Tải bản đầy đủ (.doc) (17 trang)

Tiểu luận triết phân tích cơ sở lý luận của bài học kinh nghiệm nhận thức phải xuất phát từ thực tại khách quan, tôn trọng quy luật khách quan không có hoàn cảnh nào tuyệt vọng chỉ có con người tuyệt vọng vì hoàn cảnh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (148 KB, 17 trang )

Câu 1. Phân tích cơ sở lý luận của bài học kinh nghiệm: “Nhận thức
phải xuất phát từ thực tại khách quan, tôn trọng quy luật khách quan”. Rút ra
ý nghĩa đối với công việc của anh/chị đang làm?
* Phân tích cơ sở lý luận của bài học kinh nghiệm: “Nhận thức phải xuất
phát từ thực tại khách quan, tôn trọng quy luật khách quan”.
Việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là cơ sở để luận giải cho con
người mối quan hệ giữa họ (con người có ý thức) với thế giới có con người (thế
giới vật chất). Trong tính hiện thực lịch sử của nó, con người khơng chỉ giải thích
thế giới mà cịn cải tạo thế giới bởi thực tiễn. Thực tiễn của con người, một mặt do
có sự tham gia hướng dẫn của ý thức, mặt khác do yêu cầu về tính hiệu quả quy
định nên tất yếu phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan.
Phạm trù “khách quan” dùng để chỉ tất cả những gì tồn tại khơng phụ thuộc vào
một chủ thể xác định, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên tác động đến
việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của chủ thể đó.
Nói đến thực tại khách quan là nói đến tất cả những gì tồn tại độc lập, bên
ngồi và khơng lệ thuộc vào chủ thể hoạt động. Khách quan bao gồm: Những điều
kiện, khả năng và quy luật khách quan. Trong đó, quy luật khách quan ln giữ vai
trò quan trọng nhất.
Quy luật khách quan: Là mối liên hệ bên trong, cơ bản của các sự vật hiện
tượng, chi phối sự vận động, phát triển tất yếu của những sự vật, hiện tượng ấy, đòi
hỏi trong nhận thức và hành động, chủ thể phải tuân thủ theo quy luật khách quan,
chống nóng vội, chủ quan, duy ý trí, đặc biệt trong chiến tranh nếu khơng tn thủ
quy luật chiến tranh tất yếu dẫn đến thất bại.
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người luôn luôn phải tôn trọng
và hoạt động theo quy luật khách quan, bởi vì, quy luật là những mối liên hệ cơ
bản, tất yếu, ổn định mang tính phổ biến giữa các mặt, các yếu tố của hoạt động
thực tiễn, quyết định sự phát sinh, phát triển, kết cục của hoạt động đó, các mối liên
1


hệ đó hình thành khách quan, khơng phụ thuộc vào ý thức của con người. Nếu nhận


thức và hoạt động đúng theo quy luật thì hiệu quả hoạt động sẽ cao, ngược lại hiệu
quả sẽ thấp thậm trí có thể dẫn đến thất bại. Nguyên tắc này yêu cầu phải chống
chủ nghĩa chủ quan, phản ánh mộo mú, phiến diện, hời hợt cỏi khỏch quan, coi
thường hoặc bất chấp quy luật, điều kiện, hoàn cảnh khỏch quan trong xỏc định
đường lối, chủ trương, chớnh sỏch, mục tiờu kế hoạch, biện phỏp hoạt động thực
tiễn.
Sự tồn tại thường được định nghĩa như một thế giới, nơi mà con người nhận
thức hoặc ý thức được, cái vẫn diễn ra khách quan độc lập với sự hiện diện của con
người. Nó cũng là một từ đồng nghĩa với cụm từ "mọi thứ", hoặc "tất cả mọi thứ"
cái mà hầu hết mọi người đều tin vào.
Cơ sở lý luận của bài học kinh nghiệm: “Nhận thức phải xuất phát từ thực tại
khách quan, tôn trọng quy luật khách quan” là mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn.
- Phạm trù lý luận
Lý luận là sản phẩm cao nhất của nhận thức, của sự phản ánh hiện thực khách
quan vào trong bộ não con người. Cho nên, bản chất của lý luận là hình ảnh chủ quan
của thế giới khách quan. Nhận thức là cả một quá trình biện chứng từ chưa biết đến
biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ nơng cạn đến sâu sắc, từ hiện tượng đến bản chất …
Đúng như V.I.Lênin nhận xét: “Trong lý luận nhận thức cũng như trong tất cả các
lĩnh vực khác của khoa học cần suy luận một cách biện chứng nghĩa là đừng giả định
rằng nhận thức chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn mà phải phân tích xem xét sự
hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và khơng chính xác trở thành đầy đủ
và chính xác hơn như thế nào”1.
Như vậy có thể thấy, nhận thức là một quá trình biện chứng diễn ra rất phức
tạp bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ, vịng khâu và hình thức khác nhau. Tuỳ theo
tính chất nghiên cứu mà q trình đó được phân chia thành nhận thức cảm tính và
1

.V.Lênin. (1974). Tồn tập. Tập 14. Hà Nội: Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr.118.

2



nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính (hay cịn gọi là trực quan sinh động) là giai
đoạn đầu tiên của q trình nhận thức. Nó được thể hiện ở ba hình thức cơ bản là
cảm giác, tri giác và biểu tượng.
Xét về bản chất, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn,
phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan,
lý luận được hình thành khơng phải nằm ngoài thực tiễn mà trong mối liên hệ với
thực tiễn.
Do quá trình hình thành và bản chất của nó, lý luận có hai chức năng cơ bản là
chức năng phản ánh hiện thực khách quan và chúc năng phương pháp luận cho hoạt
động thực tiễn. Lý luận phản ánh hiện thực khách quan bằng những quy luật chung
nhất. Tri thức kinh nghiệm cũng như tri thức lý luận đều phản ánh hiện thực khách
quan nhưng ở những phạm vi lĩnh vực và trình độ khác nhau. Lý luận phản ánh
hiện thực khách quan để làm phương pháp luận nhận thức và cải tạo hiện thực
khách quan bằng hoạt động thực tiễn.
- Phạm trù thực tiễn
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen “Thực tiễn là tồn bộ hoạt động vật chất có mục
đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản
thân con người”2.
Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần.
Thực tiễn là hoạt động vật chất. Hoạt động vật chất là những hoạt động mà chủ thể
sử dụng phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vật chất nhất định nhằm cải
tạo chúng theo nhu cầu của con người. Con người sử dụng các phương tiện để tác
động vào đối tượng theo những hình thức và mức độ khác nhau tuỳ thuộc mục đích
của con người. Kết quả của q trình hoạt động thực tiễn là những sản phẩm thoả
mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của cá nhân và cộng đồng.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động có tính năng động sáng tạo, là hoạt động
được đối tượng hố, là q trình chuyển hố cái tinh thần thành cái vật chất. Bởi
2


C.Mác - Ăngghen. (1974). Toàn tập. Tập 10. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia, tr.120.

3


hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể và khách thể trong đó chủ
thể hướng vào việc cải tạo khách thể trên cơ sở đó nhận thức khách thể. Vì vậy
thực tiễn là khâu trung gian nối liền ý thức con người với thế giới bên ngoài. Như
vậy, hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu động vật chỉ
hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngồi
thì con người nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của
mình để cải tạo thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu mình thích nghi một cách chủ
động tích cực với thế giới và làm chủ thế giới. Để thoả mãn nhu cầu của mình con
người phải tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để ni sống mình và nhờ đó con
người tạo nên những vật phẩm vốn khơng có sẵn trong tự nhiên. Như vậy, khơng có
hoạt động thưc tiễn con người và xã hội không thể tồn tại và phát triển được.
Vì vậy có thể nói: Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã
hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới.
Mỗi hoạt động của con người đều mang tính lịch sử cụ thể. Nó chỉ diễn ra trong một
giai đoạn nhất định nào đó. Nó có q trình hình thành phát triển và kết thúc hoặc
chuyển hoá sang giai đoạn khác, khơng có hoạt động thực tiễn nào tồn tại vĩnh viễn.
Mặt khác, hoạt động thực tiễn chịu sự chi phối của mỗi giai đoạn lịch sử cả về đối
tuợng, phương tiện cũng như mục đích hoạt động.
Hoạt động thực tiễn rất phong phú đa dạng, song có thể chia làm ba hình thức
cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực
nghiệm khoa học. Ngoài các hoạt động thực tiễn cơ bản nêu trên, cịn có các hoạt
động phát sinh trong các lĩnh vực đạo đức, nghệ thuật, y tế, giáo dục,… các loại hoạt
động này nảy sinh trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội lồi người, có tác
dụng bổ sung làm phong phú thêm những dạng hoạt động thực tiễn của con người.

Như vậy mỗi hình thức hoạt động cơ bản có một chức năng quan trọng khác
nhau, không thể thay thế được cho nhau. Song giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Trong mối quan hệ đó hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản
4


nhất, đóng vai trị quyết định đối với các hoạt động khác. Bởi vì nó là hoạt động
ngun thuỷ nhất, tồn tại một cách khách quan, thường xuyên nhất trong cuộc sống
của con người và nó tạo ra những điều kiện, của cải thiết yếu có tính quyết định đối
với sự sinh tồn và phát triển của con người và xã hội. Nếu khơng có hoạt động sản
xuất vật chất thì khơng thể có các hình thức hoạt động khác. Các hình thức hoạt động
khác suy cho cùng cũng xuất phát từ hoạt động sản xuất vật chất và phục vụ cho hoạt
động sản xuất vật chất của con người. Nhưng như vậy khơng có nghĩa là các hình thức
hoạt động chính trị xã hội và thực nghiệm khoa học là hoàn toàn thụ động lệ thuộc
một chiều vào hoạt động sản xuất vật chất. Ngược lại, chúng có thể tác động kìm hãm
hoặc thúc đẩy hoạt động sản xuất vật chất phát triển. Chẳng hạn nếu hoạt động chính
trị - xã hội mang tính chất tiến bộ cách mạng và nếu hoạt động thực nghiệm khoa học
mà đúng đắn sẽ tạo đà cho hoạt động sản xuất vật chất phát triển. Cịn nếu hoạt động
chính trị - xã hội mà lạc hậu phản cách mạng và nếu hoạt động thực nghiệm mà sai
lầm khơng khoa học sẽ kìm hãm sự phát triển của sản xuất vật chất.
- Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
Được thể hiện bằng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn. Giữa lý luận và
thực tiễn thống nhất biện chứng với nhau. Sự thống nhất đó bắt nguồn từ chỗ:
chúng đều là hoạt động của con người, đều nhằm mục đích cải tạo tự nhiên và cải
tạo xã hội để thoả mãn nhu cầu của con người. Nội dung mối quan hệ giữa lý luận
và thực tiễn:
Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn. Lý luận dựa trên nhu cầu của thực tiễn và lấy
được chất liệu của thực tiễn. Thực tiễn là hoạt động cơ bản nhất của con người,
quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội. Lý luận không có mục đích tự nó mà mục
đích cuối cùng là phục vụ thực tiễn. Sức sống của lý luận chính là luôn luôn gắn

liền với thực tiễn, phục vụ cho yêu cầu của thực tiến.
Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động của thực tiễn. Ví dụ: lý luận Mác Lênin hướng dẫn con đường đấu tranh của giai cấp vô sản. Sự thành công hay thất bại
5


của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộc vào nó được hướng dẫn bởi lý luận nào, có khoa
học hay không? Sự phát triển của lý luận là do yêu cầu của thực tiễn, điều đó cũng nói
lên thực tiễn không tách rời lý luận, không thể thiếu sự hướng dẫn của lý luận.
Vai trò của lý luận khoa học là ở chỗ: nó đưa lại cho thực tiễn các tri thức
đúng đắn về các quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách quan, từ đó mới
có cơ sở để định ra mục tiêu và phương pháp đúng đắn cho hoạt động thực tiễn.
Quan hệ lý luận và thực tiễn mang tính chất phức tạp, quan hệ đó có thể là thống
nhất hoặc mâu thuẫn đối lập.
Lý luận và thực tiễn là thống nhất. Lý luận và thực tiễn thống nhất khi giai cấp
thống trị còn mang tinh thần tiến bộ và còn giữ sứ mệnh lịch sử. Khi lý luận và
thực tiễn thống nhất thì chúng sẽ tăng cường lẫn nhau và phát huy vai trò của nhau.
Sự thống nhất đó là một trong những nguyên lý căn bản của triết học Mác - Lênin.
Thực tiễn không có lý luận hướng đẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận
mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận sng. Vì vậy cho nên trong khi nhấn mạnh
sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần V.I.Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lý luận cách
mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nang cho hành động cách mạng, và lý
luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo. Lý luận luôn luôn cần
được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động.
Vai trò của thực tiễn đối với lý luận: Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích
và tiêu chuẩn của lý luận, lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn,
đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Thực tiễn là cơ sở của lý luận. Xét một cách trực tiếp,
những tri thức được khái quát thành lý luận là kết quả của quá trình hoạt động thực
tiễn của con người. Thông qua kết quả hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng
như thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính chất và các mối quan hệ của các yếu
tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình thành lý luận. Qúa trình hoạt

động thực tiễn còn là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh những lý luận đã đựơc khái
quát. Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làm nảy sinh những vấn đề mới
6


địi hỏi q trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết. Thơng qua đó, lý luận được bổ
sung, mở rộng. Chính vì vậy, V.I.Lênin nói: “Nhận thức lý luận phải trình bày
khách thể trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ tồn diện của nó, trong sự
vận động mâu thuẫn của nó, tự nó và vì nó”3.
Thực tiễn là động lực của lý luận. Hoạt động của con người khơng chỉ là
nguồn gốc để hồn thiện các cá nhân mà cịn góp phần hồn thiện các mối quan hệ
giữa con người với tự nhiên, với xã hội. Lý luận được vận dụng làm phương pháp
cho hoạt động. Thực tiễn, mang lại lợi ích cho con người càng kích thích con người
tích cực bám sát thực tiễn để khái qt lý luận. Q trình đó diễn ra khơng ngừng
trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu
sắc hơn. Nhờ vậy hoạt động con người không bị hạn chế trong khơng gian và thời
gian. Thơng qua đó, thực tiễn đã thúc đẩy một ngành khoa học mới ra đời - khoa
học lý luận.
Thực tiễn là mục đích của lý luận. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận.
Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với hiện thực khách quan
và được thực tiễn kiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận đối với hoạt
động thực tiễn của con người. Do đó, mọi lý luận phải thơng qua thực tiễn để kiểm
nghiệm. Chính vì thế mà C.Mác nói: “vấn đề tìm hiểu tư duy của con người có thể
đạt đến chân lý khách quan khơng hồn tồn khơng phải là vấn đề lý luận mà là
một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân
lý”4. Thông qua thực tiễn những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho
tàng tri thức nhân loại; những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều
chỉnh bổ sung hoặc nhận thức lại giá trị của lý luận nhất thiết phải được chứng
minh trong hoạt động thực tiễn.


3
4

I.V.Lênin. (1974). Toàn tập. Tập 43. Hà Nội: Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr.527.
C.Mác - Ăngghen. (1974). Toàn tập. Tập 18. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia, tr.419.

7


Vai trò của lý luận đối với thực tiễn: Thực tiễn chỉ đạo lý luận, ngược lại lý luận
phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn.
C.Mác đã từng nói, người thợ xây không bao giờ tinh xảo như con ong xây tổ
nhưng người thợ xây hơn hẳn con ong ở chỗ, trước khi xây dựng một cơng trình họ
đã hình thành được hình tượng của cơng trình ấy trong đầu họ. Tức là hoạt động của
con người là hoạt động có ý thức. Ban đầu hoạt động của con người chưa có lý luận
chỉ đạo, song con người phải hoạt động để đáp ứng nhu cầu tồn tại của mình. Thơng
qua đó, con người khái quát thành lý luận. Từ đó những hoạt động của con người
muốn có hiệu quả nhất thiết phải có lý luận soi đường hoạt động thực tiễn của con
người mới trở thàng tự giác, có hiệu quả và đạt được mục đích mong muốn.
Lý luận đóng vai trị soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định
hướng mục tiêu xác định lực lượng biện pháp thực hiện. Lý luận còn dự báo được
khả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dự báo được những rủi
ro có thể xảy ra, những hạn chế những thất bại có thế có trong q trình hoạt động.
Như vậy lý luận khơng chỉ giúp con người hoạt động hiệu quả mà còn là cơ sở để
khắc phục những hạn chế và tăng năng lực hoạt động của con người. Mặt khác lý
luận còn có vai trị giác ngộ mục tiêu, lý tưởng liên kết các cá nhân thành cộng
đồng, tạo thành sức mạnh to lớn của quần chúng trong cải taọ tự nhiên và cải tạo xã
hội. Chính vì vậy, C.Mác đã khẳng định “vũ khí của sự phê phán cố nhiên khơng
thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ
lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó

thâm nhập vào quần chúng”5.
Lý luận hình thành là kết quả của nhận thức lâu dài và khó khăn của con
người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy đa dạng phong phú
nhưng khơng phải khơng có tính quy luật. Tính quy luật của thực tiễn được khái
quát dưới hình thức lý luận. Mục đích của lý luận khơng chỉ là phương pháp mà
5

C.Mác - Ăngghen. (1974). Toàn tập. Tập 20. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia, tr.180.

8


cịn là định hướng cho hoạt động thực tiễn. Đó là định hướng mục tiêu, biện pháp
sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ trong hoạt động thực
tiễn. Khơng những thế, lý luận cịn định hướng mơ hình của hoạt động thực tiễn.
Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn, trước hết từ lý luận để xây dựng mơ hình
thực tiễn theo những mục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự báo các diễn
biến, các mối quan hệ lực lượng tiến hành và những phát sinh của nó trong q
trình phát triển để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực
nhằm đạt kết quả cao hơn.
Từ phân tích trên chúng ta có thể khẳng định cơ sở lý luận của bài học kinh
nghiệm: “Nhận thức phải xuất phát từ thực tại khách quan, tôn trọng quy luật
khách quan” là mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn.
* Rút ra ý nghĩa đối với công việc tại ngân hàng
Ngân hàng được coi là mạch máu của nền kinh tế quốc dân, vì vậy nâng cao
năng lực hoạt động của cán bộ, nhân viên ngành ngân hàng là vấn đề rất quan
trọng. Thời gian qua, trước sự đổi mới tồn diện của đất nước, ngành ngân hàng đã
có bước phát triển mạnh mẽ về cơng nghệ, trình độ quản lý, năng lực tài chính và
nguồn nhân lực, qua đó từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Song
khách quan mà nói, trong khi nguồn nhân lực được đào tạo từ các trường đại học là

rất lớn nhưng đang thiếu đi nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong một số
lĩnh vực như quản lý, quản trị rủi ro, đầu tư quốc tế, hoạch định chiến lược... Do
vậy, nghiên cứu mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn giúp cán bộ, nhân viên ngành
ngân hàng có một quan điểm rõ ràng “nhận thức phải xuất phát từ thực tại khách
quan, tôn trọng quy luật khách quan” từ đó nâng cao hiệu quả cơng việc.
Vận dụng kinh nghiện này, trước hết cán bộ, nhân viên ngân hàng cần khắc
phụ bệnh kinh nghiệm trong quá trình cơng tác, đó là khuynh hướng tuyệt đối hóa
kinh nghiệm, coi thường lý luận khoa học, khuếch đại vai trò thực tiễn để hạ thấp
vai trò lý luận. Chúng sẽ dẫn đến các dự án đầu tư của ngân hàng sai, không đúng
9


lúc gây lãng phí, thất thốt ngân sách. Trong khi đó trước khi thực hiện các bản
nghiên cứu dự án dựa trên các nguyên lý, học thuyết kinh tế, xã hội đều chỉ ra tính
khơng hiệu quả, rủi ro cao.
Bên cạnh đó, cơng tác trong lĩnh vực ngân hàng: đây là ngành kinh doanh mà
đầu vào cũng là tiền mà đầu ra cũng là tiền. Quá trình cung cấp dịch vụ khơng địi
hỏi ở người lao động những u cầu cao về thể lực mà trí lực, thái độ mới là những
yếu tố quan trọng cần có. Do vậy dù thực tiễn công việc căng thẳng, áp lực hay
cường độ cao thì yêu cầu cán bộ, nhân viên ngân hàng “phải xuất phát từ thực tại
khách quan, tôn trọng quy luật khách quan”, cần có về trình độ chun mơn, mức
độ tư duy, có một nền tảng kiến thức chuyên ngành nhất định để có thể thực hiện
cơng việc. Các yêu cầu về đạo đức, lối sống cũng đã trở thành những tiêu chuẩn
hàng đầu xuất phát từ thực tiễn công việc ngành ngân hàng đối với mỗi nhân viên.
Thực tiễn cũng chỉ ra, niềm tin của khách hàng là yếu tố mang tính sống cịn
đối với một ngân hàng, chỉ cần một biến động nhỏ cũng có thể gây ảnh hưởng đến
tâm lý khách hàng, từ đó có thể dẫn đến sự chuyển dịch của hàng loạt khách hàng.
Vì vậy, vận dụng kinh nghiệm “Nhận thức phải xuất phát từ thực tại khách quan,
tôn trọng quy luật khách quan” mỗi nhân viên ngân hàng, đặc biệt là các nhà quản
trị ngân hàng phải luôn làm việc với một sự cẩn trọng nhất định, nắm vững nguyên

tắc công việc, xử lý linh hoạt, nhạy bén trong các tình huống.
Thực tiễn khách quan cũng chỉ ra: Khách hàng đa dạng, các nhân viên ngân
hàng thường xuyên tiếp xúc với khách hàng ở nhiều độ tuổi, trình độ khác nhau nên
nhân sự trong các ngân hàng phải có khả năng giao tiếp tốt, ln có thái độ vui vẻ,
hịa nhã với khách hàng. Các yêu cầu về ngoại hình, ngoại ngữ cũng thường được
đề cao hơn so với nhiều ngành sản xuất khác.
Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn công việc đặt ra, cán bộ, nhân viên công tác
trong lĩnh vực ngân hàng phải nâng cao trình độ thơng qua học các lớp học nghiệp

10


vụ trong và ngồi nước. Sau q trình đào tạo, nhân viên ngân hàng cần ứng dụng
những gì mình được học vào thực tế công việc hàng ngày.

11


Câu 2. Vận dụng phương pháp luận triết học Mác - Lênin để lập luận
quan điểm sau và rút ra ý nghĩa cho bản thân.
“Khơng có hồn cảnh nào tuyệt vọng, chỉ có con người tuyệt vọng vì
hồn cảnh” (Khuyết danh).
TRẢ LỜI
* Lập luận quan điểm sau: “Khơng có hồn cảnh nào tuyệt vọng, chỉ có
con người tuyệt vọng vì hoàn cảnh” (Khuyết danh).
Phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy
luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con
người nhằm thực hiện mục tiêu đề ra. Như vậy, phương pháp do con người tạo ra
trên cơ sở các quy luật khách quan đã được nhận thức và được khái quát thành lý
luận. Phương pháp không phải do con người tuỳ tiện đặt ra mà là kết quả của việc

con người nhận thức hiện thực khách quan và từ đó rút ra những nguyên tắc, những
yêu cầu để định hướng cho mình trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Do đó, cơ
sở để con người định ra phương pháp đúng đắn là những quy luật khách quan đã
được nhận thức, chính phương pháp bắt nguồn từ thực tiễn phản ánh đúng đắn
những quy luật khách quan của thế giới và đem lại cho khoa học và thực tiễn một
cơng cụ có hiêụ quả để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới.
Phương pháp luận biện chứng duy vật là một hệ thống các quan điểm,
nguyên tắc nền tảng chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng
phương pháp một cách hợp lý và có hiệu quả. Do vậy, phép biện chứng duy vật vừa
là lý luận, vừa là phương pháp luận phổ biến. Vận dụng phương pháp luận triết học
Mác - Lênin về mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan giúp chúng ta có cơ
sở để lập luận quan điểm “Khơng có hồn cảnh nào tuyệt vọng, chỉ có con người
tuyệt vọng vì hồn cảnh”.
Triết học Mác-Lênin và các trường phái triết học khác đối lập về nguyên tắc
trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, luận giải mối quan hệ khách quan
12


và chủ quan trong thực tiễn của con người. Việc quán triệt và vận dụng sáng tạo
quan điểm của triết học Mác-Lênin về mối quan hệ cơ bản trên đây ln có ý nghĩa
rất quan trọng. Nó giúp cho các chủ thể, một mặt tránh được chủ nghĩa chủ quan,
mặt khác biết cách phát huy tính năng động chủ quan trong thực tiễn.
Khái niệm “khách quan” và “chủ quan”
Nói đến khách quan là nói đến tất cả những gì tồn tại độc lập, bên ngồi và
khơng lệ thuộc vào chủ thể hoạt động. Khách quan bao gồm: Những điều kiện, khả
năng và quy luật khách quan. Trong đó, quy luật khách quan ln giữ vai trị quan
trọng nhất. Triết học Mác-Lênin luôn xác định khách quan và chủ quan căn cứ theo
những chủ thể nhất định trong mối quan hệ xác định với khách thể. Không phải mọi
điều kiện, khả năng và quy luật khách quan bất kì, mà chỉ có những điều kiện, khả
năng và quy luật khách quan nào hợp thành một hoàn cảnh hiện thực thường xuyên

tác động đến các hoạt động của một chủ thể xác định mới được coi là thuộc phạm
trù khách quan đối với hoạt động của chủ thể ấy. Chính vì thế, với những chủ thể
khác nhau, quan hệ khác nhau, lĩnh vực hoạt động khác nhau thì phạm vi, tính chất
cái khách quan khơng hồn tồn như nhau. Phạm trù khách quan luôn được đặt
trong mối quan hệ với phạm trù chủ quan.
Phạm trù “chủ quan” dùng để chỉ tất cả những gì cấu thành phẩm chất và
năng lực của một chủ thể nhất định, phản ánh vai trò của chủ thể ấy đối với những
hoàn cảnh hiện thực khách quan trong hoạt động nhận thức và cải tạo khách thể.
Chủ quan, trước hết bao gồm tất cả những gì cấu thành và phản ánh trình độ phát
triển về phẩm chất và năng lực của một chủ thể nhất định. Theo đó, phải kể đến
phẩm chất tư duy, trình độ hiểu biết, đến tình cảm, ý chí, nguyện vọng và thể chất
của chủ thể. Nói đến chủ quan là nói đến sức mạnh hiện thực bên trong của chủ thể.
Đến lượt nó, sức mạnh ấy lại ln được biểu hiện ra ở năng lực tổ chức hoạt động
(nhận thức và thực tiễn) của chủ thể mà tiêu thức cơ bản, quyết định để đánh giá

13


năng lực ấy là sự phù hợp giữa hoạt động của chủ thể với điều kiện, khả năng và
quy luật khách quan.
Trong cuộc sống con người gặp rất nhiều hoàn cảnh khác nhau, có hồn cảnh
thuận lợi nhưng cũng có hồn cảnh khó khăn, dễ mang lại cho con người đến tuyệt
vọng nếu như không biết cách vượt qua. Dựa vào mối quan hệ khách quan và chủ
quan, đặc biệt là phát huy tính năng động chủ quan của con người giúp chúng ta
luận giải một cách căn bản, đúng đắn nhất về quan điểm “Khơng có hồn cảnh nào
tuyệt vọng, chỉ có con người tuyệt vọng vì hồn cảnh”.
Vậy, yếu tố năng động, tác động lại của chủ quan (con người) đối với khách
quan (hoàn cảnh) thể hiện như thế nào:
Nói đến vai trị của nhân tố chủ quan là nói đến vai trị của con người trong
hoạt động (nhận thức và thực tiễn) để cải biến và thống trị thế giới của họ. Con

người, do bản chất xã hội của họ quy định, nên ln có nhu cầu và khả năng tổ
chức các hoạt động khám phá thế giới khách quan. Trên cơ sở đó, con người nâng
cao tri thức, phát triển ý chí, tình cảm của mình theo hướng ngày càng phù hợp hơn
với điều kiện, khả năng và quy luật khách quan của hiện thực. Cũng nhờ đó mà
đường lối, mục tiêu, nhiệm vụ cũng như chủ trương, biện pháp mà con người vạch
ra ngày càng đúng đắn hơn, ít mang tính chất chủ quan duy ý chí hơn. Nói cách
khác, đó cũng chính là q trình nhân tố chủ quan của chủ thể ngày càng được
khách quan hóa. Đồng thời, chính điều đó lại góp phần nâng cao quyền lực của con
người trong việc làm biến đổi thế giới khách quan theo ý chí, nguyện vọng và nhu
cầu của họ. Điều đó cũng có nghĩa con người ngày càng trở thành chủ thể thực sự
của thế giới khách quan, hay thế giới khách quan ngày càng bị chủ quan hóa bởi
hoạt động cải biến của con người.
Vai trò đặc biệt trên đây của nhân tố chủ quan được thể hiện tập trung ở
phương thức nó biến các quy luật, các điều kiện và các khả năng khách quan vốn
tồn tại và vận động dưới dạng các “xu hướng có thể” thành hiện thực theo hướng
14


thỏa mãn tốt nhất nhu cầu, lợi ích của chủ thể. Thơng thường, trong tự nhiên, các
“xu hướng có thể” tự phát biến thành hiện thực khi đủ điều kiện cần thiết, nhưng
trong xã hội q trình đó lại phụ thuộc một cách quyết định vào vai trò của nhân tố
chủ quan.
Mặc dù mọi hoạt động của con người đều phải dựa vào những điều kiện
khách quan nhất định, nhưng con người khơng thụ động chờ đợi sự chín muồi của
điều kiện khách quan, mà trái lại, có thể dựa vào năng lực chủ quan của mình để
phát hiện các điều kiện khách quan và dựa vào các điều kiện đó để tổ chức, xúc tiến
tạo ra những điều kiện khách quan khác cần thiết cho những nhiệm vụ cụ thể của
mình. Bằng cách đó, con người có thể thúc đẩy nhanh hơn tiến trình biến khả năng
thành hiện thực.
Tương tự, trong một phạm vi, một sự vật hiện tượng cụ thể, tiến trình khách

quan có thể có nhiều con đường, nhiều khả năng phát triển. Ở đây, vai trò của con
người có thể dựa vào năng lực vốn có của mình để lựa chọn, tác động sao cho chỉ
một con đường, một khả năng khách quan nào đó phù hợp nhất với tiến trình lịch
sử cụ thể và nhu cầu của mình. Bằng cách đó, như thực tế lịch sử cho thấy, con
người có thể đẩy nhanh, rút ngắn tiến trình phát triển của sự vật mà vẫn bảo đảm
tính lịch sử tự nhiên của nó. Cuối cùng, vai trò to lớn của nhân tố chủ quan còn thể
hiện ở chỗ, mặc dù khơng xóa bỏ hoặc sáng tạo ra bất cứ quy luật khách quan nào,
nhưng bằng năng lực chủ quan của mình, con người có thể điều chỉnh hình thức tác
động của quy luật khách quan và kết hợp một cách khéo léo sự tác động tổng hợp
của nhiều quy luật theo hướng phục vụ tốt nhất cho mục đích của mình. Sở dĩ như
vậy là vì tính tất yếu về sự tác động của quy luật khách quan khơng mâu thuẫn với
tính phong phú về hình thức và trật tự tác động của nó trong những điều kiện cụ thể
khác nhau; mà việc làm biến đổi những điều kiện này lại nằm trong khả năng thực
tế của con người.

15


Từ sự phân tích trên có thể thấy khơng có hoàn cảnh nào tuyệt vọng, dù hiện
trong thực tiễn con người có thể gặp những khó khăn, những hồn cảnh éo le…
nhưng nhờ sự năng động, sáng tạo của con người, con người sẽ tìm cách để vượt
qua nó. Do vậy khơng có hồn cảnh nào tuyệt vọng. Khi gặp hồn cảnh khó khăn,
chắc trở nếu con người khơng biết cách vượt qua thì tất yếu sẽ là người tuyệt vọng
vì hồn cảnh.
Tóm lại, “thế giới khơng thỏa mãn con người, và con người quyết định biến
đổi thế giới bằng hành động của mình”. Nhưng hành động biến đổi thế giới của con
người chỉ có hiệu quả khi nó được thực hiện bởi những công cụ, phương tiện vật chất
và phù hợp với quy luật vốn có của thế giới vật chất, nghĩa là hành động ấy luôn là
một thể thống nhất giữa nhận thức và thực tiễn. Quá trình thực tiễn - nhận thức - thực
tiễn là một quá trình vơ tận với sự chuyển hóa khơng ngừng giữa khách quan và chủ

quan theo hướng đứa con người trở thành chủ thể thực sự của thế giới khách quan.
Đó chính là q trình biện chứng “khách quan hóa chủ quan và chủ quan hóa khách
quan”, chống “khách quan chủ nghĩa” và chống “chủ quan duy ý chí”.
* Rút ra ý nghĩa đối với công việc tại ngân hàng
Việc nghiên cứu mối quan hệ khách quan và chủ quan theo lập trường duy
vật biện chứng và quan điểm “Khơng có hồn cảnh nào tuyệt vọng, chỉ có con
người tuyệt vọng vì hồn cảnh” có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động của con người
nói chung và cơng việc tại tại ngần hàng.
Cán bộ, nhân viên ngân hàng trong quá trình công tác phải luôn tôn trọng
khách quan, xuất phát từ thực tế khách quan; đóng thời phát huy tính năng động,
sáng tạo chủ quan trong nhận thức và thực tiễn cơng việc. Bởi vì cơng việc có lúc
thuận lợi nhưng cũng có lúc gặp khó khăn như bị tác động của dịch Covid-19.
Nhận thức đúng đắn khách quan là tiền đề xác định mục tiêu, phương hướng,
nội dung, biện pháp phù hợp làm cơ sở cho hoạt động thực tiễn của chủ thể từng
bước cải biến khách quan theo mục đích đặt ra. Phải căn cứ vào thực tiễn kết quả
16


hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tác động của đại dịch… để chủ động đề ra
các giải pháp đưa ngân hàng vượt qua khó khăn.
Do vai trị chủ động của nhân tố chủ quan nên trong nhận thức và thực tiễn
phải biết trên cơ sở tôn trọng khách quan để phát huy cao độ tính năng động chủ
quan. Trên cơ sở “cái” khách quan đã được nhận thức để huy động, phát huy cao
nhất mọi phẩm chất và năng lực của chủ thể vào việc nghiên cứu, phát hiện, lựa
chọn ra con đường, những biện pháp, hình thức, bước đi, những công cụ và phương
tiện phù hợp nhất, đạt hiệu quả cao nhất trong mọi hoạt động. Đối với các ngân
hàng hiện nay phải phát huy tính năng động, sáng tạo của từng nhân viên với những
kế hoạch cụ thể trong điều kiện dịch bệnh. Phát huy tính năng động chủ quan cũng
đồng thời bao hàm việc phê phán, đấu tranh khắc phục tư tưởng thụ động, ỷ lại, bó
tay, phó mặc trước khó khăn của hiện thực cuộc sống.


17



×