Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

PHÂN TÍCH NHÂN TỐ XU THẾ TOÀN CẦU HÓA ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ Ở NÔNG THÔN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (199.86 KB, 16 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
----------

PHÁT TRIỂN NÔNG THƠN
CHỦ ĐỀ : PHÂN TÍCH NHÂN TỐ XU THẾ TỒN CẦU HÓA
ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
Ở NƠNG THƠN

GVHD

: Huỳnh Viết Thiên Ân

Lớp

: 44K20.2_Nhóm 8

Thành viên: Nguyễn Phương Duyên
Bùi Nhật Long
Dương Thị Mỹ
Lê Nhật Minh
Trần Thị Nga
Noy Panyathip


Phát triển nơng thơn_44K20.2_Nhóm 8

Đà Nẵng, 09/2021

2



Phát triển nơng thơn_44K20.2_Nhóm 8

MỤC LỤC
1. Đặt vấn đề...............................................................................................................3
1.1

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng thơn.............................................................3

1.2

Tồn cầu hóa.....................................................................................................3

2. Phân tích nhân tố xu thế tồn cầu hóa tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nơng thơn....................................................................................................................... 4
2.1

Tác động tích cực.............................................................................................4

2.2

Tác động tiêu cực.............................................................................................9

Tài liệu tham khảo.......................................................................................................14
Bảng đánh giá thành viên.............................................................................................15

3


Phát triển nơng thơn_44K20.2_Nhóm 8


1. Đặt vấn đề
1.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng thơn là q trình chuyển từ trạng thái cơ cấu kinh tế
nông thôn cũ sang cơ cấu kinh tế kinh tế nông thôn mới cho phù hợp với điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội và sự phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao động xã
hội của mỗi vùng và của cả nước, nhằm sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá đáp ứng
nhu cầu thị trường. Đây là vấn đề mang tính chiến lược và ảnh hưởng đến mức độ và
tính bền vững của sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nông thôn.
Trong những năm đầu của thế kỉ XXI, nền kinh tế thế giới tiếp tục phát triển mạnh mẽ
rất có lợi cho chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế nông thôn của nước ta. Các
nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn được chia thành 3 nhóm
và nhân tố xu thế tồn cầu hóa được phân tích dưới đây nằm ở nhóm 3, nhân tố bên
ngồi đất nước.
1.2 Tồn cầu hóa
Khái niệm
Tồn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh
tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ
chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế... trên quy mơ tồn cầu. Đặc biệt trong
phạm vi kinh tế, tồn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại
nói chung và tự do hóa thương mại hay "tự do thương mại" nói riêng. Cũng ở góc độ
kinh tế, người ta chỉ thấy các dịng chảy tư bản ở quy mơ tồn cầu kéo theo các dịng
chảy thương mại, kỹ thuật, cơng nghệ, thơng tin, văn hóa.
Xét về bản chất, tồn cầu hố là q trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, những
ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia,
các dân tộc trên thế giới.
Biểu hiện
Xu thế tồn cầu hóa phát triển nhanh chóng và tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế nơng
thơn nước ta. Tồn cầu hóa được biểu hiện qua một số mặt như:
4



Phát triển nơng thơn_44K20.2_Nhóm 8
- Gia tăng thương mại quốc tế với tốc độ cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới.
- Gia tăng luồng tư bản quốc tế bao gồm cả đầu tư trực tiếp từ nước ngồi.
- Gia tăng luồng dữ liệu xun biên giới thơng qua việc sử dụng các công nghệ như
Internet, các vệ tinh liên lạc và điện thoại.
- Tồn cầu hố cũng tác động đến ý thức con người, khiến con người chú ý hơn đến
những vấn đề có ảnh hưởng tồn cầu như vấn đề nóng lên của khí hậu, khủng bố, buôn
lậu ma tuý và vấn đề nâng cao mức sống ở các nước nghèo.
- Các rào cản đối với thương mại quốc tế đã giảm bớt tương đối kể từ Chiến tranh thế
giới lần thứ hai thông qua các hiệp ước như Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch.
2. Phân tích nhân tố xu thế tồn cầu hóa tác động đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nơng thơn
Xu thế tồn cầu hóa vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực đối với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Tác động hai mặt đó của tồn cầu hóa có thể khái qt
theo một số điểm chủ yếu như sau:
2.1 Tác động tích cực
Mở rộng và phát triển thị trường ra khu vực và toàn cầu
Khi một quốc gia đang tăng tốc hội nhập kinh tế quốc tế, điều này cũng có nghĩa là
nơng sản của quốc gia đó có điều kiện thâm nhập sâu hơn vào thị trường nông sản khu
vực và thế giới. Nông sản, lâm sản, thuỷ sản xuất khẩu sẽ được hưởng ưu đãi mức thuế
quan thấp nhất, nhiều hàng rào phi thuế quan sẽ được bãi bỏ tạo điều kiện nâng cao
sức cạnh tranh của hàng nông sản nước đó. Người nơng dân cũng sẽ được hưởng nhiều
lợi ích hơn trước từ việc được tiếp thu, chuyển đổi các bí quyết cơng nghệ sinh học để
tạo lập ra nhiều loại giống mới cho vật nuôi, cây trồng phù hợp với điều kiện thời tiết,
khí hậu nhằm nâng cao năng suất lao động, cải thiện đời sống người nông dân. Chẳng
hạn như ở Việt Nam hay Thái Lan, mức tăng trưởng xuất khẩu của nông nghiệp không
ngừng tăng qua từng năm, nhiều mặt hàng nông sản đã dẫn đầu thế giới về mặt lượng
như gạo, cà phê,…


5


Phát triển nơng thơn_44K20.2_Nhóm 8
Việc đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường thế giới với lãi suất cao hơn và số lượng lớn
hơn sẽ khuyến khích người nơng dân mở rộng sản xuất, đầu tư vốn liếng, đổi mới công
nghệ sản xuất, chế biến nông sản sau thu hoạch từ đó từng bước hội nhập quốc tế và
nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm do mình làm ra. Mặt khác, dưới sức ép
của luồng hàng nhập khẩu mạnh mẽ từ các thị trường bên ngoài vào mà người nông
dân các nước và các doanh nghiệp kinh doanh chế biến hàng nông lâm thuỷ sản buộc
phải không ngừng phấn đấu vươn lên để nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Cũng như mọi thành phần xã hội khác, người nông dân cũng sẽ được tự do lựa chọn
rất nhiều mặt hàng có chất lượng cao và phong phú đa dạng của thế giới.
Thúc đẩy cải cách kinh tế nông thôn và hợp tác cùng phát triển
Xu thế tồn cầu hóa giúp các nước chủ động ban hành nhiều cơ chế, chính sách phù
hợp tạo động lực, khuyến khích các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân tham gia
phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế nơng thơn như: chính sách thu hút đầu tư, cơ
chế hỗ trợ xây dựng nơng thơn mới, khuyến khích phát triển ngành nghề nơng thơn; cơ
giới hóa trong nơng nghiệp; bảo vệ môi trường; bảo hiểm y tế; các chính sách nâng
cao hiệu quả huy động nguồn lực từ đất, hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả thiên tai,
dịch bệnh...
Ngoài ra, việc mở cửa tăng cường hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực, ngành nghề
nông thôn với các nước tiên tiến cũng góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn. Mới đây, Việt Nam đã cùng làm việc với Phần Lan về vấn đề cùng hợp tác
trong việc phát triển kinh tế nông thôn, cụ thể Phần Lan đã hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh
vực đào tạo nguồn nhân lực; thực hiện dự án liên quan đến dữ liệu thông tin rừng quốc
gia, đồng thời hỗ trợ Việt Nam thực hiện liên quan phát triển rừng đa dụng. Về mặt
thương mại, Việt Nam là 1 trong 15 quốc gia sản xuất nông sản hàng đầu thế giới,
nhưng quan hệ thương mại với Phần Lan cịn khiêm tốn, vì vậy, sắp tới hai bên sẽ đẩy

mạnh xuất khẩu các mặt hàng bổ sung cho nhau. Ngồi ra, Phần Lan đã có q trình
nghiên cứu về rừng và thiên nhiên lâu nhất trên thế giới, do đó Phần Lan cũng mong
muốn được chia sẻ với Việt Nam về lĩnh vực này. Có thế thấy, việc hợp tác và chia sẻ
kinh nghiệm này sẽ phát huy tính bền vững của sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
nơng thơn của mỗi nước theo một cách tích cực nhất.
6


Phát triển nơng thơn_44K20.2_Nhóm 8
Giúp các nước chú trọng hơn tới vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn
Nhờ tham gia vào các tổ chức quốc tế về bảo vệ môi trường và được sự trợ giúp của
cộng đồng quốc tế, các quốc gia, trong đó có Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách
về bảo vệ mơi trường (BVMT), điển hình nước ta đã cho ra đời Luật Bảo vệ môi
trường năm 1993 và Luật BVMT sửa đổi 2005. Qua đó đã từng bước nâng cao bước
nhận thức của quần chúng (cả trong nhân dân và các nhà sản xuất) về vấn đề BVMT,
góp phần hạn chế tình trạng gia tăng ơ nhiễm tại các khu cơng nghiệp và trung tâm dân
cư lớn, các vùng nông thôn, cũng như nạn tàn phá và sử dụng quá mức tài ngun
thiên nhiên.
Khơng những vậy, trong bối cảnh tồn cầu hóa các nước có điều kiện tiếp thu cơng
nghệ cao, cơng nghệ ít hoặc khơng sinh sản chất thải. Chẳng hạn như nhiều dự án đầu
tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp đã đem theo vào nước ta những cơng nghệ
tiên tiến nhất, ít gây ơ nhiễm, sử dụng tài ngun nơng nghiệp hiệu quả hơn.
Tự do hóa thương mại tạo cho người tiêu dùng nhiều cơ hội lựa chọn các sản phẩm
xanh và sạch. Một khi thu nhập gia tăng, nhu cầu về các loại hàng hóa và dịch vụ môi
trường cũng tăng theo, do vậy nhà nước có thể nâng cao các tiêu chuẩn về mơi trường
về đất, nước và chất lượng nông sản.
Phát triển kinh tế theo hướng hạn chế khai thác tài nguyên, nâng cao chất lượng sản
phẩm, thân thiện với môi trường tránh được nguy cơ ô nhiễm môi trường trong tương
lai. Một điều nhận thấy rất rõ là từ năm 2001 đến nay, phần lớn hàng xuất khẩu nông
sản và thủy sản của Việt Nam đã được chấp nhận ở các thị trường có tiêu chuẩn cao về

mơi trường như EU, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản.
Việc thực hiện các Công ước quốc tế về mơi trường dẫn đến việc kiểm sốt hàng hóa
nhập khẩu sẽ thuận lợi hơn, tránh được nguy cơ ơ nhiễm từ bên ngồi, ngăn chặn phần
nào tình trạng bn bán các lồi động và thực vật q hiếm.
Việc cam kết cắt giảm các rào cản thương mại để tham gia vào các tổ chức thương mại
thế giới, thực hiện các hiệp định quốc tế về môi trường tạo điều kiện để các doanh
nghiệp nông lâm nghiệp, thủy sản cải thiện khả năng cạnh tranh của mình đồng thời
nâng cao nhận thức về các vấn đề môi trường. Những yêu cầu vè những sản phẩm thân
thiện với môi trường sẽ là áp lực để các doanh nghiệp cải tiến công nghệ, phương thức
7


Phát triển nơng thơn_44K20.2_Nhóm 8
tổ chức kinh doanh nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường. Điều này một mặt tăng khả
năng cạnh tranh của hàng hóa nơng nghiệp của quốc gia đó, đồng thời giảm bớt nguy
cơ ơ nhiễm môi trường nông thôn.
Thông qua việc tham gia vào các tổ chức quốc tế khu vực, các nước có thể đóng góp
tiếng nói của mình trong các vấn đề về môi trường, thu thập thông tin, kiến thức về
bảo vệ môi trường và nhận thức đầy đủ hơn về mối quan hệ giữa thương mại và mơi
trường; đồng thời có thể học hỏi được kinh nghiệm từ các nước khác trong việc duy trì
hài hịa giữa lợi ích kinh tế từ thương mại quốc tế và BVMT.
Mở cửa thị trường tham gia hội nhập quốc tế
Xem xét ví dụ về Trung Quốc, có thể thấy sau khi thành lập nước CHND Trung Hoa,
Trung Quốc đã thức hiện hàng loạt các chính sách phân tách giữa thành thị với nơng
thơn, dần hình thành nên cơ cấu nhị nguyên kéo dài cho đến tận ngày nay. Hơn nữa,
một số chủ trương đường lỗi sai lầm trong việc quản lý kinh tế ở nông thôn của Mao
Trạch Đông như phát động phong trảo quần chúng” nhấn mạnh tác dụng của quan hệ
sản xuất, xem nhẹ tác dụng quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
chạy theo “ nhất đại nhị công" (một là lớn, hai là công hữu), đã làm lãng phi các nguồn
lực ở nông thôn nông nghiệp không phát trển, nông dân ở trong tỉnh trạng “ cùng nhau

nghèo khổ”. Sau khi Trung Quốc thực hiện cải cách mở cửa, Đặng Tiểu Binh đã bắt
đầu thực hiện cải cách mở cửa ở nơng thơn, cởi trói cho nông thôn Trung Quốc bằng
việc thực hiện chế độ khoản trách nhiệm đen hộ gia đình điều này đồng nghĩa với việc
xoá bỏ chế độ “nổi cơm to", khơi dậy tính tích cực của người nơng dân. Có thể nói
rằng, đây là lần thứ nhất khơi dậy sức sống ở nông thôn Trung Quốc.
Giai năm 1978-1991 đây là giai đoạn " cởi trói", với việc từng bước tháo gỡ những
chính sách, biện pháp làm hạn chế sự phát triển của sức sản xuất xã hội, xây dựng thể
chế kinh tế mới trong nơng nghiệp và nơng thơn, giải phóng sức sản xuất xã hội nông
thôn.
Đến năm 1990, cơ cấu GDP của nông thôn theo ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch
vụ lần lượt là 46.1%, 46.3%, 7.6%. Thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn là 708
NDT năm 1991. Số người nghèo đói trong giai đoạn này đã giảm xuống còn khoảng
80 triệu người.
8


Phát triển nơng thơn_44K20.2_Nhóm 8
Sau khi thực hiện “mở cửa”, bộ mặt nơng thơn Trung Quốc đã có những thay đổi to
lớn từ sản xuất lương thực đơn thuần trước đây đã chuyển sang sản xuất nhiều chủng
loại lương thực, thực phẩm ngành nghề kinh doanh đa dạng, nhiều thành phần chế độ
thu mua lương thực và lưu thông hàng hố ở nơng thơn được cải cách, cơ cấu kinh tế
đã có sự chuyển dịch rõ nét, mức độ thị trường hóa của nơng thơn mở rộng hơn, các
giai tầng ở nơng thơn có sự phân hố.
Giai đoạn phát triển nông thôn trong bối cảnh hội nhập quốc tế (2001-2008) được khỏi
đầu bằng sự kiện Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2001,
đánh dấu quá trình hội nhập tồn diện vào tiến trình tồn cầu hóa kinh tế khu vực và
kinh tế thế giới.
Việc Trung Quốc tham gia sâu rộng vào thị trường nông sản thế giới, có lợi cho phát
triển nơng nghiệp, tạo mơi trường và điều kiện để đẩy nhanh hiện đại hoá nông thôn.
Thời kỳ đầu mở của tư những năm 1980, ở nơng thơn Trung Quốc xuất hiện hàng loạt

những xí nghiệp hương trấn và chính những xí nghiệp hương trấn này đã giải quyết
khối lượng việc làm đáng kể ở nông thôn, đẩy nhanh tiến bộ khoa học, đi sâu cải cách
nông thôn.
Trong giai đoạn từ năm 1978 đến năm 2012, GDP của Trung Quốc tăng khoảng 9,8%
hàng năm và GDP của nước này tăng gấp 22,5 lần trong thời kỳ này, trong khi GDP
bình quân đầu người của nước này tăng với tốc độ hàng năm là 8,5% và tăng gấp 15
lần trong cùng thời kỳ. Đến năm 2010, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản để trở thành nền
kinh tế lớn thứ hai thế giới và đồng thời nó cũng vượt qua nước Đức về lượng xuất
khẩu, trở thành lớn nhất thế giới. Sự gia tăng lớn của GDP ở Trung Quốc đã khiến mức
sống của người Trung Quốc tăng lên vì thu nhập của họ tăng gấp đơi, thậm chí tăng
gấp bốn sau mỗi 10 năm.
Có thể thấy mặt tích cực của xu thế tồn cầu hóa và thương mại tự do là nó cho phép
các nước đang phát triển tiếp cận với thị trường thế giới do đó phát triển nền sản xuất
của họ đến một quy mô vượt quá nhu cầu của thị trường nội địa. Đồng thời thơng qua
việc nhập khẩu hàng hóa, cơng nghệ từ các nước phát triển trình độ kỹ thuật của các
nước đang phát triển tăng lên.

9


Phát triển nơng thơn_44K20.2_Nhóm 8
2.2 Tác động tiêu cực
Chịu hiệu ứng lây lan của những bất ổn khu vực và tồn cầu
Trên thế giới, hồ bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo; tồn cầu hố và
hội nhập kinh tế quốc tế sẽ được đẩy nhanh; đầu tư, lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ, lao
động và vốn ngày càng mở rộng. Tuy nhiên, tình hình thế giới và khu vực vẫn chứa
đựng nhiều yếu tố phức tạp, khó lường; các tranh chấp, xung đột cục bộ, cùng với hoạt
động khủng bố quốc tế có thể gây mất ổn định ở khu vực và nhiều nơi trên thế giới.
Các vấn đề mang tính tồn cầu như dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, khan hiếm các
nguồn năng lượng và nguyên vật liệu, … sẽ càng trở nên gay gắt hơn.

Gần đây bất ổn nghiêm trọng nhất có thể nói đến đó là sự suy thối kinh tế tồn cầu do
ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Năm 2020, dịch Covid-19 bùng phát ở Trung
Quốc và nhanh chóng lan rộng ra các quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới. Các
chuyên gia kinh tế của hãng tư vấn Oxford Economics đã lên tiếng cảnh báo đại dịch
toàn cầu này có thể khiến nền kinh tế thế giới thiệt hại hơn 1.000 tỷ đô la Mỹ do năng
suất lao động giảm, sản xuất đình trệ, chuỗi cung ứng bị gián đoạn, đầu tư, thương mại
và du lịch suy giảm nghiêm trọng. Theo báo cáo triển vọng kinh tế toàn cầu của Ngân
hàng Thế giới tháng 6 năm 2020 cho thấy do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch
COVID-19, nền kinh tế tồn cầu có thể giảm ở mức 5,2% trong năm 2020. Các biện
pháp giãn cách xã hội và hạn chế di chuyển sẽ ảnh hưởng mạnh đến sản xuất và
thương mại thế giới nếu khơng có sự áp dụng những cơng nghệ thơng minh. Do
đó,chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng thơn cũng bị ảnh hưởng khơng ít.
Khơng những vậy, biến đổi khí hậu ngày càng khó lường và ảnh hưởng mạnh mẽ đến
sản xuất kinh tế nông thơn. Biến đổi khí hậu (BĐKH) ngày càng gay gắt và phức tạp,
gây ra nhiều tác động cực đoan tới môi trường và con người. Thiên tai và thảm hoạ tự
nhiên có xu hướng gia tăng với tần suất xuất hiện ngày càng dày hơn so với quy luật
trước đây, có thể gây thiệt hại trực tiếp đến q trình vận hành nền kinh tế nông thôn
và đời sống người dân. Việt Nam được dự báo là một trong những nước bị ảnh hưởng
nặng nề nhất do BĐKH và nước biển dâng vì phần lớn dân số, cơ sở hạ tầng và sản
xuất nằm ở vùng đồng bằng và vùng đất thấp ven biển. Việt Nam luôn nằm trong 10
quốc gia có mức độ rủi ro khí hậu trong dài hạn cao nhất. Tần suất và cường độ các
10


Phát triển nơng thơn_44K20.2_Nhóm 8
hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện thường xuyên hơn như rét đậm, rét hại, băng
giá ở các tỉnh Bắc Bộ; hạn hán, xâm nhập mặn ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long,
Nam Trung Bộ, Tây Nguyên; hiện tượng sạt lở bờ sông, bờ biển xảy ra nhiều nơi.
Tổng thiệt hại do thiên tai hàng năm ngày càng cao. Năm 2016 thiệt hại do thiên tai là
39 nghìn tỷ đồng và năm 2017 lên tới 60 nghìn tỷ.

Mơi trường sinh thái nơng thơn ngày càng xấu đi
Bên cạnh những tác động tích cực, tồn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cũng cho
thấy một số tác động tiêu cực đối với môi trường nông thôn. Từ nhiều năm nay, người
nông dân đã quen với phương thức sản xuất tùy tiện, sản phẩm nơng nghiệp làm ra có
chất lượng thấp như dư lượng thuốc bảo vệ thực vực trong rau, trong hải sản, trong
hoa, trong quả, hoặc chứa hàm lượng NO3 cao do bón nhiều phân đạm để hấp dẫn và
tăng tính thị hiếu của người tiêu dùng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hàng hóa ngoại
nhập có chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn trên thị trường thì rất có thể hàng hóa sản
xuất theo phương thức cũ sẽ khơng có người tiêu thụ ở thị trường trong nước và như
vậy người nông dân sẽ ‘thua ngay trên sân nhà’.
Thương mại là cơ chế luân chuyển hàng hóa và dịch vụ sản xuất từ địa điểm này sang
người tiêu dùng tại địa điểm khác. Đặc tính này tạo cho người tiêu dùng khả năng
hưởng thụ các sản phẩm tại đất nước mình khơng có hoặc khơng có khả năng sản xuất.
Song, nếu các hàng hóa xuất khẩu được sản xuất ồ ạt theo cách thức phá hủy mơi
trường thì đương nhiên việc sản xuất hàng hóa cho mục đích thương mại sẽ gây ra
nhiều hậu quả mơi trường nghiêm trọng.
Có thể thấy, Việt Nam tham gia hội nhập với kinh tế thế giới trong khi khn khổ luật
pháp của ta cịn chưa hoàn thiện, việc thực hiện pháp luật chưa nghiêm cùng với năng
lực quản lý và giám sát thực hiện luật hạn chế đã dẫn đến một số hiện tượng ảnh
hưởng tiêu cực tới môi trường nước ta như buôn lậu động vật và tài nguyên quý hiếm,
chặt phá rừng bừa bãi...
Trên thế giới, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng thơn địi hỏi nhiều hàm lượng lao
động, tài nguyên... nhiều những ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường sang các
nước đang phát triển; việc các nhà tư bản nước ngoài đầu tư vào các nước đang phát
triển ngày càng trở nên xấu đi nhanh chóng. Hơn nữa, trong q trình tồn cầu hóa sự
11


Phát triển nơng thơn_44K20.2_Nhóm 8
phát triển của các nước phát triển không chỉ dựa vào tài nguyên giá rẻ, sức lao động rẻ,

thị trường giá rẻ, hàng hoá và dịch vụ rẻ; mà cịn dựa vào đầu độc mơi trường sinh thái
ở các nước đang phát triển. 2/3 rừng của thế giới đang bị phá huỷ và đang mất đi với
tốc độ mỗi năm 16 triệu ha. Lượng gỗ dùng cho sản xuất giấy (gần như toàn bộ lấy từ
các nước đang phát triển) thập kỷ 90 gấp đôi thập kỷ 50, mà tiêu dùng chế phẩm giấy
của Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu chiếm 2/3 thế giới. Toàn thế giới mỗi năm có 2,7 triệu
người chết vì khơng khí bị ơ nhiễm, thì 90% số người đó là ở các nước đang phát triển.
Ngồi ra, mỗi năm cịn có khoảng 25 triệu người bị trúng độc vì thuốc trừ sâu, 5 triệu
người bị chết vì nhiễm bệnh do nước bị nhiễm bẩn...
Sự cố Formosa là một ví dụ về thảm họa môi trường sinh thái, sự cố đề cập đến hiện
tượng cá chết hàng loạt tại vùng biển Vũng Áng (Hà Tĩnh) bắt đầu từ ngày 6 tháng 4
năm 2016 và sau đó lan ra vùng biển Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Trên
bờ biển Quảng Đông, Vũng Chùa có đến hàng trăm cá thể cá mú loại từ 40 – 50 kg trôi
dạt vào bờ và chết. Đến ngày 25 tháng 4, tỉnh Hà Tĩnh có 10 tấn, Quảng Trị 30 tấn,
đến ngày 29 tháng 4 Quảng Bình hơn 100 tấn cá biển bất ngờ chết dạt bờ. Thảm họa
này gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của ngư dân, đến những hộ nuôi thủy
sản ven bờ, ảnh hưởng đến du lịch biển và cuộc sống của cư dân miền Trung.
Khu vực miền Trung Việt Nam có thể mất cả thập kỷ để hồn tồn hồi phục sau thảm
họa môi trường lớn nhất từ trước đến nay. Ước tính thiệt hại về lượng hải sản chết dạt
vào bờ do thảm họa Formosa là hơn 100 tấn, bên cạnh đó là nhiều hậu quả khác về ô
nhiễm môi trưởng ảnh hưởng đến việc làm và phát triển kinh tế tại 4 tỉnh miền Trung
Việt Nam là nơi bị ảnh hưởng trực tiếp.
Theo khảo sát của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có đến 263.000 lao động chủ
yếu là vùng nông thôn chịu ảnh hưởng, trong đó 100.000 chịu ảnh hưởng trực tiếp. Tỷ
lệ thất nghiệp gia tăng rất lớn tại bốn tỉnh, trong đó lớn nhất là Hà Tĩnh (15,7 lần) rồi
đến Quảng Bình (7,9 lần), Quảng Trị (2,8 lần) và Thừa Thiên Huế (1,6 lần). Số người
đánh bắt thủy sản ở Hà Tĩnh giảm 74% cịn ở Quảng Bình 83,2% người dân bị giảm
thu nhập so với thời điểm trước khi xảy ra sự cố.

12



Phát triển nơng thơn_44K20.2_Nhóm 8
Làm trầm trọng thêm khoảng cách giàu nghèo trong một xã hội, giữa các nước và
khu vực
Tồn cầu hóa làm cho sự di chuyển lao động giữa các quốc gia diễn ra nhiều và dễ
dàng hơn, kéo theo hiện tượng lao động có trình độ cao di chuyển khỏi các nước đang
phát triển đến các nước phát triển. Hiện tượng này góp phần gia tăng khoảng cách giàu
nghèo giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, giữa từng khu vực riêng biệt
trong một đất nước.
Hiện nay các nước phát triển đang nắm giữ 3/4 sức sản xuất của toàn thế giới, 3/4 phân
ngạch mậu dịch quốc tế, là nơi đầu tư và thu hút chủ yếu các luồng vốn FDI (năm
1999 trong 827 tỷ USD tổng vốn FDI của thế giới, các nước phát triển chiếm 609 tỷ
USD, riêng EU gần 300 tỷ USD, Mỹ gần 200 tỷ USD). Các Công ty xuyên quốc gia
lớn nhất thế giới cũng chủ yếu nằm ở các nước phát triển. Các nước này cũng nắm giữ
hầu hết các công nghệ hiện đại nhất, các phát minh, sáng chế, bí quyết và các sản
phẩm chất xám khác. Đây cũng là nơi liên tục thu hút được "chất xám" của toàn thế
giới. Ngoài ra các thiết chế kinh tế, tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế như WTO.
IMF, WB... đều nằm dưới sự chi phối của các nước phát triển, đứng đầu là Mỹ. Với
những sức mạnh kinh tế to lớn như vậy, các nước phát triển đang chi phối nền kinh tế
tồn cầu. Cịn các nước đang phát triển thì nền kinh tế chưa đủ sức để chống đỡ được
vịng xốy của cạnh tranh trong nền kinh tế thế giới. Do vậy mà các nước đang phát
triển ngày càng bị nghèo đi so với tốc độ giàu nhanh của các nước phát triển. Năm
1998, 24 quốc gia phát triển chiếm khoảng 17% dân số thế giới thì chiếm tới 79% giá
trị tổng sản lượng kinh tế quốc dân tồn thế giới; cịn các nước đang phát triển chiếm
83% dân số thế giới thì chỉ chiếm 21% giá trị tổng sản lượng kinh tế quốc dân toàn thế
giới; 20% số dân thế giới sống ở những nước thu nhập cao tiêu dùng 86% số hàng hố
của tồn thế giới. 20% số dân nghèo nhất thế giới năm 1998 chỉ chiếm 1,1% thu nhập
tồn thế giới, tỷ lệ đó năm 1991 là 1,4%, năm 1996 là 2,3%. Hiện nay, tài sản của 10
tỷ phú hàng đầu thế giới đã đạt 133 tỷ USD tương đương với 1,5 lần thu nhập quốc
dân của tất cả các nước đang phát triển.

Do đó, để giải quyết và tháo gỡ những khó khăn đối với nơng thơn trong điều kiện
tham gia tồn cầu hóa thực hiện đẩy mạnh tiến độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn, cần thực hiện một số biện pháp như: Cần xây dựng một tổ chức nhà nước mới có
13


Phát triển nơng thơn_44K20.2_Nhóm 8
chức năng điều hành sự phối hợp liên kết giữa 4 nhà: nhà quản lý, nhà khoa học, nhà
doanh nghiệp với nhà nông; đổi mới hoạt động hỗ trợ nông dân và nông nghiệp trong
việc chuyển giao tiến bộ khoa học, trong việc tiếp cận với các nguồn vốn vay chính
thức; xây dựng chính sách thị trường khoa học và hợp lý; tăng cường các hoạt động
truyền thơng ở nơng thơn nhằm nâng cao trình độ về mọi mặt cho nông dân, nhất là sự
hiểu biết về luật pháp, các thông lệ quốc tế; cùng với phát triển các doanh nghiệp vừa
và nhỏ hướng và chế biến các sản phẩm, cần có chiến lược đào tạo nghề cho nơng dân,
giúp họ vừa có thể kiếm được việc làm vừa có thể tạo ra việc làm; Đảng cần nâng cao
vai trị lãnh đạo chính trị của mình, nhà nước cần nâng cao năng lực quản lý, các đồn
thể nhân dân; Hội Nơng dân cần nâng cao năng lực tổ chức, hướng dẫn quần chúng
của mình đi vào q trình tồn cầu hố và hội nhập quốc tế một cách có hiệu quả nhất.

14


Phát triển nơng thơn_44K20.2_Nhóm 8

Tài liệu tham khảo
1. Asean Vietnam. Một vài nét về kinh tế-xã hội Việt Nam. Trích xuất 09/2021 từ
/>2. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. (07/2014). Đẩy mạnh chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thơn. Trích xuất 09/2021 từ />3. Tạp chí Cộng sản. (02/2021). Về hội nhập quốc tế và tham gia tiến trình tồn
cầu


hóa

của

Việt

Nam.

Trích

xuất

09/2021

từ

/>4. Sở nơng nghiệp và PTNT Thừa Thiên Huế (07/2021). Quản lý chất lượng nơng
lâm thủy sản. Trích xuất 09/2021 từ />gd=7&cn=28&tc=22551
5. Bộ Công Thương Việt Nam. (06/2021). Đẩy mạnh hoạt động khuyển công, tạo
động lực cho phát triển cơng nghiệp nơng thơn trong giai đoạn mới. Trích xuất
09/2021 từ />6. Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam. (12/2010). Tồn cầu hóa và
các vấn đề môi trường nảy sinh trong nông nghiệp và nông thôn. Trích xuất
09/2021 từ />
15


Phát triển nơng thơn_44K20.2_Nhóm 8

16




×