TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
KHOA LUẬT HÌNH SỰ
MƠN HỌC: LUẬT DÂN SỰ.
MỤC LỤC
VẤN ĐỀ 1: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG.................................... 3
Câu hỏi: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên.3
VẤN ĐỀ 2: SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG.........5
Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong
giao kết hợp đồng?......................................................................................................... 6
Câu 2: Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển
nhượng trong tình huống trên có thuyết phục khơng? Vì sao?..................................... 6
VẤN ĐỀ 3: ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC.....8
Câu 1: Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015
và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu:......................................................... 9
Câu 2: Thời hiệu u cầu Tịa án tun bố vơ hiệu hợp đồng do đối tượng không thể
thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?...................................................10
Câu 3: Tồ án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng khơng thể thực
hiện được có thuyết phục khơng? Vì sao?................................................................... 11
VẤN ĐỀ 4: XÁC LẬP HỢP ĐỒNG CĨ GIẢ TẠO VÀ NHẰM TẨU TÁN TÀI SẢN:
..........................................................................................................................................13
*Đối với vụ việc thứ nhất:........................................................................................ 13
Câu 1: Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch:...................................................... 13
Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng?
Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì?............................................... 14
Câu 3: Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che
giấu:.............................................................................................................................. 14
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp
đồng bị che giấu........................................................................................................... 15
* Đối với vụ việc thứ hai:......................................................................................... 15
Câu 1: Vì sao Tồ án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông
Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu?............................ 15
Câu 2: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Toà án (giả tạo để trốn tránh
nghĩa vụ)?..................................................................................................................... 16
Câu 3: Cho biết hệ quả của việc Toà án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm
trốn tránh nghĩa vụ....................................................................................................... 16
VẤN ĐỀ 1: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
Câu hỏi: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề
trên.
(1) Bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định
của Điều 400 BLDS 2015;
Đây là một giao kết bằng hình thức văn bản, theo khoản 4 Điều 400 BLDS 2015: “Thời
điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay
bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản…” Tòa án nhận định chưa
khách quan, trên thực tế là D đã có hành vi gửi chấp nhận giao kết hợp đồng cho bên
đề nghị “Tháng 1 năm 2020 và tháng 2 năm 2020, D đã gửi cho A và B chấp nhận đề
nghị giao kết hợp đồng của mình nhưng D khơng chứng minh được đã gửi chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng cho C (C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị
giao kết của D).” Hành vi này đã được thực hiện, có thể D đã gửi chấp nhận đề nghị
giao kết nhưng vì lí do khách quan nào đó chưa đến được tay C hoặc D quên gửi cho C.
Qua đó thấy được D đã có động thái gửi chấp nhận đề nghị kết luận trên là chưa chính
xác.
(2) Chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều
394 BLDS 2015:
Đây là một giao kết bằng hình thức văn bản, trong tình huống khơng đề cập đến vấn đề
giao kết có quy định thời hạn trả lời chấp nhận của bên có đề nghị hay không, nên ta sẽ
xem xét vấn đề là giao kết khơng có quy định thời hạn trả lời. Theo khoản 1 Điều 394
BLDS 2015:
“Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực
khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được
trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên
chậm trả lời.
Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực
nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý.”
3
Như vậy, việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn
hợp lý, Bộ luật dân sự chỉ nói là thời hạn hợp lý, nhưng như thế nào là thời hạn hợp lý
thì Bộ luật dân sự lại không đề cập đến. Thiết nghĩ khơng quy định thời hạn thì ta dựa
vào ý của bên đề nghị để xem xét một cách khách quan. Trong tình huống trên các chủ
thể tham gia đề nghị giao kết với D đã có hành động cụ thể như sau: “Tháng 1 năm
2018, A (pháp nhân), B (cá nhân) và C (cá nhân) gửi cho D một đề nghị giao kết hợp
đồng (là điều khoản về phương thức giải quyết tranh chấp, bằng văn bản và có chữ ký
của cả 3 chủ thể).” Thông qua hành động cả 3 chủ thể là A, B và C đã ký vào văn bản
đó, ta có thể nhận thấy rằng cả 3 chủ thể mong muốn được xác lập giao kết này. Hướng
giải quyết trên của Tịa án q nóng vội chưa dựa trên ý chí mong muốn của các bên
chủ thể tham gia vào giao kết.
(3) Chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới:
Hướng giải quyết chưa thỏa đáng.
Tòa án đã áp dụng vội vàng khoản 1 Điều 394 BLDS 2015: “…nếu bên đề nghị giao
kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi
là đề nghị mới của bên chậm trả lời...” Bởi lẽ trong đề nghị giao kết của các bên không
quy định rõ thời hạn trả lời chấp nhận giao kết nên việc xác định bên đề nghị giao kết
hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời là rất khó xác định “Khi bên đề
nghị khơng nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được
thực hiện trong một thời hạn hợp lý.” Vì “thời hạn hợp lý” BLDS đề cập đến cịn rất
mơ hồ. Xét về mặt ý chí các bên mong muốn tham gia vào giao kết thông qua các hành
động như: A, B và C ký vào văn bản đề nghị giao kết, D cũng có hành động là gửi trả
lời chấp nhận đề nghị. Tòa án nên xem xét kỹ là các bên có thỏa thuận cho giao kết này
có hiệu lực trên thực tế khơng, như vậy thể mới thể hiện được tinh thần của Luật dân
sự.
4
VẤN ĐỀ 2: SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
*Tóm tắt Án lệ số 04/2016/AL về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất”; “Định đoạt tài sản chung của vợ chồng”; “Xác lập quyền sở hữu theo
thỏa thuận”. Án lệ được Hội đồng Thẩm phán Tịa án nhân dân tối cao thơng qua
ngày 06/4/2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Bà Kiều Thị Tý, ông Chu Văn Tiến (nguyên đơn) khởi kiện ông Lê Văn Ngự (bị đơn)
về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” tại thành phố Hà
Nội.
- Khái quát nội dung của án lệ:
“Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên kí
hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người cịn lại khơng kí tên trong
hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa
thuận, người khơng kí tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng
nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất có cơng
khai; người khơng kí tên trong hợp đồng biết mà khơng có ý kiến phản đối gì thì phải
xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất.”
- Cụ thể, được thể hiện dưới bản án, được tóm tắt như sau:
“Về hợp đồng mua bán nhà, đất ngày 26/04/1996: Việc chuyển nhượng nhà, đất diễn ra
từ năm 1996, sau khi mua nhà, đất, ông Tiến, bà Tý đã trả đủ tiền, nhận nhà đất, tôn
nền đất, sửa lại nhà và cho các cháu đến ở. Trong khi đó, gia đình ơng Ngự, bà Phấn
vẫn ở trên diện tích cịn lại, liền kề với nhà ơng Tiến, bà Tý. Theo lời khai của các
người con ông Ngự, bà Phấn thì sau khi bán nhà, đất cho vợ chồng bà Tý, ông Ngự, bà
Phấn đã phân chia vàng cho các người con. Mặt khác, sau khi chuyển nhượng và giao
nhà đất cho ơng Tiến, bà Tý thì ngày 26/4/1996, ơng Ngự cịn viết “giấy cam kết” có
nội dung mượn lại phần nhà đất đã sang nhượng để ở khi xây dựng lại nhà trên phần
đất còn lại và trong thực tế vợ chồng bà Phấn, ông Ngự đã sử dụng phần nhà đất của bà
Tý ông Tiến khi xây dựng nhà. Như vậy có cơ sở xác định bà Phấn biết việc có chuyển
nhượng nhà, đất giữa ông Ngự và vợ chồng ông Tiến và bà Tý, bà Phấn đã đồng ý,
5
cùng thực hiện nên việc bà Phấn khiếu nại cho rằng ông Ngự chuyển nhượng nhà đất
cho vợ chồng bà Tý bà khơng biết là khơng có căn cứ.”
Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong
giao kết hợp đồng?
Theo khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 về Thời điểm giao kết hợp đồng dân sự:
“2. Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận
được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết”.
BLDS 2005 xem im lặng trong giao kết là một sự trả lời chấp nhận giao kết.
Theo khoản 2 Điều 393 BLDS 2015 về Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:
“2. Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết
hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các
bên”.
BLDS 2015, im lặng không được coi là một sự trả lời chấp nhận đề nghị giao kết
hợp đồng. Im lặng được xem là chấp nhận giao kết hợp đồng chỉ là một ngoại lệ, được
áp dụng với điều kiện đó là trong hoàn cảnh được các bên thỏa thuận hoặc theo thói
quen đã được các bên xác lập trước đó.
BLDS 2015 quy định cụ thể vấn đề này nhằm hạn chế những trường hợp phát sinh
tranh chấp khơng đáng có từ việc im lặng. Đồng thời, việc điều chỉnh này giúp mở
rộng phạm vi, đối tượng điều chỉnh, phù hợp với thói quen, tập quán giao kết hợp đồng,
mua bán hàng hóa.
Câu 2: Việc Tịa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để cơng nhận hợp đồng chuyển
nhượng trong tình huống trên có thuyết phục khơng? Vì sao?
- Việc Tịa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng
trong tình huống của bà Chu, ơng Bùi với ông Văn là thuyết phục.
- Án lệ 04/2016/AL liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, còn tình huống trên liên
quan đến việc định đoạt tài sản là tài sản sở hữu chung của các thành viên trong gia
đình, nhưng Tịa án vẫn áp dụng Án lệ này vì:
6
+ Tài sản trong cả hai vụ việc đều thuộc sở hữu chung hợp nhất, được quy định tại
Điều 210 BLDS 2015.
+ Ở hai vụ việc đều có tình tiết: các chủ sở hữu chung còn lại đều biết việc chuyển
nhượng nhà đất nhưng thời điểm đó khơng ai có ý kiến gì. Sau một thời gian vì một lí
do nào đó, các chủ sở hữu chung này lại yêu cầu Tịa án tun bố giao dịch chuyển
nhượng vơ hiệu vì chưa có sự đồng ý của họ.
- Hướng giải quyết của Tòa án: trong trường hợp nhà đất là tài sản chung mà có người
đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng cho người khác, những người cịn lại khơng có
ký tên trong hợp đồng nhưng có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số
tiền theo thỏa thuận, những người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng
tiền chuyển nhượng nhà đất. Bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý,
đồng thời cũng sử dụng một cách công khai qua việc: “Năm 2004, ông Văn đã xây
dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng, các bên làm thủ tục chuyển nhượng để ông
Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình bà Chu, ơng Bùi khơng
ai có ý kiến gì”. Có thể thấy Người khơng ký tên trong hợp đồng này đã biết mà khơng
có ý kiến phản đối thì được xác định là người đó đã đồng ý với việc chuyển nhượng
nhà đất.
7
VẤN ĐỀ 3: ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC
Điều 401. Hình thức hợp đồng dân sự 2005
1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi
cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một
hình thức nhất định.
2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản
có cơng chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tn theo các quy
định đó.
Hợp đồng khơng bị vơ hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.
Điều 408. Hợp đồng vơ hiệu do có đối tượng khơng thể thực hiện được
1. Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng khơng thể thực hiện được
thì hợp đồng này bị vô hiệu.
2. Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng
có đối tượng khơng thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên
bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp
bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng khơng thể thực hiện được.
3. Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp
hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng khơng thể thực hiện được nhưng phần còn
lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.
Điều 411. Hợp đồng dân sự vơ hiệu do có đối tượng khơng thể thực hiện được
1. Trong trường hợp ngay từ khi ký kết, hợp đồng có đối tượng khơng thể thực hiện
được vì lý do khách quan thì hợp đồng này bị vơ hiệu.
2. Trong trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp
đồng có đối tượng không thể thực hiện được, nhưng không thông báo cho bên kia biết
nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường
hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng khơng thể thực hiện
được.
8
3. Quy định tại khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có
một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được, nhưng phần cịn lại của hợp
đồng vẫn có giá trị pháp lý.
Câu 1: Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS
2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu:
Bộ luật dân sự 2015 đã khắc phục một số bất cập trong áp dụng vào thực tế của
bộ luật dân sự 2005 về vấn đề hợp đồng vơ hiệu do có đối tượng khơng thực
hiện được.
-
“kí kết” với “giao kết”:
Điều 411 BLDS 2015 đặt vấn đề hợp đồng có đối tượng khơng thể thực hiện được sẽ bị
vơ hiệu ngay từ khi kí kết, điều đó đồng nghĩa với việc điều luật này chỉ chi phối
những hợp đồng được hình thành bằng văn bản, trong khi đó trong chính bộ luật này,
Điều 401 BLDS 2015 quy định hình thức hợp đồng có khẳng định: “1. Hợp đồng dân
sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp
luật khơng quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất
định”. Vậy những hợp đồng được hình thành theo phương thức khác sẽ được giải
quyết thế nào nếu có đối tượng khơng thể thực hiện được thì luật này chưa đề cập đến.
Điều 408 BLDS 2015 thay từ “kí kết” bằng “giao kết”, mở rộng phạm vi điều chỉnh
của luật, tức mọi phương thức thành lập hợp đồng hợp pháp đều được chi phối bởi luật
này nếu trong hợp đồng có đối tượng khơng thực hiện được. Thay đổi này là hồn tồn
chính xác, khắc phục được khuyết điểm của BLDS 2005.
- Bỏ cụm từ “vì lí do khách quan”:
Khoản 1 Điều 411 BLDS 2005 chấp nhận hợp đồng vô hiệu do có đối tượng khơng thể
thực hiện được vì lí do khách quan (động đât, lũ lụt, ...). Tuy nhiên cũng có trường hợp
hợp đồng khơng thể thực hiện được vì lí do chủ quan, nhưng lại khơng thể xử vơ hiệu
vì vướng yếu tố này trong luật. Nếu hợp đồng không vô hiệu nhưng không thể thực
hiện sẽ phải xử lí như thế nào thì vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng trong trường hợp
này.
BLDS 2015 đã bỏ yếu tố “vì lí do khách quan”, thừa nhận hợp đồng có thể bị vơ hiệu
do có đối tượng khơng thể thực hiện được cả vì lí do chủ quan lẫn khách quan. Thay
9
đổi này là vơ cũng hợp lí, thừa nhận lí do chủ quan hay khách quan không ảnh hưởng
đến hiệu lực hợp đồng mà chỉ ảnh hưởng đến trách nhiệm mà các bên phải chịu.
-
Thay đổi cụm từ “giá trị pháp lý” thành “hiệu lực”:
Hợp đồng vô hiệu sẽ là hợp đồng khơng có giá trị pháp lí, nhưng hợp đồng khơng có
giá trị pháp lí chưa chắc đã vơ hiệu, đó có thể là hợp đồng chưa kí kết hoặc đã hết hiệu
lực. Vậy nên BLDS 2015 thay thế cụm từ “giá trị pháp lí” bằng hiệu lực sẽ bao quát và
thực tế hơn.
Tuy nhiên cũng có các vấn đề mà BLDS 2015 chưa giải thích được rõ ràng như:
nếu trong hợp đồng bị vô hiệu do đối tượng khơng thể thực hiện được có tiền
đặt cọc thì số tiền đặt cọc đó sẽ xử lí như thế nào. Hay khoản 3 điều luật này
cũng gây tranh cãi về việc quyền lợi của các bên khi có các phần khác của hợp
đồng vẫn có thể thực hiện.
Câu 2: Thời hiệu u cầu Tịa án tun bố vơ hiệu hợp đồng do đối tượng không
thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?
Thời hiệu u cầu Tịa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể
thực hiện được: Theo khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 : « Trường hợp ngay từ khi giao
kết, hợp đồng có đối tượng khơng thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu.”
Nguyên nhân dẫn đến việc đối tượng trong hợp đồng không thể thực hiện được sẽ
quyết định đến thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Trường hợp 1 : Không áp dụng thời hạn yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao
dịch dân sự khác, hoặc trốn tránh nghĩa vụ mà đối tượng giao kết hợp
đồng khơng có thực hoặc khơng thể thực;
Việc dẫn đến đối tượng hợp đồng không thể thực hiện là tự nhiên, các yếu
tố nằm ngồi sự kiểm sốt của các bên tham gia hợp đồng, …
Trường hợp 2: Trường hợp thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là 02
năm:
Hợp đồng do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế
10
năng lực hành vi dân sự xác lập và không có khả năng thực hiện hợp đồng
đã giao kết;
Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các
bên khơng đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch hoặc không thể
thực hiện hợp đồng;
Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch
dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần giao kết
còn lại của giao dịch.
Đối với trường hợp áp dụng thời hạn tun bố hợp đồng vơ hiệu do có đối tượng khơng
thể thực hiện được, thì thời hạn được tính từ thời điểm:
Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự
mình xác lập, thực hiện giao dịch;
Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập
do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối.
Câu 3: Toà án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng khơng thể
thực hiện được có thuyết phục khơng? Vì sao?
Do tình huống trên khơng đề cập đến thời điểm diễn ra vụ án, nên chúng ta sẽ nhận
xét theo 2 góc nhìn.
1. Theo BLDS 2005: “Trong trường hợp ngay từ khi ký kết, hợp đồng có đối
tượng khơng thể thực hiện được vì lý do khách quan thì hợp đồng này bị vơ
hiệu”. Khơng thể nói việc căn nhà được xây trên đất của ông A là lý do khách
quan được, vì nó là một tài sản lớn, hiện hữu hằng ngày trên đất của ông A, ông
A buộc phải biết điều này. Vậy trường hợp này không thỏa mãn về lí do khách
quan được đề cập trong luật Tịa xử hợp đồng vơ hiệu do có đố tượng không
thực hiện được là chưa hợp lý.
2. Theo BLDS 2015: “Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng
khơng thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu”. Ở đây luật chấp nhận
hợp đồng vô hiệu do đối tượng khơng thực hiện được vì nhiều nguyên nhân,
11
thực tế cũng có nhiều hợp đồng bị hủy do ý chí chủ quan của các bên, trong
trường hợp này, tuyên bố của tòa án là thuyết phục.
12
VẤN ĐỀ 4: XÁC LẬP HỢP ĐỒNG CÓ GIẢ TẠO VÀ NHẰM TẨU TÁN TÀI
SẢN:
*Đối với vụ việc thứ nhất:
Tóm tắt bản án số 06/2017 / DS-ST ngày 17/01/2017 của tịa án nhân dân TP. Thủ
Dầu Một tỉnh Bình Dương.
Ngun đơn A và bị đơn T có thành lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
với giá chuyển nhượng 200.000.000 đồng. Theo đơn khởi kiện nguyên đơn A yêu cầu
tun hợp đồng chuyển nhượng trên vơ hiệu vì đây là giao dịch giả tạo để che giấu cho
việc bà A cho bị đơn T vay số tiền 100.000.000 đồng và ràng buộc bà T trả lại
95.000.000 đồng (trước đó bà T đã trả 5.000.000 đồng). Hội đồng xét xử nhận định
hợp đồng chuyển nhượng trên đây là vô hiệu do giả tạo và giao dịch vay tài sản số tiền
100.000.000 đồng có hiệu lực. Vì cả hai bên ngun đơn và bị đơn đều thừa nhận đây
là giao dịch giả tạo nên hai bên đều có lỗi ngang nhau trong việc làm cho hợp đồng vô
hiệu do vậy các bên hồn trả cho nhau những gì đã nhận và không phải bồi thường.
Việc bà T cho rằng đã trả cho bà A 180.000.000 đồng nhưng bà A không thừa nhận và
bà T cũng không cung cấp được chứng cứ cứ để chứng minh nên Tòa án quyết định bà
T có nghĩa vụ trả lại cho bà A số tiền 95.000.000 đồng.
Câu 1: Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch:
Khi các bên xác lập một giao dịch nhằm che giấu một giao dịch khác thì được xem là
giả tạo trong xác lập giao dịch.
Có thể hiểu, giao dịch giả tạo là giao dịch mà ý chí được biểu đạt ra ngồi khác với ý
chí đích thực và có tồn tại sự khác biệt giữa kết quả thực tế đã thực hiện giao dịch so
với mục đích của giao dịch dân sự được xác lập.
Theo khoản 1 Điều 124 BLDS 2015: “1. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách
giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vơ hiệu,
cịn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vơ
hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.”
13
Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp
đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì?
Đoạn của Quyết định cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng là:
“Nguyên đơn và bị đơn thống nhất ngày 23/11/2013 giữa nguyên đơn và bị đơn có
thiết lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nội dung giấy thỏa thuận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất số AP 154638, số vào sổ H53166 do UBND thị xã
(nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp ngày 30/7/2009, tọa lạc tại phường Chánh Nghĩa,
thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, giá chuyển nhượng 200.000.000 đồng. Hai
bên đều thừa nhận đây là giao dịch giả tạo để che giấu cho việc nguyên đơn cho bị đơn
vay số tiền 100.000.000 đồng.”
Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích là để che giấu cho giao dịch
vay mượn tài sản và để đảm bảo cho việc bị đơn hoàn trả số tiền vay mượn từ
nguyên đơn.
Câu 3: Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che
giấu:
Xét, theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Khi các bên xác lập giao
dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che dấu cho một giao dịch dân sự khác thì giao dịch
giả tạo vơ hiệu, cịn giao dịch che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch dân sự
đó cũng vơ hiệu theo quy định của Bộ luật này”. Đối chiếu quy định trên với trường
hợp giữa nguyên đơn với bà Trang thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
được xác lập ngày 23/11/2013 giữa nguyên đơn và bà Trang là vô hiệu do giả tạo và
giao dịch vay tải sản số tiền 100.000.000 đồng có hiệu lực.
Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký giữa nguyên đơn và bà Trang
bị vô hiệu nên xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân
sự 2015. Khi giao kết hợp đồng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì
nguyên đơn và bà Trang đều biết biết việc lập hợp đồng này nhằm che giấu cho giao
dịch vay tài sản. Do vậy, các bên có lỗi ngang nhau trong việc làm cho hợp đồng vơ
hiệu do vậy các bên hồn trả cho nhau những gì đã nhận và khơng phải bồi thường.
14
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và
hợp đồng bị che giấu.
Hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che dấu là hợp lí. Vì hợp
đồng chuyển nhượng đất giữa bà Trang và bà Thúy vô hiệu do giả tạo nhưng giao dịch
vay tài sản thì lại có hiệu lực. Tịa án giải quyết như vậy thì sẽ bảo đảm được quyền lợi
cho nguyên đơn.
* Đối với vụ việc thứ hai:
Tóm tắt Quyết định số 259/2014/DS-GĐT ngày 16/06/2014 của Tòa dân sự Tòa án
nhân dân tối cao.
Nguyên đơn: bà Võ Thị Thu
Bị đơn: bà Đặng Thị Kim Anh
Nội dung: Năm 2009, bà Anh vay tiền của bà Thu nhiều lần, tổng cộng là 3,7 tỷ đồng,
lãi suất 3%/tháng, có thỏa thuận miệng thời hạn vay là 15 ngày. Ngày 11/2/2010, bà
Anh trả cho bà Thu 600 triệu đồng tiền gốc. Bà Thu khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà
Anh trả số tiền gốc còn nợ là 3,1 tỷ đồng và tiền lãi theo lãi suất Nhà nước quy định kể
từ ngày vay cho đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm. Vợ chồng bà Anh cam kết chuyển
nhượng nhà đất (đang có tranh chấp) có giá thực tế nhà đất là gần 5,6 tỷ đồng để trả nợ
cho bà Thu, nhưng vợ chồng bà Anh không thực hiện cam kết với bà Thu mà làm thủ
tục chuyển nhượng nhà đất trên cho anh của mình là vợ chồng ơng Vượng chỉ với giá
680 triệu đồng. Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ
buộc vợ chồng bà Anh trả nợ lẫn lãi cho bà Thu, giao dịch giữa vợ chồng bà Anh và vợ
chồng ông Vượng là vô hiệu và nhà đất của bà Anh bị phong tỏa để đảm bảo việc thực
hiện nghĩa vụ trả nợ của bà Anh đối với bà Thu.
Câu 1: Vì sao Tồ án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông
Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu?
Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo
nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu vì theo như Tịa án, trong q trình giải
quyết vụ án thì bà Anh thừa nhận còn nợ bà Thu 3,1 tỷ đồng, sau đó cam kết chuyển
nhượng nhà đất cho bà Thu, tuy nhiên bà Anh không thực hiện cam kết với bà Thu mà
đi chuyển nhượng nhà đất trên cho vợ chồng ông Vượng với giá là 680 triệu đồng,
15
trong khi giá nhà đất thực tế là gần 5,6 tỷ đồng, và các bên cũng chưa hoàn tất thủ tục
chuyển nhượng.
Câu 2: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Toà án (giả tạo để trốn
tránh nghĩa vụ)?
Hướng giải quyết của Tịa án là hồn tồn hợp lý trên cơ sở của Điều 124 Bộ luật dân
sự 2015, khi các bên xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm che giấy một giao dịch dân
sựu khác, thì giao dịch dân sự giả tạo vơ hiệu, cịn giao dịch dân sự do bị che dấu vẫn
có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch bị che giấu cũng vô hiệu theo quy định của bộ
luật này hoặc luật khác có liên quan.
Việc Tịa Án xác định chuyển nhượng nhà đất trên giả tạo là vô cùng hợp lý, bởi vì giá
nhà đất theo định giá là gần 5,6 tỷ đồng, tuy nhiên ông Vượng chỉ mua với giá 680
triệu đồng là không phù hợp với thực tế, trong trường hợp này ông Vượng buộc phải
biết giao dịch trên là khơng hợp lý, có dấu hiệu tẩu tán tài sản, nên cả vợ chồng ông
Vượng và vợ chồng bà Kim Anh đều khơng ngay tình nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ
cho bên có quyền là bà Thu.
Câu 3: Cho biết hệ quả của việc Toà án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm
trốn tránh nghĩa vụ.
Hệ quả của việc Toà án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ
là, giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là vô hiệu, buộc vợ chồng
bà Anh trả nợ cả gốc và lãi cho bà Thu, nhà đất của vợ chồng bà Anh bị phong tỏa
nhằm đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho bà Thu.
16