Tải bản đầy đủ (.docx) (33 trang)

Tiểu luận môn tôn giáo học đại cương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (836.86 KB, 33 trang )

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA DU LỊCH
--------------

BÀI THI TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: TƠN GIÁO HỌC ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ BÀI
ĐỀ SỐ 02: TRÌNH BÀY NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA GIÁO LÝ
“TAM NGHIỆP” CỦA ĐẠO PHẬT. VẬN DỤNG GIÁO LÝ NÀY ĐỐI
VỚI ĐIỀU CHỈNH THÂN, KHẨU, Ý CỦA NGƯỜI TU NHƯ THẾ
NÀO?

Sinh viên thực hiện

: Nguyễn Thị Thuỳ Linh

Mã sinh viên

: DTZ1957810103085

Lớp

: QTDVDL&LH K17B

Giảng viên hướng dẫn

: ThS. Bùi Trọng Tài


2



Thái Nguyên, tháng 7 năm 2021


3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA DU LỊCH
--------------

BÀI THI TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: TƠN GIÁO HỌC ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ BÀI
ĐỀ SỐ 02: TRÌNH BÀY NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA GIÁO LÝ
“TAM NGHIỆP” CỦA ĐẠO PHẬT. VẬN DỤNG GIÁO LÝ NÀY ĐỐI
VỚI ĐIỀU CHỈNH THÂN, KHẨU, Ý CỦA NGƯỜI TU NHƯ THẾ
NÀO?
Nhóm sinh viên thực hiện đề 03

: Dương Văn Đạt
: Nguyễn Thị Hồng Hạnh
: Trang Ngọc Lâm
: Ma Thị Linh
: Nguyễn Thị Thuỳ Linh

Lớp

: QTDVDL&LH K17B

Giảng viên hướng dẫn


: ThS. Bùi Trọng Tài


4
LỜI CẢM ƠN

“Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Khoa học
đã đưa môn học Tơn giáo học đại cương vào chương trình giảng dạy. Đặc
biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn – Thầy Bùi Trọng
Tài đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt
thời gian học tập vừa qua. Trong thời gian tham gia lớp học Tôn giáo học đại
cương của thầy, em đã có thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần học
tập hiệu quả, nghiêm túc. Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức quý báu, là
hành trang để em có thể vững bước sau này.
Bộ môn Tôn giáo học đại cương là môn học thú vị, vơ cùng bổ ích và có tính
thực tế cao. Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn
của sinh viên. Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp
thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ. Mặc dù em đã cố gắng hết sức nhưng chắc
chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ cịn
chưa chính xác, kính mong thầy xem xét và góp ý để bài tiểu luận của em
được hoàn thiện hơn”.
Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Nguyễn Thị Thuỳ Linh


5
Nhận xét của giảng viên

.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Ngày 06 tháng 07 năm 2021
XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN


6
MỤC LỤC



PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong kinh Majjhima Nikàya (Trung Bộ), Ðức Phật dạy rằng: "Con người là
chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng mà từ đó con
người được sinh ra; nghiệp là quyền thuộc, là nơi nương tựa" . Như thế, sự
hiện hữu của mỗi con người đồng thời là sự hiện hữu của nghiệp thiện và bất
thiện từ (vô lượng kiếp) quá khứ. Mỗi con người cá thể là điểm trung tâm của
nghiệp; ngoài mỗi cá thể ấy sẽ khơng có bất kỳ một cái nghiệp nào được bàn
đến. Đứng về phương diện giáo lý đạo Phật: tất cả sự vật hiện tượng xảy ra
đều do tác động từ Thân, Khẩu, Ý của con người mà thành.
Trong quá trình học tập tiếp thu kiến thức giảng dạy trên lớp của thầy giáo –
Ths. Bùi Trọng Tài, được tham gia buổi tham quan tìm hiểu về phật giáo tại
ngơi chùa Kim Sơn Tự ( Chùa Hang). Xuất phát từ vấn đề đó mà tác giả đã
chọn đề tài: “Những nội dung cơ bản của giáo lý “tam nghiệp” của đạo
phật. Vận dụng giáo lý này đối với điều chỉnh thân, khẩu, ý của người tu”
làm đề tài nghiên cứu của mình. Nhằm tìm hiểu về giáo lý tam nghiệp của đạo
Phật để ứng dụng vào đời sống, góp phần cho cuộc sống ngày thêm an lành và
bớt khổ đau hơn, hiểu rõ hơn nội dung của giáo lý tam nghiệp và để điều
chỉnh thân, khẩu, ý của mình, người tu cần vận dụng giáo lý này như thế nào?
Đây cũng là điều then chốt và điều tâm đắc của người viết trong q trình
học.
2. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung, khái quát về nghiệp.
Phân tích, trình bày những nội dung cơ bản của giáo lý tam nghiệp của đạo
phật.
Vận dụng giáo lý này đối với điều chỉnh thân, khẩu, ý của người tu.
7


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là nội dung của giáo lý tam nghiệp trong phạm vi
nghiên cứu là đạo phật.
4. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng các kiến thức đã học của môn tôn giáo học đại cương.
Xem các bài giảng của các sư thầy về giáo lý tam nghiệp trên youtube.
Phương pháp so sánh giữa lý thuyết và thực tiễn, phương pháp phân tích tổng
hợp, thu thập thông tin, xử lý số liệu.
Sử dụng phương tra cứu, quan sát, điều tra và tham khảo thơng tin: internet,
tài liệu website, báo chí,...
5. Kết cấu của đề tài
Tất cả nội dung trong bài tiểu luận này được nghiên cứu và trình bày trong 3
chương sau:
 Chương 1: Cơ sở lý luận chung, khái quát về nghiệp
 Chương 2: Những nội dung cơ bản của giáo lý tam nghiệp của đạo
phật.
 Chương 3: Vận dụng giáo lý tam nghiệp đối với điều chỉnh thân, khẩu,
ý của người tu.

8


PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG, KHÁI QUÁT VỀ NGHIỆP
1.1. Khái niệm về nghiệp
Chữ nghiệp là do dịch nghĩa của chữ Karma trong tiếng Phạn hay chữ
Kamma từ tiếng Pali. Dịch âm là Kiết ma. Nghiệp nghĩa là hành động, việc
làm của thân, khẩu, ý. Khi chúng ta nghĩ một điều gì, nói một câu gì, làm một
việc gì, lành hay dữ, xấu hay tốt, nhỏ hay to, mà có ý thức, đều gọi là nghiệp.
Những việc làm vô ý thức không phải là nghiệp. Đức Phật dạy: “Này các thầy
Tỳ kheo, Như Lai nói rằng tác ý là nghiệp”. Tác ý bắt nguồn sâu xa trong vơ

minh và ái dục. Cịn vơ minh, cịn ái dục, cịn ham muốn, thì mọi hành động,
lời nói, tư tưởng đều là nghiệp.
1.2. Nguồn gốc của nghiệp
Vô minh và ái thủ. Vô minh là thiếu hiểu biết đúng đắn sáng tỏ về lẽ sống, là
tham dục trên đời này. Trong đời sống, ta cứ hành tác theo chiều bản năng
99% ấy thì đó là ta tự se sợi dây nghiệp thức cực chắc để tự buộc cổ mình vào
bánh xe luân hồi tái sinh. Cứ như thế mà ta trôi dạt thênh thang trong sáu cõi
buồn tênh ảm đạm. Như thế để chấm dứt khổ lụy tái sinh là phải biết tu tập xả
ly, cắt đứt dần mọi động tác ngu tối, bám víu quá mạnh vào ham thích dục lạc
tạm thời trong đời nay.
1.3. Phân loại nghiệp
Thông thường, nghiệp được tạo tác trên cơ sở của thân, khẩu và ý. Tất nhiên,
cả ba nghiệp trên đều xuất phát từ ý hay còn gọi là tâm. Như thế, khi xét đến
nghiệp của một con người là xét đến thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.
Ngồi ba nghiệp này, khơng cịn một cái nghiệp nào khác. Tuy nhiên, nghiệp
có những tính chất và chức năng khác nhau nên chúng được phân làm nhiều
loại và có nhiều tên gọi khác nhau.

9


1.3.1. Phân loại theo tên gọi
- Nghiệp thiện: Tư duy và hành động về các điều lành như thực hành Ngũ giới
và Thập thiện giới.
- Nghiệp ác: Tư duy hành động về các điều lành như thực hành những điều
trái ngược với Ngũ giới và Thập thiện giới.
Trong thực tế, khi nói đến nghiệp, hàng Phật tử thường chú trọng đến nghiệp
báo (nghiệp quả) hơn là nghiệp nhân. Và đây là chỗ thiếu sót của chúng sinh
khi đối diện với nghiệp. Và cũng chính điều này khiến cho chúng sinh quan
tâm đến quả báo hơn là gieo nhân. Nghiệp quả hay nghiệp báo còn được gọi

là quả dị thục.
1.3.2. Phân loại theo tiến trình
Ðịnh nghiệp: Là nghiệp được lưu chuyển trong thời gian ổn định và từ nhân
đến quả thống nhất với nhau. Ví dụ, trứng gà sau khi được ấp trong một thời
gian sẽ nở ra con gà. Nói chung, các nghiệp nhất định sẽ đưa đến kết quả (như
ăn thì sẽ no) thì được gọi là định nghiệp.
Bất định nghiệp: Là nghiệp không dẫn đến kết quả, hoặc kết quả sẽ thành tựu
trong thời gian bất định, hoặc có thể giữa kết quả và ngun nhân khơng hồn
tồn thống nhất với nhau, thì được gọi là bất định nghiệp.
1.3.3. Phân loại theo thời gian
- Hiện nghiệp: Là nghiệp nhân gây ra trong đời này và được trổ quả ngay
trong kiếp hiện tại như những kẻ giết người thì bị tử hình…
- Sinh nghiệp: Nhân gieo trong kiếp này nhưng trả quả ở kiếp kế cận.
Nghiệp vô hạn định (Hậu nghiệp): Nếu chưa trổ quả trong kiếp này hay kiếp
kế cận thì nghiệp đó sẽ phát hiện trong bất cứ kiếp sau này khi chúng hội đủ
điều kiện.

10


- Nghiệp vơ hiệu lực: Đó là những nghiệp đáng lẽ có kết quả trong kiếp này,
kiếp sau nhưng khơng đủ yếu tố để phát khởi nên chúng nằm yên tại chỗ,
không trổ quả cho đến khi người tu hành chứng đắc quả A La Hán hay vô dư
y Niết bàn thì nghiệp đó chấm dứt khơng cịn trổ quả nữa. Hoặc nếu chưa
nhập vô dư Niết bàn mà nghiệp đời trước cịn nhiều phải trả thì trong nhiều
đời dồn lại một và trả nghiệp một lần. Nghiệp báo đến lúc sẽ khơng cịn hiệu
lực nữa khi người tu đã chứng quả vị giải thoát và giải trừ các chướng nghiệp.
1.3.4. Phân loại theo cảnh giới
Nghiệp cũng chia làm 4 loại theo cảnh giới.
- Nghiệp bất thiện: Là 10 loại nghiệp gây ra bởi thân, khẩu, ý đưa đến bốn

đường ác: địa ngục, ngã quỷ, súc sinh, a tu la.
- Nghiệp thiện ở cõi sắc: Được hưởng an nhàn ở 6 cõi trời.


Tứ thiên vương.



Đao lợi thiên hay Tam thập tam thiên.



Dạ ma thiên.



Hố lạc thiên.



Tha hố tự tại thiên.

Do làm những việc từ thiện pháp lành như: bố thí, phóng sinh, chân thật giữ
tiết hạnh, nói lời hữu ích, hồ nhã, khơng tham, khơng sân và có chính kiến.
Nơi những tầng trời này chư Thiên thường hưởng ngũ dục lạc.
- Nghiệp thiện ở cõi sắc: Là kết quả của thiền định khi đắc được bốn bậc thiền
và tái sinh vào các cõi sắc giới. Chư thiên khơng cịn dâm dục, khơng cịn
muốn ăn nhưng cịn ở trong vật chất, cịn mang hình thể sắc giới cao hơn dục
giới hai bậc, hình thể của chư thiên tốt tươi, cung điện rực rỡ. Nơi sắc giới
chúng sanh sống an tịnh, không có tham, sân, si.

11


- Thiện nghiệp ở cõi vô sắc: Cũng do kết quả của sự tu tập và chứng đắc các
bậc thiền, sự chứng đắc các bậc thiền ở cõi vô sinh này lại cao hơn cõi sắc.
Chư thiên ở cõi trời vơ sắc này có đời sống rất lâu dài, thanh tịnh, an lạc
nhưng khi quả báo hiệu lực, phước báu đã hết thì cũng sinh trở về dục giới và
chịu những quả vui hay khổ đã tạo ra từ trước.

12


CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ GIÁO LÝ “TAM NGHIỆP” CỦA
ĐẠO PHẬT
2.1. Khái niệm tam nghiệp
Tam: Ba, số 3, thứ ba.
Nghiệp: con đường đi từ Nhân tới Quả. Nếu kiếp trước mình làm điều lành thì
tạo được nghiệp lành. Cái nghiệp lành này nó theo ủng hộ mình trong kiếp
này, làm cho mình được may mắn, hạnh phúc.
- Tam nghiệp là ba cái nghiệp do Thân, Khẩu, Ý tạo ra.
- Tam nghiệp gồm: Thân nghiệp, Khẩu nghiệp, Ý nghiệp.
2.2. Thân nghiệp
Thân hình thành từ tứ đại (tức là đất, nước, gió, lửa) tạo thành một thế giới
nhỏ, có thể di chuyển được (đi, đứng, ngồi, nằm,...). Dù vậy, chỉ bấy nhiêu thì
chưa đủ để hướng tới thiện hay bất thiện, mà đối tượng tác thành nghiệp thiện
hay bất thiện, là quá trình căn tiếp xúc trần.
Thân nghiệp là cái nghiệp do thân thể , tay chân tạo ra.
Thân nghiệp sinh ra 3 điều ác: Trộm cắp, sát sinh, tà dâm
Chỉ xét riêng về thân nghiệp thì cũng có nhiều quan điểm và chủ trương khác
nhau. Chính ngay trong đời sống con người, thì thân đóng một vai trị quan

trọng trong việc tạo Nghiệp của con người. Chính những hành vi từ thân thể
con người mà đã tạo ra nhiều ác nghiệp. Sát hại sinh mạng hay cắt đứt đời
sống của chúng hữu tình, được xem như là một việc làm tạo Nghiệp trực tiếp.
Tuy sự tạo nghiệp ấy trước hết phải được tác động từ sự suy nghĩ, nhưng sự
suy nghĩ có trở thành hiện thực hay khơng là do thân thực hiện.

13


2.2.1. Sát sinh
Theo từ điển tiếng việt, sát sinh là giết hại mạng sống của lồi hữu tình. Kể cả
lồi người và các sinh vật. Điều này cho thấy rằng dù là giết hại động vật như
gà, vịt, heo,… hay giết hại các loài thực vật, cây cỏ đề quy về tội sát sinh cả.
Từ trước đến nay, loài người đã giết hại rất nhiều sinh vật bằng những phương
tiện như câu: lưới bắt cá, làm bẫy, cung tên, súng đạn, … và dùng đủ thứ mưu
mẹo giết hại lẫn nhau.
Nguyên nhân sinh hung ác: Vì sống chung với người hung dữ ở xung quanh,
rồi ô nhiễm những điều xấu xa, con người trở nên độc ác.
Lý do người giết người:
- Vì muốn đạt được danh, lợi, tình hay vì thù hiềm, hoặc háo thắng.
- Vì mưu cầu lợi ích riêng cho mình, chia phe nhóm, quốc gia mình mà sinh
tâm sát hại kẻ khác, nước khác.
Cảnh trạng:
- Nhân loại khắp thế giới: dân tộc nước này đánh giết dân tộc nước khác.
- Trong trào nội: Vua tơi, quan lính giết nhau.
- Ngồi lê thứ: Thầy trị, chủ tớ, cha con, chồng vợ, anh em, bè bạn cùng xâu
Lý do người giết vật:
- Vì muốn ăn ngon (thỏa thích khẩu dục).
- Vì sự mê tín và cúng tế ơng bà.
- Vì sự vui thích, ỷ mạnh hiếp yếu mà sát hại các sinh vật.

Tác hại :
- Người tạo nghiệp sát hại thì kiếp này hoặc kiếp khác thường bị thân hình
xấu xí, bệnh tật, chết yểu.( Xưa có đứa bé bắn một con chim mà phải ba kiếp
14


chết yểu. Cịn 3 người lái bn vui vẻ ca ngợi tài bắn của đứa bé mà phải làm
cha để chịu khổ cùng đứa bé.)
- Luôn gặp nạn chiến tranh binh lửa. (Dân chúng thôn Chi Việt bắt tôm cá
dưới hồ Đa Ngư ăn thịt, sau tiến lên là dân chúng dịng họ Thích. Cịn lồi
thủy tộc dưới hồ Đa Ngư, sau tiến lên là vua Lưu Ly, Háo Khổ và binh lính
của Lưu Ly, sau cùng kéo quân đến tiêu diệt dịng họ Thích để thanh tốn món
nợ từ trước.)
- Nghiệp báo lưu truyền nhiều đời nhiều kiếp.
2.2.2. Trộm cắp
Là một giới răn trong ngũ giới của Đạo phật. Đây là một giới dễ phạm nhất
của con người. Vô công mà lấy của quốc gia hay của người khác về làm của
mình đều gọi là trộm cắp.
Tất cả tài vật, bất luận quý tiện, trọng khinh, dù nhiều, ít, tốt, xấu cho đến
những vật nhỏ như một cây kim, một ngọn cỏ đều không được “ không cho
mà lấy” nếu trộm tức là phạm giới trộm cắp.
Nguyên nhân gây ra trộm cắp: Vì ý muốn khơng làm có ăn, khơng lo có mặc,
nên kẻ trộm cướp thường mượn câu:“Bần cùng sanh đạo tặc, Phú quới tác lễ
nghi” để chữa mình.
Hành trạng:
- Hành động kẻ đạo tặc là gây nên thảm trạng: trộm cướp sát nhân, sống ngồi
vịng pháp luật, phá rối an ninh và hạnh phúc mọi người.
- Lừa gạt, chiếm đoạt của công hoặc tư, đến như những đồ vặt vụn: củi đuốc,
trái cà, trái ớt cũng vơ vét về làm của mình.
Tai hại:

- Những kẻ hành nghề đạo tặc là lớp người cặn bã của xã hội, sống bị đời
khinh miệt, luật pháp phân xử, chết bị luân chuyển báo đền…
15


- Theo luật nhân quả: Đời trẻ thường hay trộm cắp thì kiếp này bị nghèo khổ
hoặc bị trộm cướp.
2.2.3. Tà dâm
Tà dâm là ác thứ 3 trong thân nghiệp, là 1 ác trong 10 ác. Tà dâm là phá hoại
tiết trinh của nữ giới, hoặc thông dâm với vợ con hay chồng của kẻ khác,
khơng phải vợ chồng chính thức.
- Tà: Vay, gian dối, không ngay thẳng
- Dâm: việc giao cấu giữa đàn ông, đàn bà hoặc những việc thỏa dâm dục. Tà
dâm: là quan hệ tình dục ngồi hơn nhân bất chính, ham muốn vợ, chồng của
người khác, hay quan hệ tình dục với nhiều người, ham mê sắc dục.
Dâm dục là bản tính tự nhiên của con người, khi dâm dục mất tự nhiên thì trở
thành quá trớn, tà dâm hành động vô đạo đức, xấu xa, ác hại làm cho cá nhân
mất uy tín, mất lịng tự trọng.
Cảnh trạng tà dâm:
Từ trào nội Vua quan, trong gia đình quyến thuộc, đến các giới dân chúng, tội
ác nầy xưa nay đều có xảy ra. Đức Thầy đã diễn tả:
“Ác tà dâm thứ năm càng tệ,
Chúa hôn mê chiếm đoạt thê thần.
Làm đảo huyền tất cả quốc dân,
Tôi bất chánh Hoàng cung dâm loạn.
Tội lỗi ấy diễn nhiều thảm trạng,
Từ xưa nay trời đất đâu dung.
Giàu của nhiều dâm hiếp bần cùng,
Quan lấn thế dâm ơ dân khó”.
16



Tai hại:
- Kẻ dâm loạn thường gây chiến tranh thù hận, thanh toán lẫn nhau, tiêu tan
sự nghiệp. Như vua Tề với vợ Thôi Tử, An Lộc Sơn với Dương Quí Phi.
- Thân xác bệnh tật, trí huệ mờ lu, chết đọa ba đường ác. Như Trung Hoa có
vua Trụ, vua Kiệt…Việt Nam có Lê Ngọa Triều…
2.3. Khẩu nghiệp
Khẩu là một trong những bộ phận trên cơ thể, nhưng lại chiếm một vị trí khá
quan trọng, tác động tới đạo đức thơng qua ngơn ngữ. Nhiệm vụ của Khẩu là
nói, giải thích, truyền đạt, hoạt động tại tất cả mọi hình thức ngơn ngữ, giúp
mọi người cảm nhận được. Khẩu được xem là phương tiện làm lợi ích cho
đời, xoa dịu nỗi đau giúp người đời bớt sợ hãi, lo lắng, mà giúp đỡ người tức
là giúp đỡ mình.
Khẩu nghiệp cũng đóng vai trị quyết định trọng việc tạo nghiệp. Từ nơi
miệng có thể tạo ra những ác nghiệp làm cho chúng sinh phải chịu những quả
báo khổ đau, nhưng cũng từ nghiệp khẩu này làm cho chúng sinh thành tựu
những cơng hạnh. Nếu như một người có được lợi khẩu thì nếu như dùng lợi
khẩu đó để tạo những vấn đề phước thiện, nhằm tạo phước cho mình và cho
người thì khẩu nghiệp đó là lợi khẩu tốt cho đời sống thăng hoa con người.
Lời nói tạo thành khẩu bất thiện nghiệp trong 4 trường hợp: Nói dối, nói ác,
lưỡi đơi chiều, nói lời đâm thọc.
2.3.1. Nói đơi lưỡi (Ác lưỡng thiệt)
Nói lưỡi hai chiều, hay nơm na hơn là nói “ địn xóc nhọn hai đầu”, nghĩa là
đến chỗ này thì nói hùa với bên này để nói xấu bên kia, đến bên kia thì nói
hùa bên ấy để nói xấu bên này làm cho bạn bè thân nhau trở lại chống nhau,
kẻ ân, người nghĩa oán thù nhau. Đây là ác thứ nhất trong khẩu nghiệp.
Nguyên nhân:
17



Vì muốn bảo thủ lợi danh quyền tước theo ý mình nên họ dùng lời nói đâm
thọc thêm bớt cho đôi đàng hiểu lầm nhau. Đức Thầy bảo:
“Ác nơi khẩu nhứt là lưỡng thiệt,
Với người nầy dùng lời tha thiết,
Đến kẻ kia đâm thọc cho gây”.
Sự trạng:
Người hay nói lời lưỡng thiệt, thường xảy ra những cuộc cãi vã, đôi chối, gây
thù, trả oán.
Tai hại:
Dùng lời lưỡng thiệt thường gây hậu quả ngờ vực, chia rẽ, phân tranh, mất
đoàn kết. Đó là gốc sanh ra bất hịa hiềm khích, giết hại lẫn nhau. (Xưa, thời
mạt Trụ hưng Châu bên Trung Hoa có Thân Cơng Báo đi non nầy động nọ,
dùng lời lưỡng thiệt, khiến các Địa Tiên nổi nóng xuống trần phạm sát giới;
kết cuộc công tu luyện phải thả trơi theo dịng nước. Sau cùng hồn xác Thân
Cơng Báo đều bị sa vào Địa ngục một lượt, tiếng xấu lưu để mn đời.)
2.3.2. Nói lời thêu dệt (Nói ỷ ngơn)
Ỷ ngơn cũng gọi là ỷ ngữ, ác thứ nhì trong Khẩu Nghiệp. Có nghĩa là ỷ thị và
thêu dệt. Ý nói người cậy vào học thức, khơn lanh, quyền tước, giàu có mà
nhiếc xài kẻ dưới tay, kém thế hoặc là dệt thêu xảo quyệt, khiến người hiểu
sai sự thật. Hay trau chuốc lời lẽ hát ca tình tứ, làm mờ đục tâm trí kẻ khác.
Ngun nhân: Vì bảo thủ cái ta, lúc nào cũng xem ta là trọng, là xứng đáng
hơn người, nên sanh ra lời lẽ ỷ ngôn.
Sự trạng:
Người ta thường ỷ vào quyền thế, tiền của, khơn lanh, học thức mà kì thị kẻ
thấp kém, ngu dốt một cách thậm tệ.
18


Tai hại:

– Người phạm ác ỷ ngôn thường bị mọi người căm phẫn, thù hận, bạn thân xa
lánh…Vua Tề thời Chiến Quốc ỷ quyền thế khinh khi Trường Vạn, nên bị
Vạn đập cho một bàn cờ chết tốt.
– Qua nhiều kiếp sau còn phải luân hồi trả quả, như xưa có một tiểu tăng trẻ
tuổi chê vị sư già tụng Kinh tiếng ồ ề giống tiếng chó sủa, sau bị đọa 500 kiếp
làm chó…
2.3.3 Nói ác (Ác khẩu)
Nói ác là nói những lời hung dữ, ác độc, thơ tục làm cho người nghe khó chịu,
hay mắng nhiếc làm cho người nghe hổ thẹn, tủi đau…
Nói ác độc là ác thứ ba trong Khẩu Nghiệp, cũng được gọi là ác ngôn hay ác
ngữ.
Nguyên nhân:
Do hoàn cảnh nghịch ý đưa đến liền phát ra những tiếng thề thốt, lỗ mãng,
chưửi mắng, tục tằn, trù rủa hoặc kêu réo Trời Phật, Thần Thánh.
Sự trạng:
Chửi mắng cha mẹ, hăm đánh giết mọi người từ gia đình đến xã hội, trù rủa
con cháu, xóm chịm, kêu réo khiến sai cả Thần Thánh đủ cõi.
Tai hại:
- Người phạm ác khẩu tội lỗi ngày càng thêm chồng chập, nghiệp quả báo
đến.
- Trong nhiều kiếp sau, mắt, tai, miệng, lưỡi bị đui, điếc, câm, ngọng. Nói ra
điều gì bị nghiệp báo y như vậy, như trường hợp trong tiền thân Đức Phật có
anh chàng bn ngọc “hăm móc cặp mắt của cô Tiểu thơ”. Tiểu thơ và người
đánh xe hăm lại:“Nếu ngươi cịn cượng lý sẽ sai lính bắt đánh cho rách da,
19


rồi lấy mủ nấu sôi thoa vào và đem chôn tại ngã ba đường cho người tởn”.
Những lời thề thốt hăm he nầy, nhiều kiếp sau ba người đều bị trả báo y như
vậy.

2.3.4. Nói dối (Ác vong ngữ)
Vọng ngữ cũng gọi là vọng ngôn – ác thứ tư trong Khẩu Nghiệp. Nói dối (hay
cịn gọi là nói khống) là những lời nói khơng đúng sự thật, khơng chân thành,
khơng thật tâm.
Nguyên nhân:
Vì ham muốn danh lợi, quyền tước và nhiều người tin tưởng mà sinh nói dối
Sự trạng:
Hành trạng của vọng ngữ là có nói khơng, khơng nói có, thương ai thì kiếm
cách bào chữa, ghét ai thì đặt điều nói xấu, khoe khoang tự đắc, xảo trá đa
ngơn.
Tai hại:
– Người cịn vọng ngữ thường gây nhân bất cơng cho nhân loại.
– Mọi người trong xã hội khinh miệt và nhân cách bị giảm hạ, khi chết đọa
vào địa ngục.
2.4. Ý nghiệp
Ý là một trong sáu căn, có đủ cơng năng chấp ngã, chấp pháp, Ý có thể phân
biệt rõ mọi sự vật, nghĩ được, nói được. Ý thức có đủ ba tính thiện, bất thiện
và vơ ký, ý có nhiệm vụ là điều khiển, tính tốn, xúi giục, phân biệt, phạm vi
hoạt động khắp thế giới.
Ý nghiệp thật bí nhiệm và thầm kín vơ cùng. Một hành động được biểu hiện
qua thân và khẩu đều do sự tác động của ý cả. Nếu như khơng có sự chỉ đạo
của Ý thì mọi hành động đều khơng tác thành. Nếu như một hành động nào
đó được tác thành mà khơng có sự tác động của Ý thì đó khơng hẳn là sự tác
20


thành nghiệp như đã tìm hiểu ở phần định nghĩa, tức là nghiệp là một hành
động có tác ý. Mặt khác, tất cả những toan tính trong cuộc sống thường nhật,
tất cả đều do ý chủ đạo. Cũng chính từ Ý nghiệp mà con người có những hành
động khác nhau từ đó dẫn đến sự thọ sinh khác nhau. Nếu như khơng làm chủ

được Ý nghiệp con người có thể tạo nghiệp ác bất cứ lúc nào.
Ý nghiệp gây ra 3 điều ác: Tham lam, sân hận, si mê tà kiến
2.4.1. Tham lam
Tham lam là ác thứ nhất trong Ý nghiệp, chỉ lịng tham vơ độ mọi thứ như
tiền tài, của cải, vật chất mà không biết điểm dừng.
Nguyên nhân:
– Do tâm vị kỷ, muốn thỏa mãn nhu cầu mọi thứ cho bản thân mà sanh ra ác
Tham Lam.
– Vì lịng ham muốn q độ, khơng biết tri túc thường lạc. Chính nó là hột
giống, là ngun nhân làm cho chúng sinh luân hồi trong 6 nẻo, từ vô thỉ tới
nay chưa thốt ly ra được.
Sự trạng:
Người có lịng tham lam, lúc nào cũng muốn chiếm đoạt danh lợi, sắc tình,
quyền thế về cho mình.
Tai hại:
- Kẻ bị lịng tham sai khiến, thường gây ra biết bao thảm khổ cho mình và
mọi người: chiến tranh, cướp trộm, giết người, tương tàn tương sát. Ôm mối
hận thù, bực tức dẫn đến liều mình tự sát.
- Hạt giống oan oan tương báo, kéo dài từ kiếp này sang kiếp khác rồi kiếp
khác nữa.

21


2.4.2. Sân hận
Ác thứ nhì trong Ý nghiệp, cũng gọi là sân hận hay hận sân hoặc sân nhuế. Có
nghĩa nóng giận, hờn ghét, thù hận.
Nguyên nhân:
Sở dĩ có sân nộ là do bị người khinh rẻ, húng hiếp, đàn áp mình; hoặc phạm
lỗi hay làm hư hao tài vật của mình.

Cảnh trạng:
Khi tính nóng giận nổi lên thì người ta làm những chuyện bất công sái phép,
chém giết, đánh chửi, la ó; đập phá đồ đạc, tức bực khó chịu, ốn thù càng lan
rộng.
Tai hại:
- Người nóng giận cực độ sẽ cuồng loạn tâm trí, khơng làm chủ được thâm
tâm, con người trở nên hung bạo, chẳng còn nghĩ đến sự công bằng phải trái.
- Đem lại một hậu quả mà ta khơng thể lường trước được.Có thể là: giết
người, phóng hỏa, làm rạn nứt tình cảm vợ chồng, làm bao gia đình tan nát…
2.3.4. Si mê tà kiến
Si mê cũng gọi là vô minh – ác thứ ba trong ý nghiệp. Có nghĩa lịng mê mờ
khơng nhận rõ lý sự, khởi lên vọng - hoặc điên - đảo (tà kiến), khiến người
lầm lũi trong tội lỗi, như người đi đêm khơng có đèn đuốc nên phải lạc vào
hầm hố.
Nguyên nhân:
Xưa Đức Phật bảo rằng:“Tâm trí mê muội tội lỗi chập chồng, khơng biết
đường giải thốt. Đó là ngun nhân của sanh tử luân hồi, không bao giờ
dứt”.

22


Đức Thầy nay cho biết:“Tội ác nầy do sự thiếu óc phán đốn, thiếu sự suy
nghĩ mà ra”.
Cảnh trạng:
Người cịn mê si không phân biệt được lẽ phải trái, nên hay bảo thủ những
thiển kiến sai lầm, chẳng chịu nhìn nhận chân lý.
Tai hại:
- Người còn mê si suốt đời ngu muội, chỉ biết đua đòi theo vật chất nhỏ nhen,
mau tan, mau rã.

- Tin bướng nghe càn, khơng tìm hiểu chân lý và con đường giải thoát; khiến
cho màn vô minh càng lúc càng dầy, lưới nghi ngờ càng thêm bao phủ.

CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG GIÁO LÝ TAM NGHIỆP ĐỐI VỚI
ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI THÂN, KHẨU, Ý CỦA NGƯỜI TU
Như đã tìm hiểu nội dung giáo lý Tam nghiệp ở trên. Ta thấy tam nghiệp là
hành động tạo tác của thân, khẩu, ý. Nội dung giáo lý đã chỉ ra những tai hại
vô cùng to lớn của thân, khẩu, ý. Vì vậy những tín đồ phật tử, những người tu
cần phải “tịnh hoá tam nghiệp” nghĩa là tu sửa, thanh lọc thân, khẩu, ý bất
thiện dần dần trở nên thuần thiện, an lạc. Diệt trừ 10 điều ác (Thập ác), tu tập
10 pháp thiện (Thập thiện) tạo thành 10 phương pháp tịnh hóa tam nghiệp.
Thực những phương pháp này sẽ đem lại lợi ích thiết thực cho chúng ta trong
cuộc sống.
3.1. Tu thân nghiệp
Những hành vi thuộc về thân có 3 hành vi:
3.1.1. Khơng giết hại: Có nghĩa là khơng hủy hoại cuộc sống của mọi lồi,
khơng tự huỷ hoại mình, khơng sai người khác giết hại, thấy người khác giết
hại khơng sinh lịng mừng vui; trái lại người Phật Tử phải tìm mọi cách để
cứu sống chúng sinh, chẳng hạn như mua chim, mua cá thả cho chúng sống
23


đời tự do, không bị cảnh cá chậu, chim lồng. Cá nuôi trong chậu, chim bị nhốt
trong lồng dù cho có được ăn uống đầy đủ nhưng nào có được tự do, khác chi
với cảnh con người bị tù đày, chúng ta không muốn bị tù đày tại sao chúng ta
lại tù đày chúng, chúng ta muốn luôn luôn được tự do, chúng ta nên mua
chim, cá thả để cho chúng tự do.
3.1.2. Không trộm cắp: Không chiếm đoạt về phần mình những của cải của
người khác từ đất đai, nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ là những vật lớn cho chí vật
nhỏ như cây kim, sợi chỉ cũng khơng chiếm đoạt của người khác. Người ta

khơng thuận cho, tìm cách chiếm đoạt, tự tiện lấy dùng cũng thuộc về trộm
cắp. Dùng sức mạnh để chiếm đoạt của người khác là tội cướp, dùng những
phương tiện xảo trá để lường gạt người, cho đến trốn thuế cũng thuộc về trộm
cắp, tất cả những việc sai trái như thế đều không làm, trái lại đem tiền của,
phương tiện của mình để giúp đỡ cho chúng sinh được an vui, ấm no đó là sự
bố thí đáng làm.
3.1.3. Khơng tà dục: Nghĩa là không sống trác táng, ăn chơi, cờ bạc, rượu
chè, hút sách. Trái lại phải tu hạnh tiết dục thanh tịnh, tu sĩ cấm hẳn tà dục,
hàng cư sĩ lập gia đình phải tiết dục, chỉ sống một vợ một chồng, trong sạch
từ thể chất đến tinh thần. Tà dục là gốc sinh tử luần hồi, người tu theo đạo
Phật phải dứt bỏ dần dần tà dục, để trở nên người thanh khiết.
3.2. Tu khẩu nghiệp
Thuộc về khẩu nghiệp là những lời nói thơ, có 4 cách:
3.2.1. Khơng nói dối: Là khơng nói sai sự thật như :
-Khơng thấy nói thấy, thấy nói khơng thấy
-Nghe nói khơng nghe, khơng nghe nói nghe
-Biết nói khơng biết, khơng biết nói biết
-Biết trái nói phải, biết phải nói trái.
24


Gặp trường hợp đặc biệt phải nói khơng đúng sự thật để cứu mạng chúng
sinh, buộc lịng phải nói, chẳng hạn như có một người đi săn đuổi theo một
con thú, ta thấy lối con thú ấy chạy, người thợ săn đến gặp ta, hỏi ta có thấy
con thú chạy lối nào không, để cứu con thú khỏi chết, ta có thể nói khơng
thấy. Như vậy, ta đã thực hành được hạnh Từ Bi, việc nói chơi cũng khơng
nên nói.
3.2.2. Khơng nói lời hung ác: Khơng nên chửi rủa người, dù là bậc trên
trước, có quyền thế, như ơng bà, cha mẹ cũng không nên ỷ vào quyền thế ấy
mắng chửi người hay con cháu, dù người đó có lầm lỗi, trái lại nên dùng lời

dịu dàng, chỉ dạy cho người ta thấy những lỗi lầm, để lần sau tránh.
3.2.3. Khơng nói thêu dệt: Khơng nên thêm bớt để chuyện khơng nói có,
chuyện có nói khơng, dùng lời lẽ làm cho câu chuyện sai với sự thật trắng
thành đen, đen thành trắng, hoặc dùng lời văn hoa, bóng bẩy để mê hoặc làm
hại người, những việc đó đều khơng nên làm, trái lại nên nói lời đúng đắn,
chân thật với lịng mình.
3.2.4. Khơng nói lưỡi hai chiều: Khơng nên nói địn xóc, đến bên A nói xấu
bên B, đến bên B nói xấu bên A, mục đích gây chia rẽ, làm cho hai bên thù
địch nhau. Trái lại nên dùng lời lẽ để hóa giải mọi sự thù nghịch.
3.3. Tu ý nghiệp
Những suy nghĩ, tưởng tượng có 3 cách tạo thành ý nghiệp :
3.3.1. Không tham lam: Không tham muốn năm món dục lạc ở đời : Sắc đẹp,
của cải, danh vọng, ngủ nghỉ, ăn uống. Tham muốn sắc đẹp hao tốn tiền của,
nhiều khi phải dùng những mưu chước tồi tệ làm mất phẩm chất con người,
khi không thỏa mãn đâm ra ghen tng, thù hận giết chóc, tù đày. Tham của
cải phải đày đọa tấm thân làm cho có nhiều tiền của, nhiều khi phải dùng mưu
sâu, chước độc để hại người đoạt của. Tham ăn cao lương mỹ vị làm cho thân
thể dễ sinh bệnh tật. Tham ngủ nghỉ làm cho trí não trở nên đần độn. Năm
25


×