A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trải qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước đã hình thành nên một
nền văn hóa đa dạng giàu bản sắc nhưng thống nhất trong cộng đồng các dân tộc
Việt Nam. Ngày nay, đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH và hội
nhập quốc tế sâu rộng, hơn bao giờ hết việc xây dựng nền tảng văn hóa tinh thần
là vơ cùng quan trọng. Bởi văn hóa là “cốt lõi” là cái “hồn” của dân tộc, nó chi
phối lên tồn bộ hệ tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống... của con người. Có
thể nói “Có văn hóa thì có dân tộc; mất văn hóa thì dân tộc diệt vong”. Bác Hồ
đã dạy: “Các Vua Hùng đã có cơng dựng nước; Bác cháu ta phải cùng nhau giữ
lấy nước”. Giữ nước chính là giữ lấy bờ cõi của đất nước, giữ gìn truyền thống
lịch sử, những giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc văn hóa của dân tộc Việt
Nam.
Trong q trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng và Nhà nước luôn dành
sự quan tâm đặc biệt cho văn hóa nói chung, đối với lĩnh vực bảo tồn và phát
huy giá trị di sản văn hóa dân tộc nói riêng. Sau đổi mới 1986, quan điểm “tiếp
tục xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa Việt Nam, bảo tồn và phát huy
truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại” là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong văn kiện các kỳ đại hội, các nghị
quyết của Trung ương về Văn hóa sau này.
Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) khẳng định: “Văn hoá là nền
tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát
triển kinh tế, xã hội”. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tạo động lực cho
sự phát triển kinh tế- xã hội là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mỗi cấp ủy,
chính quyền địa phương. Thấm nhuần quan điểm đó, trong những năm qua,
huyện Văn Chấn rất quan tâm đến công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản
văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện trong đó có “Lễ hội cầu mùa
dân tộc Khơ Mú” xã Nghĩa Sơn, huyện Văn Chấn. Đây cũng là một trong số 21
di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh Yên Bái được định hướng bảo tồn gắn với phát
triển du lịch của tỉnh. Tuy nhiên, qua thực tiễn thực hiện vẫn còn những bất cập,
khó khăn, cần tiếp tục có những giải pháp tích cực hơn nữa nhằm giữ gìn và
phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của Lễ hội trong nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hội tại địa phương. Với vai trò là cán bộ lãnh đạo huyện, thấy được tầm
quan trọng, ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của Lễ hội cầu
mùa của dân tộc Khơ Mú, xã Nghĩa Sơn đối với nền văn hóa địa phương và định
hướng phát triển kinh tế du lịch của huyện Văn Chấn, em chọn chủ đề “Bảo tồn
và phát huy giá trị văn hóa Lễ hội cầu mùa của dân tộc Khơ Mú, xã Nghĩa Sơn,
huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái” làm đề tài viết thu hoạch mơn Văn hóa và Phát
triển với mong muốn đóng góp một số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác bảo
tồn và phát huy các giá trị tốt đẹp của Lễ hội cầu mùa của dân tộc Khơ Mú trong
xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đồng thời, góp phần vào thực hiện mục tiêu
phát huy giá trị di sản trong phát triển kinh tế du lịch của huyện Văn Chấn trong
thời gian tới.
B. NỘI DUNG
I. Một số vấn đề về lý luận
1. Khái niệm văn hóa
Theo nghĩa rộng, văn hóa được hiểu là tồn bộ những gì “phi tự nhiên”.
Văn hóa là khơng gian trí tuệ của lồi người, bao gồm hệ thống tri thức, kinh
nghiệm, hiểu biết, các quan niệm về tự nhiên, xã hội và con người của nhân loại
trong lịch sử.
Theo nghĩa hẹp, văn hóa được cho là phong tục, tập quán, hành vi, thói
quen sinh hoạt của cá nhân con người và cộng đồng xã hội trong cuộc sống
thường ngày. Văn hóa thể hiện “căn tính”, bản sắc, bản lĩnh và phong cách của
một quốc gia, dân tộc.
2. Khái niệm Văn hóa phi vật thể
Văn hóa phi vật thể là hệ giá trị tinh thần nhân loại được lưu giữ trong ký
ức cộng đồng, lưu truyền trong trí nhớ của các thế hệ người từ đời này sang đời
khác như: ngơn ngữ (bao gồm cả tiếng nói và chữ viết), âm nhạc, ca múa, sân
khấu, dân ca, ca dao, tục ngữ, truyền thuyết, huyền thoại, lễ hội, nghi lễ, phong
tục, tập quán, y học dân tộc, tri thức dân gian bản địa, nghệ thuật nấu ăn, bí
quyết làng nghề thủ công mỹ nghệ và cả những điều kiêng kỵ, cấm kỵ, tục hèm
của dân tộc…
3. Khái niệm di sản văn hóa và di sản văn hóa phi vật thể
Di sản văn hóa là tài sản của thế hệ (hoặc thời đại) trước trao truyền cho
thế hệ (hoặc thời đại) sau, tạo nên sự liền mạch văn hóa theo hướng tích lũy làm
cho văn hóa của cộng đồng, dân tộc ngày càng giàu có thêm.
Điều 1 Luật Di sản văn hóa Việt Nam 2001 quan niệm “Di sản văn hóa là
sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu
truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước CHXHCN Việt Nam”
Luật Di sản văn hóa Việt Nam chia di sản văn hóa thành lai loại là di sản
văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. “Di sản văn hóa phi vật thể là sản
phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và khơng gian văn hóa
liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc cộng đồng,
không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”
4. Khái niệm lễ hội
Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian tổng hợp/phức hợp có
tính chu kỳ và tính phong tục của một cộng đồng người, vốn nảy sinh từ thời
nguyên thủy xa xưa và phát triển trong suốt diễn trình lịch sử nhân loại cho đến
tận ngày nay (GS.TS Kiều Thu Hoạch)
Ở Việt Nam, Lễ hội là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng
đồng. "Lễ" là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tơn kính của
con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người
trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. "Hội" là sinh hoạt
văn hóa, tơn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.
II. Quan điểm bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa và chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn
hóa dân tộc
1. Quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
GIÁO TRÌNH TRANG 98 – 101
2. Đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo tồn và
phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc
GIÁO TRÌNH TRANG 102 – 106.
III. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Lễ hội cầu mùa của dân tộc Khơ
Mú, xã Nghĩa Sơn, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
1. Khái qt về lịch sử hình thành, nét văn hóa của đồng bào dân tộc Khơ
Mú, xã Nghĩa Sơn
Nghĩa Sơn là một xã vùng cao huyện Văn Chấn, tỉnh yên Bái; có diện tích
tự nhiên là 939,34 ha, dân số 1.658 người (2019) với 4 dân tộc anh em cùng
chung sống, trong đó, dân tộc Khơ Mú chiếm khoảng 75%. Dân tộc Khơ Mú là
dân tộc cư trú lâu đời nhất trên địa bàn, theo các bậc cao niên kể lại thì trước đây
một bộ tộc Khơ Mú do ơng tổ họ Vì chạy giặc từ bờ sơng Nậm U qua rất nhiều
nơi sông suối cùng dừng lại định cư ở Nậm Tộc (Nghĩa Sơn ngày nay) vào
khoảng năm 1802. Ở những điểm cư trú đồng bào làm nhà nửa sàn nửa đất từng
cụm, nhà nọ rất gần với nhà kia khơng có ranh giới- một đặc điểm của bộ tộc
hay sống du canh du cư sống gần nhau để bảo vệ lẫn nhau nên có mối giao lưu
quan hệ rất gắn bó.
Người Khơ Mú có tính tình chân thật, dịu dàng, ít nói, giàu lịng tin, chịu
thương chịu khó lao động và dũng cảm trong cuộc sống. Trong gia đình bình
đẳng, có việc gì vợ chồng, con cái bàn bạc với nhau chứ không ai tự quyết định.
Quan hệ dịng họ khá rõ dệt, ln tơn trọng người bề trên, anh em họ gần không
được kết hôn.
Đến nay, người Khơ Mú cơ bản vẫn lưu giữ được những bản sắc văn hóa,
văn nghệ riêng biệt, đặc sắc. Một bộ trang phục của đồng bào Khơ Mú gồm có
khăn đội đầu (Hưm pơng) áo, yếm, thắt lưng, váy, xà cạp. Người Khơ Mú khi đi
lao động, hoặc ngày lễ, ngày tết, hoặc nam nữ tìm hiểu nhau đều có những câu
đối đáp chữ tình, phong phú làn điệu du dương
Dân ca dân vũ đặc sắc và độc đáo chiếm một phần đáng kể trong đời sống
của nhân dân, tiêu biểu là: hát Pi- ca - đô của người Khơ Mú, múa Cá Lượn,
múa Cầu mùa, múa Mừng Măng mọc
Lễ hội và các trò chơi dân gian phong phú, hấp dẫn và thường tổ chức vào
các dịp Lễ, Tết cổ truyền như: lễ hội Cầu mùa với tục rước mẹ Lúa”, “Mùa
măng mọc” các trò chơi dân gian như: Trâu không sừng, múa ngửa chui dây,
nhảy chữ thập, bịt mắt ơm bù nhìn, ném cịn, nhảy sạp, đẩy gậy, bắn nỏ…
2. Khái quát chung về Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Khơ Mú, xã Nghĩa
Sơn, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
2.1. Quá trình ra đời, tồn tại
Lễ hội Cầu mùa có nguồn gốc từ xa xưa và được bảo lưu theo thời gian.
Cũng như nhiều dân tộc thiểu số khác, người Khơ Mú quan niệm vạn vật có linh
hồn, thiên nhiên xung quanh chúng ta như: trời, đất, nương, rẫy… đều có quan
hệ mật thiết với đời sống và sản xuất của con người. Bên cạnh những hoạt động
kỹ thuật của người Khơ Mú như làm đất, gieo cấy, chăm bón trong nơng nghiệp,
là những hoạt động tâm linh với mong muốn thỉnh cầu và tạ ơn các lực lượng
siêu nhiên trợ giúp mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hịa đã trở thành những
hoạt động khơng thể thiếu tạo nên chỉnh thể của đời sống nông nghiệp của người
Khơ Mú, xã Nghĩa Sơn, huyện Văn Chấn.
2.2. Ý nghĩa
Lễ hội Cầu mùa được người Khơ Mú tổ chức hằng năm với mục đích cầu
khấn tạ ơn thần linh, trời đất, tổ tiên và các thần linh phù hộ cho mưa thuận, gió
hịa, cầu cho một năm làm ăn khấm khá, nương rẫy được mùa bội thu. Cầu mùa
là một nghi thức để nhớ ơn người xưa đã biết tìm cây lúa, cây hoa màu và thể
hiện quan niệm cây lúa cây hoa màu cũng có hồn, có thần. Vì vậy, với mục đích
tơn vinh cây lúa, cây khoai sọ, người Khơ Mú dâng lễ vật bao gồm các sọt lúa,
sọt ngô, các loại hoa màu, một khóm cây bơng lau, một khóm cây chè vè. Tất cả
được các nam thanh nữ tú khỏe mạnh trong trang phục dân tộc rước kiệu lễ. Lễ
hội Cầu mùa biểu dương lực lượng sản xuất để cũng cổ vũ, động viên bà con
bước vào một vụ sản xuất mới với tinh thần lao động, sản xuất hăng say.
2.3. Thời gian, địa điểm
+ Thời gian: Lễ hội Cầu mùa thường được tổ chức vào dịp đầu xuân từ
tháng Giêng đến hết tháng Hai hằng năm.
+ Địa điểm: Phần lễ diễn ra ở các địa điểm khác nhau: Lễ cúng ma nhà
thường được tổ chức tại một nhà trong xã. Lễ chọc lỗ tra hạt, lễ cầu mưa thường
được tổ chức trên nương. Lễ tôn vinh cây lúa, cây khoai sọ, lễ rước mẹ lúa được
tổ chức tại nhà...Phần hội được tổ chức tại khoảng đất trống, bằng phẳng rộng
rãi, nơi có thể tập trung đơng người tham gia các trị chơi dân gian, trình diễn dân ca,
dân vũ...
2.4. Lễ vật
Lợn, rượu cần, vật cúng ma nhà (Cơm, trứng gà luộc), thóc giống, quả
bầu, quả bí và các loại hoa màu được nấu chín, sọt lúa, khoai sọ, các loại hoa
màu, một khóm cây bơng lau, một khóm cây chè vè...
2.5. Diễn trình phần lễ:
Lễ hội cầu mùa của dân tộc Khơ Mú Có 5 hoạt động chính gồm: Lễ cúng
ma nhà, tổ tiên; lễ chọc lỗ, tra hạt; Lễ cầu mưa; Lễ tôn vinh cây lúa, cây khoai
sọ; Lễ rước mẹ lúa. Tất cả các khóa Lễ đều được tổ chức chu đáo, tỏ lịng nhớ ơn
người xưa đã tìm ra cây lúa, cây hoa màu; đồng thời, thể hiện quan niệm của người Khơ Mú về
cỏ cây xung quanh như cây lúa, cây hoa mầu... đều có hồn, có thần..
Lễ tôn vinh thần lúa, thần hoa màu, cây khoai sọ là nghi thức để tỏ lòng nhớ ơn người
xưa đã tìm ra cây lúa, cây hoa màu; đồng thời, thể hiện quan niệm của người Khơ Mú về cỏ cây
xung quanh như cây lúa, cây hoa mầu... đều có hồn, có thần. Vì vậy, họ dâng lễ vật bao gồm các
sọt lúa, khoai sọ, các loại hoa màu, một khóm cây bơng lau, một khóm cây chè vè... được các
nam, nữ thanh niên trẻ khỏe, mặc trang phục dân tộc rước kiệu lễ.
Lễ chọc lỗ, tra hạt được tiến hành trên nương rẫy, sau khi nương rẫy đã được dọn sạch cỏ.
Đồng bào nơi đây sẽ dựng một cái lán ở giữa nương, vừa để trú ẩn mưa nắng, nghỉ ngơi khi làm
nương rẫy, vừa là nơi thờ cúng ma nương. Sau khi cúng ma nhà, tại lều nương, chủ nhà sẽ dùng
giẻ đốt, hoặc cành cây tươi cúng khấn, xua đuổi ma xúi, ma ăn bám thóc giống. Tiếp sau đó, chủ
hộ chọc ba lỗ tra hạt trước, rồi tất cả mọi người sẽ cùng thực hiện theo. Các thành viên, vừa
chọc lỗ, tra hạt, thỉnh thoảng múa theo tiếng nhạc cụ gắn theo cây chọc lỗ để quên đi cái mệt
nhọc, vừa là để động viên nhau làm việc hăng say hơn. Khi đã chọc lỗ, tra hạt xong, tất cả mọi
người lấy nước rửa tay, rửa gậy chọc lỗ; chủ nhà đứng trước lán nương lúa, tưới nước ra xung
quanh, vừa làm, vừa khấn với ý niệm lúa năm nay sẽ tốt tươi, không bị hạn hán.
Lễ cầu mưa là nghi lễ chính của lễ hội, với mục đích cầu mong mưa thuận, gió hịa để mùa màng
xanh tốt. Trong lễ cầu mưa không thể thiếu các dụng cụ như cây chuối hoa đỏ tượng trưng cho
mào con thuồng luồng; cây chuối rừng, cây ráy ngứa làm cho đất ẩm ướt; chày cối giã gạo mong
cuộc sống được sung túc, no ấm; thần sấm sét, búa rìu (đã có sấm sét là có mưa); cịn thuồng
luồng là thần làm mưa, con rồng là thần chi phối mưa. Ngoài ra, trong buổi lễ còn cả đánh trống
chiêng, múa sạp, với mục đích làm cho rung trời, lở đất, động đến thần sấm, thần sét, thần
thuồng luồng, thần rồng để thông báo cho các thần ấy là đã đến mùa sản xuất, làm ăn trong
năm; hãy phù hộ cho bà con được mưa thuận, gió hịa, mùa màng bội thu.
Lễ đón mẹ lúa: Trong sản xuất, người Khơ Mú thường canh tác ở xa nhà nên họ phải làm kho
thóc ở trên nương để tích trữ lương thực; sau khi thu hoạch xong, họ sẽ chuyển thóc lúa về kho
chính ở nhà. Vì vậy, người Khơ Mú đã có "Lễ đón mẹ lúa" để đón rước mẹ lúa về nhà. Khi thu
hoạch xong, họ để lại một cụm thóc tại kho ở trên nương (tượng trưng cho mẹ lúa). Đến sáng
sớm, gia đình sẽ cử bốn người đi rước mẹ lúa về. Họ mang theo bồ đựng thóc lúa, bầu bí,
thuổng đào khoai sọ, hai thanh niên (là người chưa lập gia đình) sẽ mang kiệu để rước. Sau khi
rước được mẹ lúa về, mọi người trong gia đình chuẩn bị lễ vật để cúng.
7. Phần hội
Kết thúc phần lễ, phần hội bắt đầu bằng các hình thức trình diễn văn nghệ
dân gian và tiến hành chơi các trò chơi dân gian của dân tộc Khơ Mú.
Trong phần hội, người dân trong bản thể hiện các điệu hát truyền thống
(Hát tơm, hát Kơ le) những điệu múa dân gian của người Khơ Mú vừa mang
đậm bản sắc văn hóa các tộc người, lại vừa thể hiện tính nghệ thuật cao qua từng
bước đi như: Múa cá lượn (Tẹ cạ grang), múa đuổi chim (Tẹ kam đặt sim), múa
đao (Tẹ đao), múa cầu mùa (Te grơ), múa mừng nhà mới, múa tăng bu (Tẹ sâm
tích âm binh) và múa tra hạt.
Phần thi các trò chơi dân gian. Các trò chơi dân gian được tổ chức thể
hiện tài năng, sự khéo léo của đồng bào Khơ Mú, tạo khơng khí sơi nổi của Lễ
hội như: Ném còn, Kéo co; Múa ngửa người chui dây, thi tài nhảy dây có hình
chữ thập, trị chơi húc đầu chọi nhau; thi tài leo cây, thi đẩy gậy bằng bụng,
chơi đu...
III. THỰC TRẠNG LỄ HỘI CẦU MÙA CỦA DÂN TỘC KHƠ MÚ,
XÃ NGHĨA SƠN, HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Khơ Mú, xã Nghĩa Sơn, huyện Văn Chấn,
tỉnh Yên Bái hiện vẫn được tổ chức nhưng không thường xuyên. Nghĩa Sơn là
một xã nghèo có tới 97,5% là hộ nghèo, nguồn kinh phí hạn hẹp. Việc xã hội hóa
hoạt động tổ chức lễ hội không tiến hành được do đời sống của bà con gặp nhiều
khó khăn. Tùy thuộc vào điều kiện thực tế của người dân trong xã, năm nào xã
có kinh phí hỗ trợ, sẽ tiến hành tổ chức lễ hội.
Lễ hội Cầu mùa là ngày hội cố kết cộng đồng, biểu dương giá trị đời sống
tâm linh, đời sống xã hội và văn hóa cộng đồng. Do điều kiện chiến tranh, Lễ
hội Cầu mùa của dân tộc Khơ Mú đã ngừng tổ chức từ năm 1944. Năm 2011, Lễ
hội Cầu mùa đã được Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Sơn phục dựng và tổ chức lại.
Lễ hội vẫn được tổ chức nhưng không thường xuyên. Gần đây lễ hội cầu mùa đã
được tổ chức vào các năm 2013 và từ năm 2016 đến nay với quy mô nhỏ, một số
nghi lễ đã bị lược bỏ.
Hiện nay, tại xã Nghĩa Sơn, số lượng người biết về các nghi thức của lễ
hội còn rất ít và hầu hết tuổi đã cao. Nghệ nhân ưu tú Vì Văn Sang - Người đã
dày cơng sưu tầm, ghi chép tư liệu về lễ hội nay đã 74 tuổi. Nếu không tiến hành
bảo tồn, phục dựng, trong tương lai, Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Khơ Mú, xã
Nghĩa Sơn, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái sẽ biến mất trong tương lai không xa.
Nhận thức của một số cấp uỷ, chính quyền về cơng tác bảo tồn phát huy các giá
trị văn hóa truyền thống của các dân tộc gắn với phát triển du lịch chưa đứng
mức. Cơng tác chỉ đạo ở cơ sở cịn kém hiệu quả, còn nhiều mặt bất cập chưa
đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới; cơng tác xã hội hố về bảo tồn các giá trị
văn hóa truyền thống cịn chậm, chưa huy động được các nguồn lực xã hội tham
gia; đội ngũ cán bộ làm công tác bảo tồn chưa đáp ứng được yêu cầu, cơ chế
chính sách thu hút lực lượng trẻ tham gia vào hoạt động các lĩnh vực của ngành
còn chậm đổi mới; sự phối hợp giữa các ngành chưa tích cực và đồng bộ; cơ sở
vật chất cho cơng tác bảo tồn cịn nhiều yếu kém, lạc hậu; kinh phí hoạt động
cịn thấp so với nhu cầu, nhất là đối với cấp huyện, cấp xã.
IV. GIÁ TRỊ CỦA LỄ HỘI CẦU MÙA ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG
NGƯỜI KHƠ MÚ XÃ NGHĨA SƠN, HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Khơ Mú là một loại hình sinh hoạt văn hóa
dân gian tổng hợp, vừa độc đáo, vừa phong phú. Có thể coi Lễ hội cầu mùa là
hình ảnh thu nhỏ của nền văn hóa đặc sắc của dân tộc Khơ Mú, với các hình
thức văn học (truyền thuyết, thần tích...); nghệ thuật biểu diễn (dân ca, dân vũ,
dân nhạc...), phong tục và tín ngưỡng (nghi lễ, nghi thức, trị chơi, trị diễn dân
gian, tục lệ, thờ cúng...).
Những giá trị của Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Khơ Mú được thể hiện trên
một số mặt sau:
- Giá trị cố kết cộng đồng: Lễ hội thuộc về một cộng đồng người nhất
định, “có thể được xem như sự phản chiếu sinh động của truyền thống, bản sắc
văn hóa cộng đồng cũng như là biểu tượng của tinh thần cố kết cộng đồng bản
làng được hun đúc qua thời gian”. Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ
sở gắn kết và sở hữu tài nguyên, lợi ích kinh tế (cộng hữu), gắn kết số mệnh chịu
sự chi phối của một lực lượng siêu nhiên (cộng sinh), gắn kết nhu cầu đồng cảm
trong các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa (cộng cảm)... Bất kể một lễ
hội nơng nghiệp suy tơn các vị thần linh thì bao giờ cũng là lễ hội của một cộng
đồng; biểu dương các giá trị văn hóa và sức mạnh của cộng đồng trên mọi bình
diện, là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng. Như vậy, tính cộng đồng và
cố kết cộng đồng là nét đặc trưng và là giá trị văn hóa tiêu biểu nhất của lễ hội.
Lễ hội Cầu mùa gắn bó với cộng đồng dân tộc Khơ Mú, gắn bó với mảnh đất
Nghĩa Sơn như một thành tố khơng thể thiếu vắng, nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm
linh và củng cố ý thức cộng đồng.
- Giá trị giáo dục: lễ hội là q trình sân khấu hóa đời sống xã hội, mô
phỏng, tái hiện sinh động các nhân vật, sự kiện lịch sử đã diễn ra trong quá khứ
dưới hình thức lễ tế, trị diễn dân gian. Giá trị giáo dục của Lễ hội cầu mùa được
thể hiện trong tính hướng về cội nguồn. “Tất cả mọi lễ hội cổ truyền đều hướng
về nguồn cội. Đó là nguồn cội tự nhiên mà con người vốn từ đó sinh ra… Hơn
thế nữa hướng về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Khơ Mú”. Điều đó
nhắc nhở mọi người trong cộng đồng những bài học về đạo lý, truyền thống cha
ông, về lịch sử làng, lịch sử dân tộc. Lễ hội Cầu mùa là hoạt động văn hóa tinh
thần thể hiện tình cảm con người với tổ tiên, thần linh để cầu mong mọi lực
lượng siêu nhiên che chở, phù hộ. Người Khơ Mú tổ chức Lễ hội Cầu mùa với
lịng thành kính tổ tiên, nhắc nhở mọi người nhớ đến bổn phận và trách nhiệm
của mình với tổ tiên, dịng tộc… Do vậy, Lễ hội cầu mùa có giá trị lớn trong
việc giáo dục đạo đức, giáo dục truyền thống lịch sử của làng bản, quê hương,
đất nước.
- Giá trị văn hóa tâm linh: trong quá trình lao động sáng tạo, để đáp ứng
nhu cầu cuộc sống của mình, con người khơng chỉ biến đổi cải tự nhiên để tạo ra
sản phẩm văn hóa, mà cịn hịa mình vào với thế giới hữu hình và vơ hình trong
tự nhiên. Khơng ít người bất lực trước một sự việc nào đó và họ phải nhờ tới sự
che chở của một sức mạnh siêu nhiên, của tổ tiên, dòng tộc, các vị thần linh...
cầu mong cuộc sống được bình an, sức khỏe và thành đạt. Nhờ có Lễ hội Cầu
mùa, cộng đồng người Khơ Mú có dịp thỏa mãn đời sống tâm linh, có được
những giây phút thiêng liêng, giao cảm, hồ hởi đầy tinh thần cộng đồng.
Đối với người Khơ Mú, Lễ hội Cầu mùa có sức lơi cuốn, hấp dẫn, trở
thành nhu cầu và khát vọng cần được đáp ứng, bởi “thông qua những hình thức
biểu hiện của mình, Lễ hội Cầu mùa trở thành một hiện tượng văn hóa tổng hợp
làm thỏa mãn nhu cầu văn hóa tâm linh của con người”. Như vậy, Lễ hội cầu
mùa với những hình thức cúng tế, dâng lễ vật, cầu nguyện thần linh... đã hàm
chứa giá trị văn hóa tâm linh.
- Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa tinh thần: khi tham gia vào Lễ
hội Cầu mùa, người Khơ Mú được sáng tạo, hóa thân thành văn hóa, văn hóa
làm biến đổi con người. Đây chính là q trình trao truyền văn hóa truyền thống
của dân tộc Khơ Mú từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong lễ hội, nhân dân là
người đứng ra tổ chức, sáng tạo, tái hiện các sinh hoạt văn hóa cộng đồng và
hưởng thụ các giá trị văn hóa tâm linh. Khi tất cả mọi người chìm vào khơng khí
thiêng liêng, hứng khởi của lễ hội thì khoảng cách giữa con người dường như
khơng cịn, mọi người cùng nhau sáng tạo và hưởng thụ văn hóa. Trong quá
trình giao cảm với thế giới thiêng liêng bí ẩn, ai cũng có đức tin và mong muốn
sự chứng giám của thế giới tâm linh về thái độ thành kính của mình.
- Giá trị bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc: Lễ hội
Cầu mùa là một hình thức tái hiện q khứ thơng qua các hoạt động tế lễ, các trò
diễn sinh động hấp dẫn như tế lễ, rước, trang phục, trò diễn dân gian, dân ca, dân
vũ… Các hoạt động ấy không những tái hiện cuộc sống mà cịn góp phần giữ
gìn và bảo tồn văn hóa dân tộc Khơ Mú. Lễ hội Cầu mùa với những hình thức,
nội dung phản ánh đầy đủ, sinh động đời sống vật chất và tinh thần của người
Khơ Mú đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc tới toàn thể cộng đồng. Và như vậy, Lễ
hội cầu mùa góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc Khơ Mú ngay trong chính tâm
thức của cộng đồng.
Nhiều yếu tố văn hóa tinh thần được lễ hội bảo lưu và trao truyền từ đời
này sang đời khác, trở thành di sản văn hóa vơ giá của dân tộc Khơ Mú. Lễ hội
Cầu mùa là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, giúp cho thế hệ hôm nay thêm tự
hào về văn hóa đặc sắc của dân tộc Khơ Mú. Chứa đựng và phản ánh nhiều mặt
của cuộc sống kinh tế, văn hóa, xã hội, Lễ hội Cầu mùa là chỗ dựa tinh thần để
mỗi người Khơ Mú hướng về tổ tơng, dịng tộc, về thế giới tâm linh và gắn bó
với thiên nhiên, từ đó thêm thăng hoa trong một khơng khí vui vẻ, trang nghiêm,
vừa trần tục, vừa linh thiêng. Rõ ràng, Lễ hội Cầu mùa là sinh hoạt cộng đồng
để mỗi người cùng nhau chuẩn bị lễ vật và trò diễn, vui chơi, giao cảm, hưởng
thụ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, mở rộng giao lưu văn hóa và
phát triển du lịch của nước ta hiện nay, Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Khơ Mú
càng có ý nghĩa quan trọng. Một mặt, lễ hội góp phần bảo vệ bản sắc văn hóa
dân tộc. Mặt khác, lễ hội trở thành yếu tố độc đáo có sức cuốn hút khách du lịch
trong nước và quốc tế, làm thay đổi bộ mặt, góp phần phát triển kinh tế - xã hội
ở địa phương.
V. CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA LỄ
HỘI CẦU MÙA CỦA DÂN TỘC KHƠ MÚ, XÃ NGHĨA SƠN, HUYỆN
VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
Trong những năm qua, Đảng bộ tỉnh Yên Bái đã chủ trương “Phát triển sự
nghiệp văn hoá, du lịch phải gắn liền với phát triển kinh tế ở địa phương, có
chọn lọc, phù hợp phong tục tập quán sinh hoạt của các dân tộc với việc hoà
nhập cộng đồng quốc tế. Tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ và đổi mới cơ
chế quản lý, đảm bảo nội dung hoạt động phong phú, có hiệu quả theo định
hướng của Nhà nước… Nâng cao chất lượng và hiệu quả các hoạt động văn hóa,
văn nghệ, tạo điều kiện cho các hoạt động sáng tác văn học, nghệ thuật đáp ứng
nhu cầu hưởng thụ của nhân dân”[2]
Do có chủ trương đúng đắn và cách làm phù hợp cùng với việc thực hiện
có hiệu quả Đề án của Chính phủ về ‘Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt
Nam đến năm 2020” nên đến nay, UBND huyện Văn Chấn đã chỉ đạo khảo sát,
xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí tổ chức bảo tồn, phục dựng Lễ hội Cầu mùa
của người Khơ Mú, xã Nghĩa Sơn, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái nhằm đáp ứng
nhu cầu hưởng thụ những giá trị văn hóa tâm linh của đồng bào dân tộc Khơ
Mú, xã Nghĩa Sơn, huyện Văn Chấn.
Ðể bảo vệ và phát huy giá trị của Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Khơ Mú, xã
Nghĩa Sơn cần chú trọng công tác tuyên truyền các giá trị văn hóa để nhân dân
hiểu rõ giá trị lễ hội gắn với việc đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa” ở cơ sở, nâng cao ý thức tự bảo tồn văn hóa của dân tộc
mình, đẩy mạnh tun truyền và thực hiện nếp sống văn hóa trong lễ hội.
Trước khi tổ chức lễ hội, phải có sự tính tốn cân nhắc kỹ lưỡng, có kế
hoạch chi tiết, cụ thể, tránh sân khấu hóa làm mất đi giá trị văn hóa truyền thống
của dân tộc. Ðây là vấn đề cần được khảo cứu và nghiên cứu kỹ lưỡng và có các
bước thể nghiệm để định hình được các nghi thức lễ và các hoạt động hội.
Thông qua việc bảo tồn, phục dựng lễ hội, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp
mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc Khơ Mú, lồng ghép đưa các yếu tố văn
hóa mới tiến bộ nhằm tăng cường giao lưu, quảng bá, giới thiệu văn hóa truyền
thống đặc sắc của dân tộc Khơ Mú với các dân tộc khác trong khu vực và du
khách thập phương.
Khai thác nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân, đóng góp cho việc giữ gìn di
sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể liên quan đến lễ hội; khuyến khích sự
sáng tạo của nhân dân trong các hoạt động văn hóa lễ hội.
Cần chú ý bảo tồn có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc
trong lễ hội, loại bỏ dần các yếu tố lạc hậu, xây dựng thêm các tiêu chí văn hóa
mới phù hợp. Tăng cường cơng tác quản lý, nghiên cứu để việc tổ chức Lễ hội
Cầu mùa của dân tộc Khơ Mú xã Nghĩa Sơn, huyện Văn Chấn, ngày càng khoa
học, có ý nghĩa. Phục hồi những trị chơi dân gian truyền thống, coi trọng tính
đặc thù, độc đáo của lễ hội, tránh cào bằng đồng loạt dẫn đến sự nhàm chán
trong hoạt động và sinh hoạt lễ hội. Khôi phục, giữ lại nét riêng của mỗi lễ hội,
gắn với truyền thống của dân tộc Khơ Mú, tránh sân khấu hóa làm mất đi những
nét đặc sắc của lễ hội.
Bên cạnh các hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống, cần xây dựng lộ trình đã mở các tuyến du lịch văn hóa “về cội nguồn”
nhằm khai thác lợi thế du lịch văn hóa, phục vụ phát triển kinh tế địa phương.
Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào
Khơ Mú xã Nghĩa Sơn, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái gắn với việc hình thành
sản phẩm du lịch đặc trưng của khu vực Mường Lò, Yên Bái.
VI. KẾT LUẬN
Trong các nghi lễ nông nghiệp của người Khơ Mú, Lễ hội Cầu mùa có vai
trị quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội của đồng bào dân tộc Khơ Mú. Lễ
hội phản ánh thế giới quan và nhân sinh quan của dân tộc Khơ Mú, thể hiện
mong ước của con người, là được khỏe mạnh, may mắn, mùa màng bội thu, nhà
nhà no ấm, bản làng yên vui, được gặp gỡ giao lưu sau những ngày lao động vất
vả... Lễ hội đem lại sự vui vẻ, yên tâm, tự tin, tự hào, sự hiểu biết, đoàn kết,
thương u, lịng nhân ái, thể hiện sự bình đẳng dân chủ trong cộng đồng dân
tộc. Không những thế, Lễ hội Cầu mùa của dân tộc Khơ Mú còn là nơi lưu giữ
và truyền lại những vốn văn hóa truyền thống cho các thế hệ sau, qua những
điệu hát, lời ca...
Lễ hội Cầu mùa có vai trị đặc biệt quan trọng trong đời sống của đồng
bào người Khơ Mú xã Nghĩa Sơn. Dân tộc Khơ Mú làm nông nghiệp theo mùa
vụ, vì thế Lễ hội Cầu mùa có chức năng cấu kết cộng đồng. Trong quá trình tổ
chức lễ hội, những đặc trưng nổi bật nhất của văn hóa, nghệ thuật của các dân
tộc cũng được bộc lộ và lễ hội cũng là mơi trường tốt nhất để gìn giữ và phát
huy các loại hình dân ca, dân vũ, các trò chơi dân gian của cộng đồng các dân
tộc, như hát giao duyên, ném còn, múa khèn, chơi quay, kéo co...
Lễ hội Cầu mùa của người Khơ Mú được ví như một “trung tâm văn hóa”
chung của cả vùng, góp phần vào hoạt động giao lưu văn hóa giữa các dân tộc
trong khu vực.
Lễ hội Cầu mùa là một tài sản vơ giá của dân tộc Khơ Mú. Chính vì vậy
việc gìn giữ và phát huy các giá trị của lễ hội rất cần sự quan tâm các cấp, các
ngành, của nhân dân, để lễ hội được giữ gìn và trao truyền cho các thế hệ mai
sau, góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số
theo tinh thần Nghị quyết 33/NQ-TƯ ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung
ương khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng
nhu cầu phát triển bền vững đất nước./.