về cơ bản con Rồng Lý vẫn đều có kiểu dáng nhất
qn, được quy định thống nhất mang tính vương triều.
Cịn ở phía bên này, đây là cái niên biểu thời gian lịch sử của Hồng Thành Thăng
Long, thì nhìn vào cái niên biểu này cơ và các bạn có thể hình dung rõ hơn về các
thời kỳ phong kiến. Nếu mà xét về cái dấu tích đầu tiên thì các nhà khảo cổ học đã tìm
thấy được và chứng minh được rằng dấu mốc đầu tiên thời kỳ này có từ thế kỷ thứ VII
là thời kỳ Đại La. Mà thời kỳ Đại La thế kỷ VII, VIII, IX & đầu thế kỷ thứ X chúng ta
đang nằm dưới ách đô hộ của người Trung Quốc, từ thế kỷ thứ III trước công nguyên
đến năm 938 sau công nguyên.
Vào năm 938 người đứng lên khởi nghĩa & chiến thắng quân Nam Hán trên sông
Bạch Đằng là Ngô Quyền. Trận chiến thắng trên sơng Bạch Đằng đó được các nhà sử
học coi là trận chiến thắng mà đã chấm dứt ách đô hộ 1000 năm Bắc thuộc của đất
nước chúng ta. Nhưng sau đó đến thời kỳ loạn lạc trong sử sách gọi là loạn 12 sứ quân
& người mà đứng lên dẹp loạn 12 sứ quân là Đinh Bộ Lĩnh hay cịn gọi là vua Đinh
Tiên Hồng. Sau khi dẹp loạn xong 12 sứ quân thì vua Đinh quyết định đóng đơ ở
Hoa Lư, Ninh Bình.


Đến 1010, vị vua đầu tiên của nhà Lý là Lý Công Uẩn trong 1 lần xuôi thuyền từ kinh
đô Hoa Lư về kinh thành Đại La đã nhìn thấy rồng bay lên ở nơi đây & đã nhìn thấy
địa thế của vùng đất này nên đã quyết định dời đơ từ Hoa Lư, Ninh Bình về nơi đây và
nơi đây đã trở thành kinh đô, đặt tên là Thăng Long có nghĩa “Rồng bay”.Trong suốt
gần 800 năm lịch sử kể từ 1010-1788 đã đã có 4 triều đại lớn đóng đơ tại kinh thành
Thăng Long đó là Lý-Trần-Lê-Mạc, riêng thời Lê đặc biệt hơn 1 chút sẽ chia ra là Lê
Sơ & Lê Trung Hưng thì tý nữa vào bên trong khu trưng bày tơi sẽ nói kỹ hơn về vấn
đề này. Cịn thời kỳ nhà Nguyễn thì đã rời kinh đô vào Phú Xuân, Huế rồi.
Đây là gian phòng trưng bày của thời kỳ Đại La. Vào thời kỳ Đại La nước ta đang ở
dưới ách đô hộ của Trung Quốc. Do đó các vật liệu kiến trúc thời kỳ này ảnh hưởng
rất lớn từ văn hóa Trung Hoa & đặc biệt nhất ở đây mà kể đến rõ nhất là 2 viên gạch
này. Trên 2 viên gạch này có khắc cùng 1 dịng chữ đó là “Giang Tây Quân”. “Giang

Tây Quân” có thể hiểu là được sản xuất ra được làm ra bởi đội quân Giang Tây của
Trung Quốc & mang sang phía bên này. Đây chính là bằng chứng thể hiện ngày xưa
có sự áp đặt rất là lớn về văn hóa của Trung Quốc trên đất nước của chúng ta. Vùng
đất cổ của Thăng Long xưa kia là 1 vùng trũng , xung quanh có rất nhiều đầm lầy và
có rất nhiều cá sấu do đó người Việt cổ xưa kia đã phải chiến đấu với loài cá sấu hung
dữ để sinh tồn & do đó thì lồi cá sấu hung dữ cũng được thể hiện trên 1 cái vật liệu
kiến trúc mà cô và các bạn có thể nhìn thấy ở đây viên gạch viên gạch hình vng này
bên trên chính là hình tượng con cá sấu đang bơi và vùng vẫy trong sóng nước.
Cịn ở phía bên các vật liệu đồ dùng sinh hoạt này thì đây là những đồ dùng, đồ gốm
mà được tìm thấy ở khu di tích & được xác định có nguồn gốc từ khu vực Quảng
Đơng, Quảng Tây của Trung Quốc. Đặc biệt hơn nữa đó là những mảnh gốm màu
xanh men ngọc ở phía kia. Những mảnh gốm màu xanh men ngọc này có tên là Islam
có nguồn gốc từ khu vực Tây Á tức là Đạo Hồi. Cùng với việc tìm thấy những mảnh
gốm Islam này người ta đã chứng minh cho 1 giả thiết rằng xưa kia cái con đường tơ
lụa trên biển đã đã đi qua khu vực Hoàng Thành Thăng Long, dừng chân tại Hồng
Thành Thăng Long & sau đó mới tiến sang khu vực Trung Quốc. Chúng ta đã có sự
giao thương với khu vực Tây Á từ rất lâu rồi, từ thế kỷ VII, VIII, IX
Đây là gian phòng trưng bày hiện vật thời kỳ Đinh-Tiền Lê và kinh đô nằm ở Hoa Lư,
Ninh Bình nơi đây cũng là 1 cụm giao thương quan trọng. Ở đây tìm được những hiện
vật mà thể hiện cho nền văn hóa của người Việt cổ xưa kia.
Thứ nhất đó chính là những chiếc vịm 5 quai & 6 quai như thế này, những chiếc vịm
5quai và 6 quai như thế này đó chính là biểu tượng cho nền văn minh lúa nước của
người Việt cổ xưa kia. Bởi vì khi mà khai quật trong khu di tích Hồng Thành Thăng
Long thì đơi khi cả trong những ngơi mộ như cơ và các bạn có thể thấy ở đây, thậm
chí là tổ tiên của chúng ta xưa kia cịn đem chơn những chiếc hịm 5 quai và 6 quai


cùng với hài cốt của các bậc tổ tiên, đó chính là thể hiện cho sự gắn bó với nền văn
minh lúa nước của người Việt cổ xưa kia.
Còn ở phía bên này trong những viên gạch trang trí hình chim uyên ương hay là hình

quầng sáng như thế này. Chim uyên ương là 1 loài chim tượng trưng cho hạnh phúc
lứa đôi trong đám cưới của người Việt cổ xưa kia. Hiện nay thì các bạn thấy trong
đám cưới thì người ta sử dụng đơi chim câu đúng khơng ạ? Cịn ở xưa kia thì người ta
sử dụng chim uyên ương.
Ở phía dưới này đây là 1 mảnh của viên gạch, rất tiếc là khơng tìm được 1 viên gạch
nguyên vẹn mà chỉ tìm được mảnh như thế này thơi trên đó có khắc 1 dịng chữ & rất
may mắn là các nhà khảo cổ học đã đọc được ra nó là “Đại Việt quốc quân thành
chuyên” tức là gạch chuyên dùng để xây quân thành nước Đại Việt. Tức là khơng cịn
là Giang Tây Qn nữa mà là qn của nước Đại Việt
Từ phía bên gian phịng của thời kỳ Đinh- Tiền Lê sang gian phịng này có thể thấy có
1 sự thay đổi rõ rệt đúng khơng ạ? Rất là đẹp và hoành tráng hơn rất là nhiều.Thời kỳ
này là thời kỳ nhà Lý, là thời kỳ đầu tiên mà nơi đây trở thành kinh đô. Dấu ấn đạm
nét nhất của vương triều nhà Lý đó là sự ảnh hưởng của Phật giáo, thế nhưng Phật
giáo chỉ truyền bá và lưu hành trong vương tộc hay hoàng tộc của vương triều nhà Lý
mà thôi& hầu hết tất cả các kiến trúc đều chịu ảnh hưởng của Phật giáo.
Lúc nãy thì mọi người đã được quan sát tượng đầu rồng có thân nằm trên lá đề. Cịn ở
đây là tượng trang trí góc mái có thân và đầu rồng đều nằm gọn trong lá đề. Lá đề
thực chất là lá của cây bồ đề. Trong Phật giáo có 2 biểu tượng quan trọng đó là lá đề
và hoa sen. Nếu như mọi người đã từng xem bộ phim Tây Du Ký ý ạ thì sau lưng của
Phật Tổ Như Lai chính là lá đề, ngài đã ngồi tựa lưng vào lá đề. Lá bồ đề còn gợi lại
cho chúng ta sự tích về sự giác ngộ của Đức Phật.
Tại đây thì có lá đề và hoa sen. Thì lá đề được thể hiện trên các loại ngói trang trí trên
các mái cung điện. Thế nhưng tùy theo nếu như trang trí trên các mái cung điện của
Thái Hậu, Hồng Hậu hay là Cơng Chúa thì lá đề bên trong sẽ có song phượng.
Nhưng nếu trang trí trên các mái cung điện của vua thì lá đề bên trong lại trang trí 1
đơi song long. Và tùy theo ở 2 bên sẽ trang trí 2 lá đề gọi là 2 lá đề lệch. Lá đề lệch thì
thực chất được cách điệu 1 nửa của lá đề và 2 đầu hồi của mái cung điện sẽ là đầu
phượng hoặc đầu rồng và phần diềm mái sẽ được kết thúc bởi các ngói ống lợp gắn lá
đề trang trí hình phượng hoặc rồng như thế này, đây là loại ngói độc đáo nhất trong
châu Á, mang bản sắc riêng của nghệ thuật kiến trúc cổ Việt Nam. Các di tích kinh đơ

cổ của các nước trong khu vực khơng có loại ống ngói cầu kỳ như thế này mà chỉ lợp
ngói ống có đầu trang trí linh thú, hoa sen, hoa cúc. Cịn hoa sen thì được thể hiện ở
phía chân cột như ở kia và hoa sen có ý nghĩa là điểm tựa cho sự thuần khiết, cho sự
trường sinh.


Thực chất vương triều nhà Trần không thay đổi nhiều lắm về mặt kiến trúc, họ vẫn thu
lại những tinh hoa của vương triều nhà Lý. Thế nhưng vẫn có 1 số điểm khác biệt như
là trong 1 số lá đề lệch thì họ đã biết mạ, tráng phủ thêm men ngọc ở phía bên trên.
Hoặc là đầu phượng thì đã khác đi 1 chút, như đầu phượng của vương triều nhà Lý thì
có lá đề ở phía bên trên cịn đầu phượng của vương triều nhà Trần thì nó đã được cách
điệu bỏ đi rồi.
Ở vương triều nhà Trần thì khác biệt lớn nhất phải kể đến đó chính là ở loại hình trang
trí. Họ đã nghỉ ra 1 số loại hình trang trí mới như viên gạch hình hoa mẫu đơn như ở
đây hay là những viên gạch hình hoa chanh mà cơ và các bạn đã được quan sát ở hố
gạch ở ngoài kia! Và hoa chanh còn được thể hiện rõ hơn ở trên các loại đồ gốm. Đặc
biệt là gốm hình hoa chanh dây như thế này đặc trưng chỉ có ở vương triều nhà Trần.
Và vương triều nhà Trần thì khơng thể khơng kể đến chiến cơng lớn nhất đó chính là 3
lần chiến thắng quân Nguyên Mông đều do 1 người lãnh đạo đó chính là Hưng Đạo
Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Và sau này tướng Trần Hưng Đạo đã được sử sách của
toàn bộ thế giới ghi nhận, được xếp vào 1 trong 10 vị tướng vĩ đại nhất của nhân loại.
Việt Nam mình rất vinh dự là có 2 vị tướng, người thứ nhất đó chính là tướng Trần
Hưng Đạo cịn người thứ 2 đó chính là đại tướng Võ Ngun Giáp mà 1 lát nữa thì
chúng ta sẽ được tham quan nơi làm việc của đại tướng Võ Nguyên Giap.
Ở trong sử sách thì các bạn biết đến thời kỳ Tiền Lê & Hậu Lê đúng không ạ? Nhưng
thời kỳ Tiền Lê rất là ngắn chỉ kéo dài trong vài chục năm mà thơi & kinh đơ khi đó
nằm ở Hoa Lư, Ninh Bình. Cịn thời kỳ Hậu Lê thì kinh đơ nằm tại Hồng Thành
Thăng Long nơi đây. Thời kỳ Hậu Lê lại chia làm 2 giai đoạn đó là Lê Sơ và Lê
Trung Hưng. Thời kỳ Lê Sơ kéo dài từ năm 1428-1527. Vào 1527 bị Mạc Đăng Dung
hay cịn gọi là Mạc Thái Tổ cướp ngơi lập nên vương triều nhà Mạc. Nhưng vương

triều nhà Mạc chỉ kéo dài 1527-1592 mà thơi. Kể từ 1592 thì lại quay lại thời nhà Lê
hay sử sách gọi là thời kỳ Lê Trung Hưng. Đối với 1 số bạn nghe đến thời kỳ Lê
Trung Hưng thì nó rất là mới nhưng thực chất đây chính là thời kỳ Trịnh- Nguyễn
phân tranh. Khi đó thì thực quyền nằm trong tay chúa Trịnh , đất nước bị chia cắt làm
đơi, Đàng ngồi là do chúa Trịnh cai quản, Đàng trong do chúa Nguyễn cai quản, vua
Lê khi đó chỉ là bù nhìn. Vua Lê khi đó thì vẫn ngồi ở trong Hồng Thành Thăng
Long cịn chúa Trịnh thì xây phủ riêng cho mình & phủ của chúa Trịnh nằm ở phía
Tây của Hồ Gươm ngày nay mà đến tháng 5 này chúng ta sẽ được đồng hành cùng
nhóm PiKaLong khám phá phủ Tây Hồ.
Đây là các di vật, hiện vật tìm thấy được vào thời Lê Sơ. Và ở tấm ảnh trên cùng này
là hình ảnh con thuyền gỗ vừa mới được khai quật ở di tích. Khi tìm thấy con thuyền
gỗ này có chiều dài gần 16m. Việc tìm thấy con thuyền gỗ này đã chứng minh cho 1
giả thiết rằng xưa kia các vị vua chúa thời kỳ nhà Lê sơ đã cho đào 1 hệ thống sơng
ngịi nhân tạo ở trong cung cấm. Có nghĩa là trong những bộ phim cổ trang thì vua
chúa của chúng ta di chuyển bằng ngựa hay bằng kiệu nhưng thực chất đó chỉ là 1


phần rất nhỏ mà thơi, cịn các vị vua chúa của chúng ta di chuyển chính là bằng
thuyền & hệ thống sơng ngịi nhân tạo đó đổ trực tiếp ra thẳng sơng Hồng.
Ở phía dưới này là hình ảnh chụp thềm Rồng đá Điện Kính Thiên. Điện Kính Thiên
chính là điện thiết triều của thời kỳ nhà Lê thế kỷ XV. Có 1 điều rất đáng tiếc là cái
phần điện đã bị người Pháp phá hủy vào thế kỷ XIX để xây dựng tịa điều hành qn
đội Pháp ở Đơng Dương. Nhưng rất may thì phần nền điện và phần thềm rồng đá vẫn
còn giữ lại được.
Tiếp theo đây là phần trưng bày của thời kỳ Lê Trung Hưng. Đặc trưng của thời kỳ Lê
Trung Hưng đó là gốm & cái tủ mà q nhất ở đây đó chính là cái tủ trưng bày những
đồ ngự dụng dành cho vua chúa thời kỳ này, tất cả các đồ ngự dụng này đều được
trạm khắc hình rồng. Và cái đồ đặc biệt và q nhất ở đây đó chính là cái bát này. Nó
có tên là bát “Thấu quang” tức là hấp thụ ánh sáng , chỉ khi chiếu ánh sáng vào thì
chúng ta mới có thể nhìn thấy được vân rồng đang bay ở bên trong còn nếu tắt điện đi

thì sẽ quay trở về cái bát bình thường. Khi nghiên cứu kỹ hơn các nhà khảo cổ học và
các chuyên gia đã thấy được rằng cái vân rồng bay được in chìm giữa 2 lớp men gốm
& lớp men gốm này rất là mỏng chỉ 6mm mà thôi. Hiện nay, có rất nhiều chuyên gia
muốn phục chế lại 1 cái bát như thế này nhưng chưa có ai thành cơng hết, đây chính là
cái bát độc nhất vơ nhị, đến với gian phòng cuối cùng. Khi viết về những đồ gốm nổi
bật thời Lê này, Tiến sĩ Bùi Minh Trí (Viện Khảo cổ học Việt Nam) viết như sau:”Chất
lượng hoàn hảo của những đồ sứ này đã đạt tới trình độ cao khơng thua kém đồ sứ
ngự dụng của các vua đời Minh (Trung Quốc). Phát hiện quan trọng này là những hình
ảnh đầu tiên cho chúng ta biết chân xác về những loại gốm ngự dụng đặc sắc của Việt
Nam dùng trong Hoàng cung Thăng Long thời Lê sơ.
Trong lịng loại gốm này thường được trang trí hoa văn ám họa theo cách in nổi hình
hai con rồng chân có 5 móng và giữa lịng in chữ Quan. Chữ Quan ở đây được hiểu
theo hai nghĩa: Quan diêu là sản phẩm của lò quan và quan dụng là đồ dùng dành cho
vua quan. Do được đặc chế với loại xương gốm rất mỏng nên trọng lượng của đồ vật
rất nhẹ và khi cầm trên tay, buộc người cầm phải có ý thức cẩn thận. Những yếu tố
này cho thấy đây là những đồ vật rất quý hiếm.
Qua những đồ vật mà các nhà khảo cổ khai quật được chứng tỏ ở trung tâm Hoàng
thành thăng Long chứng tỏ có một Lị Quan từng tồn tại nơi đây để chun phục vụ
cho cung đình. Người ta gọi đó là những “lò quan” để phân biệt với “lò dân” chuyên
sản xuất đồ gốm bình dân phục vụ các tầng lớp dân thường.
Trong số các di vật khảo cổ tìm thấy ở khu khảo cổ Hồng thành Thăng Long có cả
những bao nung, các loại dụng cụ sản xuất gốm và dấu vết lò nung gốm cùng với rất
nhiều phế phẩm gốm sứ là những mảnh vỡ, những sản phẩm bị méo, lỗi hoặc bị quá


lửa… Sự khám phá khảo cổ này đã góp phần chứng minh rằng, ngay từ thời xa xưa,
trình độ tay nghề của những người thợ gốm sứ đất Thăng Long đã đạt đến mức điêu
luyện.Nói cách khác, đó chính là minh chứng cho thấy, người Việt ta có thể tự chế tác
được những sản phẩm cao cấp chỉ dùng cho nhà vua và hồng cung, hồn tồn khơng
giống như cách nghĩ và lập luận của nhiều người trước đó cho rằng toàn bộ gốm sứ

cao cấp dành cho nhà vua và hoàng cung thuở xưa đều phải nhập khẩu từ nước ngồi.
Các loại đồ gốm này đều có chất lượng cực kỳ cao, không chỉ bởi chất lượng tuyệt
đỉnh của gốm, mà cịn bởi cả sự trang trí cầu kỳ, tinh xảo và hết sức trang nhã. Những
nét vẽ trang trí đều rất mảnh, nhỏ thể hiện tay nghề đã đạt đến mức thượng thừa của
những người thợ gốm Thăng Long thời bấy giờ. Khơng những thế, người ta cịn thấy
cả những hình vẽ trang trí được bài trí bằng vàng thật trên gốm. Đây là kỹ thuật sản
xuất gốm ở đẳng cấp cao, trên thế giới bấy giờ hiếm có nước nào làm được.
Bước sang gian phịng thời kỳ nhà Nguyễn có thể thấy đây là các tấm ảnh của vương
triều nhà Nguyễn. Như tơi đã nói lúc nãy thì điện Kính Thiên xưa kia thì đã bị người
Pháp phá rồi & rất may lại còn tấm ảnh cho thấy được cái hành cung Kính Thiên xưa
kia của Điện Kính Thiên. Nhưng 1 điều trớ trêu của lịch sử là tấm ảnh này lại do
người Pháp chụp ngay trước khi họ cho phá điện Kính Thiên. Ở tấm ảnh này cơ và các
bạn có thể thấy con đường lát gạch hoa chanh ngoài kia đi thẳng trực tiếp vào đây, lối
đi chính giữa này là lối đi dành cho vua chúa.
Ở tấm bản đồ ở phía dưới này là tấm bản đồ do 1 chuyên gia người Pháp trong 1 lần
cơng tác tại Việt Nam & đến thăm Hồng Thành Thăng Long thì ơng ấy đã tìm thấy
lại được trong thư viện quốc gia Pháp. Thực ra không chắc chắn là tấm bản đồ này
được tìm thấy vào năm nào nhưng chắc chắn rằng là tấm bản đồ này được vẽ hồn
tồn bằng tay. Khi nhìn vào tấm bản đồ này có thể thấy được rằng xưa kia vua chúa
nhà Nguyễn khi cho quy hoạch lại Hoàng Thành Thăng Long thì họ vẫn cho giữ lại
cái vịng Đại La thành lớn nhất mà nằm sát bên sông Hồng, nhưng 2 hoàng thành ở
bên trong đã bị phá hủy đi rồi để xây dựng lại cái tòa thành Vauban chu vi 4km. Xưa
kia xung quanh có đào 1 hệ thống hào rất là sâu & xung quanh muốn đi lại và ra ngồi
thì phải đi lại bằng thuyền hoặc bằng cầu. Cơ lập hồn tồn để phịng thủ.Cịn tấm ảnh
cuối cùng là bức ảnh về cổng hành cung.Hiện nay thì còn 8 cổng hành cung.
4. Hầm cục tác chiến và Thềm điện Kính Thiên
Đồn ta vừa đi qua Đoan Mơn,nhà trưng bày hiện vật và hầm D64 chắc ai cũng có
trong mình những trải nghiệm vơ cùng thú vị rồi phải không ạh. Chỉ ngay kế bên nhà
trưng bày hiện vật thì dưới lịng di sản thế giới Hồng thành Thăng Long, ngồi hầm
D67-phịng họp của Bộ Chính trị và Qn ủy Trung ương, cịn một hầm bí mật khác

đó chính là hầm chỉ huy tác chiến của Bộ Tổng tham mưu hay còn gọi là Hầm D64.


Xin mời mọi người chúng ta sẽ cùng bước xuống hầm ạ!
Căn hầm mà chúng ta đang ở đây đó chính là Trung tâm chỉ huy của Bộ Tổng tư lệnh,
Bộ Tổng tham mưu. Tất cả quyết định quan trọng của các sự kiện trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ đều xuất phát từ những người chỉ huy tác chiến làm việc trong căn
hầm này, điển hình nhất là chỉ huy đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng B 52 của
Mỹ cuối tháng 12-1975.
Căn hầm được xây dựng bởi Bộ Tư lệnh Công binh từ năm 1964 đến năm 1965, Một
số bộ phận như máy thơng hơi, lọc khí, cửa sắt, điện đài, loa truyền thanh… được
nhập từ Liên Xô. Khoảng 300 cán bộ, chiến sĩ từ nhiều trung đoàn chuyên môn được
huy động đào, xây hầm từ cuối năm 1965 đến giữa năm 1966 thì đưa vào hoạt động.
Căn hầm kết cấu nửa nổi nửa chìm bằng bê tơng nguyên khối với khối lượng
khoảng 1.000m3, nóc dày 1,4m, tường dày 40cm.Phịng có đặt các trang thiết bị, động
cơ rộng 10m² là nơi vận hành các hệ thống lọc hơi, lọc độc, làm mát, điện đàm, bảo
đảm kỹ thuật cho 28 máy điện thoại hoạt động thông suốt và bảo đảm sinh hoạt cho
kíp trực ban (khoảng 10 người). Điều đặc biệt nhất là căn hầm có thể chống được sức
công phá của bom tấn và bom nguyên tử. Cửa hầm bằng thép tấm có thể chống được
sức ép nguyên tử và tia phóng xạ.
Với ba lớp nóc, trong đó có hai lớp bê tơng và ở giữa là lớp cát có thể chịu đựng
được bom tấn, tên lửa. Nội thất hầm tương đối hiện đại, đồng bộ với hệ thống tiêu đồ,
thơng tin liên lạc, cịi báo động, loa phóng thanh thơng báo về máy bay địch.Cơ và các
bạn có thể nhìn thấy đây là hệ thống tiêu đồ được sử dụng trong chiến tranh, và đây là
các trang thiết bị liên lạc của cán bộ ta thời đó.
Mặc dù có quy mơ nhỏ, đơn giản nhưng căn hầm này đóng vai trị vơ cùng quan
trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trường kỳ. Để giữ bí mật, sau khi xây xong,
Bộ Tư lệnh Công binh đã được lệnh phá sập tồn bộ tầng 2 tịa nhà Cục Tác chiến để
ngụy trang, che mắt máy bay do thám của địch. Dưới đống đổ nát hoang tàn đó, các
cơ quan, đơn vị vẫn âm thầm hoạt động, đảm bảo hoàn tồn bí mật.

Với vai trị là nơi đầu tiên tiếp nhận thơng tin qn sự, kíp trực ban dưới hầm chỉ
huy tác chiến, Bộ Tổng tham mưu, có nhiệm vụ đưa ra những phương án tác chiến bảo
vệ miền Bắc, thủ đô Hà Nội, đưa ra những đề nghị xử lý tình huống tác chiến trên các
chiến trường B, C, K khi đó. Do phải đảm bảo bí mật, chỉ có 3 người trong kíp trực
ban mỗi ngày cùng với các tiêu đồ viên, một liên lạc viên (lo việc truyền tin, cấp
dưỡng) cùng các chỉ huy cấp cao mới được phép vào hầm. Khi có tình hình khẩn cấp
mới tăng cường thêm người trong kíp trực.


Sau khi giải phóng hồn tồn miền Nam, thống nhất đất nước, căn hầm cùng
bao chiến tích lịch sử đã trở thành di tích. Mới đây, với nỗ lực bảo tồn những di tích
cách mạng kháng chiến, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long đã lên kế hoạch
nghiên cứu, phục dựng căn hầm.Lần đầu tiên, sau mấy chục năm căn hầm được mở
cửa, những trang thiết bị đa phần đã hỏng hóc, hệ thống lọc gió, làm mát đã khơng cịn
hoạt động, đường điện bị cắt… Các cán bộ của Trung tâm đã tìm hiểu, nghiên cứu
những tư liệu cũ, gặp mặt cán bộ chiến sĩ năm xưa từng làm việc tại đây, dần dần làm
sống lại căn hầm khi xưa với trọn vẹn tầm quan trọng lịch sử. Từ chiếc điện thoại số 1
chỉ dùng để nghe điện từ Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tới nút nhấn chng báo động
trên nóc tịa nhà Quốc hội hay hệ thống điện đàm, vơ tuyến điện, loa phóng thanh, tiêu
đồ đều đang được cẩn trọng phục dựng.
Tháng 12/2012 nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên khơng,
căn hầm đã mở cửa đón khách tham quan. Thơng qua di sản này người dân và du
khách quốc tế hiểu thêm về lịch sử dân tộc Việt Nam.Cùng với các di tích quân sự
khác: Nhà và hầm D 67 của Quân ủy Trung ương, hầm C 52 của Cục Quân báo, hầm
Chỉ huy tác chiến - Bộ Tổng tham mưu nằm trong cụm cơng trình quốc phịng (1965 1975) được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005.Đây là di tích Cách mạng Kháng chiến quan trọng trong hệ thống những di tích cách mạng trong khu di sản văn
hóa thế giới.
Tiếp theo đây em sẽ dẫn mọi người được trở về với khơng gian cung đình xưa,
nơi đã đi vào thơ của Bà Huyện Thanh Quan “ thành cũ lâu đài bóng tịch dương”.
Vâng đó chính là điện Kính Thiên mà hiện nay di tích này khơng cịn ngun vẹn như
xưa nữa,tuy nhiên giá trị của nó khơng vì thế mà mất đi.Thềm điện Kính Thiên hơm

nay vẫn đựợc coi là trái tim của Hoàng Thành Thăng Long, nơi mà mỗi du khách qua
đây đều muốn dừng chân lán lại.
Nếu như Khuê Văn Các được coi là hòn ngọc quý , là biểu tượng của Hà Nội thì điện
Kính Thiên lại được coi như “trái tim” của Hà Nội. Từ cổng Đoan Môn, đi theo con
đường gạch đá hoa chanh, sẽ dẫn chúng ta đến nền điện Kính Thiên.
Trong quá khứ, điện Kính Thiên được xây dựng tại vị trí trung tâm của thành Thăng
Long, là cung điện uy nghi, tráng lệ và quan trọng bậc nhất của thành Thăng Long –
Đông Đô – Hà Nội xưa. Vào năm 1010, Lý Công Uẩn đã chọn Thăng Long là nơi :”ở
giữa khu vực trời đất được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đơng tây, tiện
nghi núi sông sau trước.Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng
sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật tươi tốt phồn thịnh. Là nơi tụ hội
quan yếu của bốn phương,xem khắp nước Việt đó là nơi thượng đơ kinh sư mãi mn
đời.”Chính vì thế vua đã cho dời đô từ Hoa Lư – Ninh Bình về Thăng Long, tháng bảy
cho xây dựng điện Càn Nguyên trên núi Nùng, là nơi hội tụ khí thiêng của đất trời làm


nơi thiết triều. Tương truyền rằng, ở dưới ngọn núi này có một lỗ thơng với một cái
đầm , nên núinày có tên “ Long đỗ ” ( Rốn rồng ).
Nhưng đến năm 1027, điện Càn Nguyên bị sét đánh làm cho hư hại. Đến năm 1028,
vua Lý Thái Tông cho xây dựng lại các cung điện trung tâm trên nền cũ, có mở rộng
thêm và đổi tên “ Thiên An ”. Về sau điện Thiên An lại đổi thành điện Phụng Thiên.
Theo dòng lịch sử trải qua bao biến cố,“Đại Việt Sử ký tồn thư” viết, điện Kính
Thiên được xây dựng năm 1428 đời Vua Lê Thái Tổ và hồn thiện vào đời Vua Lê
Thánh Tơng. Điện Kính Thiên được xây dựng trên núi Nùng, ngay trên nền cũ của
cung Càn Nguyên – Thiên An thời Lý, Trần.
Lấy Càn Nguyên đặt tên cho điện coi chầu, Lý Thái Tổ đã chọn đúng trung tâm của
trời đất đặt ngai vàng để trị nước. Sau các vua nhà Lý, các vua nhà Trần, nhà Lê đã
cho xây dựng hệ thống thành lũy tại đây. Khu vực quan trọng là Cấm Thành (hay
Long Thành, Long Phượng Thành) trong thành Thăng Long thời Lý – Trần – Lê,trung
tâm là điện Càn Nguyên, Thiên An thời Lý – Trần và chính là điện Kính Thiên thời

Lê.
Thời Pháp thuộc, vào cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp phá bỏ hành cung Kính Thiên
và xây dựng trụ sở chỉ huy pháo binh tại đây. Ngôi nhà này được gọi là nhà Con Rồng
(hay còn gọi là Long Trì), do phía trước và sau đều có rồng đá chầu.
Về kiến trúc ,Điện Kính Thiên là di tích trung tâm, là hạt nhân chính trong tổng thể
các địa danh lịch sử của Thành cổ Hà Nội. Trước điện Kính Thiên là Đoan Mơn rồi tới
Cột cờ Hà Nội, phía sau có Hậu Lâu, Cửa Bắc, hai phía đơng và tây có tường bao và
mở cửa nhỏ.
Điện Kính Thiên là cơng trình trung tâm của hồng cung thời nhà Lê (thế kỉ XV –
XVIII) ở Thăng Long – Đông Kinh (Hà Nội). Năm 1428, sau chiến thắng quân Minh,
Lê Thái Tổ tiếp tục đóng đơ tại Thăng Long, cho xây dựng sửa sang lại hoàng thành bị
hư hại. Điện Kính Thiên được xây dựng trong thời kì này.. Cịn nhớ đại thi hào
Nguyễn Du đã thể hiện niềm thương tiếc về một vương triều cũ đã viết nên bài thơ
Thăng Long
Cịn đây núi Tản với sơng Hồng
Bạc đầu cịn được thấy Thăng Long
Ngàn năm dinh thự trơ đường cái
Một mẫu thành con xóa cố cung


Có một điêu đáng tiếc đó chính là điện Kính Thiên đã bị phá hủy. Vào năm 1886 thực
dân Pháp sau khi xâm chiếm nước ta đã cho người phá hủy điện và cho xây dựng một
tòa nhà hai tầng làm sở chỉ huy pháo binh toàn bộ quân độ Pháp ở Đông Dương ngay
trên nền điện.Năm 1954,sau khi đánh đuổi thực dân Pháp,Bộ quốc phòng đã tiếp quản
lại nơi này sử dụng làm bộ tổng tham mưu chiến lược, nơi này cùng với nhà D67 là
nơi bộ chính trị ,quân ủy trung ương,bộ tổng tư lệnh làm việc hơn 7000 ngày đêm và
diễn ra hơn 1000 cuộc họp quan trọng,đây cũng là nơi đã đưa ra nhiều quyết định
quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ví dụ như: chiến dịch xuân Mậu Thân
năm 1968 hay chiến dịch Điện Biên Phủ trên không năm 1972, đặc biệt đây là nơi
diễn ra cuộc họp bộ chính trị mở rộng vào ngày 21/3/1975 hạ quyết tâm giải phóng

miền nam trong 2 năm 75 - 76, và tòa nhà này được đặt tên là nhà con Rồng.
Gọi là nhà con rồng vì có hai lý do: ly do thứ nhất là tồ nhà này được xây dưng trên
nền ba tòa điện lớn của ba triều đại lớn trong lịch sử phong kiến Việt Nam; lý do thứ
hai đó là trong văn hóa Á Đông, con Rồng là biểu trưng cho quyền lực và sức
mạnh,và tịa nhà này chính là biểu trưng cho quyền lực và sức mạnh cho quân đội
nhân dân Việt Nam. Từ năm 2004 sau khi tiếp nhận lại di tich từ bộ quốc phịng , thì
ban quản lý đã chọn căn phòng lớn nhất để làm nơi đặt bàn thờ 52 vị vua trong đó có
9 vị vua nhà Lý , 13 vị vua nhà Trần,nhà Lê nhiều nhất với 24 vị vua,và nhà Mạc ít
nhất chỉ có 6 vị vua mà thơi.
Dấu tích điện Kính Thiên hiện nay chỉ còn là khu nền cũ. Nền điện dài 57 m, rộng
41,5 m, cao 2,3 m và thềm bậc xây bằng đá xanh tạo thành ba lối vào. Phía nam nền
điện cịn có hàng lan can cao hơn 100 cm. Mặt trước, hướng chính nam của điện Kính
Thiên là thềm điện xây bằng những phiến đá hộp lớn gồm 10 bậc có 4 rồng đá chia
thành 3 lối lên đều nhau tạo thành Thềm Rồng. Thềm bậc có kích thước: ngang 13,7
m, dọc 4,45 m, cao 2,1m với đôi rồng đá khắc chạm năm 1467 là những bộ phận điêu
khắc bằng đá cịn tương đối ngun vẹn.
Nói về rồng đá,Trong khu Thành cổ Hà Nội hiện cịn đơi rồng đá nguyên khối chầu
hai bên lối lên thềm trước Điện của nhà vua. Sau nhiều tranh cãi, nhiều nhà sử học đã
đi đến nhận định, đây chính là thềm Điện Kính Thiên, cung điện đi vào lịch sử và
huyền thoại như trung tâm đầu não của cả nước, nơi nhà vua thiết triều và đưa ra
những quyết sách quyết định vận mệnh của cả dân tộc. Theo tài liệu, đôi rồng này
được xây dựng năm 1467, thuộc dòng rồng Đế vương có năm móng. Đây là đơi rồng
biểu tượng cho quyền lực của nhà vua.
Từ xa xưa trong quan niệm của người phương Đơng thì rồng là tượng trưng của tích
cực và sáng tạo,là sức mạnh của sự sống;là biểu tượng cho sự tôt đẹp,may mắn, thịnh
vượng ;là biểu ượng của sự cao quý tốt đẹp thăng hoa và trường tồn.Đối với người
Việt Nam chúng ta thì rồng cịn là biểu tượng linh thiêng lien quan đến truyền thuyết


“Con Rồng Cháu Tiên” của người Việt. Chính vì vậy Rồng xuất hiện rất nhiều trong

các cơng trình kiến trúc quan trọng như đền chùa và đặc biệt là trong hồng cung ngày
xưa. Các vương triều đều lấy hình tượng rồng là biểu tượng cho quyền uy của vương
triều mình, do vây qua mỗi vương triều thì hình tượng rồng đều mang những nét điêu
khắc riêng đặc trưng riêng cho từng thời.
Rồng đá điện Kính Thiên được đánh giá là di sản kiến trúc tuyệt tác, tiêu biểu cho
nghệ thuật điêu khắc thời Lê Sơ. Quan sát bằng mắt thường có thể thấy, về tổng thể,
rồng đá thềm trước Điện Kính Thiên uốn 7 khúc, dài 5,3 mét. Đầu rồng nổi bật với
những nét chạm tinh xảo, thể hiện được sự oai hùng, mạnh mẽ. Đôi mắt rồng lồi hẳn
ra ngoài, chiếc mũi gồ cao đầy uy lực. Bộ ria rồng được chạm như hòa cùng vân mây
với những đường nét đủ mềm mại nhưng vẫn rất khỏe khoắn. Thân rồng to khỏe uốn
cứng cáp, thân rồng uốn 12 khúc đại diện cho 12 tháng trong năm,biểu trưng cho sự
thay đổi thời tiết năm tháng,sự trù phú và phồn vinh của nền văn hóa nơng nghiệp lúa
nước. Đơi sừng nhọn khép lại đằng sau theo tư thế đầu rồng ngẩng lên chầu vua. Với
tư thế này, đôi sừng, biểu tượng của sức mạnh, không dương ra như ở tư thế chiến đấu
thường thấy ở các lồi vật có sừng, mà trở nên dáng vẻ thần phục trước mặt nhà vua.
Đôi bờm trên của rồng được vuốt dài, uốn lượn về phía sau như đang bay trong gió.
Và từ nhưng đặc điểm trên ta có thể thấy được sự khác biệt của rồng thời Lê với các
vương triều Lý,Trần trước đó hay Mạc ,Nguyễn sau này.
Ngay phía dưới đầu rồng là cặp móng chân trước của rồng. Tương tự đơi sừng, bộ
móng vuốt sắc nhọn là vũ khí lợi hại của những lồi vật sở hữu nó, thường xịe ra
trước mặt khiến kẻ địch khiếp sợ. Nhưng đơi móng sắc nhọn ấy ở đôi rồng chầu vua
này lại được sắp xếp theo hướng quặp lại, đan vào nhau trong tư thế chầu vua. Các bộ
móng này và những bộ móng chân sau đều nổi bật với 5 móng. Đây chính là biểu
tượng của rồng đế vương.
Tồn bộ thân mình rồng là những nét chạm làm nổi bật cơ bắp cuồn cuộn khoẻ mạnh
của rồng, đặc biệt là ở phần chân – biểu tượng của sức bật mạnh mẽ. Rồng thời Lê có
mình trơn, khơng vảy. Trong khi đó, phần vây rồng được tạo tác suốt từ đầu tới tận
chóp đi, vừa dựng đứng khỏe mạnh, vừa vuốt nhọn dần lên đỉnh và lướt về phía sau
tương đối mềm mại.
Dạ quý khách có thể dễ dàng cảm nhận thấy hai con rồng này bò từ trên nền điện

xuống, phục xuống như đang bái phục vua vậy; còn nếu như đứng trên kia nhìn xuống
thì có cảm giác như hai con rồng này như đang sẵn sang đợi lệnh vua ban cho mình.
Như cơ và các bạn có thể dễ dàng thấy thềm rồng này gồm có 9 bậc được chia làm 3
lối đi,lối đi ở giữa được dành riêng cho vua nếu mà người khác đi vào sẽ bị trị tội khi
quân.Lối đi ở hai bên được dành cho quan và dân thường đi lại khi vào diện kiến vua.
Và thông thường sẽ là” tả văn hữu võ” – tức là quan văn sẽ đi bên trái, quan võ đi bên


phải. Chính vì thế mà 2con rồng ở giữa này được chạm khắc rất tinh sảo mang những
nét đặc trưng tiêu biểu của Rồng thời Lê, trong khi đó hai con rồng ở hai bên lại là
những con rồng cách điệu được chạm khắc đơn giản hơn với hình mây, đao, lửa.
Thềm rồng được xây dựng năm 1467, cả bậc thềm và rồng đều được làm bằng đá
thanh, rồng thì được làm bằng đá nguyên khối , dài 5,3m, thềm thì cao 2,1m.
Tương truyền, Theo “Đại Nam nhất thống chí” có ghi lại rằng: năm Đinh Hợi tức năm
1527 Mặc Đăng Dung cướp ngôi, khi bước lên thềm rồng ở điện Kính Thiên đã bị hai
con rồng ở hai bên lao vào cắn xé áo long cổn, vua tức giận cho lính dùng búa đập vào
đầu rồng,nay vết nứt vẫn cịn đó . Hiện nay tuy thềm rồng khơng cịn được nguyên
vẹn nhưtrước nhưng chúng qua đây vẫn có thể cảm nhận được phần nào sự nguy nga
tráng lệ của cung điện thuở xưa.
Phía bắc của nền Điện Kính Thiên cịn có một thềm 7 bậc lên xuống nhỏ hơn so với
bậc thềm chính ở phía nam. Hai bên bậc thềm có 2 rồng đá mang niên đại Lê Trung
Hưng , rồng dài 3,4m; uốn 7 khúc, thân có vẩy, lưng như hàng vây cá, chân rồng 5
móng… Hai bên lan can trang trí hoa sen, sóng nước, đao, lửa, vân mây…
Nền và thềm bậc điện là di tích ít ỏi trong kiến trúc hồng cung thời Lê cịn sót lại đến
ngày nay, phần nào phản ánh được quy mô hồnh tráng của điện Kính Thiên xưa.
Nghiên cứu hồn trả khơng gian Điện Kính Thiên,Từ nhiều năm trước, vấn đề
phục dựng điện Kính Thiên cũng được nhiều nhà khoa học và lãnh đạo thành phố Hà
Nội đưa ra. Nhưng khi đó, việc nghiên cứu vẫn đang dở dang, thêm vào đó, cơng tác
xây dựng hồ sơ đề nghị UNESCO cơng nhận khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long
là Di sản văn hóa thế giới vẫn cịn đang ngổn ngang nên ý tưởng này tạm thời dừng

lại. Cho tới thời điểm này, sau một thời gian phục vụ lắng nghe và tìm hiểu tâm tư
nguyện vọng của người dân, đồng thời được sự quan tâm, ủng hộ của nhiều nhà
nghiên cứu, ý tưởng phục dựng điện Kính Thiên nhằm giúp người dân có những cảm
nhận gần gũi hơn với diện mạo của Thăng Long xưa lại được khơi lại.
Công việc phục dựng điện Kính Thiên là việc khá phức tạp, cần phải có sự chung tay
của nhiều chuyên ngành, các giáo sư, nhà nghiên cứu, nhà sử học uyên thâm, tâm
huyết.Và đặc biệt là được sự cho phép của của Đảng , Nhà Nước và BQL di tích. Giờ
đây, khi được UNESCO cơng nhận là Di sản văn hóa Thế Giới có nghĩa là việc tác
động vào di sản cần có sự cấp phép của cả ủy ban văn hóa thế giới vì Hồng Thành
Thăng Long là tài sản chung của cả Thế giới tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, việc khai quật khảo cổ, nhằm phát lộ các chất liệu xây dựng, cách thức
bố trí các chân cột, nền móng của nền điện xưa… cũng đóng vai trị cực kỳ quan trọng
trong quá trình phục dựng.


Thưa quý khách trải qua bao thăng trầm của lịch sử nước nhà, tuy khơng cịn giữ được
trọn vẹn cấu trúc khơng gian ,nhưng thềm Điện Kính Thiên hơm nay vẫn cho thấy một
phần lịch sử huy hoàng của các triều đại phong kiến xưa. Chính vì những giá trị to lớn
mang trong mình mà UBND thành phố Hà Nội đã có nhiều cuộc hội thảo để phục
dựng khơng gian Điện Kính Thiên . Em cũng hi vọng mỗi quý khách đặt chân đến nơi
đây sẽ yêu hơn và giữ gìn vẻ đẹp cổ kính của thềm Điện Kính Thiên.
5.NHÀ D67
Ngay bây giờ em sẽ dẫn đoàn ta đến với hầm D67 để xem hầm này có gì giống và khác với hầm
D64 mà quý khách đã tham quan.
Thưa quý khách, một cơng trình đặc biệt bên cạnh những di tích kiến trúc cổ xưa,ghi lại dấu ấn
tiêu biểu cho cuộc kháng chiến chống mỹ thống nhất đất nước nơi đưa ra tầm vóc lịch sử đó
chính là NHÀ VÀ HẦM D67 . Di tích lịch sử cách mạng diễn ra cuộc họp quan trọng của bộ
chính trị và quân ủy trung ương trong thời kháng chiến chống mỹ cứu nước.Các di tích cách
mạng trong khu di sản có một ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc giáo dục truyền thống cho
nhân dân và thế hệ trẻ. Đặc biệt là di tích cách mạng Nhà và Hầm D67.

Bây giờ chúng ta đang đứng trước cầu thang dẫn xuống căn hầm D67 hay còn gọi là
hầm quân ủy trung ương, đây là nơi diễn gắn liền với một thời kì chiến đấu anh dũng
đầy máu lửa của quân và dân ta.
Chúng ta vừa đi qua 45 bậc thang với chiều sâu 9m so với mặt đất , hiện tại chúng ta
đang có mặt trong phịng họp bí mật của bộ chính trị dưới hầm d67 ,nói về lịch sử ra
đời của căn hầm này thì vào năm 1967 cũng là giai đoạn cuộc chiến chống đế quốc
mỹ diễn ra ngày càng ác liệt , bộ chính trị đã quyết định xây một căn hầm bí mật để
bảo vệ cho các vị lãnh đạo , tướng lĩnh của chúng ta . Hầm D67 được xây dựng năm
1967 nên đặt tên ln là hầm D67, hầm đc xây dựng trong vịng 6 tháng ngày đêm bởi
300 chiến sỹ công binh vào giờ giới nghiêm tức là ban đêm . bước vào đây chúng ta
có thể thấy được căn hầm này được xây dựng rất kiên cố hoàn toàn bằng bê tốc cốt
thép , tường chịu lực dầy 1,5 m , tường bao dày 60cm , hầm có 3 cầu thang lên xuống
theo hình chữ V , 2 cầu thang nối với nhà D67, cũng chính làm việc của các đồng chí
lãnh đạo , 1 cầu thang nối với nhà con rồng, toàn bộ các cánh cửa của hầm đều được
làm bằng sắt mô phỏng theo cửa tầu ngầm của liên xô , khi đóng cửa căn hầm này
được bịt kín hồn tồn có thể chống lại khí độc và nước từ bên ngoài.
Bên trong căn hầm được trang bị hệ thống lọc không khi tối tân thời bấy giờ do liên
xô hỗ trợ chúng ta nên khi đóng kín cửa căn hầm các vị lãnh đạo của chúng ta vẫn có
thể khơng khi sinh hoạt bình thường như ở bên ngồi. Căn hầm này được chế tạo để
chống lại các loại bom – bom gang, bom tấn và đặc biệt là thiết kế chống bom nguyên
tử lúc bấy giờ. Khi mà có báo động khơng an tồn thì các đồng chí lãnh đạo của chúng
ta sẽ rút xuống căn hầm này để làm việc. Hiện nay căn hầm còn lại 3 phịng chúng ta
có thể thấy được gồm Phịng họp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chính giữa


mà chúng ta đang đứng , hầm làm việc của các vị thư kí bên trái và phịng dặt thiết bị
lọc khơng khí , lọc gió,chống độc. Hiện tại thì chúng ta đang đứng trong phịng họp bí
mật dới căn hầm d67 , đây chính là nơi họp bí mật của các đồng chí lãnh đạo của
chúng ta , nơi đây diễn ra rất nhiều các cuộc họp quan trọng , gắn liền với các chiến
dịch lịch sử có thể kể đến : tấn công Mậu xuân 1968 , 12 ngày đêm , mùa xuân 1975.

Chắc chúng ta đã từng nghe đến cụm từ : Điện Biên Phủ Trên Không” rồi ạ , “Điện
biên phủ trên khơng” hay cịn gọi là sự kiện 12 ngày đêm là sự kiện Mỹ dung bom
B52 đánh bom bắn phá miền Bắc năm 1972.
Trước đó Bác Hồ của chúng ta đã nhận định là trước sau gì Mỹ cũng sẽ dùng B52
đánh phá miền Bắc và chúng sẽ chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội. Bác đã yêu
cầu bộ phận phòng không không quân nghiên cứu thật kỹ cách đánh B52 trước khi
Mỹ thực hiện âm mưu này . Ngày 18/12/1972 Mỹ chính thức ném bom bắn phá miền
bắc. Ngày đêm đầu tiên khi mỹ bắt đầu ném bom Hà Nội thì radar của chúng ta tại
Nghệ An đã phát hiện ra đường bay này của chúng , đây là thắng lợi đầu tiên giúp
chúng ta có thể chủ động đánh định. Trong đêm đầu tiên quân và dân ta đã bắn rơi 3
chiếc B52trong đó có 1 chiếc rơi ngay tại Đơng Anh, Hà Nội. Trong vịng 12 ngày
đêm qn và dân ta đã chiến đấu kiên cường và bắn rơi 81 máy bay địch trong đó có
34 chiếc B52.
Trước tổn thất nặng nề này Mỹ đã buộc phải dừng ném bom Miên Bắc ngồi vào bàn
đàm phán và kí hiệp định paris ngày 27-1-1973 lập lại hịa bình tại Việt Nam. 12 ngày
đêm, quân dân ta đã thắng lợi hoàn toàn, tuy nhiên 12 ngày đêm là 12 ngày đêm
khơng thể nào qn trong kí ức người dân Hà Nội, 12 ngày đêm vô cùng khốc liệt.
Sau 12 ngày đêm ấy Hà nội đã bị tàn phá vô cùng khốc liệt, thiệt hại vơ cùng nặng nề,
có những gia đình 8,9 người khơng cịn một ai sống sót sau những trận bom của Mỹ.
Con phố Khâm Thiên ngày nay sầm uất phồn hoa đã từng bị Mỹ biến thành Bình địa
sau một trận đánh bom. Sau này sự kiện này đã được chuyển thành các bộ phim rất
nổi tiếng mà các bạn có thể tìm và xem như : Hà Nội 12 ngày đêm , em bé Hà Nội. 12
ngày đêm ấy gian khổ khốc liêt như vậy ấy mà tại nơi đây, không một viên đạn quả
bom nào của Mỹ lọt vào.
Có 3 lí do để giải thích , thứ nhất đó là nơi đây được xây dựng vô cùng tuyệt mật , thứ
2 là do nơi đây ln được bảo vệ đặc biệt bởi lưới lửa phịng không hà nội , thứ 3 là
nơi đây được trang bị máy chống qt radda , và có vị trí được bao bọc bởi rất nhiều
cây cổ thủ như một lớp áo ngụy trang nên mỹ không thể phát hiện ra . Cũng có người
cho rằng nơi đây nằm ở trong thành cổ là đất thiêng của Việt Nam nên được hồn
thiêng song núi đã che chở cho Thăng long để nơi đây đưa ra những quyết định lịch sử

đưa dân tộc sang trang


Bây giờ mời mọi người sẽ cùng bước theo cầu thang chúng ta sẽ cùng lên tham quan
nhà D67, nơi làm việc và họp của các đồng chí lãnh đạo trong những ngày bình
thường ạ, căn phịng đâu tiên chúng ta đnag tham quan chính là phịng làm việc của
đại tướng Võ Ngun Giáp , đây chính là phịng làm việc của đại tướng từ năm 1968 –
1980, nói về Đại tướng Võ Ngun Giáp thì có q nhiều điều để chúng ta có thể nói ,
mình xin phép nói qua đôi nét về đại tướng ạ , đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày
25/8/1911 ở Lệ Thủy – Quảng Bình, người là đại tướng đầu tiên của quân đội nhân
dân Việt Nam , là người anh cả của quân đội nhân dân Việt Nam . Các bạn có biết trận
đánh nào đã khiến cả thế giới phải nhắc đến tên Việt Nam trên bản đồ quân sự thế
giới không ạ? Vâng, thưa các bạn đó chính là trận điện biên phủ ... Trận đánh lừng lẫy
năm châu – chấn động địa cầu , bằng mưu lược , tài chí , lối đánh sáng tạo , quyết
đoán , đại tướng lúc bấy giờ là tổng tư lệnh quân đội Việt Nam đã lãnh đạo quân đội ta
đập tan pháo đài được pháp cho là bất khả xâm phạm của mình , cả thế giới đã phải
kinh ngạc trước sức mạnh quân sự của Việt Nam. Sau này đại tướng của chúng ta đã
được vinh danh là một trong 10 vị tướng vĩ đại nhất mọi thời đại .
Vào ngày 4/10/2012 thì đại tướng của chúng ta đã từ trần hưởng thọ 103 tuổi , ngày
đại tướng mất cả đất nước khóc thương ngài – 1 vị cha già , 1 vị tướng của nhân dân ,
di thể của ngài đã được nhân dân đưa về an táng tại đảo Yến – Quảng Bình – quê
hương đại tướng , hiện nay tại đây vẫn còn lưu giữ rất nhiều hiện vật của đại tướng
khi cịn làm việc ở đây.
Ở góc của căn phòng vẫn còn lưu giữ lại một chiếc giường đơn , đây là chiếc giường ,
mà các chiến sỹ đã kê cho đại tướng nghỉ lưng những lúc mệt mỏi do năm 1975 đại
tướng trực chỉ huy chiến đấu 24/24. còn bên kia là bàn làm việc của địa tướng , chiều
30/4/1975 đại tướng đã ngồi lặng im cả buổi chiều khi nhận tin thắng lợi tại mặt trận
miền nam  .
Bây giờ mời mọi người bước qua phòng bên cạnh để tham quan ạ , đây là căn phịng
75m, phịng họp của bộ chính trị và bộ qn ủy trung ương, nơi đưa ra các quyết định

đnáh ở đâu , lui ở đâu . nơi đây diễn ra rất nhiều cuộc họp quan trọng , có thể kể đến
cuộc họp quan trọng nhất là cuộc họp bộ chính trị mở rộng từ ngày 18/12/1974 –
8/1/1975 tất cả các vị lãnh đạo đã đưa ra quyết tâm là giải phóng trong 2 năm 75,76,
sau đó là quyết định giải phóng trước mùa mưa năm 1975 . ở bên trong nhà ta có thể
nhìn thấy kết cấu qn sự của căn nhà này , tường dầy 60 cm , trần nhà dầy 75 cm , ở
giữa 45cm được chèn hoàn toàn bằng cát để chống bom đạn ,nơi đây được bảo vệ vơ
cùng an tồn và bí mật của qn đội nhân dân được bảo vệ bởi lưới lửa phòng không
và hệ thống chống quét radar của địch.
Hiện nay tại đây còn lưu giữ các hiện vật của các vị lãnh đạo đã sử dụng , các bản đồ
chiến lược của các trận đánh vẫn được lưu giữ , có tất cả 24 vị lãnh đạo nhưng hiện
nay thì khơng cịn vị nào cả . Tuy nhiên ta có thể thấy hà nội chúng ta có rất nhiều các


con đường mang tên của các vị lãnh đạo ở đây .Đó là cách để thế hệ sau chúng ta biết
về những vị lãnh đạo có cơng với đất nước nhân dân .
Đến với căn phòng tiếp theo đây là căn phòng 37m2, đây là phòng nghỉ giữa giờ các
cuộc họp , trong phòng còn lưu lại các hiện vật của các vị lãnh đạo, đặc biệt trên
tường treo ảnh của lịch sử VN lúc bấy giờ , phía bên kia là hình ảnh các vị lãnh đạo
làm việc tại nhà d67 . Đặc biệt là 2 bức ảnh cực kì quan trọng đó là hình ảnh bức điện
mật đi của địa tướng võ nguyên giáp soạn thảo vào ngày 7/4/1975 với nội dung : Thần
tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới
mặt trận; giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!" gửi đến toàn bộ các đơn
vị tham gia vào chiến dịch giải phóng miền nam. Và bức ảnh đại tướng đọc điện thông
báo thắng trận từ miền nam báo về chiều ngày 30/4/1975.
Bây giờ sẽ là căn phòng cuối cùng , đây là căn phòng 35m2 , có cấu trúc giống hệt
phịng làm việc của địa tướng võ nguyên giáp, chỉ khác 1 điều là không có chiếc
giường con , đó là phịng làm việc của cố tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt
Nam(1953-1978) ,đại tướng Văn Tiến Dũng. Sinh ngày 2/5/1917 tại Cổ Nhuế - Từ
Liêm – Hà Nội , chắc các bạn ở đây chúng ta rất quen thuộc với con đường mang tên
đại tướng chứ ạ? Đại tướng là người bạn , người đồng chí than thiết gắn bó với đại

tướng võ nguyên giáp, Đại tướng là người trực tiếp chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh
1975 tại chiến trường. sau này sau khi đại tướng Giáp về hưu đại tướng đã giữ chức
bộ trưởng bộ quốc phòng từ năm 1968 , đây là nơi đại tướng làm việc từ năm 1968
-1992 .tại nơi đây có lưu lại bộ quần áo đại tướng đã mặc trong suốt cuộc đời binh
nghiệp của mình và được gia đình địa tướng thờ trên bàn thờ đại tướng nhưng sau đó
đã mang trao tặng khu thành cổ hà nội để du khách thập phương có thể tham quan và
thấy được bộ quân phục hết sức đơn sơ và giản dị .
Hơn 40 năm đã trôi qua, nhà D67 trở thành di tích cách mạng đặc biệt quan trọng
trong khu sản Hoàng thành Thăng Long. Đến thăm di tích nhà D67 hơm nay, khách
tham quan thật xúc động khi được tận mắt chứng kiến những hình ảnh, hiện vật của sở
chỉ huy năm xưa, nơi làm việc của Bộ thống soái tối cao, trung tâm đầu não của cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Mỗi tấm bản đồ, mỗi chiếc ghế ngồi, điện thoại làm
việc đều gợi nhớ về một thời oanh liệt, về những năm tháng khó khăn, cam go và cả
những giây phút hào hùng của dân tộc trong niềm vui chiến thắng.
Tiếp theo nhà D67 là Hậu Lâu và Bắc Môn. Hậu Lâu nằm phía sau hành cung điện
Kính Thiên trong Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, là một trong 5 di
tích hiện cịn của Thành cổ
Hậu Lâu xưa gọi là Tĩnh Bắc Lâu, được xây dựng từ sau đời Hậu Lê, là nơi ở và sinh
hoạt của hoàng hậu và công chúa, rộng khoảng 2.392m2. Thời Nguyễn, Hậu Lâu làm


nơi ở của các cung tần, mỹ nữ đi theo nhà vua mỗi chuyến cơng du Bắc Hà. Hậu Lâu
có kiểu kiến trúc giao thoa giữa kiến trúc phương Đông và phương Tây.
Hậu Lâu là cơng trình xây bằng gạch gồm ba tầng.Người Pháp gọi Hậu Lâu là Lầu
Công chúa .Cuối thế kỉ 19, Hậu Lâu bị hư hỏng nặng, sau này người Pháp đã cải tạo
xây dựng lại như hiện nay. Nét đặc trưng nhất của kiến trúc Pháp ở Hậu Lâu là độ dày
của các bức tường, khiến các phịng ln mát mẻ vào mùa hè và ấm áp vào mùa đơng.
Trong khi đó, phong cách kiến trúc cung đình Việt Nam được thể hiện ở kiến trúc tòa
lầu và nhiều bức phù điêu đắp nổi trên tường, miêu tả các loại nhạc cụ, đỉnh đồng,
rồng, phượng và bốn loại cây đại diện cho bốn mùa trong năm. Chính sự giao thoa

kiến trúc Đơng – Tây này đã làm nên nét riêng rất độc đáo cho Hậu Lâu.
Năm 1998, được sự đồng ý của Bộ Văn hóa – Thông tin, Viện Khảo cổ học phối hợp
cùng Ban quản lí danh thắng Hà Nội tổ chức 2 đợt khai quật khảo cổ học trên 2 hố tại
di tích Hậu Lâu.Hậu Lâu cũng mới được đại tu trong dịp chuẩn bị kỷ niệm 990 năm
Thăng Long – Hà Nội.
Sau Hậu Lâu chính là Chính Bắc Mơn hay Cửa Bắc nằm trên phố Phan Đình Phùng,
được xây dựng năm 1805, là cổng thành duy nhất còn lại của Thành Hà Nội thời
Nguyễn. Bắc Môn (Cửa Bắc) được nhà Nguyễn xây dựng năm 1805 trên nền Cửa Bắc
thời Lê theo lối vọng lâu.Phần lầu được dựng bằng khung gỗ theo lối chồng diêm tám
mái, lợp ngói ta, trổ cửa ra bốn hướng. Nước mưa trên vọng lâu được dẫn thoát xuống
dưới qua hai ống máng bằng đá.
Đứng trên cổng thành, quan quân có thể phóng tầm mắt bao qt khắp trong ngồi
thành, dễ dàng quan sát di – biến trong đội hình quân địch. Do đó, khi chiếm được
thành Hà Nội, quân đội Pháp vẫn sử dụng lầu trên Bắc Môn làm chòi canh gác.
Hiện nay, lầu trên cổng thành mới được phục dựng một phần và được dành làm nơi
thờ hai vị quan Tổng đốc thành Hà Nội – Nguyễn Tri Phương và Hồng Diệu – đã
tuẫn tiết vì khơng giữ được thành trước sức công phá của quân đội Pháp.
Nhiều người dân vẫn thường xuyên lên vọng lâu Bắc Môn để thắp nhang tưởng nhớ
hai vị anh hùng lẫm liệt – những người được hậu thế kính cẩn đặt tên cho hai con
đường hiện đại chạy hai bên tả hữu vịng thành cổ năm xưa.
Dù Bắc Mơn là cơng trình do nhà Nguyễn xây dựng, nhưng dưới chân cổng thành
sừng sững này là tầng tầng lớp lớp di chỉ thành quách từ các triều đại trước đó, khẳng
định sự liên tục trong lịch sử ngàn năm của Hoàng thành.
Ngày nay, Bắc Môn trở thành điểm tham quan thú vị đối với du khách trong và ngồi
nước. Du khách có thể dễ dàng nhận thấy phía ngồi Bắc Mơn vẫn cịn lưu dấu 2 vết
đạn thần công của Pháp khi chúng dùng chiến thuyền tấn cơng thành Hà Nội từ phía
bờ sông Hồng năm 1882.


Thành cửa Bắc khơng chỉ là một di tích cịn sót lại của khu thành cổ Hà Nội mà cịn là

minh chứng cho những cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân Hà Nội trong những
ngày đầu chống lại sự xâm lăng của thực dân Pháp chiếm thành Hà Nội.
6. Khu khai quật 18 Hồng Diệu
Thăng Long – Kinh đơ của nước Đại Việt đã từng rất phồn thịnh vào các thế kỉ 11 –
15, dưới triều đại Lý – Trần – Lê Sơ. Nhưng do nhiều nguyên nhân và biến cố lịch sử,
những dấu tích về một Kinh đơ Thăng Long xưa đến nay chỉ cịn lại những hồi niệm
về một Kinh đô đẹp đẽ, tráng lệ và thanh lịch, khiến cho chúng ta hôm nay không thể
không lần tìm, khơi phục lại.
Tháng 12/2002,khu 18 Hồng Diệu được phát lộ.Cuộc khai quật này được coi là cuộc
khai quật lớn nhất từ trước tới nay được tiến hành trong hơn một năm với số lượng di
vật tìm thấy lên đến hàng triệu phần nào giải thích được khơng gian hồng thành xưa
chấm dứt cuộc tranh cãi muôn thuở giữa các nhà khảo cổ.
Sau 8 năm khai quật,khu khảo cổ đã mở cửa đón khách tham quan lần đầu tiên vào dịp
đại lễ 1000 năm TL-HN.Với điện tích là:hơn 45 ha.Khu khảo cổ được chia thành 4
khu theo tên:A,B,C,D:
Khu A:nằm giáp đường Hoàng Diệu,đây là nơi đã phát hiện được nhiều dấu tích quan
trọng tiêu biểu như “kiến trúc nhiều gian”thuộc niên đại nhà Lí-Trần…
Khu B:nằm tiếp giáp và song song với khu A,nơi đây cũng phát hiện khá nhiều những
di tích thời Lì-Trần.Khu C:nằm cạnh khu B,liền kề với khn viên Quảng trường Ba
Đình,khu này mới khai quật được 5 hố đào.
Khu D:nằm ở Trung tâm thể thao Ba Đình,cạnh đường Độc Lập,…,khu vực này đã
khai quật được 7 hố(D1-D7).
Theo thơng tin tìm được,ngày 28/12,Viện khoa học xã hội Việt Nam đã bàn giao 2 khu
là khu A và khu B cho UBND Tp Hà Nội.
Trước khi khai quật khu vực này thì địa thế ở đây rất là cao trước kia chính là 1 doanh
trại qn đội đóng qn tại đây.Vì mới đầu dự kiến là xây nhà Quốc Hội nhưng theo
luật di sản thì phải thăm dị địa chất xem dưới đó có gì khơng .Và khi thăm dị thì thấy
có rất nhiều hiện vật lên đã đề nghị Thủ tướng cho dừng cơng trình này để đào lên và
khi đào lên thì nhìn thấy rất nhiều khảo cổ học ngày xưa. Nhờ vào khu khảo cổ này,
Hoàng thành Thăng Long đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới.

Nhìn chung các lớp đất văn hóa khai quật được thường xuất hiện ở độ sâu 1m trở
xuống và dày từ 2m đến 3.2m. Ở các vị trí khai quật đều tìm thấy các dấu tích văn hóa
dày đặc của nhiều triều đại xếp chồng lên nhau.Ở nhiều điểm các nhà khảo cổ đã tìm


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×