TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
------------o0o-------------
TIỂU LUẬN
Kinh tế chính trị Mác-Lênin
Đề tài: Tác dụng và ảnh hưởng của tích lũy tư bản tới sự phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Thị Lan Hương.
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 08
Mã lớp: 123628
HỌ VÀ TÊN
Nguyễn Cơng Huấn
Hịa Chí Hiếu
Hà Đức Huỳnh
Bùi Cơng Vinh
Bùi Đức Minh
1
Mục lục
2
Phần mở đầu
1.
Sự cần thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập, phát triển năng động nhất từ
trước đến nay và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng cả về kinh tế, chính
trị, nâng cao vị thế đất nước trên thế giới. Đó là những thành quả rất đáng tự
hào mà mỗi chúng ta đều cảm nhận được, là kết quả của sự lựa chọn đúng
đắn đường lối phát triển kinh tế thị trường định hưvà sự vận dụng sáng tạo
các phương pháp, nguyên lý cơ bản của phát triển kinh tế vào điều kiện Việt
Nam. Với mơ hình nền kinh tế hiện đại, vốn có vai trị đặc biệt quan trọng
trong việc tăng trưởng kinh tế. Nhà kinh tế học hiện đại Samuelson cho rằng
một trong những đặc trưng quan trọng của kinh tế hiện đại là kĩ thuật công
nghiệp tiên tiến hiện đại dựa vào việc sử dụng vốn lớn". Vốn là cơ sở để tạo ra
việc làm, tạo ra công nghệ tiên tiến, tăng năng lực sản xuất của các doanh
nghiệp và của cả nền kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất theo chiều
sâu. Với nhận thức sâu sắc về vai trị của việc tích luỹ vốn phục vụ phát triển
kinh tế đất nước, trong bài tiểu luận này, với sự hướng dẫn của giáo viên bộ
môn em xin trình bày những lý luận chung về tích luỹ tư bản, tác dụng và ảnh
hưởng của tích lũy tư bản tới sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam. Do hạn chế về thời gian và trình độ, bài viết sẽ khó tránh
khỏi những sai sót trong q trình nghiên cứu, nhóm em rất mong nhận được
sự đánh giá của các thầy, cơ giáo. Nhóm em xin trân trọng cảm ơn.
2.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận này là sự phát triển của nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam khi chịu ảnh hưởng, tác động của tích
lũy tư bản.
3.
Phạm vi nghiên cứu
Do đây chỉ là một bài tiểu luận nên có sự giới hạn của nó trong việc nghiên
cứu. Vì thế ở bài tiểu luận này chúng em chỉ làm rõ một phần nội dung của tích
lũy tư bản. Để từ đó biểu hiện được những tác dụng và ảnh hưởng của tích lũy
tư bản tới sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
4.
Phương pháp nghiên cứu
3
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở phương pháp luận
định hưởng nghiên cứu. Ngoài phương pháp luận, bài tiểu luận còn sử dụng
các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh,
5. Giới thiệu nội dung nghiên cứu
Nội dung của bài tiểu luận nghiên cứu về
Khái quát lý luận về tích lũy tư bản
1.1 Tư bản
1.
1.2 Quy luật tích lũy tư bản
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tích lũy tư bản
2. Tác dụng của tích lũy tư bản đến nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam
2.1 Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
2.2 Tác dụng của tích lũy tư bản đến nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
3. Một số khuyến nghị nhằm phát huy tác dụng của tích lũy tư bản
3.1 Mục tiêu
3.2 Một số khuyến nghị
4
Phần nội dung
1. Khái quát lý luận về tích lũy tư bản
1.1 Tư bản
Tư bản là giá trị nhằm mục đích mang lại giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng
cách bóc lột sức lao động của cơng nhân làm thuê Tư bản là một quan hệ xã hội,
là quan hệ sản xuất phản ánh mối quan hệ cơ bản giữa giai cấp tư sản và giai cấp
vô sản làm thuê. Công thức chung của tư bản được xác định là I - H -T' với T > bởi
vì mục đích của cơng thức này là thặng dư (kinh tế), chứ không phải tiêu dùng, xu
thế vận động của công thức này là không giới hạn, nên mới đại diện được cho
một phương thức sản xuất
1.2
Quy luật tích lũy tư bản
Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mơ của tư bản cá biệt bằng cách tư bản
hóa giá trị thặng dư trong một xí nghiệp nào đó, nó là kết quả trực tiếp của tích
lũy tư bản. Chẳng hạn, một tư bản 1.000 đô la cộng thêm 100 đơ la giá trị thặng
dư tư bản hóa thành một tư bản lớn hơn là 1.100 đơ la. Tích lũy tư bản xét về
mặt làm tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt là tích tụ tư bản. Tích tụ tư bản,
một mặt là yêu cầu của tái sản xuất mở rộng, của sự ứng dụng tiến bộ kỹ thuật,
mặt khác sự tăng lên của khối lượng giá trị thặng dư trong quá trình phát triển
của sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo khả năng hiện thực cho tích tụ tư bản. Tập
trung tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách hợp nhất
những tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn.
Thí dụ một tư bản 3.000 đô la hợp lại với một tư bản 2.000 đô la thành một tư
bản lớn hơn là 5.000 đơ la. Cạnh tranh và tín dụng là những yếu tố mạnh nhất
thúc đẩy tập trung tư bản. Do cạnh tranh mà dẫn tới sự liên kết tự nguyện hay sát
nhập các tư bản cá biệt. Tín dụng tư bản chủ nghĩa là phương tiện để tập trung
các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội vào tay các nhà tư bản. Nếu tích tụ tư bản
làm tăng quy mô tư bản cá biệt và tăng quy mô tư bản xã hội và phản ánh mối
quan hệ trực tiếp giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản thì tập trung tư bản
khơng làm tăng quy mơ tư bản xã hội mà chỉ phân phối lại và tổ chức lại tư bản xã
hội, nó phản ánh quan hệ trực tiếp giữa các nhà tư bản. Tích tụ và tập trung tư
bản có quan hệ với nhau và tác động thúc đẩy nhau. Tích tụ tư bản làm tăng quy
mô tư bản cá biệt khiến cho cạnh tranh gay gắt hơn, dẫn đến sự tập trung tư bản.
5
Tập trung tư bản tạo ra điều kiện để tăng cường bóc lột giá trị thặng dư và đẩy
mạnh tích tụ tư bản.
1.3
Các nhân tố ảnh hưởng đến tích lũy Tư bản
Với khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì qui mơ tích luỹ tư bản phụ thuộc
vào tỉ lệ phân chia giữa tích luỹ và tiêu dùng. Nếu tỉ lệ đó được xác định thì quy
mơ tích luỹ tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư có 4 nhân tố ảnh
hưởng đến khối lượng giá trị thặng dư. Một là trình độ bóc lột giá trị thặng dư
(m). Thông thường, muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tăng
thêm máy móc, thiết bị và công nhân. Nhưng ở đây, nhà tư bản không tăng thêm
công nhân mà bắt buộc số công nhân hiện có cung cấp thêm một lượng lao động
bằng cách tăng thời gian lao động và cường độ lao động, đồng thời tận dụng một
cách triệt để công suất của số máy móc hiện có, chỉ tăng thêm nguyên liệu tương
ứng. Nhà tư bản có lợi là khơng cần ứng thêm tư bản để thêm cơng nhân và máy
móc, mặt khác thiết bị và máy móc được khấu hao nhanh hơn, giảm được bao
mịn vơ hình và chi phí bảo quản. Trong ngành khai thác, đối tượng lao động là
tặng vật tự nhiên, tư bản bất biến chủ yếu là tư liệu lao động, chỉ cần dựa vào sức
lao động có thể tăng qui mơ tích luỹ mà khơng cần ứng tư bản mua thêm nguyên
liệu. Trong nông nghiệp cũng vậy, với một số nông cụ, vật tư như cũ, độ phì của
đất thì sản lượng tăng lên nếu như một số công nhân như cũ lại cung cấp một
lượng lao động lớn hơn. Hai là năng suất lao động. Năng suất lao động xã hội tăng
lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng giảm. Sự giảm này đem lại hai hệ
quả cho tích luỹ:
Một là: với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tích luỹ có
thể lấn sang phần tiêu dùng, trong khi sự tiêu dùng của nhà tư bản khơng giảm
mà vẫn có thể có thể bằng hoặc cao hơn trước,
Hai là: một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích luỹ cũng có thể
chuyển hố thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm
nhiều hơn trước. Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã tạo ra nhiều yếu tố
phụ thêm cho tích luỹ nhờ việc sử dụng vật liệu mới và cơng cụ mới của vật liệu
hiện có đó là những phế thải vốn khơng có giá trị trong tiêu dùng sản xuất và tiêu
dùng cá nhân của xã hội. Cuối cùng, năng suất lao động tăng sẽ làm cho giá trị của
tư bản cũ tái hiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh.
6
Ba là: chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng tư bản sử dụng là
khối lượng giá trị những tư liệu lao động mà tồn bộ qui mô hiện vật của chúng
đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm cịn tư bản tiêu dùng là phần
giá trị những tư liệu lao động ấy được chuyển vào sản phẩm theo từng chu kì sản
xuất dưới dạng khấu hao. Do đó, có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản
tiêu dùng. Sự chênh lệch này là thước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất. Sau
khi trừ đi những tốn phí hàng ngày trong việc sử dụng máy móc và cơng cụ lao
động, nghĩa là sau khi trừ đi giá trị hao mòn của chúng đã chuyển vào sản phẩm,
nhà tư bản sử dụng những máy móc và cơng cụ lao động đó mà khơng đi hỏi một
chi phí khác. Kĩ thuật càng hiện đại, sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản
tiêu dùng càng lớn, thì sự phục vụ không công của tư liệu lao động càng lớn.
Bốn là: đại lượng tư bản ứng trước. Muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư thì
phải tăng qui mơ tư bản. Đại lượng tư bản ứng trước càng lớn thì quy mô sản
xuất càng được mở rộng theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, khối lượng giá trị thặng
dư tăng lên càng nhiều.
2.
Tác dụng của tích lũy tư bản đến nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam
2.1 Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
2.1.1 Khái niệm nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng
bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN
phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường
hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
2.1.2 Nguyên nhân hình thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt
Nam
Việc nước ta phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
một tất yếu khách quan. Nền kinh tế nước ta khi bước vào thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội cũng mang nặng tính tự cung tự cấp, vì vậy sản xuất hàng hoá phát
triển sẽ phá vỡ dần kinh tế tư nhiên chuyển dần sang nền kinh tế hàng hoá, thúc
đẩy sự xã hội hoá sản xuất. Khi kinh tế hàng hóa phát triển tới một mức nào đó
cao hơn nó sẽ chuyển sang nền kinh tế thị trường. Như vậy sự phát triển kinh tế
7
thị trường sẽ thúc đẩy q trình tích tụ và tập trung sản xuất, do đó tạo điều kiện
cho sự ra đời của sản xuất lớn mang tính xã hội hóa cao, đồng thời chọn lọc được
những người sản xuất kinh doanh giỏi, hình thành đội ngũ cán bộ quản lý có trình
độ cao, lao động lành nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Mặt khác
phát triển nền kinh tế thị trường sẽ giúp chúng ta giải phóng sức sản xuất, động
viên mọi nguồn lực trong và ngồi nước để thực cơng cuộc cơng nghiệp hố hiện
đại hoá đất nước, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao
hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện từng bước đời sống của nhân dân. Việc phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ thúc đẩy các doanh
nghiệp tích cực cải tiến trang thiết bị để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp
nước ngồi. Qua đó nhằm cải tiến kỹ thuật và nâng cao chất lượng sản phẩm, và
năng suất lao động. Và với một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa thì chúng ta mới đi đến mục tiêu không cần áp bức bóc lột, xã hội dân chủ
cơng bằng văn minh, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, nhằm xây
dựng tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển, cùng sánh vai với các cường
quốc năm châu và thực hiện ước muốn của chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn thể
nhân dân ta.
2.1.3 Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nước ta xây dựng là nền kinh tế
vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo
đảm định hưởng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là
nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của nhà nước
pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, cơng bằng, văn minh". Có hệ thống pháp luật, cơ chế,
chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành
thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới, vai trò, chức năng
của nhà nước và thị trường được xác định và thực hiện phủ hợp với thông lệ,
nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế phổ biến là nền kinh tế có quan hệ sản xuất tiến
bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, có nhiều hình thức sở
hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo,
kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế doanh nghiệp nhà
nước giữ vị trí then chốt và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà
nước. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN các chủ thể thuộc các thành
phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Khuyến khích làm
8
giàu hợp pháp. Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh
tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối
thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước đóng vai trị định
hướng, xây dựng và hồn thiện thể chế kinh tế, tạo mơi trường cạnh tranh bình
đẳng, minh bạch và lành mạnh, sử dụng các cơng cụ, chính sách và các nguồn lực
của nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh và bảo vệ môi trường, phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội. Thị trường
đóng vai trị chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, là
động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất, các nguồn lực nhà nước được phân
bố theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.
2.2 Tác dụng của tích lũy tư bản đến nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Thành quả của những quốc gia phát triển nhanh trên thế giới đã khẳng định
một điều rằng tích tụ và tập trung tư bản có vai trị đặc biệt quan trọng trong q
trình tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc gia. Đó là động lực, cơ sở cho sự
thăng tiến của cả nền kinh tế, từ đó mở ra những hướng đi mới cho các ngành,
các lĩnh vực hoạt động có hiệu quả hơn. Ở Việt Nam, vấn đề vốn càng trở nên
quan trọng hơn, chỉ có trên cơ sở một lượng đầu tư mạnh, với lượng vốn lớn mới
có thể xây dựng một nền cơng nghiệp hiện đại có kĩ thuật cao ngang tầm các
nước phát triển, khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên đất nước, khái niệm vốn
trong nước đó là toàn bộ những yếu tố cần thiết để cấu thành quá trình sản xuất
kinh doanh, được hình thành nên từ các nguồn lực kinh tế và sản phẩm thặng dư
được tích lũy qua các thời kì. Vốn hiểu theo nghĩa hẹp đó là tiềm lực tài chính của
mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Còn hiểu theo nghĩa rộng vốn là
tổng thể nguồn nhân lực, chất xám, tài ngun. Vì thế, việc tích tụ và tập trung
vốn nói chung là cực kỳ cần thiết cho sự phát triển của Việt Nam trong hiện tại và
tương lai. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tích tụ và tập trung vốn rất
chặt chẽ. Sự tăng trưởng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của tích tụ và tập
trung khi nền kinh tế đạt tăng trưởng cao, mức sống người dân thay đổi, doanh
thu xí nghiệp tăng lại tạo điều kiện tích lũy tăng. Ngược lại quá trình tích tụ và tập
trung hiệu quả trở thành địn bẩy cho sự tăng trưởng kinh tế. Tích tụ và tập trung
vốn càng nhiều, thì qui mơ vốn đầu tư càng lớn hoạt động kinh tế diễn ra được
nhanh chóng. Do đó, con đường tích lũy vốn trong nước có hiệu quả là bài toán
cần tháo gỡ để tăng tốc nền kinh tế Việt Nam. Khi nào các nguồn lực tiền bạc, của
cải, đất đai, tài nguyên, trí tuệ con người được tập trung tối đa vào dòng chảy của
9
đầu tư để sản sinh ra những dòng lợi nhuận mới cao gấp nhiều lần số vốn ban
đầu, thì khi đó mỗi doanh nghiệp hay cả quốc gia chúng ta mới có thể đạt được
những bước phát triển vượt bậc về kinh tế. Vốn là nhân tố vô cùng quan trọng để
thực hiện quá trình ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, phát triển cơ sở hạ tầng,
chuyển dịch cơ cấu và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nhờ đó, đời sống
nhân dân ngày một nâng cao, các nguồn lực về con người, tài nguyên và các mối
bàn giao cũng được khai thác có hiệu quả hơn. Từ đó, tác động mạnh mẽ đến cơ
cấu kinh tế của đất nước được chuyển dịch nhanh chóng theo hướng cơng nghiệp
hóa hiện đại hóa, tạo ra nền kinh tế có các ngành cơng nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ
lệ cao và hướng mạnh ra xuất khẩu. Chính điều đó sẽ tạo nên một nền kinh tế có
tốc độ nhanh và ổn định, cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn
dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo. Tập trung
tháo gỡ mọi vướng mắc, xoá bỏ mọi trở lực để khơi dậy nguồn lực to lớn trong
dân, cổ vũ các nhà kinh doanh và mọi người dân ra sức làm giàu cho mình và cho
đất nước. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút tốt hơn và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực bên ngồi. Nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng,
gắn kết với nhau thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước. Cơng nghiệp
hóa, hiện đại hóa là q trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng
cơng nghiệp, hiện đại hóa máy móc kĩ thuật áp dụng các thành tựu khoa học tiên
tiến trên cơ sở đó tăng năng suất lao động, cải tiến chất lượng, đưa Việt Nam
thành một nước có nền kinh tế phát triển. Muốn làm được điều đó tất yếu cần
một nguồn vốn lớn mà điều đó chỉ có khi quá trình tích lũy trở nên mạnh mẽ trên
tất cả mọi lĩnh vực và thực sự có hiệu quả Việt Nam sẽ có tốc độ tăng trưởng như
thế nào trong những thập niên sắp tới tùy thuộc vào khả năng áp dụng thành tựu
khoa học kĩ thuật, cải tiến máy móc mà cơ sở của nó là q trình tích lũy vốn.
Khái qt tình hình tích lũy vốn ở Việt Nam Đất nước ta đã đạt được nhiều thành
tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, nhất là hơn 20 năm đổi mới vừa qua, tốc
độ tăng trưởng khá cao, sản xuất phát triển, có tích luỹ từ nội bộ, đời sống nhân
dân được cải thiện rõ rệt. Để giữ được tốc độ tăng trưởng cao trong những năm
tới sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc tích lũy, huy động vốn cho nền kinh tế. Trước
đây trong nền kinh tế bao cấp, tiêu dùng cịn thiếu thốn thì q trình tích lũy vốn
còn gặp rất nhiều trở ngại. Nhà nước lại can thiệp quá sâu vào nền kinh tế dẫn
đến việc tổ chức doanh nghiệp không thể phát huy hết khả năng của mình, nhiệm
vụ tích tụ và tập trung vốn không đạt được hiệu quả. Từ khi chuyển đổi nền kinh
tế, đời sống nhân dân đã được cải thiện rõ rệt, thu nhập quốc dân tăng lên tuy
10
nhiên nó vẫn cịn q nhỏ bé so với nền kinh tế thế giới. Một trong những nguyên
nhân chính là thực trạng tích lũy vốn của ta chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, quy
mô vốn của các doanh nghiệp thấp. Sự nghiệp cơng nghiệp hố hiện đại hố ở
nước ta bắt đầu từ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1960 đến 1964 do Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ III đề ra. Q trình này có thể được chia thành 2 thời kỳ: Thời kỳ
1960- 1985: công nghiệp hóa được tiến hành trong điều kiện cơ chế kinh tế tập
trung quan liêu, bao cấp Thời kỳ 1986 đến nay: cơng nghiệp hóa gắn liền với quản
lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Từ năm 1986 đến nay, cùng với công
cuộc đổi mới, mở cửa, các kênh huy động vốn cho cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
cũng bắt đầu phong phú, linh hoạt hơn. Đối với nguồn vốn nước ngồi, ngồi hình
thức cũ là vay nợ và viện trợ, đã có thêm hình thức đầu tư trực tiếp. Nguồn vốn
trong nước cũng được bổ xung một số kênh mới, đặc biệt là từ khi có pháp lệnh
Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, tín dụng và cơng ty Tài
chính. Theo 2 pháp lệnh này, hệ thống ngân hàng một cấp ở nước ta đã chuyển
sang hệ thống ngân hàng hai cấp. Các Ngân Hàng Thương Mại có thể được thành
lập dưới hình thức cơng ty cổ phần và được phép thực hiện đa dạng hoá các
nghiệp vụ. Đây là tiền đề pháp lý đầu tiên cho phép các Ngân Hàng Thương Mại
Việt Nam có thêm nhiều khả năng thực hiện các nghiệp vụ tài chính, góp phần
thúc đẩy nhanh q trình tích tụ và tập trung vốn. Tính chung tổng vốn đầu tư
phát triển toàn xã hội thực hiện cả giai đoạn 1996 - 2000 thì cả nước đạt 394,1
ngàn tỷ đồng, tăng 66,7% so với giai đoạn 1991 - 1995. Tỷ trọng vốn đầu tư phát
triển toàn xã hội giai đoạn 1996-2000 chiếm trong GDP bình qn là 28,6% năm.
Tích luỹ nội bộ của nền kinh tế từ mức không đáng kể đã tăng lên 25%GDP. Trong
giai đoạn từ năm 2000 đến nay: năm 2001- 2006 chiếm 28,2% so với tỷ lệ đóng
góp của vốn đầu tư là 52,7% năm 2007 tốc độ tăng trưởng tín dụng là 53,9%, gấp
3,1 lần tốc độ tăng GDP theo giá thực tế; năm 2008 tăng 39,6%, gấp 3,3 lần, năm
2009 tăng 34,8%, năm 2010 tăng 37 ,5%, năm 2011- 2017 chiếm nguồn vốn đầu
tư toàn xã hội ước đạt 15.524 tỷ đồng; trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
ước thực hiện 1.150 tỷ đồng. Trong các nguồn vốn cấu thành nên tổng nguồn vốn
đầu tư phát triển toàn xã hội, nguồn vốn Nhà nước có tốc độ tăng trưởng nhanh
nhất. Trong khi đó thì nguồn vốn ngoài Quốc doanh qua các năm 1996-2000 lại có
chiều hướng Vốn đầu tư tồn xã hội ngày càng giảm sút, mặc dù năm 2000 có
tăng hơn 1999 nhưng vẫn ở mức thấp so với năm 1995. Trong tổng số vốn đầu tư
ngồi quốc doanh thì vốn trong nước ước tính đạt 674,8 nghìn tỷ đồng, tăng
10,5% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,8% GDP tính đến năm 2017, dân cư
11
chiếm tỷ trọng lớn, trên 80%, còn vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ
chiếm dưới 20%. cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phân theo ngành kinh tế
cũng đã có những chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh
những kết quả đạt được, vấn đề huy động và sử dụng vốn trong nước hiện nay
đang bộc lộ những yếu kém cần khắc phục. Ngân sách nhà nước ln ở trong tình
trạng căng thẳng, không thể đáp ứng đủ các yêu cầu cho đầu tư phát triển và các
yêu cầu cấp bách về xã hội.
3.
Một số khuyến nghị nhằm phát huy tác dụng của tích lũy tư bản
3.1 Mục tiêu
Trước hết, Việt Nam phải hồn tất q trình chuyển đổi sang kinh tế thị
trường hiện đại, hội nhập theo thông lệ quốc tế. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện
các khung khổ thể chế, pháp luật theo hướng ổn định, cụ thể, minh bạch và thực
thi nghiêm túc để phát triển đầy đủ và đồng bộ thị trường các yếu tố sản xuất,
bảo đảm đầy đủ quyền tự do, an toàn trong hoạt động kinh doanh, huy động,
phân bố, sử dụng hiệu quả các nguồn lực theo nguyên tắc thị trường. Xây dựng và
hoàn thiện khung khổ pháp lý cho các loại hình kinh doanh mới, kinh tế số, cung
cấp dịch vụ công, quản lý và bảo vệ môi trường theo nguyên tắc thị trường.
Hai là, làm cho thị trường, nhất là thị trường các yếu tố sản xuất hoạt động
đầy đủ, khơng méo mó, không sai lệch và trở thành yếu tố quyết định trong huy
động và phân bổ nguồn lực xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, cần ưu tiên hoàn
thiện thị trường quyền sử dụng đất và thị trường khoa học công nghệ để thúc đẩy
huy động nguồn lực và đổi mới sáng tạo.
Ba là, nhà nước tiếp tục chủ động giảm bớt và thay đổi vai trị và chức năng
của mình, qua đó làm thay đổi vai trị, chức năng của thị trường và quan hệ giữa
nhà nước và thị trường. Nhà nước thực hiện tốt chức năng xây dựng chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách, phân bổ nguồn lực phát triển (vốn, đất
đai, khoáng sản, tài nguyên...) theo cơ chế thị trường. Bảo vệ quyền sở hữu tài
sản hợp pháp và quyền tự do kinh doanh, thực thi hợp đồng của người dân,
doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Nhà nước coi trọng vai trò của thị
trường, xây dựng thể chế phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần
12
kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân tự do kinh doanh và phát triển. Đồng thời, nhà
nước chủ động kiểm soát, tác động vào thị trường để phát huy mặt tích cực và
hạn chế tác động của những yếu tố khơng hồn thiện, tiêu cực của thị trường.
Xây dựng nhanh nền hành chính kiến tạo phát triển dựa trên chế độ chức nghiệp
thực tài, phục vụ người dân, doanh nghiệp; thực hiện phương thức, công cụ quản
lý nhà nước chủ yếu bằng điều tiết gián tiếp, tăng cường hậu kiểm, giảm tối đa rủi
ro pháp lý và chi phí tuân thủ đối với người dân và doanh nghiệp. Đẩy mạnh xây
dựng chính phủ điện tử, thiết kế đồng bộ, xây dựng và đưa vào vận hành hệ
thống tích hợp, kết nối liên thông các cơ sở dữ liệu lớn. Thực hiện chuyển đổi số
quốc gia một cách tồn diện từ chính phủ đến xã hội, doanh nghiệp để phát triển
kinh tế số, xây dựng xã hội số.
Bốn là, tập trung xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, tiếp tục mở
rộng và thực thi dân chủ, đảm bảo thực hiện đầy đủ và thực chất các quyền con
người, quyền công dân, thiết lập cơ cấu quản trị quốc gia khơng có xung đột lợi
ích, cân bằng giữa quyền lực và giám sát quyền lực, trách nhiệm giải trình đầy đủ
trước người dân và doanh nghiệp. Tập trung đổi mới quản trị nhà nước theo
hướng quản trị nhà nước tốt. Tiếp tục đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước,
thu gọn đầu mối theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực, nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Nâng cao chất lượng, đổi mới công cụ quản
lý nhà nước, đặc biệt hệ thống pháp luật hưởng đến duy trì kỷ cương, trật tự xã
hội, đảm bảo thượng tôn pháp luật, thiết lập và duy trì cạnh tranh thị trường
cơng bằng, khắc phục khiếm khuyết của thị trường đổi mới và nâng cao năng lực
của bộ máy nhà nước, tách chức năng làm chính sách và chức năng thực thi chính
sách. Đảm bảo nhất quán giữa luật pháp và thực thi luật pháp, nâng cao tính cơng
khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham của người dân nhằm giảm rủi
ro, tăng mức độ an toàn pháp lý, mở rộng cơ hội và khuyến khích sáng tạo kinh
doanh của người dân và doanh nghiệp.
3.2 Một số khuyến nghị
Giải quyết đúng đắn mối quan hệ tích lũy tiêu dùng. Vì mục tiêu của xã hội là
không ngừng tái sản xuất mở rộng, tăng thêm sản phẩm xã hội, nâng cao mức
sống của người dân mà chúng ta phải xác định cho được quan hệ giữa quỹ tích
lũy và tiêu dùng. Tương quan giữa tích lũy và tiêu dùng được coi là tối ưu khi sử
dụng được các tài sản hiện có, thực hiện được mức tích lũy có thể đảm bảo phát
triển sản xuất với tốc độ cao ổn định mà cuối cùng vẫn đảm bảo tăng tiêu dùng
13
Việc phân chia này tùy thuộc vào nhu cầu nền kinh tế ở từng thời kỳ nhất định.
Đồng thời phải khuyến khích mọi người khơng ngừng tiết kiệm, tích lũy. sử dụng
hiệu quả các nguồn vốn. Để sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, trước hết chúng ta
phải xác định rõ từng đối tượng được cấp vốn, từ đó phân bổ nguồn vốn một
cách hợp lý cho các ngành nhằm tạo ra hiệu quả sử dụng vốn cao hơn. Đối với các
doanh nghiệp nhà nước, chính phủ khơng nên cấp vốn tồn bộ mà nên tiến hành
cổ phần hóa doanh nghiệp, nhờ vậy doanh nghiệp sẽ có trách nhiệm hơn với
đồng vốn của mình, đồng thời chính nhờ có cổ phần hoá mà tạo điều kiện cho các
chủ doanh nghiệp phát huy mọi năng lực cũng như khả năng quản lý của họ từ đó
sẽ nâng cao rất nhiều hiệu quả sử dụng vốn. Việc đồng vốn có được sử dụng hiệu
quả hay không một phần lớn phụ thuộc vào yếu tố con người. Vì thế cần phải có
một đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ năng lực và trách nhiệm cao. Đồng thời
nhà nước cũng cần phải xem xét lại mơ hình tổ chức quản lý, chủ ý đến đội ngũ
cán bộ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho họ có thể phát huy mọi năng lực của
mình. Đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt nguồn vốn FDI trong khu vực
cũng như trên thế giới thi việc thiết lập một cơ chế tổ chức gọn nhẹ khơng chồng
chéo có hiệu quả cũng tạo ra khả năng cạnh tranh lớn. Tăng cường tích luỹ vốn
trong nước và có biện pháp thu hút vốn đầu tư nước ngồi. Tích luỹ vốn trong
nước có nhiều giải pháp nhưng giải pháp hàng đầu là nguồn vốn từ ngân sách nhà
nước, nguồn vốn này sẽ đóng vai trị quan trọng để giải quyết các nhu cầu chi của
nhà nước về chi thường xuyên, chi cho đầu tư phát triển và cho phát triển cơng
nghiệp. Vì vậy nâng cao hiệu quả tích luỹ, tích tụ và tập trung vốn qua ngân sách
nhà nước là hết sức cấp bách và có ý nghĩa thực tiễn lớn lao. Một biện pháp để
tăng cường lượng vốn là thơng qua các tổ chức tín dụng và ngân hàng. Đây là hai
hình thức tích luỹ vốn có hiệu quả tương đối cao do có thể thu hút được vốn còn
nhàn dỗi trong nhân dân. Để thực hiện được ngày càng tốt các nghiệp vụ của
mình, một mặt ngân hàng cần phải tự đổi mới phương thức phục vụ khách hàng
mở rộng các hình thức tiết kiệm qua bưu điện cải tiến các thủ tục đảm bảo an
tồn bí mật và ổn định cho tiền gửi của khách hàng, đồng thời chính phủ cũng cần
có biện pháp nâng cao lãi suất nhằm thu hút ngày càng nhiều vốn nhàn dỗi trong
dân. Đặc biệt là hệ thống ngân hàng cần phối hợp chặt chẽ với các quỹ tín dụng
nhân dân để tích tụ và tập trung vốn được thuận tiện. Mặt khác, việc tích tụ và
tập trung các nguồn vốn trong nước từ các nguồn tài nguyên quốc gia và từ
những tài sản cơng cộng bỏ phí vừa là mục tiêu vừa là biện pháp cơ bản trước
mắt và lâu dài để chúng ta tăng thêm nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát
14
triển. Cần nghiên cứu lại các quy định về đất và quyền sử dụng đất kết hợp hài
hoà với các tổ chức thị trường liên quan. Trong thời gian tới phải tìm cách để khai
thác cao nhất hiệu quả nhất nguồn vốn từ tài sản cơng. Đó là cơ sở vật chất trực
tiếp sẵn có mà chúng ta có thể huy động bằng cả hiện vật hoặc huy động bằng
tiền trở thành nguồn thu trực tiếp của ngân sách Nhà nước là cơ sở ban đầu cần
thiết để gọi vốn đầu tư nước ngoài. Và một biện pháp mới được áp dụng ở nước
ta hiện nay là thu hút vốn thơng qua thị trường chứng khốn. Đây là hình thức
tích tụ và tập trung vốn rất có hiệu quả đang được các nước phát triển áp dụng.
Chính thị trường chứng khốn là một hình thức của thị trường vốn, và nếu thị
trường chứng khốn hoạt động tốt thì nó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế. Ngồi nguồn vốn tích luỹ trong nước thì trong hoàn
cảnh hiện nay khi nền kinh tế mở cửa hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì một
nguồn vốn có vai trị đặc biệt quan trọng khác là nguồn vốn đầu tư nước ngoài,
bao gồm vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp trong đó vốn đầu tư trực
tiếp có ý nghĩa vơ cùng lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế trong nước. Vì
thế mà chúng ta cần phải có chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp, đặc biệt là
vốn của các nước phát triển.
Phần kết luận
15
Qua lý luận tích lũy tư bản, ta thấy rằng cùng với sự phát triển của xã hội, tích
lũy tư bản ngày càng đóng vai trị cần thiết. Nhờ tích lũy mà của cải xã hội không
ngừng tăng lên. Tuy nhiên trong từng giai đoạn lịch sử tích lũy tư bản lại mang
những bản chất khác nhau dưới chủ nghĩa tư bản, tích lũy tư bản là phương tiện
để giai cấp tư sản bóc lột lao động làm th, tích lũy càng nhiều lao động làm
thuê càng bị bóc lột nặng nề gây mâu thuẫn đối kháng không thể giải quyết được,
trong chủ nghĩa xã hội, tích lũy tư bản là phương tiện làm tăng của cải, tích lũy
càng cao thì đời sống của nhân dân càng được cải thiện. Riêng đối với Việt Nam,
để đạt những thuận lợi cùng với việc vượt qua những thách thức trong công
nghiệp hiện đại hóa đất nước, trước hết phải có nguồn vốn dồi dào và quan trọng
là việc sử dụng vốn như thế nào để đạt hiệu quả sự phát triển bền vững và liên
tục của nền kinh tế cũng tạo áp lực, thách thức đòi hỏi mỗi người dân, mỗi doanh
nghiệp khơng chỉ biết làm giàu cho mình mà cận phải làm giàu cho tồn tại xã hội.
Quy luật cạnh tranh đã bắt buộc bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải không
ngừng mở rộng vốn đầu tư để phát triển doanh nghiệp. Mà con đường duy nhất
là phải tích lũy ngày càng nhiều hơn để tải sản xuất mở rộng. Mặt khác việc thu
hút vốn đầu tư nước ngoài sẽ có tác động rất lớn. Có như vậy chúng ta mới từng
bước thực hiện thành cơng cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sớm đạt mục tiêu dân giàu
nước mạnh
16
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Giáo trình: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhà xuất bản
chính trị quốc gia – năm 2009
2. Giáo trình: Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nhà xuất bản chính trị quốc gia – năm
2005
3. Tài liệu Kinh tế chính trị Mác - Lênin. Th.S Ngơ Quế Lân
4. Trang web: lyluanchinhtri.vn
17
18