Tải bản đầy đủ (.docx) (39 trang)

Một số biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu cao su tại việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.09 MB, 39 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
⁎⁎⁎

TIỂU LUẬN
CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CAO SU TẠI VIỆT NAM

Lớp tín chỉ: TMA301(GĐ1-HK1-2021).1
Giảng viên hướng dẫn: TS. Vũ Thành Toàn

Hà Nội, tháng 09 năm 2021

1


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU VÀ NGÀNH
XUẤT KHẨU CAO SU
5
1.

Hoạt động xuất khẩu................................................................................5

2.

Tiềm năng phát triển của ngành sản xuất cao su.................................. 6


CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGÀNH XUẤT KHẨU CAO SU TẠI
VIỆT NAM
10
1.

Tổng quan về thị trường cao su thế giới...............................................10

2.

Thực trạng ngành cao su Việt Nam...................................................... 12

3.

Xuất khẩu cao su giảm nhưng tăng về giá........................................... 21

CHƯƠNG III: Định hướng phát triển và một số biện pháp đẩy mạnh xuất
khẩu cao su tại Việt Nam
22
1.

Sản phẩm.................................................................................................22

2.

Giải pháp từ phía nhà nước...................................................................23

3.

Giải pháp từ phía doanh nghiệp............................................................27


4.

Đẩy mạnh xuất khẩu cao su sang Trung Quốc.................................... 31

5.

Mục tiêu xuất khẩu cao su trạng thái bình thường mới Covid-19.....32

KẾT LUẬN.............................................................................................................35
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................... 36

2


LỜI MỞ ĐẦU
Cao su là một trong những sản vật quý mà thiên nhiên ban tặng cho con người, là
cây cơng nghiệp dài ngày, có khả năng thích ứng rộng, tính chống chịu với điều
kiện bất lợi cao và là cây bảo vệ mơi trường nên được nhiều nước có điều kiện tự
nhiên, kinh tế - xã hội thích hợp quan tâm phát triển trên qui mơ diện tích lớn. Đặc
biệt, ngày nay xuất khẩu đã trở thành một hoạt động thương mại quan trọng đối với
mọi quốc gia cho dù đó là quốc phát triển hay đang phát triển. Đối với một quốc
gia đang phát triển như Việt Nam, hoạt động xuất khẩu thực sự có ý nghĩa chiến
lược trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho cơng
nghiệp hố, hiện đại hố đất nước. Vì vậy cao su trở thành một trong những mặt
hàng tiêu biểu cho việc xuất khẩu ra nước ngoài của nước ta. Sau hơn 10 năm thực
hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, xuất khẩu cao su đã đạt được những
thành tích đáng khích lệ, khối lượng và kim ngạch tăng nhanh, đem về một khoản
ngoại tệ lớn cho ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên xuất khẩu cao su hiện nay cũng
còn nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến uy tín và tổng kim ngạch xuất khẩu nói
chung.

Đại dịch Covid – 19 đang ảnh hưởng tiêu cực đến toàn chuỗi của ngành cao
su Việt Nam, nhiều doanh nghiệp chế biến cao su phải tạm ngừng sản xuất do nằm
trong khu vực phong tỏa. Nông dân trồng cao su tiểu điển ở nhiều tỉnh cũng phải
tạm ngừng thu hoạch mủ cao su vì giãn cách xã hội... vì vậy nước ta hiện có những
tiềm năng phát triển nào, cần có những giải pháp gì để khắc phục vấn đề này? Từ
đó em quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu cao su tại
Việt Nam”. Bài tiểu luận gồm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về thị trường xuất khẩu và ngành xuất khẩu cao
su Chương II: Thực trạng ngành xuất khẩu cao su tại Việt Nam

3


Chương III: Định hướng phát triển và một số biện pháp đẩy mạnh xuất
khẩu cao su tại Việt Nam

4


CHƯƠNG I:

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU

VÀ NGÀNH XUẤT KHẨU CAO SU
1. Hoạt động xuất khẩu
1.1

Khái niệm xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế, là một hệ


thống các quan hệ mua bán trong nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên
ngồi nhằm bán sản phẩm, hàng hóa sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại
tệ, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định từng
bước nâng cáo mức sống nhân dân.
Kinh doanh xuất khẩu cũng chính là hoạt động kinh doanh quốc tế đầu tiên
của một doanh nghiệp. Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanh nghiệp đã
đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình.
Xuất khẩu hàng hóa nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thơng hàng hóa của
một q trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết sản xuất với tiêu dùng
của nước này với nước khác. Nền sản xuất phát triển lớn mạnh hay sao sẽ phụ
thuộc vào hoạt động này.
Kinh doanh xuất khẩu diễn ra các hình thức: Xuất khẩu hàng hóa hữu hình,
hàng hóa vơ hình (dịch vụ), xuất khẩu trực tiếp do chính các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh, xuất khẩu gián tiếp do các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, tổ chức
kinh doanh trung giản đảm nhận. Gắn liền với xuất khẩu hàng hóa hữu hình, ngày
nay xuất khẩu dịch vụ rất phát triển.
1.2

Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế
Hoạt động xuất khẩu góp phần làm tăng quy mô nền kinh tế thế giới. Cùng

với nhập khẩu, xuất khẩu thúc đẩy sự phát triển, tăng trưởng kinh tế quốc gia. Quốc
gia sẽ xuất khẩu các sản phẩm, hàng hóa dư thừa hoặc các hàng hóa có lợi thế hơn
5


để bán cho quốc gia khác. Và ngược lại, nhập khẩu các loại hàng hóa dịch vụ để
đáp ứng nhu cầu nền kinh tế trong nước không đáp ứng được hay khắc phục các
yếu kém tồn tại trong nước như công nghệ - kỹ thuật, khoa học…
Xuất khẩu tạo nguồn vốn phục vụ cho hoạt động nhập khẩu và tái đầu tư vào

các lĩnh vực khác. Điều này giúp giảm sự phụ thuộc vào các khoản đầu tư của nước
ngoài đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, nhu cầu nhập
khẩu lơn như Việt Nam.
Xuất khẩu giúp quốc gia gia tăng dự trữ ngoại tệ. Khi đó, cán cân thanh tốn
thặng dư (ngoại tệ thu về lớn hơn) là điều kiện tốt cho sự phát triển kinh tế.
Hoạt động xuất khẩu góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế
nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ.
Hoạt động xuất khẩu cịn có đóng góp khơng nhỏ trong việc giải quyết vấn
đề công ăn, việc làm cho người lao động. Tạo ra thu nhập chính đáng và nâng cao
đời sống cho họ.
Xuất khẩu là một cơ sở quan trọng tạo điều kiện mở rộng và thúc đẩy các
quan hệ kinh tế đối ngoại của đất nước.
2. Tiềm năng phát triển của ngành sản xuất cao su
Ngành cao su Việt Nam đang có nhiều tiềm năng phát triển với nhiều biểu hiện
đang có như làn sóng đầu tư thiết bị hiện đại, giá tương đối hợp lý, nguồn nguyên
liệu phong phú và kỹ thuật cung cấp bởi các nhà cung cấp. Đặc biệt, đang có một
số hỗ trợ từ Nhà nước cho ngành cao su.
Theo đánh giá của Hội cao su nhựa TP. Hồ Chí Minh, hiện nay, ngành cao su trong
nước đang đứng trước nhiều cơ hội vô cùng tuyệt vời, đó là sự chuyển dịch các nhà
máy cao su từ các nước trong khu vực đến Việt Nam, đặc biệt là các nhà máy sản
6


xuất lốp xe. Thêm nữa, ngành cao su có rất nhiều thị trường ngách nên Việt Nam
thực sự có thể tận dụng và phát huy tối đa tiềm năng của mình. Đặc biệt, sản xuất
cao su trong nước đang có thế mạnh là lốp cho xe máy, xe ô tô,...
2.1

Những thuận lợi thiên nhiên mang lại


Cao su được xem là ngành mà lợi thế đi cùng quy mô. Nước ta có quỹ đất cùng với
khí hậu nhiệt đới vơ cùng thích hợp cho việc trồng cây cao su. So với tổng diện tích
trồng cao su của thế giới, Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á chiếm tới hơn
80% tổng diện tích.
Năng suất khai thác của ngành cao su phụ thuộc tương đối phổ quát vào độ tuổi của
cây. Cây cao su có thể bắt đầu khai thác sau khi trồng được năm năm. Cây cho
năng suất cao nhất từ 18 đến 23 năm tuổi. Hiện nay, bình quân năng suất cao nhất
của cây cao su ở độ tuổi này của Việt Nam vào khoảng 2,2 – 2,4 tấn/ha/năm.
Không chỉ trồng và khai thác cao su, nhiều doanh nghiệp còn tận dụng các rừng cao
su đã quá độ tuổi khai thác để tiến hành khai thác và chế biến gỗ, như Công ty cổ
phần chế biến gỗ Dầu tiếng hay Công ty cổ phần chế biến gỗ Thuận An... Nói
chung, các dự án đầu tư sản xuất và chế biến gỗ khi đã đã phát huy được những
hiệu quả nhất định khi đưa vào sản xuất.
2.2

Cao su là thành phần không thể thiếu

Cao su là thành phần không thể thiếu trong sản xuất nhiều sản phẩm công nghiệp
và tiêu dùng như găng tay, lốp xe, dây thun, giày dép, ống dẫn…
Ngành cơng nghiệp lốp xe là ngành chính trong việc khai thác và sử dụng cao su
thiên nhiên. Cao su thiên nhiên rất phù hợp cho việc sản xuất lốp xe, đặc biệt là lốp
radial, lốp tải nặng và lốp tốc độ cao vì chất lượng của nó như độ bền tốt và tích tụ
nhiệt thấp. Ngồi ra, cao su còn được sử dụng để sản xuất các sản phẩm cụ thể như
7


đường ống kháng dầu cho các mỏ dầu ngoài khơi, ống bên trong của lốp xe, giày
dép, đệm cầu và nền móng xây dựng ở khu vực dễ xảy ra động đất... Gỗ cao su
được sử dụng cho đồ nội thất, ván dăm và nhiên liệu. Mủ cô đặc được sử dụng để
sản xuất thảm lót, chất kết dính, bọt, bóng bay, bao cao su và các phụ kiện y tế như

găng tay và ống thông. Gỗ cao su được sử dụng cho đồ nội thất, ván dăm và nhiên
liệu.

Bảng 1. Tiêu thụ cao su tự nhiên trên toàn thế giới từ 2016/2017 đến 2020/2021,
theo mục đích sử dụng

1.400.000Tiêu thụ

cao su tự nhiên trên toàn thế giới từ 2016/2017 đến
2020/2021, theo mục đích sử dụng
1.200.000

1.000.000
800.000
600.000
400.000
200.000
0
Tires and tubesGeneral rubber goods
Total
2016-20172017-20182018-20192019-2020
2020-2021*

2.3

Cơ hội và triển vọng của ngành xuất khẩu cao su sau khi Việt Nam ký

kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
(CPTPP)
Vào ngày 15 tháng 11 năm 2019, Việt Nam đã ký kết Hiệp định CPTPP tại Đà

Nẵng. Hiệp định này đã đánh dấu một bước ngoặt mới cho ngành cao su với nhiều
8


cơ hội và tiềm năng. Đối với cao su thiên nhiên, CPTPP sẽ đưa thuế nhập khẩu của
Việt Nam từ 3% giảm còn 0%. Đối với sản phẩm cao su, mỗi nước thành viên

9


CPTPP sẽ được cắt giảm riêng cho từng nhóm sản phẩm và sẽ loại bỏ hồn tồn
thuế quan trong vịng 16 năm sau khi CPTPP có hiệu lực. Do đó, CPTPP tạo cơ hội
cho sản phẩm cao su Việt Nam được xuất khẩu sang các nước mà công nghiệp chế
biến cao su chưa phát triển nhiều như Chile, New Zealand, Brunei, Úc, Peru. Đồng
thời, Việt Nam có thể nhập khẩu cao su tổng hợp, máy móc thiết bị hiện đại từ các
nước có thế mạnh như Nhật Bản, Canada, Singapore với mức thuế 0%. Đây là cơ
hội tốt giúp doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh
tranh với những thị trường tương đương. Đối với sản phẩm gỗ cao su, nhu cầu của
thị trường đang có xu hướng tăng nhanh vì phong trào “Trồng cây gây rừng”, sử
dụng rừng trồng nhân tạo được khuyến khích ở nhiều quốc gia. Đây là nhóm sản
phẩm mà ngành cao su ít gặp cạnh tranh với các nước thành viên, kể cả với
Malaysia là nước có thế mạnh về sản phẩm gỗ cao su, nhờ giá của Việt Nam thấp
hơn khá nhiều. Nhờ được hưởng thuế xuất nhập khẩu 0% đối với nguyên vật liệu
và thiết bị cao cấp dùng cho công nghiệp chế biến gỗ mà ngành gỗ cao su Việt
Nam đã đạt được những ưu thế nhất định trên thị trường như giảm giá thành,
chuyển đổi sang cơng nghệ tiến bộ từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh.
Cũng nhờ được hưởng lợi ích nhập khẩu nguyên vật liệu và thiết bị, máy móc cao
cấp với mức thuế 0% mà các ngành công nghiệp sản xuất linh kiện cao su cho
ngành ô tô và nhiều ngành công nghiệp khác của Việt Nam có cơ hội phát triển
nhanh vượt bậc và các sản phẩm từ công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam có nhiều triển

vọng mở rộng sang các nước thành viên của CPTPP.
Các cơ hội khác mang đến từ CPTPP và FTA cho ngành cao su còn là triển vọng về
đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, tránh phụ thuộc quá mức vào thị trường
Trung Quốc. CPTPP đã giúp Việt Nam trở thành đất nước thu hút vốn đầu tư trực
tiếp từ nước ngoài để hợp tác liên doanh sản xuất sản phẩm cao su, tạo điều kiện
khai thác dịch vụ tại các khu công nghiệp trên đất cao su. Đồng thời, thúc đẩy
10


ngành cao su tham gia sâu vào chuỗi giá trị gia tăng trong nước và quốc tế từ khâu
cung cấp nguyên liệu cao su thiên nhiên đến sản xuất thành phẩm cho thị trường
nội địa và xuất khẩu. Đây chính là tiềm năng của các doanh nghiệp trong tương lai.
CHƯƠNG II:
VIỆT NAM

THỰC TRẠNG NGÀNH XUẤT KHẨU CAO SU TẠI

1. Tổng quan về thị trường cao su thế giới
Cây cao su được trồng chủ yếu ở các nước Đông Nam Á, châu Phi và một phần
nhỏ ở châu Mỹ. Theo báo cáo của Hiệp hội Các quốc gia sản xuất cao su thiên
nhiên, trước năm 2010, nhu cầu cao su tự nhiên tồn cầu tăng trưởng trung bình 5%
mỗi năm, có xu hướng giảm những năm gần đây nhưng bỗng trở lại mạnh mẽ trong
năm 2021. Cung và cầu cao su đều đang hồi phục nhanh chóng, trong đó cầu hồi
phục mạnh mẽ hơn nhiều so với cung, hứa hẹn sẽ thúc đẩy giá cao su thiên nhiên
tăng trong thời gian tới.
Theo báo cáo của Hiệp hội các nước Sản xuất Cao su thiên nhiên (ANRPC) công
bố hôm 13/4, nguồn cung cao su thiên nhiên tháng 3/2021 ước tính cao hơn 1,3%
so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 910.000 tấn, trong khi đó tiêu thụ cao su trong cùng
tháng ước tính tăng 7,4% lên 1,23 triệu tấn.
Tổng thư ký Hiệp hội, R.B Premadasa cho biết các nguyên tắc cơ bản của thị

trường cao su thiên nhiên đang rất thuận lợi cho giá tăng lên, kể cả đối với các hợp
đồng kỳ hạn tương lai và các hợp đồng hàng thực, ngoại trừ cao su giao dịch trên
sàn Thượng Hải.
Tính từ đầu năm 2021, giá cao su thế giới bắt đầu chững lại trong tháng 5 sau khi
tăng mạnh trong 4 tháng trước đó và có xu hướng giảm từ đầu tháng 6 đến nay do
(i) Nguồn cung cao su bắt đầu tăng ở các quốc gia Đông Nam Á khi bước vào mùa
thu hoạch (ii) Trong khi nhu cầu Trung Quốc tăng chậm lại, ngành sản xuất ô tô
11


phải đối mặt với tình trạng khủng hoảng chip tồn cầu do đợt bùng phát dịch tại các
công ty sản xuất chất bán dẫn quan trọng ở Đài Loan và Malaysia, dẫn đến nhu cầu
cao su sản xuất lốp xe giảm mạnh.Vietdata dự báo giá sẽ tiếp tục giảm trong ngắn
hạn do nguồn cung cao su thế giới tăng khi vào vụ thu hoạch. Theo ANRPC, nguồn
cung cao su thế giới T07-2021 dự kiến sẽ tiếp tục tăng 11.3% so với tháng trước
đạt 1.1 triệu tấn. Trong khi nhu cầu cao su có thể giảm tạm thời, do dịch COVID19 đang “hoành hành” mạnh tại nhiều quốc gia trên thế giới, có thể khiến cho các
sản xuất một số lĩnh vực liên quan bị gián đoạn.
Tuy nhiên, giá cao su có khả năng tăng trở lại trong các tháng cuối năm khi ngành
công nghiệp thế giới được phục hồi tại các nước như Trung Quốc, Mỹ, EU,..; sản
xuất các khu vực liên quan (ví dụ như: ơ tơ,..) được khơi phục sau khi vaccine được
triển khai trên diện rộng tại nhiều quốc gia và dịch bệnh được kiểm soát sẽ thúc đấy
nhu cầu cao su trong nước và trên thế giới. Trong báo cáo mới nhất (cuối T062021), ANRPC vừa điều chỉnh tăng dự báo về nhu cầu cao su thiên nhiên thế giới
(so với dự báo đưa ra hồi T05). Theo đó, nhu cầu cao su thiên nhiên tồn cầu năm
2021 được dự báo đạt 13.87 triệu tấn, tăng 8% so với năm 2020; trong khi tổng
cung cao su thế giới được giữ nguyên dự báo là 13.81 triệu tấn (tăng 5.8% so với
cùng kỳ).

Bảng 2. Diễn biến giá 1 số loại cao su trên thị trường thế giới

Nguồn: Vietdata

10 nước sản xuất cao su tự nhiên lớn nhất thế giới
12


1. Thái Lan
2. Indonesia
3. Malaysia
4. Ấn Độ
5. Trung Quốc
6. Việt Nam
7. Philippines
8. Bờ biển Ngà
9. Guatemala
10. Brazil
2. Thực trạng ngành cao su Việt Nam
2.1

Về sản xuất

Năm 2017, Việt Nam được xếp hạng là nhà sản xuất cao su thiên nhiên thứ ba trên
thế giới sau Thái Lan và Indonesia. Sản xuất chiếm khoảng 7,7% tổng sản lượng
cao su tự nhiên tồn cầu và diện tích trồng cao su Việt Nam chiếm 5,6% diện tích
cao su tồn cầu. Trong năm 2017, tổng diện tích cây cao su ở Việt Nam là 653,2 ha
và sản lượng của cao su thiên nhiên là 1,094 tấn, năng suất trung bình là 1,676
tấn/ha. Đất trồng cao su tại Việt Nam bao gồm nhà nước của các cơng ty cổ phần
thuộc Tập đồn Cao su Việt Nam, các công ty tỉnh và doanh nghiệp tư nhân. Với
tốc độ tăng trưởng thấp do sự có hạn của đất đai, lĩnh vực này chỉ chiếm ưu thế
trong khu vực cho đến năm 2008.Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nơng thơn,
trong giai đoạn 2011 - 2018, diện tích cao su từ hơn 800,000 ha năm 2011, sản
lượng đạt hơn 789,000 ha. Năm 2018, diện tích đạt 965,400 ha, vượt kế hoạch

165,000 ha, sản lượng đạt 1,142 triệu tấn. Năm 2018, khối lượng xuất khẩu cao su
đạt 1,56 triệu tấn với kim ngạch xuất khẩu 2 tỷ USD, tăng 13% về lượng nhưng
giảm 7% về giá trị.
13


Hiện nay, Việt Nam có diện tích cao su đứng thứ năm trên toàn thế giới (chiếm
khoảng 5.6% tổng diện tích tồn cầu) nhưng sản lượng xếp thứ ba (chiếm khoảng
7.7% tổng lượng cao su tự nhiên thế giới) chỉ sau Thái Lan và Indonesia. Theo Báo
cáo T07-2021 , diện tích gieo trồng cao su trong năm 2020 là 932.4 nghìn ha và
diện tích thu hoạch là 728.8 nghìn ha, sản lượng thu hoạch mủ khơ đạt 1,226 nghìn
tấn với năng suất là 1.68 tấn/ha/năm. Trong 6 tháng đầu năm 2021, sản lượng thu
hoạch mủ cao su đạt 391 nghìn tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2020.

Nguồn: Vietdata

Theo lược đồ, cây cao su chủ yếu được trồng và phát triển ở vùng Đông Nam Bộ
do đủ điều kiện sinh thái về diện tích đất trồng lớn và khí hậu nóng ẩm quanh năm,
đặc biệt được gieo trồng nhiều ở các tỉnh như Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh,


14


Nguồn: Vietdata

Năm 2020 có khoảng 78.4% lượng mủ khai thác trong nước được xuất khẩu dạng
nguyên liệu cao su thiên nhiên và 21.6% được đưa vào chế biến tạo sản phầm như
lốp xe, găng tay, phụ kiện, đế giày, băng tải,.. Hiện nay, có khoảng 170 doanh
nghiệp tham gia chế biến mủ cao su thiên nhiên tại Việt Nam với tổng cơng suất

thiết kế khoảng 1.31 triệu tấn/năm. Trong đó bao gồm: 118 doanh nghiệp tư nhân
có cơng suất thiết kế đạt 64.0% tổng sản lượng, 48 doanh nghiệp nhà nước có cơng
suất đạt 42.6% và chỉ có 2 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi cơng suất 3.2%
và 2 hợp tác xã với công suất 0.5% trong tổng sản lượng sản xuất.

2.2
2.2.1

Về xuất khẩu
Xuất khẩu

Trong năm 2020, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm cao su chế biến sâu đã vượt xa
kim ngạch xuất khẩu nguyên liệu cao su thiên nhiên, Việt Nam xuất khẩu 15 loại
sản phẩm cao su tinh chế. Các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cao su thiên nhiên
hiện có 194 đơn vị. Trong đó bao gồm: 89 doanh nghiệp tư nhân, đạt 81.2% về kim
ngạch xuất khẩu, trong đó có 43 doanh nghiệp có nhà máy chế biến mủ; 21 doanh
15


nghiệp nhà nước , trong đó có 19 đơn vị có chuỗi cung ứng từ trồng đến chế biến
mủ và xuất khẩu cao su; 14 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào
hoạt động xuất nhập khẩu và 67 doanh nghiệp cịn lại có kim ngạch xuất khẩu
không lớn, phần lớn là xuất khẩu những lô hàng nhỏ.
Xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2021 có tốc độ tăng trưởng vượt trội so với ít nhất 5
năm gần đây. Cụ thể, trong Bản tin tháng 7-2021 cho thấy sản lượng xuất khẩu 6
tháng đầu -2021 đạt 714 nghìn tấn tăng 48%; giá trị đạt 1,20 tỷ USD tăng 88% so
với cùng kỳ năm 2020. Quốc gia xuất khẩu chủ lực của nước ta chính là Trung
Quốc – chiếm phần lớn gần 70% tỷ trọng sản lượng xuất khẩu của Việt Nam, 6
tháng đầu năm xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 491.6 nghìn tấn, tăng 45% so với
cùng kỳ. Trong khi đó, giá xuất khẩu trung bình đạt 1,685 USD/tấn tăng 27.7% so

với 6tháng-2020; đợt tăng giá cao nhất trong 2 năm gần đây là vào tháng 4-2021
đạt mốc 1,777 USD/tấn tăng gần 50% so với vùng giá thấp nhất hồi tháng 6-2020.
Tuy nhiên, trong tháng 8/2021, xuất khẩu cao su bị ảnh hưởng do dịch bệnh Covid19, nhiều doanh nghiệp phải tạm ngừng sản xuất do nằm trong khu vực phong tỏa,
hoặc sản xuất bị ảnh hưởng bởi công nhân nghỉ việc, bị cách ly, sống trong vùng có
dịch. Nơng dân trồng cao su tiểu điển ở nhiều tỉnh cũng phải tạm ngừng thu hoạch
mủ cao su vì giãn cách xã hội.
Về giá xuất khẩu, giá cao su xuất khẩu tháng 8/2021 bình quân ở mức 1.641
USD/tấn, giảm 0,8% so với tháng 7/2021, nhưng tăng 33,3% so với tháng 8/2020.
2.2.2

Thị trường xuất khẩu cao su của Việt Nam

Trong những năm vừa qua, thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của Việt Nam là
các nước trong khu vực Châu Á như Trung Quốc, Singapore, Đài Loan, Hàn
Quốc… và một số nước Châu Âu như Đức, Tây Ban Nha, Italia…
Bảng 3. Thị trường xuất khẩu 1H-2021(%Theo sản lượng)

16


Thị phần cao su xuất khẩu sang Trung Quốc hiện chiếm vị trí thứ hai, tăng từ 11%
(6 tháng đầu -2020) lên 15% (6 tháng đầu -2021), trong khi thị phần cao su Thái
Lan tại thị trường này giảm đáng kể từ 43.5% xuống còn 34.6%. Nguyên nhân Thái
Lan đánh mất thị phần trong 6 tháng đầu -2021 có lẽ một phần là do tình hình dịch
COVID-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng đến sản lượng xuất khẩu tại quốc gia
này. Bên cạnh đó, báo cáo cho thấy sản lượng xuất khẩu sang các quốc gia khác
như EU, Ấn Độ, Hàn Quốc có mức tăng trưởng tốt mặc dù quy mơ cịn rất nhỏ, cho
thấy vẫn cịn nhiều dư địa có thể phát triển tại các quốc gia trên.
Bảng 4. Thị phần cao su Việt Nam XK sang Trung Quốc


Nguồn: Vietdata

17


Đối với thị trường Hoa Kỳ, trong 7 tháng đầu năm 2021, Việt Nam là thị trường
cung cấp cao su lớn thứ 11 cho Hoa Kỳ với 23,51 nghìn tấn, trị giá 41,87 triệu
USD, tăng 61% về lượng và tăng 92,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020, thị
phần cao su Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu cao su của Hoa Kỳ chiếm 2,2%,
tăng nhẹ so với mức 1,5% của 7 tháng đầu năm 2020.
Cũng trong 7 tháng/2021, Việt Nam là thị trường cung cấp cao su tự nhiên lớn thứ
4 cho Hoa Kỳ, với 23,46 nghìn tấn, trị giá 41,65 triệu USD, tăng 60,8% về lượng
và tăng 92,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020, thị phần cao su tự nhiên của
Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Hoa Kỳ chiếm 4,3%, tăng so với mức
2,9% của 7 tháng đầu năm 2020.
Bảng 5. 10 thị trường xuất khẩu lớn nhất về cao su của Việt Nam

2.3

Về nhập khẩu
Nhập khẩu cao su 6 tháng đầu -2021 của Việt Nam cũng có mức tăng trưởng

nổi bật, tổng sản lượng nhập khẩu đạt 873 nghìn tấn tăng 133%, giá trị nhập khẩu
đạt 1.28 tỷ USD tăng 142% so với năm 2020. Mặc dù là quốc gia xuất khẩu cao su
đứng thứ ba thế giới, nhưng hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn
cao su để đáp ứng nhu cầu sản xuất và chế biến. Đáng chú ý đây là lần đầu tiên
18


trong ít nhất 10 năm gần đây, ngành cao su Việt Nam nhập khẩu nhiều hơn xuất.

Trong 6 tháng đầu -2021 sản lượng cao su nhập khẩu từ Campuchia lên đến
493.5 nghìn tấn tăng 414% so với cùng kỳ năm 2020, chiếm gần 60% tổng lượng
nhập khẩu của Việt Nam, tương đương với tổng giá trị 524.6 triệu USD tăng mạnh
508% so với cùng kỳ. Nguyên nhân của việc tăng này chủ yếu là do 5-7 năm trở lại
đây, các doanh nghiệp Việt Nam đã trồng và phát triển một lượng lớn cây cao su tại
Lào và Campuchia; và hiện nay đã đến giai đoạn thu hoạch. Do đó, xu hướng nhập
khẩu từ Lào và Campuchia được dự kiến sẽ cịn tiếp tục tăng mạnh trong thời gian
tới.
Tính đến cuối năm 2020, chỉ riêng tổng diện tích mà các đơn vị thành viên
Tập đồn Cơng nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) đang quản lý tại Campuchia là
87,891 ha; trong đó, diện tích kinh doanh là 61,153 ha, kiến thiết cơ bản là 26,732
ha. (Hiện nay, diện tích cao su trong nước của Việt Nam đạt gần 1 triệu ha, với gần
70% trong đó là diện tích đang cho thu mủ với sản lượng khoảng 1.1 triệu
tấn/năm).
Bảng 6 Sản lượng nhập khẩu

19


2.4

Cơ cấu sản phẩm cao su xuất khẩu

Tiêu thụ cao su thiên nhiên trong nước vẫn còn khá thấp, vào khoảng 18,6% sản
lượng của cao su thiên nhiên quốc gia. Tuy nhiên, đó là một tín hiệu rất đáng khích
lệ trong ngành sản xuất cao su.
Sản phẩm cao su chính tại Việt Nam là lốp xe chiếm 70% tổng giá trị sản phẩm cao
su. Lốp xe máy, lốp xe đạp và lốp xe phục vụ ngành nơng nghiệp có thể đáp ứng
nhu cầu địa phương, nhưng lốp xe tải, xe buýt và lốp xe khách vẫn được nhập khẩu
do sản xuất trong nước thấp hơn nhu cầu.

Sản phẩm khác được sản xuất tại Việt Nam là sản phẩm cao su kỹ thuật, đế giày,
găng tay, chỉ cao su, băng tải, nệm… Việc sản xuất các sản phẩm này trong nước
không thích ứng được với thị trường. Vì vậy, giá trị nhập khẩu sản phẩm cao su vào
Việt Nam tăng dần ngay cả khi giá trị xuất khẩu sản phẩm cao su sản xuất tại Việt
Nam đã có sự tiến bộ theo chiều hướng tích cực trong những năm gần đây.
Trong những năm gần đây, ngành sản xuất gỗ và đồ gỗ nội thất tại Việt Nam đã
phát triển không ngừng. Gỗ cao su được sử dụng để sản xuất đồ nội thất trong nhà
và đồ gia dụng cho xuất khẩu và thị trường trong nước. Cục Xuất nhập khẩu (Bộ
Công Thương) cho biết, ước tính, tháng 5/2021, xuất khẩu cao su của Việt Nam đạt
khoảng 80 nghìn tấn, trị giá 139 triệu USD, tăng 26,1% về lượng và tăng 7,2% về
trị giá so với tháng 4/2021; so với tháng 5/2020 tăng 7,2% về lượng và tăng 54,9%
về trị giá, giá xuất khẩu bình quân ở mức 1.738 USD/tấn, giảm 2,2% so với tháng
4/2021, nhưng tăng 44,6% so với tháng 5/2020. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2021, xuất
khẩu cao su ước đạt 548 nghìn tấn, trị giá 923 triệu USD, tăng 58,7% về lượng và
tăng 94% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020.
Nhìn chung, trong 4 tháng đầu năm 2021, phần lớn các chủng loại cao su xuất khẩu
đều đạt được tăng trưởng khá so với so với cùng kỳ năm 2020. Đáng chú ý, một số
20


chủng loại như Latex, RSS1, cao su tổng hợp, SVR 10, RSS3, SVR 3L… đều tăng
mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2020. Hỗn hợp cao su tự nhiên và
cao su tổng hợp là mặt hàng được xuất khẩu nhiều nhất, chiếm 60,89% tổng lượng
cao su xuất khẩu của cả nước, với 285,09 nghìn tấn, trị giá 459,18 triệu USD, tăng
87,1% về lượng và tăng 116,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2020.
Bảng 7Chủng loại cao su xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 2/2021.

(Nguồn: Tính tốn từ số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam/Bộ Công Thương)
2.5


Mở rộng trồng cao su sang Lào và Campuchia

Nhu cầu cao su thiên nhiên thế giới tăng và giá cả thuận lợi trong những năm 2004
- 2010 đã khuyến khích Chính phủ Việt Nam hỗ trợ các chương trình đầu tư mở

21


rộng đồn điền cao su theo dự án 100,000 ha tại Lào và một dự án khác 200,000 ha
tại Campuchia kể từ năm 2005.
Cho đến năm 2015, các doanh nghiệp Việt Nam đã trồng khoảng 50,000 ha cao su
ở Lào và 150,000 ha ở Campuchia. Trong đó, các thành viên của GVR đã trồng
30,000 ha tại Lào và 70,000 ha tại Campuchia.
3. Xuất khẩu cao su giảm nhưng tăng về giá
Thông tin từ Cục Xuất nhập khẩu dẫn số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan
cho biết, tháng 8/2021, xuất khẩu cao su đạt 189,71 nghìn tấn, trị giá 311,35
triệu USD, giảm 14,9% về lượng, nhưng tăng 13,5% về trị giá so với cùng kỳ
năm 2020.
Cụ thể, xuất khẩu cao su đạt 189,71 nghìn tấn, trị giá 311,35 triệu USD, giảm 7,2%
về lượng và giảm 7,9% về trị giá so với tháng 7/2021; so với tháng 8/2020 giảm
14,9% về lượng, nhưng tăng 13,5% về trị giá.
Lũy kế 8 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu cao su của Việt Nam đạt gần 1,11 triệu
tấn, trị giá 1,85 tỷ USD, tăng 22,1% về lượng và tăng 59,9% về trị giá so với cùng
kỳ năm 2020.
Tuy nhiên, trong tháng 8/2021, xuất khẩu cao su bị ảnh hưởng do dịch bệnh Covid19, nhiều doanh nghiệp phải tạm ngừng sản xuất do nằm trong khu vực phong tỏa,
hoặc sản xuất bị ảnh hưởng bởi công nhân nghỉ việc, bị cách ly, sống trong vùng có
dịch. Nơng dân trồng cao su tiểu điển ở nhiều tỉnh cũng phải tạm ngừng thu hoạch
mủ cao su vì giãn cách xã hội.
Về giá xuất khẩu, giá cao su xuất khẩu tháng 8/2021 bình quân ở mức 1.641
USD/tấn, giảm 0,8% so với tháng 7/2021, nhưng tăng 33,3% so với tháng 8/2020.


22


CHƯƠNG III:

Định hướng phát triển và một số biện pháp đẩy mạnh

xuất khẩu cao su tại Việt Nam
Vì ảnh hưởng của dịch Covid-19, việc đóng cửa nhà máy và tình trạng thiếu chip,
ngành cơng nghiệp sản xuất ơtơ tồn cầu đang tiếp tục phải đối mặt với tình trạng
cạn kiệt nguồn cung caosu. Mặt khác, nguồn cung caosu toàn cầu bị ảnh hưởng do
tình trạng thiếu container vận chuyển quay trở lại, cùng với việc Trung Quốc tăng
cường dự trữ và dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp cũng ảnh hưởng đến sản
lượng caosu cung cấp ra thị trường.
Theo đó, các chuyên gia, dự báo trong giai đoạn trung hạn từ năm 2021-2024, giá
caosu thế giới có thể sẽ bước vào chu kỳ tăng giá mới do nguồn cung caosu đang
giảm dần. Xuất khẩu caosu của Việt Nam có thể được hưởng lợi về giá.
Tuy nhiên, ngành sản xuất, chế biến caosu cần đẩy mạnh chế biến sâu, giảm dần
xuất khẩu thô để caosu Việt Nam đạt giá trị cao hơn trên thị trường quốc tế.
1. Sản phẩm
Mặc dù còn giới hạn trong sản xuất nhưng các dòng sản phẩm chế biến từ cao su
của Việt Nam tương đối đa dạng với săm, lốp xe ô tô và xe gắn máy, găng tay cao
su phục vụ trong ngành y tế và tiêu dùng, đệm cao su, dòng sản phẩm phục vụ cho
thể thao, giải trí và các lĩnh vực y tế…
Trong thời gian gần đây, cơ cấu sản phẩm cao su thành phẩm và định hướng đầu tư
đang chủ yếu tập trung ở dịng sản phẩm săm, lốp xe ơ tô, xe máy và xe đạp. Sản
phẩm chế biến từ cao su của Việt Nam được sản xuất với công nghệ tiên tiến và
thiết bị hiện đại từ châu Âu. Các sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp mắt, phù
hợp thị hiếu người tiêu dùng, được đảm bảo về chất lượng và có khả năng cạnh

tranh với chính sách giá linh hoạt và chăm sóc khách hàng vơ cùng cẩn thận của
các doanh nghiệp.
23


2. Giải pháp từ phía nhà nước
2.1

Về cơng tác quy hoạch phát triển cây cao su

Trong thời gian vừa qua, do công tác quy hoạch chưa được chuẩn bị kỹ lưỡng, chỉ
chú ý phát triển theo chiều rộng nên đã bố trí một số diện tích cây cao su khơng phù
hợp với điều kiện thổ nhưỡng làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây
cao su, giảm sản lượng mủ khai thác, gây hậu quả không tốt đến sản xuất cũng như
mở rộng thị trường. Ngoài ra, vườn cây cao su chưa được thâm canh đúng quy trình
ngay từ đầu đã dẫn tới việc kéo dài thời gian dự kiến cơ bản, số cây đủ tiêu chuẩn
cho mủ đạt tỷ lệ thấp. Chính điều đó đã địi hỏi Nhà nước phải có các văn bản chỉ
đạo cơng tác quy hoạch phát triển cây cao su một cách rõ ràng, chính xác.
2.2

Nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tăng cường đầu tư

trang thiết bị, cải tiến kỹ thuật chế biến
Hiện nay, nguồn hàng xuất khẩu của Việt Nam được tạo từ hai nguồn: sản xuất
trong nước và tạm nhập khẩu để tái xuất (chủ yếu là ở Campuchia và Lào). Vậy vấn
đế đặt ra là nguồn hàng sản xuất trong nước còn nhiều yếu kém, từ khâu trồng trọt,
áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm rút ngắn thời gian thiết kế cơ bản, tăng năng suất và
chất lượng sản phẩm đến công nghiệp chế biến cao su nguyên liệu. Thực tế, năng
suất cao su Việt Nam cịn thấp so với các nước trong khu vực, cơng nghệ thiết bị
lạc hậu, thiếu các thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại nên cơ cấu chủng loại cao su

cịn hạn chế, chất lượng thấp, vì vậy xuất khẩu với giá thấp hơn so với các nước
khác. Vì vậy, Nhà nước cần khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị
hiện đại phục vụ cho công nghệ chế biến. Bên cạnh đó, Nhà nước cần thành lập các
phịng thí nghiệm cao su do Nhà nước quản lý để đảm bảo chất lượng cao su theo
tiêu chuẩn quốc tế. Khi cây cao su cho sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường
quốc tế thì cơng tác mở rộng thị trường sẽ đạt hiệu quả hơn.
2.3

Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu
24


Xúc tiến xuất khẩu bao gồm các hoạt động:

25


×