Mục lục
I. TRẢ LỜI/ PHÂN TÍCH/ LÀM SÁNG TỎ CÁC VẤN ĐỀ SAU:................................3
I.
Cơ sở phát sinh quan hệ vợ chồng theo pháp luật?.................................................... 3
2. Nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ và chồng?......................................................... 3
Câu 3: Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với các giao dịch do một bên thực hiện?
Ý nghĩa của cơ chế?........................................................................................................... 4
4. Quan hệ đại diện giữa vợ và chồng?............................................................................. 4
5. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận?.............................................................. 5
6. Căn cứ và nguyên tắc xác định tài sản chung (tài sản pháp định) của vợ chồng? Phân
tích chế độ pháp lý về tải sản chung (tài sản pháp định) của vợ chồng............................8
Câu 7: Phân tích chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và
nêu quan điểm về chế định trong việc bảo vệ quyền về tài sản của vợ chồng................. 8
Câu 8: Căn cứ xác định và chế độ pháp lý về tài sản riêng (tài sản pháp định) của vợ
hoặc chồng? Quyền định đọat về tài sản riêng của vợ chồng? Pháp định hạn chế quyền
định đọat tài sản riêng của vợ chồng tại Khoản 4 Điều 44 LHNGĐ sửa đổi có trái với
nguyên tắc đảm bảo quyền định đọat về tài sản của con người? Cơ sở lý giải.............. 11
II. BÀI TẬP:......................................................................................................................15
2.1.
1. Hành vi đơn phương bán xe của ơng Khánh (có trái với quy định về quyền định
đoạt tài sản của vợ chồng quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 35 Luật HNGĐ?).......15
2. Lợi tức từ việc kinh doanh của doanh nghiệp K-D (thuộc sở hữu của ông Khánh
hay vợ chồng ông Khánh, bà Dung)............................................................................ 16
2.2.
2.3
1. Xác định có lý giải vợ của ông Anh theo quy định của pháp luật?...................... 18
2. Xác định di sản thừa kế của ông Anh và đối tượng được hưởng di sản thừa kế
của ông giả thiết có tranh chấp về thừa kế và tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án,
nhà số 11/8 tại xã K, Huyện LK, tỉnh HB do ông Anh đứng tên; được định giá 3 tỷ
đồng...............................................................................................................................18
III. Đọc phần trích bản án số 98/2016/HNGĐ-PT Ngày 26/7/2016 của TAND cấp cao tại
Hà Nội (đính kèm) và trên cơ sở pháp lý, anh (chị) hãy:................................................... 19
*Tóm tắt Bán án số 98/2016/HNGĐ-PT Ngày 26/7/2016 của TAND cấp cao tại Hà Nội:
19
1. Đánh giá phán quyết của Tòa án sơ thẩm:.................................................................. 20
2. Tòa án phúc thẩm trong bản án số 98/2016/HNGĐ-PT ngày 26/7/2016 đãđánh giá,
xác định nhà đất thửva số 2, tờ bản đồ số 9.1 tọa lạc tại 11A Nguyễn Văn Cừ, xã Lộc
An, thành phố Nam Định dựa trên căn cứ nào? Theo anh, chị, nhà, đất được tạo lập
trong khoản thời gian ông Tân, bà Hằng ly thân, do 1 bên đứng tên và có tranh chấp thì
bên nào có nghĩa vụ chứng minh?................................................................................... 21
3. Trên cơ sở pháp lý, hãy cho biết đường lối của Tòa án khi giải quyết lại theo thủ tục
chung phần tranh chấp tài sản là nhà đất 11A, giả thiết:.................................................22
2
I. TRẢ LỜI/ PHÂN TÍCH/ LÀM SÁNG TỎ CÁC VẤN ĐỀ SAU:
I. Cơ sở phát sinh quan hệ vợ chồng theo pháp luật?
Quan hệ vợ chồng theo pháp luật phát sinh do kết hôn (hoặc sống chung) được pháp
luật hôn nhân và gia đình quy định gồm quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản mang
tính bình đẳng và gắn với nhân thân vợ chồng.
2. Nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ và chồng?
- Thứ nhất, căn cứ phát sinh quan hệ giữa vợ và chồng là sự kiện kết hơn theo đó
quyền và nghĩa vụ phát sinh giữa vợ và chồng được xác lập. Quyền và nghĩa vụ nhân
thân, tài sản được xác lập khi hôn nhân đó được nhà nước thừa nhận theo Luật hơn
nhân và gia đình 2014. Đặc điểm của quyền và nghĩa vụ này là:
+ Quyền và nghĩa vụ gắn liền với nhân thân mỗi chủ thể, không thể chuyển dịch cho
người khác
+ Quyền và nghĩa vụ nhân thân trong nhiều trường hợp chi phối quyền và nghĩa vụ về
tài sản
- Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng thể hiện mỗi liên hệ tình cảm giữa vợ và
chồng
Điều 19 Luật hơn nhân và gia đình 2014 quy định về tình nghĩa vợ chồng:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tơn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp
đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận
khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”
Nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm, chăm sóc nhau được điều chỉnh bằng các
nguyên tắc đạo đức, truyền thống và theo phong tục, tập quán của người Việt Nam rồi
sau đó được nâng dần lên thành luật. Vi phạm những quy tắc đạo đức chỉ bị xã hội lên
án, vi phạm các quy tắc pháp luật sẽ bị xử phạt theo quy định.
- Thứ ba, các quyền và nghĩa vụ nhân thân thể hiện tính dân chủ, bình đẳng giữa vợ,
chồng:
+ Vợ, chồng có quyền bình đẳng trong việc lựa chọn chỗ ở, nơi cư trú theo Điều 20
Luật hôn nhân và gia đình 2014: “Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng
thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới hành chính.”
3
+ Vợ, chồng có quyền bình đẳng trong việc lựa chọn tín ngưỡng: Vợ, chồng có nghĩa
vụ tơn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau
+ Vợ chồng cịn có quyền bình đẳng trong việc lựa chọn việc làm, tham gia vào công
tác xã hội theo quy định tại Điều 23 Luật hôn nhân và gia đình: “Vợ, chồng có quyền,
nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ
văn hóa, chun mơn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội.”
Câu 3: Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với các giao dịch do một bên thực
hiện? Ý nghĩa của cơ chế?
Vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp
ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc giao dịch khác phù hợp về đại diện trong các
trường hợp sau:
Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo
quy định của Luật Hôn nhân gia đình, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan
phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.
Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có
đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ
trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền,
nghĩa vụ có liên quan.
Trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan
hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó. Khi
đó giao dịch do vợ hoặc chồng thực hiện theo ý định, mong muốn của cả hai vợ chồng
Trường hợp đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao
dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận
quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng. Mọi giao dịch liên quan đến tài sản
chung này đều do hai vợ chồng chịu trách nhiệm.
Như vậy, vợ hoặc chồng phải chịu liên đới về giao dịch do một bên thực hiện khi nó
thuộc một trong hai trường hợp sau:
Trường hợp 1: Giao dịch đó phải hợp pháp và mục đích của giao dịch đáp ứng nhu
cầu thiết yếu của gia đình. Nhu cầu thiết yếu được hiểu là nhu cầu sinh hoạt thông
thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông
thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình
Trường hợp 2: Giao dịch hợp pháp và phù hợp với quy định về đại diện giữa vợ
chồng.
Ý nghĩa: bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên có yêu cầu
4. Quan hệ đại diện giữa vợ và chồng?
- Để phát sinh quan hệ đại diện giữa vợ và chồng thì phải do kết hơn (sống chung),
được pháp hơn nhân gia đình thừa nhận.
4
- Đại diện giữa vợ chồng gồm hai hình thức đại diện:
Đại diện theo ủy quyền:
Khoản 2 điều 24 Luật Hơn nhân và gia đình quy định:
“Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch
mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan
phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.”
Theo quy định này, việc đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng chỉ áp dụng
khi xác lập, thực hiện, chấm dứt một số giao dịch nhất định theo quy định của
pháp luật. Đó là những giao dịch bắt buộc phải có sự đồng ý của vợ chồng
nhưng một bên không thể trực tiếp tham gia giao dịch thì có thể uỷ quyền cho
người cịn lại thực hiện giao dịch đó. Ví dụ như trường hợp đại diện giữa vợ
chồng trong quan hệ kinh doanh hoặc trường hợp giấy chứng nhận quyền sở
hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ
hoặc chồng.
Đại diện theo pháp luật:
Về đại diện theo pháp luật, khoản 3 điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 quy định về căn cứ xác lập quan hệ đại diện cho nhau giữa vợ và chồng.
Một người bị tuyên là mất NLHVDS: bên còn lại nếu đủ điều kiện làm dám hộ
(điều kiện giám hộ điều 49 BLDS 2015) thì có tư cách đại diện, trừ trường hợp
đại diện trong ly hôn.
Một người bị tuyên là hạn chế NLHVDS (điều 24 BLDS 2015) bên còn lại là
người đại diện nếu được tòa án chỉ định.
Một người bị khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi (điều 23 BLDS 2015)
bên còn lại là đại diện nếu được tòa án chỉ định làm người giám hộ.
Đại diện đương nhiên (loại trừ trường hợp đại diện theo ủy quyền điều 24
LHNGĐ):
Vợ chồng cùng kinh doanh hoặc bằng văn bản thỏa thuận dùng tài sản chung
vào kinh doanh thì bên trực tiếp kinh doanh là người đại diện (điều 25,36
LHNGĐ).
Vợ chồng đứng tên tài khoản ngân hàng, chứng khoán, động sản khơng phải
đăng ký thì người đứng tên, người đang chiếm hữu là người đại diện (điều 32
LHNGĐ).
5. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận?
Căn cứ pháp luật.
– Luật hơn nhân và gia đình năm 2014;
5
– Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Luật Hôn nhân và gia đình.
Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận.
Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014 bổ sung quy định về các nguyên tắc chung trong
áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng. Khoản 1 điều 28 Luật hơn nhân và gia đình năm
2014 quy định: “1. Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định
hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận”
Mỗi chế độ tài sản đều có ưu và nhược điểm khác nhau:
– Nếu lựa chọn chế độ tài sản theo luật định thì việc thiết lập chế độ này khơng cần
làm bất kì thủ tục nào, pháp luật đã dự liệu từ trước về căn cứ, nguồn gốc, thành phần
các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng
đối với từng loại tài sản đó; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ
chồng; phương thức thanh toán liên quan tới các khoản nợ chung hay nợ riêng của vợ,
chồng. Tuy nhiên, nhược điểm của chế độ này là tài sản giữa vợ chồng khơng có sự
phân định rõ ràng.
– Nếu lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì tài sản của vợ chồng sẽ rạch rịi hơn,
bên cạnh đó trong thời kỳ hơn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung
một phần hoặc toàn bộ nội dung của chế độ tài sản đó hoặc áp dụng chế độ tài sản theo
luật định.
Thủ tục xác lập chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận như sau:
– Việc thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng phải được lập trước khi kết hôn
– Thỏa thuận này phải được lập thành văn bản có cơng chứng hoặc chứng thực
– Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết
hôn.
Nội dung của văn bản thỏa thuận chế độ tài sản vợ chồng phải bao gồm:
– Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng. Có thể thỏa
thuận về xác định tài sản theo một trong các nội dung sau đây:
Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;
Giữa vợ và chồng khơng có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ,
chồng có được trước khi kết hơn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản
chung.
6
Giữa vợ và chồng khơng có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có
được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của
người có được tài sản đó.
Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng.
– Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có
liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;
– Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;
– Nội dung khác có liên quan.
Các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu:
Điều 50 Luật hơn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tịa án tun bố vơ hiệu khi thuộc
một trong các trường hợp sau đây:
a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân
sự và các luật khác có liên quan;
b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;
c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được
thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia
đình”
Quyền sửa đổi, bổ sung của chế độ tài sản của vợ chồng:
Căn cứ vào Điều 17 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và
biện pháp thi hành Luật Hơn nhân và gia đình:
“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì
trong thời kỳ hơn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung một phần hoặc
toàn bộ nội dung của chế độ tài sản đó hoặc áp dụng chế độ tài sản theo luật định.
2. Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng phải được
công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật”
Hậu quả của việc sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng
7
– Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực từ
ngày được cơng chứng hoặc chứng thực. Vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người
thứ ba biết về những thông tin liên quan theo quy định tại Điều 16 của Nghị định này.
– Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm việc sửa đổi, bổ sung chế độ tài
sản của vợ chồng có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa
thuận khác.
6. Căn cứ và nguyên tắc xác định tài sản chung (tài sản pháp định) của vợ chồng?
Phân tích chế độ pháp lý về tải sản chung (tài sản pháp định) của vợ chồng.
Căn cứ xác định: thời kì hơn nhân.
Ngun tắc xác định: suy đốn pháp lý.
Nguồn tài sản chung:
- Tài sản hợp pháp: vợ chồng tạo ra do lao động, sản xuất, kinh doanh, hoa
lợi, lợi tức từ tải sản chung, tài sản riêng. Tài sản được thừa kế chung, tăng
cho chung. Quyền sử dụng đất có sau kết hơn.
- Thu nhập từ tài sản hợp pháp khác, tài sản riêng có thỏa thuận chung.
(Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31-12-2014).
Đăng kí quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản chung: Điều 34 LHNGĐ 2014,
Điều 12 Nghị định 126/2014 ngày 31-12-2014.
- Tài sản chung đăng kí: quyền sử dụng đất động sản phải đăng kí, chứng
nhận quyền sở hữu ghi tên hai vợ chồng (trừ có thỏa thuận khác).
- Giao dịch đối với tài sản chung mà chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử
dụng chỉ ghi tên một bên thì phải đảm bảo quy định về đại diện.
Phân tích chế độ pháp lý về tải sản chung (tài sản pháp định) của vợ chồng:
Điều 35 LHNGĐ 2014, Điều 13 Nghị định 126/2014 ngày 31-12-2014.
- Định đoạt tài sản phải có thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng:
- Bất động sản/ động sản phải đăng kí quyền.
- Tài sản đang là nguồn thu nhập chủ yếu.
- Yêu cầu tuyên giao dịch vơ hiệu nếu vi phạm.
Câu 7: Phân tích chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
và nêu quan điểm về chế định trong việc bảo vệ quyền về tài sản của vợ chồng.
Chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân:
- Chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân quy định tại điều
38 Luật HNGĐ 2014
“1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc tồn
bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu khơng thỏa
thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
8
2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được
công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tịa án giải quyết việc chia tài sản
chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.”
Nguyên tắc và phương thức chia: vợ chồng có quyền thỏa thuận (quy định tại
điều 47 Luật HNGĐ) chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung hoặc cầu tịa án
giải quyết.
Hình thức chia tài sản chung của vợ chồng: Thỏa thuận chia tài sản chung của
vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân bắt buộc là văn bản và được công chứng theo
yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật, trong trường hợp vợ,
chồng u cầu thì tịa án giải quyết như chia tài sản khi ly hơn.
Thời điểm có hiệu lực của chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kì hơn nhân tại điều 39 quy định
“1. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ
chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời
điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.
2. Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên
quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của
vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy
định.
3. Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản
chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tịa án có hiệu lực pháp luật.
4. Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời
điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên
có thỏa thuận khác.”
Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân:
Quan hệ nhân thân: Tiếp tục tồn tại.
Quan hệ tài sản: Phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản
riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác. Phần tài sản cịn lại không chia vẫn là tài sản
chung của vợ chồng (Điều 40 Luật HNGĐ năm 2014).
Chấm dứt hiệu lực của chia tài sản chung của vợ chồng tại điều 41 quy định
9
“1. Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hơn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận
chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Hình thức của thỏa thuận được thực
hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 38 của Luật này.
2. Kể từ ngày thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này có hiệu lực thì
việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được thực hiện theo quy định
tại Điều 33 và Điều 43 của Luật này. Phần tài sản mà vợ, chồng đã được chia vẫn
thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
3. Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc
chia tài sản chung vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
4. Trong trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện
theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tịa án thì thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của
việc chia tài sản chung phải được Tịa án cơng nhận.”
Quan điểm về chế định trên trong việc bảo vệ quyền về tài sản của vợ chồng
Ưu điểm
Việc chia tài sản chung trong thời kì hơn nhân là một giải pháp để loại bỏ các
mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lí, sử dụng, định đoạt tài sản. Tài sản
chung của vợ chồng theo qui định pháp luật phải được quản lí theo sự nhất trí
của hai người, định đoạt theo sự thỏa thuận của hai người mà hai người thì
khơng phải bao giờ cũng có thể nhất trí về cách quản lí của nhau, bằng lịng về
cách định đoạt tài sản của nhau và như thế thì chắc chắn sẽ có mâu thuẫn phát
sinh, mâu thuẫn đó khiến cho việc dịch chuyển tài sản bị chậm lại, có khi bị
ngừng lại gây bất lợi cho kinh tế gia đình. Cịn việc định đoạt tài sản thuộc sở
hữu cá nhân thì khơng cần có sự nhất trí, sự bằng lịng của nhau, chính vì vậy
mà việc chia tài sản chung sẽ là một giải pháp để loại bỏ các mâu thuẫn trong
quản lí, sử dụng và định đoạt tài sản.
Bên cạnh đó, quy định việc chia tài sản trong thời kì hơn nhân đề cao sự bình
đẳng giữa vợ chồng, cho phép mỗi người định đoạt phần tài sản của mình theo
ý chí riêng, ngồi ra cịn bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ - vốn thường được
coi là thiếu tiếng nói trong gia đình đặc biệt là với vấn đề tài sản.
10
Việc pháp luật cho phép chia tài sản chung trong thời kì hơn nhân cũng góp
phần làm hạn chế tỉ lệ li hôn bởi xét trên thực tế, rất nhiều mối quan hệ hôn
nhân mang đậm chất kinh tế và li hơn vì mâu thuẫn trong định đoạt tài sản.
Chia tài sản chung trong thời kì hơn nhân nếu đã thỏa thuận về chế độ tài sản
trước khi kết hơn cịn có thể giảm mâu thuẫn, giúp việc phân chia tài sản đơn
giản và hiểu quả hơn khi tránh được việc quyền lợi của người này trở thành bất
lợi của người kia.
Ngoài ra chia tài sản chung trong thời kì hơn nhân giúp đảm bảo được quyền
lợi của người thứ ba ngay tình khi lợi ích kinh tế của họ gắn liền với sự thống
nhất của cả vợ chồng, sau khi chia tài sản chung, những giao kết của họ với vợ
hoặc chồng vẫn có thể được đảm bảo tiếp tục mà không vướng phải sự cản trở
của bên kia.
Nhược điểm:
Việc chia tài sản chung trong thời kì hơn nhân chưa thực sự được nhiều người
biết đến và áp dụng ngoài thực tế, hoặc việc chia tài sản trong thời kì hơn nhân
có thể vướng vào các dị nghị khơng đáng có bổi xã hội chúng ta vẫn cịn chịu
một ít ảnh hưởng từ tư tưởng cũ: “Chuyện nhà đóng của bảo nhau”.
Có thể ảnh hưởng đến quan hệ hôn nhân thuần túy vốn đề cao sự hợp nhất,
đồng lòng, tin tưởng và chung thủy với đơi bên. Việc q rạch rịi trong kinh tế,
phân định “của anh”, “của tơi” có thể dẫn đến việc thực dụng hóa một mối quan
hệ thiêng liêng trong xã hội là hôn nhân.
Câu 8: Căn cứ xác định và chế độ pháp lý về tài sản riêng (tài sản pháp định) của vợ
hoặc chồng? Quyền định đọat về tài sản riêng của vợ chồng? Pháp định hạn chế
quyền định đọat tài sản riêng của vợ chồng tại Khoản 4 Điều 44 LHNGĐ sửa đổi có
trái với nguyên tắc đảm bảo quyền định đọat về tài sản của con người? Cơ sở lý giải
Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, trừ
trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà
hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì
việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thoả thuận của cả vợ chồng.
Căn cứ xác định: điều 43 luật HNGĐ 2014.
11
Tài sản mỗi người có trước khi kết hơn;
Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;
Tài sản được chia từ tài sản chung theo định tại các điều 38, 39 và 40 Luật HNGĐ năm
2014;
Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của
pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng;
Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng;
Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng có sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân mà các bên khơng có thỏa thuận khác.
Chế độ pháp lý đối với tài sản riêng: Điều 44 Luật HNGĐ năm 2014
(cơ sở pháp lí: điều 44 luật hơn nhân gia đình 2014)
Chế độ pháp lý đối với tài sản riêng: Điều 44 Luật HNGĐ năm 2014
Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng; nhập hoặc
không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
Vợ hoặc chồng khơng thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền
cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó theo ngun tắc
bảo đảm lợi ích của người có tài sản.
Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh tốn từ tài sản riêng của
người đó.
Hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của vợ, chồng là nguồn sống duy nhất của gia
đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của bên còn lại.
Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung: Tài sản được nhập mà pháp
luật quy định giao dịch liên quan đến tài sản phải tuân theo hình thức nhất định
thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng
đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ
chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (Điều 46).
Vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình. Mặt khác,
họ cũng có thể thỏa thuận về việc sử dụng tài sản riêng của mỗi bên sao cho có thể
khai thác tốt nhất giá trị sử dụng của tài sản. Tuy nhiên, để đảm bảo cuộc sống
chung của gia đình, giữ gìn truyền thống u thương, chăm sóc giữa các thành viên
gia đình thì quyền tự định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng có thể bị hạn chế. Theo
đó, tài sản riêng của vợ chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ
tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó
phải được sự đồng ý, thỏa thuận của vợ chồng. Theo đó khoản 4 điều 44 luật
HNGĐ hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng trong trường hợp tài sản
riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì phải có sự đồng thuận của chồng
12
vợ là không trái với nguyên tắc về quyền định đoạt tài sản của con người bởi để xây
dựng một cuộc hơn nhân đúng nghĩa thì người ta phải tạm gác lại quyền lợi của cá
nhân và chấp nhận chia sẻ với gia đình của mình để duy trì mối quan hệ hôn nhân
đúng nghĩa, và điều này cũng được quy định trong điều 19 luật HNGĐ 2014, cho
thấy việc san sẻ quyền lợi của cá nhân nói chung và quyền về tài sản nói riêng cho
gia đình là chính xác và không trái với nguyên tắc đảm bảo quyền định đoạt về tài
sản của con người.
Câu 9: Phân tích quyền bình đẳng về tài sản của vợ chồng. Đánh giá thực tiễn áp
dụng pháp luật với việc đảm bảo quyền bình đẳng về tài sản của vợ chồng hiện
nay
Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình 2014 đã ghi nhận chế độ
tài sản theo thỏa thuận bên cạnh chế độ tài sản theo luật định, đây là một bước tiến
trong lập pháp, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của hai bên về tài sản khi kết hôn. Đồng
thời, việc thừa nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận trong hơn nhân cũng góp phần phản
ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội cũng như ý chí tiến bộ của nhà nước đương thời,
mở rộng phạm vi điều chỉnh của pháp luật, tức là dù các bên trong quan hệ hơn nhân
có chọn chế độ tài sản nào thì vẫn nằm trong sự dự đoán của các nhà lập pháp và trong
tầm kiểm soát của nhà nước.
Dù áp dụng chế độ tài sản theo luật định hay thỏa thuận đều phải tuân thủ các nguyên
tắc như: đảm bảo quyền bình đẳng của vợ chồng, đảm bảo lợi ích chung của gia đình
và đảm bảo quyền lợi của người thứ ba ngay tình.
Các quyền về tài sản của vợ chồng:
Tài sản chung: vợ chồng có quyền chiếm hữu, định đoạt, sử dụng tài sản chung với
dưới sự thỏa thuận.
Tài sản riêng:
Quyền chiếm hữu: Vợ, chồng tự quản lý tài sản riêng. Trong trường họp
vợ hoặc chồng khơng thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy
quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó.
Quyền sử dụng: Vợ, chồng có quyền sử dụng tài sản của mình để đáp ứng
các nhu cầu cá nhân hoặc thỏa thuận cùng sử dụng tài sản riêng của mỗi
bên nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình. Vì lợi ích chung của gia
đình, pháp luật quy định trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng
không đủ để đảm bảo đời sống chung của gia đình thì người có tài sản
riêng phải có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng của mình để phục vụ nhu
cầu chung của gia đình. Những tài sản đã chi dùng cho gia đình thì người
có tài sản khơng được quyền địi lại.
Quyền định đoạt: về nguyên tắc, vợ, chồng có quyền tự mình định đoạt tài
sản riêng mà khơng phụ thuộc vào ý chí của người kia. Tuy nhiên, quyền
13
định đoạt tài sản riêng của vợ hoặc chồng có thể bị hạn chế trong trường
hợp hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của
gia đình thì muốn định đoạt tài sản đó phải có sự thoả thuận của cả vợ và
chồng.
Pháp luật đang hướng đến việc bình đẳng hóa về các quyền tài sản của vợ và chồng
(khoản 1 điều 29 luật HNGĐ) biểu hiện ở việc trao cho cả người vợ và người chồng
những quyền và nghĩa vụ về tài sản ngang nhau. Tuy nhiên việc áp dụng vào thực tế
vẫn cịn nhiều khó khăn do chuyện có một mối quan hệ bình đẳng tuyệt đối trong thực
tế là gần như khơng thể nếu năng lực tài chính, tâm lí của đơi bên có chênh lệch. Hơn
nữa, có một số nơi vẫn còn ảnh hưởng bởi quan niệm cũ, cho rằng người phụ nữ phụ
thuộc vào đàn ơng, gây khơng ít khó khăn trong việc áp dụng quyền bình đẳng về tài
sản của vợ chồng trong thực tế.
14
II. BÀI TẬP:
2.1.
Ơng Khánh và bà Dung kết hơn năm 2008
Năm 2016, vợ chồng họ lập văn bản thỏa thuận sử dụng 5 tỷ đồng để thành lập
doanh nghiệp tư nhân K – D kinh doanh ô tô. Theo đăng ký ông Khánh là người
đứng tên chủ sở hữu doanh nghiệp.
Năm 2017, ông Khánh lập hợp đồng bán hai chiếc ô tô hiệu Toyota Altis cho ông
Tuấn (chú ruột ông Khánh). Một tháng sau, cho rằng xe được bán với giá rẻ
không hợp lý cũng như giao dịch giữa ông Khánh và ông Tuấn trái với quy định
về quyền định đoạt tài sản của vợ chồng, bà Dung tìm đến văn phòng luật sư yêu
cầu tư vấn để bảo vệ quyền lợi về tài sản.
1. Hành vi đơn phương bán xe của ơng Khánh (có trái với quy định về quyền định
đoạt tài sản của vợ chồng quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 35 Luật HNGĐ?)
Hành vi đơn phương bán xe của ông Khánh đã trái với quy định về quyền định đoạt tài
sản của vợ chồng quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 35 Luật HNGĐ: “2. Việc định
đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những
trường hợp sau đây:
a) Bất động sản;
b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.”
- Điều 33 luật HNGĐ 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau: “1. Tài
sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt
động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp
pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40
của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và
tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ
chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có
được thơng qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm
nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp khơng có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có
tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”
- Theo điều 35 Luật HNGĐ 2014:
“1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.
2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng
trong những trường hợp sau đây:
15
a) Bất động sản;
b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.”
Từ điều 33 và điều 35 Luật HNGĐ 2014, mọi giao dịch liên quan đến các tài sản này
thì đều phải được nhận được sự thỏa thuận đồng ý của 2 bên. Tuy nhiên trong trường
hợp này ông Khánh đã tự ý bán 2 chiếc xe ô tô cho chú ruột của mình mà chưa thỏa
thuận qua với bà Dung và cũng không tồn tại văn bản nào. Nếu ơng Khánh muốn bán
thì phải có sự thỏa thuận bằng văn bản giữa ông và bà Dung hoặc giấy ủy quyền của
bà Dung vì đây là tài sản chung. Do đó hành vi đơn phương bán xe của ơng Khánh đã
trái quy định tại điểm b khoản 2 điều 35 Luật HNGĐ
2. Lợi tức từ việc kinh doanh của doanh nghiệp K-D (thuộc sở hữu của ông Khánh
hay vợ chồng ông Khánh, bà Dung)
Trả lời: Lợi tức từ việc kinh doanh của doanh nghiệp K-D thuộc sở hữu của vợ chồng
ông Khánh, bà Dung theo khoản 1 điều 33 Luật Hơn Nhân Gia đình năm 2014, thì tài
sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ chồng tạo ra, nên hoa lợi, lợi tức phát sinh từ
hoạt động kinh doanh đó thuộc sở hữu chung của vợ chồng ông Khánh, bà Dung (lập
văn bản thỏa thuận sử dụng 5 tỷ đồng để thành lập doanh nghiệp K-D).
2.2.
Ông Lưu và bà Tâm kết hôn năm 1983. Năm 1984, mẹ đẻ ông Lưu lập “văn
tự” tặng cho ông Lưu ngôi nhà diện tích 140 m2 tại xã HN, huyện B, tỉnh KL.
Tháng 2.1985, theo ý chí của mẹ, ơng Lưu làm thủ tục kê khai và đứng tên chủ sở
hữu nhà.
Tháng 11. 2014, ông Lưu đến địa phương khác cư trú và cưới bà Túy. Hai người
có con ni chung là Mỹ Yến, sinh năm 2008. Tài sản chung của ông Lưu, bà Túy
(được tặng chung) là 16 chỉ vàng 9999.
Năm 2016, ông Lưu và bà Tâm chia một phần tài sản trong thời kỳ hôn nhân.
Theo văn bản được công chứng, phần động sản chung của ông Lưu, bà Tâm (hiện
do bà Tâm quản lý) trị giá 2 tỷ được chia đôi, mỗi người sở hữu 1 tỷ.
Năm 2019, ông Lưu chết không để lại di chúc.
Căn cứ pháp luật hơn nhân gia đình và pháp luật dân sự, anh (chị) hãy xác định
di sản của ông Lưu và đối tượng được hưởng di sản của ông biết rằng: i) Sau khi
chia tài sản chung, ông Lưu sử dụng tiền được chia gửi ngân hàng. Tại thời điểm
ông Lưu chết, tổng số tiền gốc và lãi được xác định là 1 tỷ 200 triệu đồng; ii) Ông
Lưu, bà Tâm khơng có thoả thuận khác khi chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân.
Giả sử việc kết hôn của các đương sự trong tình huống là đúng quy định về mặt hình
thức đăng ký kết hơn.
(1) Ơng Lưu và bà Tâm kết hơn năm 1983, có tài sản là phần động sản chung.
16
(2) Tháng 11/2014, ông Lưu đến địa phương khác cư trú và kết hơn với bà Tùy có
con chung là Mỹ Yến tài sản chung của ông Lưu và bà Túy (được tặng chung)
16 chỉ vàng 9999.
Trong thời gian diễn ra sự kiện kết hôn vào tháng 11/2014 giữa ông Lưu và bà Tùy là
không đúng với quy định của pháp luật hơn nhân và gia đình củ thể là theo khoản 2
điều 4 luật hơn nhân và gia đình năm 2000 (điểm c khoản 2 điều 5 LHNGD 2014),
trong thời điểm kết hôn này, ông Lưu đã tồn tại quan hệ vợ chồng hợp pháp đối với bà
Tâm. Nên quan hệ vợ chồng của ông lưu và bà túy là trái với pháp luật hơn nhân gia
đình dẫn đến hệ quả là không công nhận hôn nhân giữa bà tùy và ông lưu.
Giải quyết vấn đề tài sản chung là 16 chỉ vàng 9999. Bởi vì tài sản này được tặng
chung nên theo khoản 2 điều 209 BLDS 2015 quy định về tài chung theo phần, ta sẽ
chia mỗi người một nữa tức 8 chỉ vàng một người.
Giải quyết vấn đề về con chung theo khoản 2 điều 68 luật hơn nhân gia đình năm 2014
“Con sinh ra khơng phụ thuộc vào tình trạng hơn nhân của cha mẹ đều có quyền và
nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình được quy định tại Luật này, Bộ luật dân
sự và các luật khác có liên quan.” Nên con chung của chung của ông Lưu và bà Tùy
sẽ được đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp trong trường hợp này, đó chính là được
xác định vào hàng thừa kế thứ nhất trong việc chia di sản thừa kế của ông Lưu theo
pháp luật.
(3) Năm 2016, ông Lưu và bà Tâm đã thỏa thuận chia tài sản là phần động sản phát
sinh trong thời kì hơn nhân trị giá 2 tỷ được chia đôi, mỗi người sở hữu 1 tỷ.
Xác định di sản của ông Lưu là: 1,2 tỷ (tổng số tiền gốc và lãi do trước đó ơng
gửi ngân hàng) và 8 chỉ vàng 9999.
Xác định đối tượng thừa kế:
Việc ông lưu chết không để lại di chúc, nên ta chia thừa kế theo pháp luật.
Theo điều 650, điều 651 BLDS 2015. Xác định người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là
bà Tâm (vợ hợp pháp) và và Mỹ Yến (con của ông Lưu).
Mỗi người sẽ được hưởng số di sản bằng nhau là:
Bà tâm: 600 triệu và 4 chỉ vàng.
Mỹ Yến: 600 triệu và 4 chỉ vàng.
Ngồi ra các bản có thể xem thêm AL41/2021 cũng đã giải quyết vấn đề có tình huống
tương tự nhưng phức tạp hơn.
2.3
Năm 1952, ông Anh sống chung như vợ chồng với bà Nga. Hai người không có
con chung.
17
Năm 1954, ơng Anh tiếp tục cưới bà Lành. Ơng Anh, bà Lành có con ni chung
là Túy.
Năm 1988, ơng Anh kết hôn với bà Nhung. Con chung của họ là Thắm, Hùng.
Ông Anh, bà Lành, bà Nhung cùng chung sống tại nhà số 11/8 xã K, Huyện LK,
tỉnh HB. Nhà này là tài sản mà ông Anh được thừa kế riêng năm 1953. Năm 2014,
bà Nhung và ông Anh sử dụng 72 triệu đồng - số tiền có được từ việc bán 18 chỉ
vàng mà hai người được mừng cưới để nâng cấp, cải tạo nhà số 11/8.
Năm 2015, ông Anh chết không để lại di chúc.
Anh, chị hãy:
1. Xác định có lý giải vợ của ơng Anh theo quy định của pháp luật?
Năm 1952, ông Anh sống chung như vợ như chồng với bà Nga, thời điểm này vẫn
chưa có luật u cầu cần đăng kí kết hơn nên việc ông bà làm vợ chồng được thừa
nhận. Vậy, ông Anh và bà Nga dù không có con chung và khơng đăng kí kết hơn
nhưng vẫn được thừa nhận là vợ chồng hợp pháp.
Năm 1954, ông Anh cưới bà Lành, lúc này luật 1959 vẫn chưa có hiệu lực, pháp luật
cũ vẫn thừa nhận hôn nhân đa thê, vậy nên việc ông Anh tiếp tục cưới bà Lành dù đã
có vợ là bà Nga vẫn được coi là hợp pháp. Vậy nên bà Lành được thừa nhận là vợ của
ông Anh.
Năm 1988, ông Anh kết hôn với bà Nhung. Trong trường hợp này ơng Anh dù có đăng
kí kết hơn với bà Nhung hay khơng thì hơn nhân của hai người cũng khơng được thừa
nhận. vì thời điểm này là lúc luật hơn nhân và gia đình năm 1986 đã có hiệu lực, chỉ
cơng nhận hơn nhân một vợ một chồng, trong khi đó ơng Anh đã được xác định có mối
quan hệ vợi chồng với hai người phụ nữ khác (không đề cập đến việc họ đã qua đời),
vậy ông không đủ điều kiện để kết hôn với bà Nhung, bà Nhung không được thừa
nhận là vợ của ông Anh.
2. Xác định di sản thừa kế của ông Anh và đối tượng được hưởng di sản thừa
kế của ông giả thiết có tranh chấp về thừa kế và tại thời điểm Tòa án giải
quyết vụ án, nhà số 11/8 tại xã K, Huyện LK, tỉnh HB do ông Anh đứng tên;
được định giá 3 tỷ đồng.
Căn nhà nói trên do ông Anh đứng tên trị giá 3 tỉ đồng, được sửa chữa bằng 72 triệu
đồng (tiền bán 18 tỉ vàng mừng cưới của ông Anh với bà Nhung)
Bà Nhung không được thừa nhận là vợ hợp pháp với ông Anh nên sẽ được trả lại số tài
sản được đóng góp (1/2 của 72 triệu)
3 tỉ - 72 triệu = 2.928.000.000
Di sản của ông Anh là: 2.928.000.000/3 = 976.000.000 VNĐ (coi ngôi nhà này là tài
sản chung, chia cho 2 người vợ hợp pháp của ông Anh là bà Nga và bà Lành mỗi
người một phần)
18
Đối tượng được hưởng di sản: bà Nga, bà Lành, Túy, Thắm, Hùng.
III. Đọc phần trích bản án số 98/2016/HNGĐ-PT Ngày 26/7/2016 của TAND cấp cao
tại Hà Nội (đính kèm) và trên cơ sở pháp lý, anh (chị) hãy:
1. Đánh giá phán quyết của Tòa án sơ thẩm (thể hiện trong Bản án Hơn nhân và
Gia đình sơ thẩm số 34/2015/HNGĐ-ST ngày 17/9/2015 của TAND tỉnh Nam
Định) về việc xác định quyền sở hữu tài sản là nhà, đất thửa số 2, tờ bản đồ số 9.1
tọa lạc tại 11A Nguyễn Văn Cừ, xã Lộc An, thành phố Nam Định.
2. Tòa án phúc thẩm trong bản án số 98/2016/HNGĐ-PT ngày 26/7/2016 đãđánh
giá, xác định nhà đất thửa số 2, tờ bản đồ số 9.1 tọa lạc tại 11A Nguyễn Văn Cừ,
xã Lộc An, thành phố Nam Định dựa trên căn cứ nào? Theo anh, chị, nhà, đất
được tạo lập trong khoản thời gian ông Tân, bà Hằng ly thân, do 1 bên đứng tên
và có tranh chấp thì bên nào có nghĩa vụ chứng minh?
3. Trên cơ sở pháp lý, hãy cho biết đường lối của Tòa án khi giải quyết lại theo
thủ tục chung phần tranh chấp tài sản là nhà đất 11A, giả thiết:
- Thửa đất được nhận chuyển nhượng bằng số tiền 350.000.000 đồng – khoản tài
sản do bà Hằng tạo lập khi đi lao động tại Hàn Quốc và số tiền cịn thiếu
(33.000.000 đồng) thì vay em trai là ông Lê Duy Hùng đúng như lời khai của bà
Hằng tại phiên tịa phúc thẩm trước đó;
- Nhà trên đất được xây dựng với mục đích kinh doanh karaoke, từ nguồn tiền
của vợ chồng ông Tân, bà Hằng là 1.500.000 đồng, có sự góp vốn của ơng Tuấn
Anh và ông Hùng là 1.500.000 đồng. Tại thời điểm giải quyết tranh chấp, nhà
định giá 4.000.000 đồng.
*Tóm tắt Bán án số 98/2016/HNGĐ-PT Ngày 26/7/2016 của TAND cấp cao tại Hà Nội:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu Hằng.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thành Tân.
Nội dung:
Bà Hằng và ông Tân đăng ký kết hơn 20/10/1992, có 2 con chung là cháu Thuận (sinh
ngày 28/12/1992), và cháu Hồng Anh (sinh ngày 15/10/2005). Năm 2005, do phát sinh
mâu thuẫn nên hai người đã sống ly thân. Đến nay do thấy hôn nhân không hàn gắn
được, bà Hằng đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hơn. Về nhà đất 3/52 Phan Đình Giót,
bà Hằng khơng u cầu Tịa giải quyết. Nhà đất 11A Nguyễn Văn Cừ, mang tên bà
Hằng và ông Tân nhưng bà Hằng cho rằng đây là tài sản riêng của bà.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
19
Đình chỉ giải quyết nhà đất 3/52 Phan Đình Giót.
Giao bà Hằng quyền sở hữu, sử dụng nhà đất và tồn bộ trang thiết bị phịng hát
karaoke tạo lạc tại 11A Nguyễn Văn Cừ.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Hủy phần giải quyết về tài sản của Bản án sơ thẩm là nhà đất
tại 11A Nguyễn Văn Cừ để giải quyết lại theo thủ tục chung, vì Tịa phúc thẩm nhận
định cần xác minh làm rõ:
Nguồn tiền chuyển nhượng đất và lí do giấy chứng nhận quyền sở hữu đất lại có
tên của ơng Tân.
Tiền xây nhà do ai bỏ ra, ơng Tân có biết hợp đồng góp vốn giữa bà Hằng, ơng
Tuấn Anh và ơng Hùng khơng; lý do vì sao việc xây nhà lại có sự giúp đỡ của
anh trai ông Tân trong khi bà Hằng khai việc xây nhà là thực hiện hợp đồng góp
vốn, khơng liên quan đến ơng Tân vì thời điểm đó hai người đã sống ly thân.
Như vậy có nhiều vấn đề chưa được làm rõ cần cho đối chất, xác minh làm rõ các vấn
đề nêu trên mới có đủ cơ sở xác định thửa đất tại số 11A Nguyễn Văn Cừ nêu trên là
tài sản riêng của bà Hằng hay tài sản chung vợ chồng; cơng sức đóng góp của các bên
trong trường hợp xác định thửa đất nêu trên là tài sản chung vợ chồng; căn nhà xây
dựng bằng nguồn tiền của ai, mục đích xây dựng, mới có cơ sở xác định chủ sở hữu
căn nhà.
1. Đánh giá phán quyết của Tòa án sơ thẩm:
- Phán quyết của Tòa án sơ thẩm về việc xác định quyền sở hữu tài sản là nhà, đất thửa
số 2, tờ bản đồ số 9.1 tọa lạc tại 11A Nguyễn Văn Cừ, xã Lộc An, thành phố Nam
Định là:
“Giao cho bà Lê Thị Thu Hằng quyền sở hữu, sử dụng khu nhà đất tại thửa số 2, tờ bản
đồ số 9.1 và tồn bộ trang thiết bị phịng hát Karaoke theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số BA 852187 do Ủy ban nhân dân thành phố Nam Định cấp ngày 20/4/2010
tọa lạc tại 11A Nguyễn Văn Cừ, xã Lộc An, thành phố Nam Định.”
- Phán quyết trên của Tòa án là chưa hợp lí. Vì:
Theo quy định của pháp luật, thời kì hơn nhân là thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng,
được tính từ ngày đăng kí kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân tức ngày quyết định ly
hơn của Tịa án có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, mặc dù năm 2005 vợ chồng bà Hằng, ông Tân đã ly thân nhưng quan hệ hôn
nhân giữa hai người vẫn tồn tại hợp pháp. Vì thế tài sản là thửa đất tại số 11A Nguyễn
20
Văn Cừ nêu trên được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang tên cả vợ, chồng.
Theo quy định tại Điều 33, Điều 43 LHNGĐ 2014 quy định về tài sản chung và tài sản
riêng của vợ chồng thì thửa đất trên được coi là tài sản chung của vợ chồng. Vì thực tế
thửa đất nêu trên khơng phải là tài sản được tặng cho hay thừa kế riêng, mà do bà
Hằng đứng ra nhận chuyển nhượng.
Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lý do thửa đất được tạo lập trong thời kỳ ông Tân
và bà Hằng ly thân và ông Tân cùng Luật sư của ông Tân khơng đưa ra được chứng cứ
chứng minh ơng Tân có gửi tiền về mua đất cùng bà Hằng để bác yêu cầu của ông Tân
xác định đất là tài sản chung vợ chồng, khi chưa làm rõ các nội dung nêu trên là chưa
đủ căn cứ vì chưa được đánh giá tồn diện các tình tiết khách quan của vụ án.
2. Tòa án phúc thẩm trong bản án số 98/2016/HNGĐ-PT ngày 26/7/2016 đãđánh giá,
xác định nhà đất thửva số 2, tờ bản đồ số 9.1 tọa lạc tại 11A Nguyễn Văn Cừ, xã Lộc
An, thành phố Nam Định dựa trên căn cứ nào? Theo anh, chị, nhà, đất được tạo lập
trong khoản thời gian ông Tân, bà Hằng ly thân, do 1 bên đứng tên và có tranh chấp
thì bên nào có nghĩa vụ chứng minh?
_ Tịa án phúc thẩm trong bản án số 98/2016/HNGĐ-PT ngày 26/7/2016 đã đánh giá,
xác định nhà đất thửa số 2, tờ bản đồ số 9.1 tọa lạc tại 11A Nguyễn Văn Cừ, xã Lộc
An, thành phố Nam Định dựa trên căn cứ:
- Đối với thửa đất tại số 11A Nguyễn Văn Cừ: bà Hằng phải chứng minh được thửa
đất nêu trên là nhận chuyển nhượng bằng tiền riêng của mình.
Cần xác minh làm rõ về nguồn tiền nhận chuyển nhượng đất; việc kê khai, đăng ký có
tên cả ơng Tân, bà Hằng hay một mình bà Hằng vì thực tế giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất có cả tên bà Hằng, ơng Tân.
- Đối với căn nhà trên đất:
Việc xây nhà trên đất cần phải xác minh, làm rõ những vấn đề: tiền xây nhà do ai bỏ ra,
ơng Tân có biết Hợp đồng góp vốn giữa bà Hằng, ơng Tuấn Anh, ơng Hùng khơng; lý
do vì sao việc xây nhà lại có sự giúp đỡ của anh trai ông Tân, trong khi bà Hằng khai
việc xây nhà là thực hiện hợp đồng góp vốn, khơng liên quan đến ơng Tân vì thời điểm
đó hai người đã sống ly thân, khơng cịn quan tâm đến nhau.
Tòa án phúc thẩm đã đánh giá, xác định tài sản dựa trên: các chứng cứ về nguồn
tiền nhận chuyển nhượng đất, việc kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất, cũng như việc
xây dựng nhà trên đất cịn có nhiều vấn đề chưa được làm rõ, cần cho đối chất, xác
minh làm rõ các vấn đề nêu trên mới có đủ cơ sở xác định thửa đất tại số 11A Nguyễn
Văn Cừ nêu trên là tài sản riêng của bà Hằng hay tài sản chung vợ chồng; cơng sức
đóng góp của các bên trong trường hợp xác định thửa đất nêu trên là tài sản chung vợ
21
chồng; căn nhà xây dựng bằng nguồn tiền của ai, mục đích xây dựng, mới có cơ sở xác
định chủ sở hữu căn nhà.
_ Nhà, đất được tạo lập trong khoản thời gian ông Tân, bà Hằng ly thân, do một bên
đứng tên và có tranh chấp thì bên đứng tên có nghĩa vụ chứng minh là nhà, đất đó
được mua bằng tài sản riêng của mình để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên
đứng tên. Cịn nếu khơng có căn cứ chứng minh thì nhà, đất đó sẽ được xác định là tài
sản chung của vợ chồng theo khoản 3 Điều 33 LHNGĐ 2014: “3. Trong trường hợp
khơng có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản
riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”
3. Trên cơ sở pháp lý, hãy cho biết đường lối của Tòa án khi giải quyết lại theo thủ
tục chung phần tranh chấp tài sản là nhà đất 11A, giả thiết:
- Thửa đất tại số 11A Nguyễn Văn Cừ do bà Hằng đứng ra nhận chuyển nhượng của
ơng Hồng Tuấn được tạo lập trong thời kỳ hơn nhân và đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang tên cả vợ, chồng. Tại Điều 33 Luật Hơn nhân và gia đình năm
2014 quy định: “Tài sản chung vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra... Quyền sử
dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung vợ chồng, trừ trường
hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thơng qua
giao dịch bằng tài sản riêng.... Trong trường hợp khơng có căn cứ chứng minh tài sản
mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi
là tài sản chung”. Thực tế thửa đất nêu trên không phải là tài sản được tặng cho hay
thừa kế riêng, mà do bà Hằng đứng ra nhận chuyển nhượng. Và theo giả thuyết trên bà
Hằng chuyển nhượng bằng số tiền do bà Hằng tạo lập khi đi lao động tại Hàn Quốc và
vay em trai số tiền còn thiếu. Như vậy, ơng Tân khơng đóng góp cơng sức trong việc
mua thửa đất nêu trên. Vậy nên, theo Điều 33 Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014,
quyền sử dụng đất của thửa đất số 11A Nguyễn Văn Cừ thuộc quyền sở hữu của bà
Hằng.
- Đối với nhà trên đất được xây dựng với mục đích kinh doanh karaoke, từ nguồn tiền
của vợ chồng ông Tân, bà Hằng là 1.500.000 đồng, có sự góp vốn của ơng Tuấn Anh
và ông Hùng là 1.500.000 đồng. Tại thời điểm giải quyết tranh chấp, nhà định giá là
4.000.000 đồng. Do tỉ lệ góp vốn ban đầu giữa vợ chồng ơng Tân, bà Hằng với ông
Tuấn Anh, ông Hùng là 50:50 nên khi giải quyết tranh chấp vợ chồng ông Tân, bà
Hằng sẽ được chia 2.000.000 đồng. Vì đây là tài sản chung của vợ chồng nên theo
Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì việc giải quyết tài sản do các bên
thỏa thuận, nếu khơng thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nguyên tắc,
tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng xét đến các yếu tố khác trong việc
duy trì, tạo lập và hồn cảnh gia đình để đảm bảo quyền lợi của các bên. Vì vậy, nếu
bà Hằng muốn sở hữu căn nhà này thì phải thanh tốn cho ơng Tuấn Anh, ông Hùng
2.000.000 đồng và ông Tân số tiền tương ứng với phần ông Tân nhận được sau khi
phân chia tài sản chung của hai vợ chồng.
22
23