HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN LÃNH ĐẠO HỌC VÀ CHÍNH SÁCH CƠNG
BÀI THU HOẠCH
MƠN GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ BÌNH
ĐẲNG GIỚI VÀ VIỆC THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI
TỈNH YÊN BÁI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Họ và tên:
Mã học viên:
Lớp:
Khóa học:
HÀ NỘI - 2021
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
NỘI DUNG...........................................................................................................2
1. Lý luận chung về giới và bình đẳng giới...........................................................2
2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới............................3
3. Thực trạng bình đẳng giới tại tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay...................6
3.1. Công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới................................................6
3.2. Sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý nhằm từng bước
giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị..............................................7
3.3. Khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; sự tiếp cận của
phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn lực
kinh tế, thị trường lao động...................................................................................9
3.4. Chất lượng nguồn nhân lực nữ, sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong
lĩnh vực giáo dục và đào tạo................................................................................10
3.5. Bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
.............................................................................................................................11
3.6. Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa và thơng tin.....................................12
3.7. Bình đẳng giới trong đời sống gia đình, từng bước xóa bỏ bạo lực trên cơ sở
giới.......................................................................................................................13
4. Giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong thời gian tới........................................14
KẾT LUẬN..........................................................................................................17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................18
MỞ ĐẦU
3
Bình đẳng giới là một mục tiêu quan trọng cần hướng đến không chỉ của
Việt Nam, mà của các nước trên thế giới, là một trong những tiêu chí đánh giá
sự phát triển của một xã hội. Theo quan niệm của Liên hợp quốc, bình đẳng giới
có nghĩa là phụ nữ và nam giới được hưởng những điều kiện như nhau để thực
hiện đầy đủ quyền con người, có cơ hội đóng góp cũng như thụ hưởng những
thành quả phát triển của quốc gia trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội.
Nhiều năm qua, Chính phủ nhiều nước trên thế giới đã nỗ lực để mang lại
bình đẳng giới cho con người, để con người thật sự được sống trong một xã hội
văn minh, phát triển bền vững, nhân văn. Việt Nam là một trong số các nước có
nhiều thành tựu về thực hiện bình đẳng giới đã được ghi nhận. Bên cạnh các
thành tựu đạt được về bình đẳng giới, chúng ta vẫn phải thừa nhận một thực tế là
tình trạng bất bình đẳng giới còn diễn ra trên một số lĩnh vực, tồn tại dưới một
số hình thức khác nhau. Như vậy, việc xây dựng xã hội có bình đẳng giới, bảo
đảm bình đẳng giới là lời kêu gọi không chỉ của riêng nữ giới, mà của tất cả mọi
người, là mục tiêu cần sớm hồn thành của các quốc gia, để từ đó góp phần xây
dựng một thế giới phát triển bền vững. Để thực hiện được mục tiêu đó Đảng và
Nhà nước ta đã ban hành nhiều chương trình, mục tiêu, giải pháp để thúc đẩy
bình đẳng giới. Kết thúc mơn học: Giới trong lãnh đạo, quản lý, em lựa chọn
chủ đề viết bài thu hoạch là “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình
đẳng giới và việc thúc đẩy bình đẳng giới tại tỉnh Yên Bái trong giai đoạn
hiện nay”.
4
NỘI DUNG
1. Lý luận chung về giới và bình đẳng giới
Giới và giới tính là hai khái niệm có quan hệ mật thiết với nhau. Sự phân
biệt khái niệm “giới” và “giới tính” được quy định tại Điều 5, Luật Bình đẳng
giới năm 2006 như sau:
- Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trị của nam và nữ trong tất cả các mối quan
hệ xã hội.
- Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ.
Khái niệm giới và giới tính giúp ta phân biệt đặc điểm của nữ giới và nam
giới để hiểu rõ thực chất và cơ chế hình thành các đặc điểm đó. Sự khác nhau
giữa “giới tính” và “giới” được thể hiện qua các nội dung sau:
- Giới tính là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về phương diện
sinh học, có sẵn từ khi sinh ra, mang tính ổn định cao và bị quy định bởi quy
luật sinh học.
- Khác với giới tính, giới khơng mang tính bẩm sinh mà được hình thành
trong quá trình sống, học tập của con người từ khi cịn nhỏ đến lúc trưởng thành.
Nói cách khác, giới được thể hiện thơng qua các hành vi hình thành trong q
trình xã hội hóa (từ sự tiếp nhận các khn mẫu hành vi, ứng xử,... qua q trình
dạy dỗ, giáo dục trong gia đình, nhà trường, cộng đồng và xã hội). Nội hàm của
khái niệm “giới” đề cập đến vị trí, vai trị của nam và nữ mà xã hội mong muốn,
kỳ vọng ở nữ giới và nam giới liên quan đến các đặc điểm và năng lực nhằm xác
định thế nào là một người nam giới hay một phụ nữ (hoặc trẻ em trai, trẻ em gái)
trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định.
- Nếu như các đặc điểm giới tính mang tính đồng nhất và khơng thể thay
đổi thì các đặc điểm giới lại rất đa dạng, phong phú và có thể thay đổi ở từng
quốc gia, dân tộc dưới sự tác động của các yếu tố xã hội.
Bình đẳng giới là tình trạng khơng có sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới
5
tính (về quyền, trách nhiệm và cơ hội). Nhờ vậy, nữ giới và nam giới được tôn
trọng ngang nhau, đuợc tiếp cận các nguồn lực như nhau, được thụ hưởng thành
quả như nhau, có cơ hội và điều kiện như nhau để nhận biết được các quyền con
người của mình và khả năng đóng góp của bản thân vào sự phát triển kinh tế,
văn hóa, chính trị và xã hội của đất nước.
Có ba kiểu quan niệm về bình đẳng giới:
- Bình đẳng giới kiểu hình thức: Quan niệm này cho rằng, phụ nữ có thể
tiếp cận các cơ hội giống như cách tiếp cận của nam giới nên thường chọn cách
đối xử với nam và nữ giống hệt nhau. Do vậy, xét về bản chất, kiểu quan niệm
này tạo thêm gánh nặng cho phụ nữ, buộc họ phải thể hiện mình theo cách của
nam giới.
- Bình đẳng giới kiểu bảo vệ: Nhận diện được sự khác biệt giữ nam và nữ,
nhưng cho rằng cần tập trung xem xét các điểm yếu của phụ nữ để tạo ra những
sự đối xử khác biệt. Quan niệm này dẫn đến việc cố gắng tạo ra những “vỏ bọc
bảo vệ phụ nữ”, cản trở quyền tự do lựa chọn của phụ nữ.
- Bình đẳng giới kiểu thực chất: Nhận rõ sự khác biệt giữa nam và nữ về
sinh học và sự khác biệt xã hội do lịch sử để lại. Do vậy, quan niệm này chú ý
đến bình đẳng trong pháp luật và bình đẳng trong thực tế, tập trung điều chỉnh
các mơi trường có ảnh hưởng tiêu cực đối với cả nam giới và phụ nữ, đồng thời
chú ý tạo sự bình đẳng cho cả nam và nữ về cơ hội, tiếp cận cơ hội và hưởng thụ
cơ hội.
2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới
Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Nam nữ bình
quyền” là một trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam. Điều này
được ghi nhận trong Cương lĩnh chính trị của Đảng năm 1930. Cương lĩnh cũng
nêu rõ giải phóng phụ nữ phải gắn với giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp.
Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
nam nữ bình quyền được thể hiện và ghi nhận tại Điều 9 Hiến pháp đầu tiên của
nước ta năm 1946: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”.
6
Ngay trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 152-NQ/TW ngày
10/01/1967 về “Một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận” chỉ rõ: “Tư
tưởng phong kiến đối với phụ nữ còn tồn tại khá sâu sắc trong một số cán bộ,
đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo. Thể hiện rõ nhất tư tưởng hẹp hòi, “trọng nam
khinh nữ”, chưa tin vào khả năng quản lý kinh tế của phụ nữ, chưa thấy hết
những khó khăn trở ngại của phụ nữ...”.
Sau khi đất nước hồn tồn giải phóng, bước vào thời kỳ mới, việc phát
huy hơn nữa vị trí, vai trị của các tầng lớp phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng
của Đảng, của Nhân dân là yêu cầu, đòi hỏi lớn. Chỉ thị số 44-CT/TW ngày
07/6/1984 của Ban Bí thư về “Một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ”
chỉ rõ: “Nhiều cấp ủy đảng và lãnh đạo các ngành buông lỏng việc chỉ đạo thực
hiện các nghị quyết của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ. còn tư
tưởng phong kiến, coi thường phụ nữ, đối xử thiếu công bằng với chị em...”.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã cụ thể hóa quan điểm bình đẳng giới
bằng những nghị quyết và chỉ thị về công tác phụ nữ, Cụ thể là:
Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về “Đổi mới
và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”, mục tiêu nhằm
phát huy mạnh mẽ vai trị của phụ nữ trong cơng cuộc đổi mới đất nước, tạo
điều kiện cho phong trào phụ nữ có những bước tiến mới và tăng số lượng, chất
lượng cán bộ nữ trong hệ thống tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và các tổ
chức kinh tế, xã hội.
Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về “Một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”, trong đó Đảng ta
xác định rõ: “Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, tham gia
quản lý kinh tế - xã hội là yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân
chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị xã
hội của phụ nữ. Chống những biểu hiện lệch lạc, coi thường phụ nữ, khắt khe,
hẹp hòi trong đánh giá, đề bạt cán bộ nữ”.
7
Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác
phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nuớc là Nghị quyết
được ban hành sau hơn 10 năm thực hiện Chỉ thị số 37-CT/TW về công tác cán
bộ nữ và trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh tồn diện cơng cuộc đổi mới,
thực hiện cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế thế giới.
Mục tiêu mà Nghị quyết số 11-NQ/TW đề ra là: “Phấn đấu đến năm 2020,
phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn chun mơn,
nghiệp vụ đáp ứng u cầu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế;
có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham
gia ngày càng nhiều hơn cơng việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đóng
góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình. Phấn đấu để nước ta là một trong
các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực”.
Thông báo số 196-TB/TW ngày 16/3/2015 về kết luận của Ban Bí thư về
Đề án “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cơng tác bình đẳng giới và vì
sự tiến bộ của phụ nữ trong tình hình mới” tiếp tục thể hiện sự quan tâm của
Đảng, Nhà nước Việt Nam về công tác phụ nữ và bình đẳng giới. Đề án thơng
qua việc triển khai một số giải pháp bảo đảm thực hiện bình đẳng giới, góp phần
nâng cao vị thế của phụ nữ và giảm khoảng cách giới trong một số lĩnh vực,
ngành, vùng, địa phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ bất bình đẳng
giới cao.
Quan điểm chỉ đạo về cơng tác bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt từ
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng cho đến các kỳ Đại hộỉ Đảng sau này.
Văn kiện Đại hội lần thứ XII cùa Đảng một lần nữa nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi
mới, hồn thiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, chế độ thai sản, nghỉ
dưỡng, khám, chữa bệnh, bình đẳng giới. Thực hiện tốt chiến lược dân số, gia
đình, chương trình hành động vì trẻ em..., đầu tư nâng cao chất lượng dân số, chỉ
số phát triển con nguời, bảo đảm tổng tỷ suất sinh thay thế, giảm dần sự mất cân
bằng tỷ lệ giới tính khi sinh,...
Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã thơng qua
8
Nghị quyết số 20-NQ/TW về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao
sức khỏe nhân dân trong tình hình mới và Nghị quyết số 21-NQ/TW về cơng tác
dân số trong tình hình mới, trong đó có những quan điểm chỉ đạo và mục tiêu cụ
thể để đạt được các mục tiêu liên quan đến bình đẳng giới.
Văn kiện Đại hội Đảng XIII: “Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện,
tiến tới bao phủ toàn dân với các chính sách phịng ngừa, giảm thiểu và khắc
phục rủi ro cho người dân, bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu
thế....”.
3. Thực trạng bình đẳng giới tại tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay
Yên Bái là tỉnh miền núi thuộc vùng Tây Bắc, nằm ở vị trí nối tiếp giữa
trung du và miền núi phía Bắc. Tổng diện tích tự nhiên của tồn tỉnh là 6.887,7
km2; dân số trên 821.030 người, tỷ lệ dân số khu vực nơng thơn chiếm trên 81%;
có 30 dân tộc cùng chung sống (trong đó có 12 dân tộc chính), đồng bào dân tộc
thiểu số chiếm 53,74%. Tỉnh Yên Bái có 9 huyện, thị xã, thành phố; 173 xã,
phường, thị trấn trong đó có 70 xã vùng cao, 80 xã bản đặc biệt khó khăn, có 2
huyện nằm trong 61 huyện nghèo nhất của cả nước là Mù Cang Chải và Trạm
Tấu (cũng là 2 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất của cả nước).
Giai đoạn 2016 - 2020, tốc độ tăng GRDP bình quân đạt 6,83%, cao hơn
giai đoạn 2011 - 2015 (5,71%), thu nhập bình quân đầu người hiện nay đạt 40,3
triệu đồng (gấp 1,7 lần so với năm 2015). Văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ,
mạng lưới trường, lớp học được đầu tư đồng bộ, tinh gọn, chất lượng các hoạt
động văn hóa, thể thao, truyền thông không ngừng được nâng lên, quan tâm hỗ
trợ việc làm, chăm lo an sinh, phúc lợi xã hội, giảm nghèo nhanh và bền vững.
Tuy nhiên điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh cịn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ
nghèo là 25.086 hộ chiếm 11,56%, tỷ lệ hộ cận nghèo 9,45%. Trên địa bàn tỉnh
nhiều xã vùng cao giao thơng đi lại cịn gặp nhiều khó khăn; trình độ dân trí đã
có chuyển biến, tuy nhiên nhìn chung vẫn chưa đồng đều, nhiều phong tục tập
quán lạc hậu ảnh hưởng đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trên
địa bàn cũng như thực hiện các mục tiêu theo chiến lược quốc gia về bình đẳng
9
giới.
3.1. Cơng tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới
Trong những năm qua, tỉnh Yên Bái đã quan tâm ban hành các chương
trình, kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, ban hành trên
25 chương trình, kế hoạch liên quan đến cơng tác chỉ đạo triển khai cơng tác
bình đẳng giới. Qn triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 37-CT/TW
của Ban Bí thư về “Một số vấn đề cơng tác cán bộ nữ trong tình hình mới”; Nghị
quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Cơng tác phụ nữ trong thời kỳ cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Ban hành và triển khai thực hiện hiệu quả Đề án
phịng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới giai đoạn 2016 - 2020 và tầm
nhìn đến năm 2030. Đối với các ngành, địa phương ở cơ sở đã ban hành trên 230
văn bản chỉ đạo, hướng dẫn để tổ chức thực hiện các kế hoạch, đề án, hoạt động
góp phần thực hiện Luật Bình đẳng giới và Chiến lược quốc gia về bình đẳng
giới.
Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ được thành lập tại 02 cấp: Cấp tỉnh và cấp
huyện, đã được rà sốt và tiến hành kiện tồn thường xun, đáp ứng yêu cầu
năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Tại cấp xã, cơng tác bình đẳng
giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ được phân cơng cho 01 cơng chức văn hóa - xã
hội theo dõi, thực hiện. Cán bộ làm cơng tác bình đẳng giới ở các cấp, các ngành
đã được phân công đầy đủ. Đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên đã từng
bước hình thành, tham gia cơng tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ,
đặc biệt ở thơn, xóm, bản, làng, cụm dân cư. Tuy nhiên, đội ngũ làm cơng tác
quản lý nhà nước về bình đẳng giới từ tỉnh, huyện đến xã chủ yếu là kiêm nhiệm
nên chất lượng tổ chức triển khai một số hoạt động về bình đẳng giới, lồng ghép
giới trong thực hiện một số lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội còn chưa cao.
Đến nay, 100% dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do tỉnh Yên Bái ban
hành được xác định có nội dung liên quan đến bình đẳng giới hoặc có vấn đề bất
bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới đã được lồng ghép vấn đề bình đẳng
giới theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
10
3.2. Sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý nhằm
từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị
Đến nay, tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy cấp tỉnh đạt 19,14% (tăng 3,5% so
với giai đoạn 2011 - 2015); cấp huyện đạt 19,1% (tăng 1,21% so với giai đoạn
2011 - 2015); cấp xã đạt 19,09% (tăng 1,59% so với giai đoạn 2011 - 2015). Tỷ
lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội đạt 33,3%. Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Hội
đồng nhân dân các cấp: Cấp tỉnh đạt 37,28%; cấp huyện đạt 36,3%; cấp xã đạt
32,77%. Tỷ lệ nữ chủ chốt cấp tỉnh đạt 22,22%; cấp huyện đạt 33,33%; cấp xã
đạt 16,7%.
Tỉnh Yên Bái đã ban hành và thực hiện hiệu quả các chính sách ưu tiên
trong tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, viên chức là nữ. Số
lượng, chất lượng cán bộ, công chức, viên chức là nữ ngày càng được nâng lên
và được tham gia vào tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội, nhiều
người được bố trí giữ các vị trí quan trọng trong bộ máy các cơ quan của hệ
thống chính trị ở địa phương. Đặc biệt, đã ban hành và thực hiện Đề án về “Xây
dựng và tạo nguồn đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số
thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý đến năm 2030, định hướng đến năm
2035”; tổ chức sơ tuyển, lựa chọn được 150 đồng chí là cán bộ trẻ, cán bộ nữ,
cán bộ người dân tộc thiểu số để đào tạo, tạo nguồn cán bộ diện Ban Thường vụ
Tỉnh ủy quản lý đến năm 2030, định hướng đến năm 2035. Qua đó, đội ngũ cán
bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số của tỉnh đã có những bước trưởng thành và phát
triển; có phẩm chất chính trị tốt, nhiệt tình cơng tác, gần gũi, gắn bó mật thiết
với nhân dân, tích cực học tập để nâng cao trình độ, khắc phục khó khăn để hồn
thành nhiệm vụ được giao và có những đóng góp tích cực trong thực hiện nhiệm
vụ chính trị của tỉnh trên các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hố - xã hội, khoa
học - cơng nghệ, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của địa phương.
Trong cơng tác quy hoạch cán bộ: Tỉnh Yên Bái đã quan tâm nâng tỷ lệ
cán bộ nữ vào quy hoạch; xác định tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo các cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội hàng năm nhằm thực hiện công tác tạo nguồn và
11
quy hoạch dài hạn cán bộ quản lý, lãnh đạo nữ với các chỉ tiêu cụ thể và giải
pháp thực hiện; đặc biệt chú trọng công tác cán bộ nữ tham gia cấp ủy, ứng cử
đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; tăng cường kiểm tra, giám sát
việc thực hiện các quy định về độ tuổi đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm nữ
vào các vị trí cán bộ chủ chốt của sở, ban, ngành cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã,
nhất là các ngành đặc thù như giáo dục, y tế.
Đội ngũ nữ cán bộ, đặc biệt đối với nữ lãnh đạo trẻ, nữ lãnh đạo là người
dân tộc thiểu số được tham gia các lớp đào tạo trình độ cao cấp lý luận chính trị;
bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, phương pháp lãnh đạo, quản lý trong nước và
ngoài nước; bồi dưỡng kỹ năng quản trị doanh nghiệp; tham dự các kỳ họp của
Hội đồng nhân dân tỉnh. Cán bộ làm cơng tác bình đẳng giới thường xuyên tham
dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về bình đẳng giới; thành lập và bồi
dưỡng thường xuyên cho đội ngũ giảng viên nguồn nòng cốt cấp tỉnh; tổ chức
lớp tập huấn cho cán bộ nữ của các cơ quan đồn thể, tổ chức chính trị - xã hội.
Tuy nhiên, số lượng và tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý của cấp huyện,
xã chưa cao; số cán bộ được quy hoạch các vị trí chủ chốt của các sở, ban,
ngành, các cấp cịn chưa đạt mục tiêu đề ra.
3.3. Khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; sự
tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số đối
với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động
Giai đoạn 2011 - 2020, tổng số lao động được giải quyết việc làm của
toàn tỉnh là 185.962 lao động, trong đó lao động nữ là 80.555 người, chiếm
43,32%. Tỷ lệ nữ làm chủ doanh nghiệp đến hết năm 2020 trên 26,6%. Tỷ lệ lao
động nữ nông thôn dưới 45 tuổi được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật giai
đoạn 2011 - 2020, dạy nghề được 66.480 nữ/ 154.467 người, chiếm 43,04%. Tỷ
lệ nữ ở vùng nơng thơn nghèo, vùng dân tộc thiểu số có nhu cầu được vay vốn
ưu đãi từ các chương trình việc làm, giảm nghèo và các nguồn tín dụng chính
thức đạt 100% với 734 tỷ đồng thơng qua 954 tổ tín dụng cho 27.872 phụ nữ vay
vốn.
12
Định kỳ tổ chức điều tra cung - cầu lao động phục vụ công tác quản lý và
xây dựng bản tin thị trường lao động. Tổ chức tuyển dụng lao động theo nhu cầu
sử dụng của các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh; tổ chức ngày hội việc làm, tư
vấn tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp. Đẩy mạnh tư vấn, giới thiệu việc làm, tiếp
nhận và giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp, cấp giấy xác nhận đăng ký
tuyển lao động đi làm việc có thời hạn tại nước ngoài theo hợp đồng cho các
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Các chính sách đối với lao động nữ tại các cơ
quan, đơn vị, doanh nghiệp,... được đảm bảo thực hiện, các điều kiện vệ sinh an
toàn cho lao động nữ trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc độc
hại được thực hiện đúng quy định đối với mỗi giới.
Hướng dẫn các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thực hiện các quy định của
pháp luật lao động như: Xây dựng và đăng ký nội quy lao động; xây dựng và
đăng ký thỏa ước lao động tập thể; đăng ký thang bảng lương, bảo hiểm; xây
dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc, chế độ bảo hiểm của
người lao động. Công tác quản lý bảo hiểm thất nghiệp và giải quyết hưởng trợ
cấp thất nghiệp cho lao động thất nghiệp kịp thời, đồng thời tư vấn cho lao động
các thị trường thu hút lao động trong và ngoài nước.
Hướng dẫn, cụ thể hóa việc thực hiện Luật Bình đẳng giới trong việc
thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý doanh
nghiệp, bình đẳng trong tiếp cận thơng tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao
động; doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về tài chính; lao
động nữ khu vực nơng thơn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nơng, khuyến lâm.
Duy trì và phát triển Câu lạc bộ nữ doanh nhân với nhiều hoạt động hỗ trợ thúc
đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, thương mại, dịch vụ và các hoạt động xã hội.
Qua sinh hoạt Câu lạc bộ các nữ giám đốc/ chủ doanh nghiệp của tỉnh đã động
viên thành viên cùng nỗ lực, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao
động. Các quy định về bình đẳng giới khi tuyển dụng, chế độ tiền công, tiền
lương, tiền thưởng được thực hiện nghiêm chỉnh; tại nhiều doanh nghiệp được
cụ thể trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể;...
Tỉnh Yên Bái cũng đã triển khai mở nhiều lớp dạy nghề, tập huấn về công
13
tác khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm ở các vùng hồ, nơng thơn, vùng sâu,
vùng xa, qua đó tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ tham gia được các lớp. Tỷ lệ
nữ tham gia vào các khóa đào tạo này cũng thường cao hơn nam giới.
3.4. Chất lượng nguồn nhân lực nữ, sự tham gia bình đẳng giữa nam
và nữ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Năm 2020, tỷ lệ biết chữ của nam và nữ trong độ tuổi từ 15 đến 40 ở vùng
sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn tỉnh Yên Bái đạt
95,7%, cao hơn so với năm 2015 (đạt 90%).
Đến nay, tỷ lệ nữ thạc sỹ trong tổng số thạc sỹ được đào tạo của tỉnh là
572/ 1.067 người, đạt 53,6%; tỷ lệ nữ tiến sỹ trong tổng số tiến sỹ được đào tạo
của tỉnh là 11/ 39 người, đạt 28,2%. Tỷ lệ nữ tham gia xây dựng các dự án, đề án
khoa học chiếm khoảng 40% trên tổng số người tham gia; tỷ lệ tiếp cận các khóa
đào tạo về khoa học, công nghệ chiếm khoảng 50% cho mỗi giới.
Nội dung về bình đẳng giới đã được đưa vào giảng dạy ở các cấp học và
trong các chương trình bồi dưỡng về quản lý nhà nước. Các quy định bình đẳng
về độ tuổi đi học, bồi dưỡng; trong lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo; trong
tiếp cận và hưởng thụ chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ được thực hiện nghiêm túc. Lao động nữ khu vực nông thôn, lao động
là người dân tộc thiểu số được ưu tiên hỗ trợ dạy nghề thông qua các lớp đào tạo
nghề ngắn hạn; trẻ em gái khu vực đồng bào dân tộc thiểu số được tăng cường
vận động ra lớp.
Ban hành và thực hiện các chính sách đặc thù hỗ trợ trẻ em gái và phụ nữ
tham gia học tập nâng cao trình độ; chính sách đặc thù cho giáo dục mầm non ở
vùng sâu, vùng xa và vùng có điều kiện khó khăn, như: Kế hoạch bồi dưỡng cán
bộ, công chức Hội liên hiệp Phụ nữ các cấp và Chi hội trưởng Phụ nữ giai đoạn
2019 - 2025” trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch xóa mù chữ cho phụ nữ và trẻ em gái
dân tộc Mông từ 15 - 35 tuổi trên địa bàn huyện Mù Cang Chải; Đề án sắp xếp
quy mô, mạng lưới trường, lớp đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông
giai đoạn 2016 - 2020; quy định mức chi đối với một số nội dung đào tạo, bồi
14
dưỡng cán bộ, cơng chức, trong đó có mục chi hỗ trợ cho cán bộ công chức nữ
được cử đi đào tạo riêng; chính sách hỗ trợ ăn trưa đối với học sinh trường phổ
thông dân tộc bán trú, hỗ trợ kinh phí phục vụ th khốn lao động nấu ăn cho
học sinh bán trú ngồi quy định.
3.5. Bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe
Đến hết năm 2019, tỷ số giới tính khi sinh là 112 nam/ 100 nữ; tỷ lệ tử
vong bà mẹ liên quan đến thai sản là 0,18‰; tỷ lệ phụ nữ mang thai được tiếp
cận dịch vụ chăm sóc và dự phịng lây truyền HIV từ mẹ sang con là 98%; tỷ lệ
phá thai là 4,5%; tỷ lệ người chưa thành niên có thai là 7,3%.
Đẩy mạnh cơng tác truyền thông, lồng ghép tuyên truyền nhằm nâng cao
nhận thức về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho nữ giới và nam giới;
truyền thông đối với người chưa thành niên về sức khỏe tình dục, tránh thai an
tồn, chăm sóc đối với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình và truyền thơng, thực
hiện cơng tác kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản, nâng cao chất
lượng dân số và cuộc sống, hạnh phúc của mỗi gia đình.
Tỉnh Yên Bái cũng đã quan tâm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
sinh sản, sức khỏe tình dục cho phụ nữ và nam giới trên địa bàn. Xây dựng và
triển khai các mơ hình, chương trình, dự án chất lượng dân số: Mơ hình can thiệp
làm giảm tình trạng tảo hơn và hơn nhân cận huyết thống; Mơ hình tư vấn và
khám sức khỏe tiền hơn nhân; Chương trình can thiệp giảm thiểu mất cân bằng
giới tính khi sinh; Dự án cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em dân tộc thiểu số thơng
qua hành vi có lợi cho sức khỏe;... trong đó có các chỉ tiêu liên quan đến bình
đẳng giới.
Mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh được quan tâm, đầu tư ở tất cả các
tuyến, cả về cơ sở vật chất và trang thiết bị, các bệnh viện được thay đổi rõ nét ,
khang trang, sạch đẹp hơn; chất lượng các dịch vụ từng bước được nâng lên,
triển khai nhiều kỹ thuật cao và đồng thời chất lượng khám chữa bệnh được
nâng cao, mọi người bệnh đều được hưởng chế độ khám chữa bệnh theo quy
15
định. Nghiêm cấm các bác sỹ dùng phương tiện khoa học kỹ thuật thuộc lĩnh
vực y tế giúp sản phụ lựa chọn giới tính thai nhi; cơng tác chăm sóc sức khỏe
cho cộng đồng được quan tâm thực hiện, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe sinh sản
cho phụ nữ, trẻ em đã có chuyên khoa. Xây dựng và ngày càng hoàn thiện hơn
mạng lưới tư vấn về sức khỏe sinh sản cho nam giới; đến nay, tuy chưa có
chuyên khoa riêng nhưng tại các cơ sở y tế đều có phịng Tư vấn sức khỏe.
3.6. Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa và thơng tin
Từ năm 2016 đến nay, giảm trên 80% sản phẩm văn hóa, thơng tin mang
định kiến giới, cao hơn giai đoạn trước (60%).
Tăng thời lượng phát sóng từng năm các chương trình, chun mục và số
lượng các sản phẩm tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới. Đến nay, 100%
Đài Phát thanh và Đài Truyền hình địa phương có chun mục, chun đề nâng
cao nhận thức về bình đẳng giới. Hàng tháng, có ít nhất 02 chuyên mục tuyên
truyền về nội dung liên quan bình đẳng giới trên hệ thống truyền thanh cơ sở tại
các xã, phường, thị trấn.
Việc tham gia các hoạt động văn hóa, thơng tin, thể dục, thể thao và
hưởng thụ văn hóa, tiếp cận và sử dụng các nguồn thơng tin của nam và nữ là
như nhau.
Quan tâm triển khai theo dõi, kiểm tra các hoạt động và sản phẩm văn
hóa, thơng tin từ góc độ giới. Thơng qua cơng tác thẩm định, cấp phép, xuất
hành, kiểm tra các ấn phẩm văn hóa, thơng tin truyền thơng khơng phát hiện có
sản phẩm văn hóa, thơng tin mang định kiến giới. Thời lượng phát sóng các
chương trình phát thanh - truyền hình và số lượng sản phẩm tuyên truyền, giáo
dục về bình đẳng giới tăng dần hàng năm.
3.7. Bình đẳng giới trong đời sống gia đình, từng bước xóa bỏ bạo lực
trên cơ sở giới
Đến năm 2020, Tỉnh Yên Bái đã rút ngắn khoảng cách về thời gian tham
gia công việc gia đình của nữ so với nam xuống 1,5 lần; 50% số nạn nhân của
bạo lực gia đình được phát hiện, tư vấn về pháp lý và sức khỏe, được hỗ trợ và
16
chăm sóc tại các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình, cao hơn so với năm
2015 (40%); 85% số người gây bạo lực gia đình được phát hiện, tư vấn tại các
cơ sở tư vấn/ tổ hòa giải ở cơ sở về phòng, chống bạo lực gia đình, cao hơn so
với năm 2015 (70%). Đến nay, 100% số nạn nhân bị buôn bán trở về thông qua
trao trả, được giải cứu, số nạn nhân bị buôn bán tự trở về được phát hiện, được
hưởng các dịch vụ hỗ trợ và tái hòa nhập cộng đồng.
Việc xây dựng gia đình văn hóa, trong đó nhấn mạnh tiêu chí bình đẳng
giới trong gia đình được chú trọng. Quy định về vợ, chồng bình đẳng trong quan
hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình; vợ, chồng có
quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử
dụng nguồn thu nhập chung của vợ, chồng và quyết định các nguồn lực trong gia
đình; bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng
biện pháp kế hoạch hóa gia đình phù hợp; sử dụng thời gian chăm sóc con ốm
theo quy định của pháp luật; con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục
như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển; các thành viên
nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ cơng việc gia đình đã được các
ngành chức năng quan tâm triển khai trong hoạt động chuyên môn, đặc biệt là
trong thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”;
hướng dẫn xây dựng, sửa đổi quy ước, hương ước làng xã để đảm bảo bình đẳng
giới trong gia đình.
Xây dựng mơ hình các câu lạc bộ gia đình hạnh phúc, bình đẳng và khơng
có bạo lực, đã thu hút sự tham gia tích cực của nam giới tham gia vào các hoạt
động; mơ hình nhà tạm lánh cho đối tượng trong thời gian tạm trú, tạm lánh, tập
huấn trang bị kiến thức về nâng cao năng lực truyền thông, kỹ năng tư vấn, hỗ trợ
và thực hiện hòa giải các trường hợp bạo lực gia đình; kế hoạch thực hiện thí điểm
việc đẩy lùi tình trạng tảo hơn, hơn nhân cận huyết thống tại các huyện vùng cao
và xuất cảnh trái phép. Duy trì hoạt động của 1.450 báo cáo viên, tuyên truyền
viên, để tuyên truyền các hoạt động về bình đẳng giới, phịng chống bạo lực gia
đình, bảo vệ trẻ em, phổ biến giáo dục pháp luật, gương điển hình tiên tiến. Tổ
17
chức diễn đàn đối thoại “Hãy lên tiếng để phòng, chống xâm hại, bạo lực phụ nữ
và trẻ em”. Qua phản ánh dư luận xã hội, chỉ tiêu thời gian tham gia cơng việc
gia đình của nam giới ngày càng tăng lên.
Bên cạnh đó, định kiến giới vẫn cịn khá phổ biến trong nhân dân, nhất là
ở vùng sâu, vùng cao, vùng dân tộc thiểu số. Tư tưởng coi nam giới là “trụ cột”
cịn phụ nữ ln gắn với vai trị nội trợ, chăm sóc gia đình đó là cách nhìn lệch
lạc về vai trị của mỗi giới, dẫn đến thiếu sự chia sẻ trách nhiệm giữa nam giới
và nữ giới trong cơng việc gia đình và tham gia các hoạt động xã hội. Tình trạng
sinh con thứ 3 trở lên do chưa có con trai, tình trạng tảo hơn, hôn nhân cận huyết
thống ở vùng cao chưa giảm nhiều; chỉ số giới tính khi sinh vẫn ở trong nguy cơ
mất cân bằng, bạo lực trên cơ sở giới vẫn thường xuyên diễn ra và tinh vi hơn.
4. Giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong thời gian tới
Thứ nhất, xây dựng, hồn thiện và thực hiện pháp luật, chính sách,
chương trình, dự án về bình đẳng giới và các giải pháp phù hợp với mục tiêu
bình đẳng giới nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ.
Tăng cường thực hiện rà soát, sửa đổi, bổ sung pháp luật có liên quan đảm
bảo phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới; có cơ chế phù hợp để tăng cường quan
hệ đối tác giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan trong lĩnh vực bình đẳng giới;
khuyến khích tạo điều kiện để các tổ chức phi chính phủ tham gia hoạt động về
bình đẳng giới.
Tổ chức nghiên cứu, rà soát, đề xuất sửa đổi và lồng ghép vấn đề bình
đẳng giới đối với các chương trình mục tiêu quốc gia và các đề án hỗ trợ phát
triển kinh tế - xã hội hiện hành.
Xây dựng bộ chỉ số đánh giá bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực được
quy định trong Luật Bình đẳng giới.
Thứ hai, tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức của
tồn xã hội về bình đẳng giới.
Triển khai thực hiện tuyên truyền, giáo dục về Luật Bình đẳng giới và các
văn bản hướng dẫn thực hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng một cách
18
thiết thực, phù hợp với từng ngành, địa phương và đối tượng cụ thể. Tập trung
trước tiên vào việc nâng cao nhận thức cho các cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị,
địa phương, đảng viên, chống tư tưởng coi thường phụ nữ, các hành vi phân biệt
đối xử giới thông qua việc mở các chuyên mục, chuyên đề trên các phương tiện
thơng tin đại chúng như báo hình, báo viết, báo nói, mạng Internet và thơng qua
các hội nghị, hội thảo, tập huấn cho các báo cáo viên, tuyên truyền viên.
Nghiên cứu khả năng lồng ghép và thực hiện lồng ghép nội dung giáo dục
về giới và bình đẳng giới vào chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thuộc lĩnh vực quản lý.
Nghiên cứu đưa các chỉ tiêu có phân tích tách biệt giới vào hệ thống báo
cáo thống kê quốc gia hàng năm để có cơ sở lập kế hoạch, hoạch định, triển
khai, theo dõi, chỉ đạo thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới. Ban hành chính
sách ưu tiên cho cán bộ nữ miền núi trong cơng tác tuyển dụng, đào tạo; chính
sách bồi dưỡng kiến thức, khoa học kỹ thuật, công nghệ mới cho đối tượng xuất
khẩu lao động là nữ để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động của nước ngoài.
Tăng cường tổ chức các khóa tập huấn nâng cao cho đội ngũ giảng viên
nguồn cấp tỉnh về bình đẳng giới. Ưu tiên hỗ trợ ngân sách từ trung ương cho
các tỉnh còn khó khăn, quan tâm hướng dẫn và hỗ trợ việc xây dựng mơ hình
thúc đẩy bình đẳng giới đặc thù theo vùng, miền, dân tộc.
Tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn nâng cao nhận thức cho lãnh
đạo, cán bộ, công chức nhà nước theo hướng hỗ trợ thông tin khoa học và thực
tế để hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu sâu sắc, tồn diện về bình đẳng giới; kỹ năng tạo
cơ hội bình đẳng giới rõ ràng có tính đến đặc thù giới tính trong chính sách pháp
luật, bảo đảm khơng làm phát sinh bất bình đẳng giới khi thực thi các quy định
về cơ hội bình đẳng giới.
19
Thứ ba, kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước và nâng cao năng
lực cho đội ngũ cán bộ làm cơng tác bình đẳng giới các cấp.
Tiếp tục kiện tồn tổ chức quản lý nhà nước về bình đẳng giới các cấp;
kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của các Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ,
đội ngũ cán bộ làm cơng tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp.
Tổ chức tập huấn kiến thức về giới và kỹ năng lồng ghép giới cho cán bộ,
cơng chức nói chung và cán bộ, cơng chức nữ nói riêng.
Thứ tư, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế (đa phương,
song phương, với các tổ chức phi chính phủ) về bình đẳng giới.
Xây dựng chương trình nghiên cứu về bình đẳng giới trong các lĩnh vực;
trước mắt tập trung vào các nghiên cứu về các trở ngại liên quan đến giới đối với
việc phát triển của phụ nữ, đặc biệt là doanh nhân nữ để xác định nhu cầu và
cung cấp các dịch vụ hỗ trợ hiệu quả.
Đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm học tập, chia sẻ kinh
nghiệm triển khai thực hiện Luật Bình đẳng giới và vận động nguồn lực hỗ trợ
thực hiện các chính sách, pháp luật về bình đẳng giới.
20
KẾT LUẬN
Trong thời gian vừa qua, Việt Nam nói chung và tỉnh Yên Bái nói riêng đã
có rất nhiều nỗi lực phát triển kinh tế, gắn với thực hiện mục tiêu tiến bộ, cơng
bằng xã hội, trong đó phải kể đến việc thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới và
phát triển con người. Bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ
hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn
lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ
hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
Bình đẳng giới là vấn đề ln được các cấp, ngành và tồn hệ thống chính trị
quan tâm, triển khai nhiều chính sách quan trọng mang lại quyền lợi bình đẳng
giữa mọi người, đồng thời tuyên truyền, giáo dục để thay đổi quan niệm, tư duy
của nam giới và nữ giới.
Trong thời gian tới cần tiếp tục tăng cường nhận thức về bình đẳng giới,
thay đổi thái độ và tư tưởng về giới vốn là định kiến trong xã hội, thúc đẩy hợp
tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề về bình đẳng giới, đặc biệt là các
nhóm yếu thế và trong các lĩnh vực có tính chiến lược như giáo dục, y tế, việc
làm,... Bình đẳng giới không đơn thuần là quyền lợi của nữ giới, mà còn là
quyền lợi chung của đất nước, mỗi địa phương nhằm phát triển bền vững.
21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình cao cấp lý
luận chính trị: Giới trong lãnh đạo, quản lý, Nhà xuất bản Lý luận chính trị,
H.2018.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ XII, XIII của Đảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật.
3. Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày
27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nuớc.
4. Ban Bí thư Trung ương khóa XI, Thơng báo số 196-TB/TW ngày
16/3/2015 về kết luận của Ban Bí thư về Đề án tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với cơng tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong tình
hình mới.
5. Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái, Báo cáo kết quả phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 - 2020; mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu giai đoạn
2021 - 2025.
6. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Yên Bái, Báo cáo tổng kết
thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020.