Tải bản đầy đủ (.pdf) (101 trang)

Quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện phù cừ, tỉnh hưng yên hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (772.29 KB, 101 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VŨ XUÂN THỦY

QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
Ở HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI – 2014


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VŨ XUÂN THỦY

QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ


Ở HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN HIỆN NAY

Ngành

: Chính trị học

Chuyên ngành : Quản lý xã hội
Mã số

: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Trần Xuân Học

HÀ NỘI – 2014


3

Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm
luận văn thạc sĩ

Hà Nội, ngày….tháng….. năm 2014
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS-TS. Phạm Huy Kỳ


4


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan cơng trình nghiên cứu này là do
tôi trực tiếp thực hiện. Các số liệu, kết quả nêu trong luận
văn là trung thực. Tôi xin chịu trách nhiệm về tính xác
thực của nội dung luận văn này.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn

Vũ Xuân Thủy


5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HĐND

:

Hội đồng nhân dân

UBND

:

Ủy ban nhân dân

UBMTTQ


:

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa

CNH-HĐH

:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa


6

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...............................................................................................................1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CẤP XÃ ...................................................................................................7
1.1. Khái niệm, đặc điểm quản lý đội ngũ cán bộ. cơng chức cấp xã............7
1.2. Vai trị và ngun tắc quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.........21
1.3. Nội dung quản lý đội ngũ cán bộ , công chức cấp xã.....................................27
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,

CÔNG


CHỨC CẤP XÃ Ở HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN HIỆN NAY....36
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình đội ngũ cán bộ, cơng
chức cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên............................................36
2.2. Những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế
trong quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng
Yên ............................................................................................................42
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH
HƯNG YÊN HIỆN NAY..................................................................................67
3.1. Phương hướng tăng cường quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở
huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên hiện nay.....................................................67
3.2. Một số giải pháp tăng cường quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên hiện nay..................................................70
KẾT LUẬN.........................................................................................................87
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................90
PHỤ LỤC


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 80 năm qua, kể từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn quan tâm
và chăm lo đến công tác cán bộ, coi cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề trọng
yếu và then chốt. Sinh thời, Bác Hồ đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của
mọi công việc… công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay
kém” [45, tr.269, 273]. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhiều thế hệ cán bộ đã
được rèn luyện, cống hiến và trưởng thành, góp phần quan trọng vào thắng lợi
của sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây và sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ
quốc ngày nay. Vì vậy, Đại hội Đảng tồn quốc lần thứ VIII khẳng định:

“Đào tạo bồi dưỡng cán bộ toàn diện cả về lý luận chính trị, phẩm chất đạo
đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn, quan tâm đào tạo bồi dưỡng
cả cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, các nhà doanh nghiệp và các chuyên gia,
trước hết là đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị, coi trọng cả
đức và tài, đức là gốc” [26, tr.55].
Hiện nay, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước, tất yếu
phải đổi mới cán bộ và công tác cán bộ, đặc biệt là việc quy hoạch, đào tạo,
bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, cơng chức. Mức độ chính xác của
đường lối, chính sách và thành cơng của việc thực hiện đường lối, chính sách
ấy, cuối cùng tuỳ thuộc ở chất lượng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ. Giữa
cán bộ và đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng có mối liên hệ biện chứng.
Có cán bộ tốt mới có thể đề ra và tổ chức thực hiện tốt đường lối và nhiệm vụ
chính trị của Đảng và cũng chỉ có trên cơ sở đường lối nhiệm vụ đúng mới có
thể sản sinh ra đội ngũ cán bộ tốt.
Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) có vị trí rất quan trọng trong
hệ thống chính quyền 4 cấp của nước ta hiện nay; Cấp xã có chức năng bảo
đảm việc chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp


2

luật của nhà nước, quyết định của chính quyền nhà nước cấp trên, quyết định
và đảm bảo thực hiện các chủ trương, biện pháp để phát huy mọi khả năng và
tiềm năng của địa phương về các mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an
ninh, quốc phịng, khơng ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân và làm trọn nghĩa vụ của địa phương đối với nhà nước.
Thực tiễn cho thấy, nơi đâu có đội ngũ cán bộ, cơng chức cấp xã vững
mạnh thì nơi đó tình hình chính trị, xã hội ổn định; kinh tế, văn hóa phát triển;
quốc phịng, an ninh được giữ vững. Ngược lại, cơ sở nào đội ngũ cán bộ,
công chức không đủ phẩm chất, năng lực và uy tín thì địa phương đó sẽ gặp

khó khăn, kinh tế, xã hội chậm phát triển. Điều đó cho thấy, đội ngũ cán bộ,
cơng chức cấp xã có vai trị rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp
cách mạng và công cuộc đổi mới.
Nhận thức được tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã,
trong những năm qua, công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đã
được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền từ huyện
đến cơ sở. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Phù Cừ từng bước
được chuẩn hóa, trẻ hóa, có phẩm chất chính trị tốt, cơ bản đáp ứng được yêu
cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Tuy nhiên, công tác quản lý đội ngũ cán bộ, cơng chức cấp xã ở huyện
Phù Cừ có nơi, có lúc cịn mang tính tình thế, lỏng lẻo; việc đánh giá cán bộ
vẫn cịn tình trạng nể nang, x xoa dẫn đến cán bộ có tư tưởng thỏa mãn,
chưa nhận thức được khuyết điểm của mình để khắc phục sửa chữa; chính
sách đối với đội ngũ cán bộ, cơng chức cấp xã cịn nhiều bất cập...
Là cán bộ đang cơng tác tại Huyện ủy Phù Cừ, học viên nhận thức rõ
vai trị tầm quan trọng của cơng tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
ở huyện nên chọn đề tài "Quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện
Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên hiện nay ” làm luận văn thạc sĩ ngành Chính trị học,


3

chuyên ngành Quản lý xã hội. Qua đó, tác giả mong muốn góp phần cơng sức
nhỏ bé của mình để làm tốt hơn công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã ở huyện nhà trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những nội dung liên quan đến cơng tác cán bộ nói chung đã có khá nhiều
cơng trình nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau: xây dựng Đảng, luật học,
xã hội học... Các cơng trình nghiên cứu này đã được các tác giả công bố dưới
dạng đề tài khoa học, chuyên đề, luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ và các bài

đăng tải trên các tạp chí sách, báo...
Chẳng hạn như: PGS-TS Nguyễn Phú Trọng (chủ biên): “ Luận cứ
khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy
mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội 2001; PGS-TS Bùi Đình Phong: “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và
công tác cán bộ “, Nxb Lao động, Hà Nội 2002; GS-TS Hồng Chí Bảo (chủ
nhiệm) “ Nghiên cứu một số vấn đề nhằm củng cố và tăng cường hệ thống
chính trị ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển ở nước ta hiện nay “
(đề tài độc lập cấp nhà nước - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, kỷ
yếu khoa học tập I, II, III); tác giả Nguyễn Đặng “Chính sách, chế độ đối với
những cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn”, Bộ lao động thương binh và
xã hội, Nxb Lao động Thương binh Xã hội, Hà Nội 2004; TS Nguyễn Văn
Sáu và GS Hồ Vĩnh Thông (chủ biên) “Thực hiện quy chế dân chủ và xây
dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay”, Học viện chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2003; TS Nguyễn Minh Sản “
Pháp luật về cán bộ, cơng chức chính quyền cấp xã ở Việt Nam hiện nayNhững vấn đề lý luận và thực tiễn”, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội 2009.


4

Phan Công Khâm: “Quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vùng
nông thôn đồng bằng sông Cửu Long hiện nay” (luận án tiến sỹ 2000); Phan
Thuý Vân: “ Quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp phường ở tỉnh Cần Thơ
hiện nay – Thực trạng và giải pháp”, luận văn khoa học chính trị, 2005; Trần
Trung Trực; “ Quản lý đội ngũ cán bộ, công chức hệ thống chính trị cấp xã ở
huyện Bình Chánh, Tp Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay”, luận văn thạc sĩ
khoa học chính trị, 2005; Nguyễn Quang Huy: “ Quản lý đội ngũ cán bộ
thuộc diện Ban thường vụ huyện uỷ Tây Hồ, Tp Hà Nội quản lý trong giai
đoạn hiện nay”, luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, Hà Nội, 2006; ... Ngồi ra

cịn nhiều cơng trình, bài viết của các nhà nghiên cứu đăng tải trên các sách,
báo, tạp chí...
Như vậy, đã có nhiều tác giả nghiên cứu, đánh giá về quản lý đội ngũ
cán bộ, công chức ở các địa phương khác nhau trong cả nước. Nhìn chung,
trên những bình diện khác nhau, các tác giả đã nghiên cứu một cách cơ bản, đi
sâu, làm rõ và đưa ra những luận cứ khoa học cùng với những kinh nghiệm thực
tiễn nhằm củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở; nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hố hiện đại hố đất nước;
chu trình hoạch định chính sách và những quy định cụ thể về chính sách, chế độ
đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn... Đó là nguồn tư liệu q giá giúp
tơi kế thừa trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài của mình. Tuy nhiên chưa
có cơng trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về quản lý đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng n, đây là cơng trình
đầu tiên được thực hiện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng công tác
Quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên,


5

luận văn đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường Quản
lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên thời
gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận của Quản lý đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã.
- Phân tích, đánh giá thực trạng những kết quả đạt được và hạn chế, yếu
kém trong công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Phù

Cừ, tỉnh Hưng Yên hiện nay.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường công tác quản
lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh
Hưng Yên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu việc Quản lý đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên (bao gồm các chức danh theo Luật
cán bộ, công chức) từ năm 2006 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về
cán bộ, công chức và quản lý đội ngũ cán bộ, cơng chức trong hệ thống chính
trị ở cơ sở.


6

5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp như: nghiên cứu tài liệu, điều
tra xã hội học logic, lịch sử, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, tổng kết
kinh nghiệm thực tiễn... để phân tích những vấn đề đặt ra.
6. Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn
Luận văn làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng, đồng thời đề xuất
một số phương hướng, giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn công tác quả lý đội

ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên hiện nay.
Luận văn góp phần cung cấp cơ sở khoa học, giúp cán bộ lãnh đạo các
huyện trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, các cơ quan làm công tác tổ chức cán bộ
tham khảo rút kinh nghiệm trong quá trình quản lý đội ngũ cán bộ, cơng chức
cấp xã ở địa phương
Luận văn có thể có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,
giảng dạy của trường chính trị tỉnh và các trung tâm bồi dưỡng chính trị
huyện, thành phố của Hưng Yên và các địa phương khác.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.


7

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Khái niệm, đặc điểm quản lý đội ngũ cán bộ. công chức cấp xã
1.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức và quản lý đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã
1.1.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã
Cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)
là một bộ phận không thể thiếu trong đội ngũ cán bộ, công chức nước ta.
Mọi hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở đều do cán bộ, công chức cấp
xã thực hiện. Quan tâm đối với cán bộ, công chức của Đảng là sự quan tâm
tồn diện, khơng chỉ cán bộ, công chức cấp cao, lãnh đạo, quản lý; cán bộ,
công chức ở cấp trung ương, tỉnh, huyện mà cả cán bộ cơng chức bình
thường, đặc biệt là cán bộ, cơng chức ở cơ sở, xã, phường, thị trấn; Văn
kiện Đại hội IX của Đảng đã nhấn mạnh việc nâng cao phẩm chất, năng lực

của đội ngũ cán bộ, công chức, trong đó xác định: “Đẩy mạnh đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, cơng chức với chương trình nội dung sát hợp; chú trọng đội
ngũ cán bộ xã, phường”[27, tr.217], Nghị quyết Trung ương 5 - khoá IX
khẳng định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và
vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước,
công tâm thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham
nhũng, khơng ức hiếp; trẻ hố đội ngũ, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, giải
quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở” [17, tr.57] và tại
Nghị quyết Trung ương 6 - khoá X cũng đã xác định: “Thực hiện mạnh mẽ
chủ trương trẻ hoá, tiêu chuẩn hoá, thể chế hoá và từng bước nhất thể hoá


8

chức danh cán bộ; tạo bước chuyển có tính đột phá về xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức ở cơ sở”[18, tr.95].
Sự nhận thức đối với quan niệm về cán bộ, công chức cấp xã ở Việt
Nam cũng nằm trong sự vận động chung của quan niệm về cán bộ, công
chức Việt Nam qua từng thời điểm ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật. Bên cạnh đó, quan niệm về cán bộ, cơng chức cấp xã có những đặc thù.
Các quy định liên quan đến cán bộ, công chức cấp xã được điều chỉnh bởi
các văn bản như Quyết định số 112/HĐBT ngày 15/10/1981 quy định về
chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã; Thơng tư 477/TCCP ngày
10/12/1981 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 112/HĐBT ngày
15/10/1981; Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995 quy định về số lượng và
chế độ chính sách của cán bộ cơng tác Đảng, chính quyền, đồn thể ở cấp
xã; Thơng tư 97/TTLB/TCCP-BTC ngày 16/8/1995 hướng dẫn thực hiện
Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995. Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm
1998 không quy định cụ thể về cán bộ, công chức cấp xã mà chỉ quy định
chung về cán bộ, công chức. Trong các văn bản trên chỉ rõ những chức

danh, số lượng cán bộ công tác tại xã được hưởng sinh hoạt phí chứ khơng
nêu khái niệm về cán bộ và cơng chức cấp xã. Trải qua một thời gian tương
đối dài, lực lượng cán bộ, công chức cấp xã chưa được quan tâm đúng mức.
Năm 2003, Uỷ ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều
của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 mới quy định chung về cán bộ,
công chức cấp xã: Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân
Việt Nam, trong biên chế, bao gồm:
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng
uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị - x hội xã, phường, thị trấn;
- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn


9

nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã (Khoản 1, Điều 1, Pháp lệnh Cán
bộ, công chức năm 2003).
Mặc dù quy định trên cũng chưa phân định rõ quan niệm về cán bộ và
công chức cấp xã nhưng trên cơ sở tiêu chí chung để phân biệt giữa cán bộ
và công chức và Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về cán bộ,
cơng chức cấp xã thì chúng ta vẫn có thể xác định được những đối tượng là
cán bộ, công chức cấp xã. Cán bộ cấp xã bao gồm cán bộ chuyên trách và
không chuyên trách.
Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định cụ thể cán bộ và công
chức xã tại Điều 4 và Điều 61 và được cụ thể hóa bằng Nghị định số
92/2009/NĐ-CP, ngày 22/10/2009 của Chính phủ “Về chức danh, số lượng,
một số chế độ chính sách đối với cán bộ, cơng chức xã, phường, thị trấn và
những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã”; Nghị định số
112/2011/NĐ-CP, ngày 05/12/2011 của Chính phủ “Về công chức xã,
phường thị trấn”.

* Khái niệm cán bộ cấp xã
Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đưa ra khái niệm về cán bộ
như sau:
1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm

giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ
chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội;


10

Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:
a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;
b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
đ) Bí thư Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị
trấn có hoạt động nơng, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân
Việt Nam);
h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
*Khái niệm công chức cấp xã
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào

ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, qn nhân
chun nghiệp, cơng nhân quốc phịng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân
dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo,
quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công
lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp cơng lập thì lương được
bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức
danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.


11

Cơng chức cấp xã có các chức danh sau đây:
a) Trưởng Cơng an;
b) Chỉ huy trưởng Qn sự;
c) Văn phịng - thống kê;
d) Địa chính - xây dựng - đơ thị và môi trường (đối với phường, thị
trấn) hoặc địa chính - nơng nghiệp - xây dựng và mơi trường (đối với xã);
đ) Tài chính - kế tốn;
e) Tư pháp - hộ tịch;
g) Văn hóa - xã hội.
Cơng chức cấp xã do cấp huyện quản lý[48, tr.13-14].
Như vậy, khái niệm cán bộ, khái niệm cơng chức đã được luật hố.
Luật Cán bộ, công chức là cơ sở pháp lý cơ bản để phân định rõ giữa cán bộ
với công chức. Việc phân định rõ cán bộ, công chức đã tạo điều kiện thuận

lợi để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng các chính sách đối với cán
bộ, cơng chức một cách phù hợp, phát huy được vai trò quan trọng của đội
ngũ cán bộ, công chức Việt Nam trong hệ thống chính trị nói chung và đội
ngũ cán bộ, cơng chức cấp xã nói riêng.
1.1.1.2. Khái niệm quản lý và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
* Khái niệm quản lý
Từ xa xưa khi các hoạt động trong xã hội còn tương đối đơn giản với
quy mô chưa lớn, công tác quản lý được thực hiện trên cơ sở kinh nghiệm với
sự linh hoạt nhạy bén của người đứng đầu tổ chức. Kinh nghiệm ngày càng
phong phú và người ta rút ra được những điều mang tính quy luật có thể vận
dụng trong nhiều tình huống tương tự. Ngày nay hoạt động quản lý chủ yếu
dựa trên cơ sở khoa học; qua tổng kết khái quát từ thực tiễn sinh động để trở
thành khoa học quản lý.


12

Quản lý là một khái niệm có nội hàm xác định song lâu nay thường có
các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng thuật ngữ
khác nhau. Thực chất của quản lý là gì? (hoặc quản lý trước hết, chủ yếu là
gì? ) cũng có những quan niệm khơng hồn tồn giống nhau. Tuy nhiên với sự
phát triển của khoa học, quản lý đã cơ bản được làm sáng tỏ để có một cách
hiểu thống nhất.
Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các
cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực
hiện mục tiêu chung của tổ chức. Theo Từ điển Tiếng Việt, quản lý là “trông
nom, coi giữ” là “1. Trơng coi và giữ gìn theo những u cầu nhất định, 2. Tổ
chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [61, tr.303].
Theo nhà khoa học Mỹ F.Taylo, làm quản lý là bạn phải biết rõ muốn
người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ

làm. Nhà tư tưởng H.Fayol cho rằng, quản lý là một hoạt động mà mọi tổ
chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có; gồm 5 yếu tố tạo thành: kế
hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều hành và kiểm soát. Theo H.Koont, quản lý là
xây dựng và duy trì một mơi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách
hiệu quả mục tiêu đã định. P. Drucker khẳng định, suy cho cùng, quản lý là
thực tiễn. Bản chất của nó khơng nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm
chứng nó khơng nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là
thành tích. P.Dalark định nghĩa: Quản lý phải được giới hạn bởi mơi trường
bên ngồi nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh
nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công.
Theo các nhà nghiên cứu Việt Nam “quản lý là sự tác động có tổ chức,
có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu
đã đề ra”, là “một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các
chủ thể tác động lên các đối tượng bằng các công cụ và phương pháp khác


13

nhau, thơng qua quy trình quản lý nhất định, nhằm thực hiện một cách hiệu
quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi
trường”. [49, tr.92]
Như vậy, từ các cách tiếp cận trên, có thể thấy quản lý bao giờ cũng là
một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định, thể hiện mối quan hệ giữa hai
bộ phận (hay phân hệ) là chủ thể quản lý (là các cá nhân hoặc chủ thể quản lý
làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và khách thể quản lý (là bộ phận chịu sự
quản lý). Đó là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt
buộc. Trong nội dung quản lý, có thể xem xét phương pháp, quy trình, nguyên
tắc quản lý... tùy theo nhu cầu cần nhận thức và hoạt động thực tiễn.
* Khái niệm quản lý cán bộ, công chức cấp xã
Công tác quản lý cán bộ, công chức cấp xã là mối liên hệ giữa chủ thể

quản lý với khách thể quản lý, thể hiện ở việc chủ thể quản lý thường xuyên, chủ
động có các hoạt động tác động có định hướng vào khách thể quản lý- đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã. Tác động của chủ thể quản lý không diễn ra một cách
tự do mà có mục đích rõ ràng, đó là xây dựng cho Đảng và nhà nước một đội
ngũ cán bộ, công chức có đủ số lượng, chất lượng nhằm thực hiện tốt các nhiệm
vụ chính trị. Để quản lý đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ, cơng chức cấp xã nói
riêng có chất lượng thì phải qua nhiều khâu, nhiều cơng đoạn khác nhau, từ việc
xác định chủ trương, mục tiêu, đến việc xây dựng tiêu chuẩn, đánh giá, quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, thực hiện chính sách cán
bộ. Q trình đó được coi là quản lý đội ngũ cán bộ, công chức.
Quản lý cán bộ, công chức là công việc cơ bản trong công tác cán bộ do
chủ thể lãnh đạo, trước hết là do tập thể cấp uỷ và cá nhân người đứng đầu tổ
chức chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, nhằm tuyển chọn, đào tạo, bố trí sử
dụng, đánh giá và phát triển đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu của tổ chức và
xã hội trong quá trình thực hiện các mục tiêu đề ra.


14

Từ những nội dung nhận thức trên, quan niệm về quản lý đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã được hiểu là hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức
các hoạt động thực tiễn về công tác cán bộ của Ban Thường vụ Huyện ủy, Ủy
ban nhân dân huyện , của Đảng ủy- UBND xã đối với những cán bộ, công chức
đang công tác tại các xã, thị trấn, nhằm làm cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã có cơ cấu và số lượng hợp lý, có phẩm chất, năng lực và sức khỏe đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Quan niệm như trên thể hiện rõ chủ thể và khách thể của công tác quản
lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
1.1.2. Đặc điểm quản lý cán bộ, công chức cấp xã
1.1.2.1. Đặc điểm về chủ thể quản lý

Quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã được tiến hành bởi nhiều chủ
thể khác nhau. Chủ thể có quyền hạn cao nhất về mặt tổ chức trong công tác
quản lý cán bộ, công chức là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng thống nhất lãnh
đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách
nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị
về cơng tác cán bộ.
Theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ của Đảng thì các chức danh
cán bộ cấp xã như: Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND, Phó chủ tịch
HĐND, Chủ tịch UBND, Phó chủ tịch UBND, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ
quốc, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội
nông dân và Bí thư Đồn thanh niên thuộc quyền quản lý của Ban Thường vụ
Huyện ủy. Tập thể cấp uỷ và tổ chức đảng có thẩm quyền thảo luận dân chủ
và quyết định theo đa số những vấn đề về đường lối, chủ trương, chính sách,
đánh giá, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, khen thưởng,
kỷ luật cán bộ. Huyện ủy tiến hành quản lý cán bộ theo phân cấp quản lý bao
gồm các nội dung chính sau đây: Tuyển dụng, bố trí, phân cơng, điều động,


15

luân chuyển cán bộ, phân cấp quản lý cán bộ; Đánh giá cán bộ; Quy hoạch,
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; Bổ nhiệm miễn nhiệm cán bộ; Khen thưởng, kỷ
luật cán bộ; Thực hiện chế độ, chính sách cán bộ; Kiểm tra, giám sát công tác
cán bộ; giải quyết khiếu nại, tố cáo về cán bộ.
Ban tổ chức Huyện ủy là cơ quan tham mưu của huyện uỷ, trực tiếp và
thường xuyên là ban thường vụ, thường trực huyện uỷ về công tác tổ chức
xây dựng Đảng. Tham mưu về công tác cán bộ, công chức thuộc diện ban
thường vụ huyện uỷ quản lý; quản lý cán bộ, công chức, viên chức, người lao
động của các cơ quan đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đồn thể chính trị - xã
hội huyện theo phân cấp quản lý.

Uỷ ban nhân dân huyện do Hội đồng nhân dân huyện bầu là cơ quan
chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà
nước cấp trên.
Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn
bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng
cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội,
củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn.
Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp
phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà
nước từ trung ương tới cơ sở.
Để quản lý cán bộ, công chức cấp xã, Ủy ban nhân dân huyện tiến
hành lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và từng
bước thực hiện tiêu chuẩn hố cán bộ, cơng chức; Tổ chức việc thi tuyển hoặc
xét tuyển, quyết định tuyển dụng, điều động, miễn nhiệm, cho thôi việc công
chức cấp xã và quản lý công chức, hồ sơ công chức cấp xã theo hướng dẫn
của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Tổ chức việc thực hiện chế độ tiền lương và


16

các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức; Tổ chức việc bồi
dưỡng cán bộ, công chức; Quyết định khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ,
công chức; Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về cán bộ, công
chức; Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với cán bộ, công chức theo quy định
của pháp luật; Thống kê, đánh giá số lượng, chất lượng cán bộ, công chức
trong phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Phòng Nội vụ là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện là
cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc tuyển dụng,
sử dụng, điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, đánh giá; thực hiện chính sách,

đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức quản lý đối với cán
bộ, công chức, viên chức; Thực hiện việc tuyển dụng, quản lý công chức xã,
phường, thị trấn và thực hiện chính sách đối với cán bộ, cơng chức và cán bộ
không chuyên trách xã, phường, thị trấn theo phân cấp.
Theo Quy định số 95-QĐ/TW ngày 3-3-2004 của Ban Bí thư về chức
năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở xã có nhiệm vụ lãnh đạo cơng tác
tổ chức, cán bộ, cụ thể là : Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức
trong hệ thống chính trị, các đơn vị kinh tế, sự nghiệp ở cơ sở vững mạnh;
xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tích
cực tạo nguồn cán bộ tại chỗ, từng bước trẻ hoá đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã. Cấp ủy xây dựng quy chế về công tác tổ chức, cán bộ; nhận xét,
đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, đãi ngộ đối với cán
bộ thuộc quyền; quản lý và kiểm tra việc thực hiện chính sách đối với cán
bộ ở cơ sở theo phân cấp; giới thiệu người đủ tiêu chuẩn, có tín nhiệm trong
tổ chức đảng và nhân dân để bầu vào các chức danh chủ chốt của hội đồng
nhân dân, ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân theo
luật định và điều lệ của mỗi tổ chức. Cấp ủy đề xuất ý kiến trong việc lựa
chọn, giới thiệu cán bộ tham gia vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng, chính


17

quyền, đoàn thể nhân dân ở cấp trên và cán bộ chủ chốt ở cơ sở do cấp trên
quản lý.
Hội đồng nhân dân cấp xã trên cơ sở chức năng nhiệm vụ, xây dựng kế
hoạch giám sát hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức xã, thực hiện lấy
phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm theo quy định đối với các chức danh do
HĐND bầu hoặc phê chuẩn. Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp quản lý cán bộ,
công chức cấp xã và thực hiện các quy định về chế độ, chính sách; kế hoạch
đào tạo bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức; Đề nghị cơ quan, tổ chức cấp có

thẩm quyền khen thưởng cán bộ, công chức cấp xã theo thẩm quyền; Xem xét
và đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp huyện về kỷ luật và xử lý vi
phạm đối với công chức; Giải quyết việc khiếu nại, tố cáo đối với cán bộ,
công chức theo quy định của pháp luật; Thống kê số lượng, đánh giá chất
lượng và việc bố trí, sử dụng đội ngũ cơng chức.
Các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã, là những cơ quan, đơn vị trực
tiếp chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của đội ngũ cán bộ cấp xã, phải đưa ra ý kiến
đánh giá khách quan về năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cũng như hiệu
quả công tác của cán bộ thơng qua chính hiệu quả cơng tác của cơ quan, đơn
vị mình; theo dõi nắm tình hình dư luận đối với từng cán cán bộ, về ý kiến
của cán bộ, đảng viên nơi công tác và ý kiến của cán bộ, đảng viên, nhân dân
nơi cán bộ cư trú để tham mưu, báo cáo với cấp ủy và người đứng đầu có
thẩm quyền nhằm mục đích quản lý cán bộ, công chức được tốt hơn. Do vậy,
việc phát huy vai trị của nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội trong công
tác quản lý cán bộ, công chức là công việc thường xuyên, quan trọng của các
cấp ủy đảng, nhằm góp phần ngăn chặn các nguy cơ vi phạm của đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã trong giai đoạn hiện nay.
Chi bộ là tổ chức tế bào cơ bản của Đảng, là hạt nhân lãnh đạo chính
trị, là đơn vị chiến đấu ở cơ sở, là cầu nối trực tiếp giữa Đảng với quần chúng,


18

là trường học giáo dục, rèn luyện, kết nạp đảng viên, là nơi quản lý, phân
công, kiểm tra công tác và sàng lọc đảng viên. Mọi hoạt động của chi bộ
nhằm đảm bảo cho đường lối, chính sách của Đảng được quán triệt và thực
hiện một cách có hiệu quả ở cơ sở; đồng thời góp phần vào việc bổ sung,
hồn chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng bằng những kinh
nghiệm từ phong trào cách mạng của quần chúng từ cơ sở.
Bên cạnh đó, Chi bộ cịn tham gia quản lý cán bộ, công chức (là đảng

viên). Chi bộ thường xuyên cung cấp thông tin, nêu cao ý thức tự phê bình và
phê bình, động viên đảng viên nêu cao tinh thần say sưa tự học tập, rèn luyện
khơng ngừng nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt. Các chi bộ cần nắm
được diễn biến tư tưởng của cán bộ, công chức (cán bộ, công chức là đảng
viên), quan tâm động viên, giúp đỡ để đảng viên là cán bộ, cơng chức n tâm
cơng tác hồn thành tốt mọi nhiệm vụ. Đảng viên của Đảng dù ở cương vị nào
trong Đảng và trong bộ máy Nhà nước đều được sinh hoạt trong một chi bộ
và phải thực hiện các nghĩa vụ của người đảng viên, được hưởng các quyền
lợi do Điều lệ Đảng quy định.
Hàng năm, chi bộ có trách nhiệm kiểm điểm nhận xét đánh giá đảng
viên ( trong đó có đảng viên là cán bộ, công chức), đây là kênh thông tin quan
trọng để các cơ quan chủ quản quản lý cán bộ công chức đánh giá mức độ
hoan thành nhiệm vụ, phẩm chất đạo đức và năng lực công tác của cán bộ,
công chức.
1.1.2.2. Đặc điểm về khách thể quản lý
Khách thể của công tác quản lý cán bộ, cơng chức cấp xã chính là cán
bộ, công chức – các chức danh nêu trên. Những chức danh này sẽ chịu tác
động trực tiếp của hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý của cấp ủy, chính
quyền cùng cấp và cấp ủy, chính quyền cấp trên.


19

Quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là cơng việc khó khăn và vơ
cùng phức tạp. Bởi vì quản lý đội ngũ cán bộ, cơng chức cấp xã chính là quản
lý con người, là những người có trình độ chun mơn nhất định, có hiểu biết
về pháp luật, làm nhiệm vụ phục vụ nhân dân, phục vụ nhà nước. Nếu bản
thân khách thể quản lý là cán bộ, cơng chức có phẩm chất chính trị, phẩm chất
đạo đức tốt, có năng lực, trình độ chun mơn, nghiệp vụ thì cơng tác quản lý
có nhiều thuận lợi. Ngược lại, nếu cán bộ, công chức cấp xã không tự giác rèn

luyện, học tập để trau dồi và nâng cao phẩm chất chính trị, tu dưỡng và rèn
luyện phẩm chất đạo đức, năng lực trình độ chun mơn nghiệp vụ thì cơng
tác quản lý sẽ gặp nhiều khó khăn. Như vậy, khách thể của cơng tác quản lý
lại có vai trị chủ quan quyết định kết quả cơng tác quản lý đội ngũ cán bộ
cơng chức.
Nguồn hình thành cán bộ cấp xã rất đa dạng. Do cán bộ được bầu cử
từ các tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể
là nơi cung cấp nguồn cán bộ cho xã. Cũng xuất phát từ lý do trên nên cán
bộ xã thường xuyên biến động, thay đổi vị trí cơng tác do u cầu thực hiện
nhiệm vụ chính trị tại địa phương.
Trong thực tế, trình độ chun mơn của cán bộ khơng đồng đều.
Ngun nhân là do cán bộ hình thành từ cơ chế bầu cử nên tiêu chuẩn
chuyên môn chưa được chú ý đúng mức. Cán bộ Mặt trận và đồn thể chưa
có chuyên môn phù hợp. Tuy nhiên, do cán bộ được sự tín nhiệm nên được
giữ những trọng trách quan trọng mặc dù có thể chưa đủ tiêu chuẩn theo quy
định. Từ thực tế đó địi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải có kế hoạch
chuẩn hố lực lượng cán bộ này.
Công chức cấp xã phải thông qua tuyển dụng và phụ trách những lĩnh vực
công tác cụ thể nên nhìn chung có sự đảm bảo về tiêu chuẩn và tính ổn định
trong cơng tác. Tính ổn định của cơng chức cấp xã cao hơn so với cán bộ cấp xã.


×