THƯ VIỆN|
LV10-TH
GIAO
2012
50100218
4 TRI - HANH CHINH
HỒ CHÍ MINH
:
VIEN KHOA HOC XA HOI VIET NAM
VIÊN TRIẾT HỌC
{i VA TUYEN TRUYEN
TRƯƠNG VĂN THÀNH
GIÁO DỤC Ý THỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN |
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÁC GIANG TRONG
|
GIAI DOAN HIEN NAY
LUAN VAN THAC SI TRIET HOC
IM
dette
50100218
i
HA NOI - 2012
LOI CAM DOAN .
Tôi xin cam đoan luận văn này là cơng trình nghiên
cứu của riêng tơi. Nội dung trích dẫn trong luận văn có
nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đảm bảo tính trung thực; nội
dung nghiên cứu khách quan và chưa được cơng bố trong
`...
i
bât cứ cơng trình nào khác.
Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2012
Tác giả luận văn
Trương Văn Thành
MUC LUC
h'[0E›/.\btầdầdầẶẮẮẮ......
Chương 1: GIÁO DỤC Ý THỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH
1
VIÊN - MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN ............................--5255ccccccereersrrrree 7
II
011i 161.1. 076... .............. 7
1.2. Tính tất yếu của việc giáo dục ý môi trường........................------:2cccccxecee. 12
1.3. Nội dung và phương pháp của giáo dục ý thức môi trường cho
SUNN VIEN oo. ..........
Chương 2: THỰC
15
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIÁO DUC Y
THỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN TỈNH BẮC GIANG
TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NA.Y.............................-5 Sàn,
36
2.1. Thực trạng giáo dục ý thức môi trường đối với sinh viên trên địa
bàn tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay....................
s55 +csccsxsrerxeed 36
2.2. Các giải pháp nhằm nâng cao ý thức môi trường cho sinh viên
IsifiI R88:
KẾT LUẬN .............
e7 ..................
1%
55
75
DANH MUC TAI LIEU THAM KHAO ......0..ccccscsscsssesssstecsssesseesneeeseeseeees 77
MO DAU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Muốn thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp đủ sức vượt qua
những thách thức và nguy cơ trên con đường phát triển hiện nay, chúng ta
phải có những đảm bảo vững chắc về chất lượng con người. Đó là chất lượng
tồn diện về sự phát triển thể lực, năng lực
trí tuệ, phẩm
chất đạo đức, ý thức
và nhân cách nói chung của con người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ.
Nước ta đang từng bước tiến vào thời kỳ cơng nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nước đây mạnh phát triển kinh tế, nhưng bên cạnh đó là môi trường
đang bị xuống cấp một cách trầm trọng. Nguồn tài nguyên bị khai thác một
cách bừa bãi, triệt để, môi trường tự nhiên bị hủy hoại. Nguyên nhân của vẫn
đề này, ngoài sự tăng trưởng về kinh tế, con người chỉ quan tâm đến lợi
nhuận, còn một nguyên nhân nữa đó là ý thức của con người về việc bảo vệ
mơi trường, về trách nhiệm của mình với mơi trường. Một bộ phận khơng
nhỏ người dân hiện nay cịn thờ ơ với môi trường sống, vô cảm với sự suy
thối của mơi trường, thiếu trách nhiệm với chính cuộc sống của mình và cả
thế hệ tương lai.
Sinh viên là một trong những đối tượng có ảnh hưởng
lớn đến mơi
trường. Nhưng ý thức của sinh viên về trách nhiệm của mình đối với mơi
trường như thế nào? Sinh viên cần phải hành động ra sao để bảo vệ môi
trường sống xung quanh con người khi mà hàng ngày, bàng giờ chúng ta đang
chứng kiến cảnh môi trường tự nhiên - cái nôi cho sự sống của chúng ta dang bj tan pha nghiém trong.
Đây là lý do thứ nhất thôi thúc chúng tôi nghiên cứu về vấn đề giáo dục
ý thức môi trường cho sinh viên hiện nay.
Lý do thứ hai, kinh tế thị trường đã và đang được thực hiện trên phạm
vi toàn cầu đã ngày càng bộc lộ những hạn chế và mâu thuẫn vốn có của nó
trong đối sách trực tiếp với những định hướng giá trị của chủ nghĩa xã hội.
Tại Việt Nam, việc phát triển các nhà máy, khu công nghiệp, làng nghề đến
_ chóng mặt, hàng năm thải ra mơi trường hang chục ngàn tấn chất thải chưa
qua xử lý. Các khu dân cư, du lịch, chợ, đường giao thơng có những nơi ngập
tràn trong rác thải, môi trường sống ô nhiễm trầm trọng. Bởi vậy, đây mạnh
giáo dục ý thức bảo vệ mơi trường cho sinh viên sẽ góp phần quan trọng vào
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo hướng cơng nghiệp hóa - hiện
đại hóa, đồng thời khắc phục những mặt trái của kinh tế thị trường.
Lý do thứ ba, thôi thúc tác giả lựa chọn vấn đề “Giáo dục ý thức môi
trường cho sinh viên” làm đề tài luận văn là ở chỗ, bẫy lâu nay, giáo dục ý thức
môi trường cho sinh viên tuy đã được đề cập đến và công bố trong một số cơng
trình nghiên cứu trong nước, song nhìn chung vấn còn tản mạn và dừng ở mức
độ nghiên cứu, mà chưa được ứng dụng và luận giải trong một tình hình cụ thê.
Cuối cùng, hiện trạng về ý thức và giáo dục ý thức môi trường cho sinh
viên tại tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay càng lôi cuốn và hồi thúc tác
giả luận giải đúng hiện trạng, xác định rõ nguyên nhân, nhận diện các van dé,
các tình huống mới xuất hiện, từ đó đề xuất giải pháp nhằm đổi mới nội dung
và phương pháp giáo dục ý thức môi trường trong các trường Đại học, Cao
đẳng ở Bắc Giang, góp phần tạo chuyển biến tích cực trong chất lượng đào
tạo nguồn nhân lực cho tỉnh và đất nước.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những vấn đề liên quan đến mơi trường hiện đã có rất nhiều nghiên
cứu, góc độ lý luận và thực tiễn, cả từ góc độ đơn ngành đến liên ngành. Tuy
vậy, từ góc độ khoa học xã hội nhân văn trong đó có triết học có thể thấy đã
có những cơng trình cơ bản sau đây:
Một số vấn đề sinh thái nhân văn Việt Nam, Ñxb Nông nghiệp, Hà Nội
1995; Nguyễn Viết Chức (chủ biên), Văn hố ứng xử của người Hà Nội với
mơi trường thiên nhiên, Nxb Văn hố - Thơng tin, Hà Nội, 2002; Hà Huy
Thành (chủ biên), Một số vấn đề xã hội, nhân văn trong việc sử dụng hop ly
tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2001; Hồ Sỹ Quý (chủ biên), Mỗi quan hệ giữa con người và tu
nhiên trong sự phát triển xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000; Trần
Lê Bảo (chủ biên), Văn hoá sinh thái nhân văn, Nxb Văn hố - Thơng tin, Hà
Nội 2001, Phạm Thị Ngọc Trầm “Môi trường sinh thải: Vấn đề và giải pháp”
xuất bản năm 1997; Phạm Thị Ngọc Trầm (chủ biên), Quản lý nhà nước đối
với tài ngun và mơi trường vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội —
nhân văn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006; Phạm Thị Ngọc Trầm, Nhân
tô xã hội nhân văn trong quản lý nhà nước vé tai ngun va mơi trường, Tạp
chí Tài ngun và Mơi trường, tháng 2/2008; Bùi Văn Dũng với đề tài “Mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu
bên” năm
1999: Bảo vệ môi trường cẩn ý thức trong mỗi cá nhân, Báo
Vietnamnet
12/8/2008; “Giáo đục ý thức bảo vệ môi trường cho hoc sinh”,
Báo Quân đội nhân dân, ngày 10/9/2007; Bài phỏng vẫn TS. Trần Hồng Hà,
“Can
tạo
chuyển
biến
trong nhận
thức
trách
nhiệm
và đạo
đức
về mơi
trường”, Tạp chí tài ngun và Môi trường, tháng 2/2007.
Gần đây trực tiếp bàn đến những vấn đề liên quan đến xây dựng ý thức
môi trường có các cơng trình: Phạm Thị Ngọc Trầm, Đạo đức sinh thái: từ lý
luận đến thực tiễn, Tạp chí triết học số 2/1999: Phạm Thị Ngọc Trầm,
Các
giá trị văn hoá sinh thái truyền thống Việt Nam trước xu thế tồn câu hố,
Tạp chí triết học số 7/2001; Phạm Thị Ngọc Trầm, Vấn đề xây dựng đạo đức
sinh thải trong điểu kiện kinh tế thị trường, Tạp chí triết học số 3/2002; tác
giả Phạm Văn Boong với tác phẩm “Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu
bén” nam 2002; tác giả Hồ Sÿ Quý, Về đạo đức mơi trường, Tạp chí triết học
số 9/2005; Nguyễn Thị Lan Hương,
Trách nhiệm môi trường-một phương
diện của trách nhiệm xã hội, tap chi Triết học số 9/2009; Phạm Thị Ngọc
Trầm, Xây dựng đạo đúc sinh thái-một trách nhiệm xã hội của con người đối
với giới tự nhiên, tạp chí Triết học số 6/2009; Nguyễn Văn Phúc, Bảo vệ mơi
trường nhìn từ góc độ đạo dic, Tap chi Triết học số 4/2010.
Trong các cơng trình nghiên cứu trên đã giải quyết được một số vấn đề sau:
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tạo ra khối lượng sản phẩm
không lồ như hiện nay đang tạo ra mâu thuẫn sâu sắc giữa xã hội và tự nhiên.
Các
cơng trình nghiên cứu trên đã xác định được nội dung của khái niệm
“phát triển lâu bền” và vấn đề ý thức sinh thái cho con người trong quá trình
phát triển. Bởi vì muốn bảo vệ được mơi trường thì trước hết phải xây dựng
được ý thức sinh thái đối với toàn xã hội. Giải quyết mâu thuẫn giữa nền sản
xuất vật chất với tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của mơi trường tự nhiên.
Xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho từng cá nhân trong xã hội, cần phải
giáo dục ý thức môi trường, nâng cao trách nhiệm và đạo đức môi trường tự
nhiên cho học sinh, sinh viên.
Ngồi ra các cơng trình trên cũng đã đề cập đến các van dé dat ra trong
công tác giáo dục ý thức môi trường và giải pháp. Vấn đề quản lý nhà nước
trong khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và van đề bảo vệ môi
trường. Trách nhiệm của các nhà quản lý trong việc xây dựng ý thức bảo vệ
nguồn tải nguyên và môi trường tự nhiên. Các yếu tô tồn tại trong quản lý nhà
nước về tài nguyên môi trường.
Các nghiên cứu đã giải quyết được một số vẫn để liên quan đến bảo vệ
tài nguyên môi trường, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, van dé quan ly
nhà nước trong bảo vệ mơi trường. Tuy nhiên nhìn chung đây là những cơng
trình mang tính lý luận cơ bản. Trên thực tế cần có những nghiên cứu mang
tính ứng dụng nhằm góp phần nhằm giải quyết những vướng mắc, những vấn
đề đã đang nảy sinh từ thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích
Đề tài sẽ đi vào phân tích thực trạng giáo dục ý thức môi trường cho
sinh viên tỉnh Bắc Giang, từ đó đề xuất một số giải pháp thích hợp nhằm nâng
cao ý thức bảo vệ môi trường, xây dựng mơi trường xanh sạch đẹp, bảo vệ
cuộc sống của chính mình và những người chung quanh vì sự phát triển bền
vững của đất nước.
|
3.2. Nhiém vu
Đề thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận của việc giáo dục ý thức môi trường đối với sinh
viên trong giai đoạn hiện nay.
- Phân tích thực trạng giáo dục ý thức mơi trường cho sinh viên tại tỉnh
Bắc Giang, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên tại tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn
hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục ý thức mơi trường cho sinh viên nói chung và ở địa bàn tỉnh
Bắc Giang nói riêng.
4.2. Phạm vì nghiên cứu
Luận văn tập trung chủ yếu vào van đề giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường tự nhiên với tư cách là nội dung cơ bản của giáo dục ý thức môi
trường nói chung chứ khơng đi sâu xem xét những vấn đề liên quan đến môi
trường xã hội.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được tiễn hành trên cơ sở phép biện chứng duy vật; những tư
tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa
con người và tự nhiên; những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam cũng
như những chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam về giáo dục ý thức môi trường.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là logic và lịch
sử, phân tích, tổng hợp, và so sánh.
6. Đóng góp của luận van
- Luận văn làm rõ tầm quan trọng đặc biệt của việc giáo dục ý thức môi
trường cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay.
- Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức
bảo vệ môi trường cho sinh viên trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
7. Kết luận
Ngoài phần
mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được cấu trúc 2 chương và 5 tiết.
Chuong 1
GIÁO DỤC Ý THỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN MOT SO VAN DE LY LUẬN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Môi trường
Môi trường, là “một tô hợp các yếu t6 tự nhiên và xã hội bao quanh bên
ngoài của một hệ thống nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này, xác định xu
hướng và tình trạng tổn tại của nó. Mơi trường có thê được coi là một tập hợp, trong
đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con. Môi trường của một hệ thống đang
xem xét cần phải có tính tương tác với hệ thống đó.” Đối với con người, mơi trường
có thể được hiểu cụ thể hơn là “tập hợp tất cả các yếu t6 tự nhiên và xã hội bao
quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của
con người như: khơng khí, nước, độ âm, sinh vật, xã hội loài người và các thê chế”.
Như vậy, “nói chung, mơi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều
kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh
khách thể này và các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng” [69].
Về khái niệm “môi trường”, tác giả Hoàng Phê trong cuốn “Từ điển
tiếng Việt” cho rằng: Mơi trường là “tồn bộ nói chung những điều kiện tự
nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật ton tai phát trién, trong
quan hệ với con người, với sinh vật ấy” [46, tr.635].
Ngày nay, trong sách báo khoa học, người ta thường gặp các cách hiểu
khác nhau về khái niệm “mơi trường”. Tùy theo mục đích và nội dung nghiên
cứu mà các khái niệm “môi trường” được phân tách thành các khái niệm hẹp
như “môi trường tự nhiên”, “môi trường xã hội”, “môi trường nhân tạo”, v.v.
Tuy vậy, khái niệm “môi trường” là thuật ngữ dùng để chỉ mọi thứ
xung quanh chúng ta gồm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và cả môi
trường nhân tạo.
Về môi trường tự nhiên, trong cuỗn “Môi trường và tài nguyên Việt
Nam” các tác giả quan niệm “Môi trường tự nhiên” bao gồm “các yếu tố tự
nhiên và phi tự nhiên tồn tại vận động và phát triển gắn bó hữu cơ trong một
thể thống nhất, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, xấu hoặc tốt đến con
người; và chính con người cũng là một yếu tố mơi trường quan trọng tác động
tới quá trình vận động và phát triển của chủ thể của nó” [52, tr.7].
Tac gia Dé Thi Ngoc Lan trong cuén “M6i trudng tu nhién trong hoat
động sống của con người ” thì cho rằng: “Mơi trường tự nhiên là một tơng hịa
những yếu tố tự nhiên vơ cơ và hữu cơ, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại
và phát triển của mọi sinh vật” [38, tr.20]. Tuy cách định nghĩa có khác nhau
nhưng các tác giả đều đã khẳng định môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố
tự nhiên, các hiện tượng tự nhiên, các tài nguyên thiên nhiên trong sự thống
nhất với nền sản xuất xã hội. Trong môi trường tự nhiên, giữa các yếu tổ tự
nhiên, các hiện tượng tự nhiên, các tài nguyên thiên nhiên thường xuyên có sự
tác động qua lại với nhau và có những ảnh hưởng nhất định đối với sự tồn tại
và sự phát triển của mọi sinh vật. Nếu một yếu tố nào đó thay đổi sẽ kéo theo
sự thay đổi các yếu tố khác.
Về Môi trường nhân tạo và Môi trường xã hội. Môi trường nhân tạo là
hệ thống môi trường do con người lợi dụng tự nhiên, cải tạo tự nhiên tạo ra.
“Môi trường nhân tạo bao gồm những nhân tố vật lý, sinh học, xã hội do con
người
tạo nên và chịu sự chi phối
của con người”
[26, tr.15].
Cịn
mơi
trường xã hội là môi trường bao gồm các mối quan hệ giữa người và người
với nhau.
Trong phạm vi nghiên cứu các van đề mơi trường, từ góc độ triết học,
tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm lại nhắn mạnh đến khái niệm sinh thái và cùng
với nó là thuật ngữ mơi trường sinh thái, theo đó thì khái nệm “mơi trường
sinh thái là bao gồm tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan đến sự
sống của sinh thể. Đối với con người, môi trường sinh thái là tất cả những
điều kiện tự nhiên và xã hội, cả vơ cơ và hữu cơ, có liên quan đến sự sống của
con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội” [56, tr.16].
Như vậy, có thể thấy rằng nội hàm của khái niệm mơi trường nói
chung không thể tách rời nội hàm của khái niệm sinh thái.
Sinh thái theo tiếng Hy Lạp là “oikos” với hai cách hiéu, thir nhdt, nd
có nghĩa là nhà ở, nơi cư trú, nơi sinh sống:
thứ hai, có nghĩa là tồn tại sự
sống. Song một trong những đặc trưng căn bản nhất của sự sống là quá trình
trao đổi chất thường xun giữa cơ thể sống với mơi trường, từ đó có thể hiểu
sinh thái theo nghĩa z#⁄ ba là mỗi quan hệ giữa cơ thể sống với môi trường
xung quanh [2, tr.38].
Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm còn đưa ra khái niệm môi trường sinh
thái nhân văn với ý nghĩa là môi trường của mối quan hệ qua lại và tác động
lẫn nhau giữa con người, xã hội và tự nhiên, được hiểu là môi trường sống
của con người hay mơi trường tự nhiên - người hóa. Tuy nhiên, trong các
nghiên cứu của mình, tác giả thường sử dụng thuật ngữ môi trường, hoặc môi
trường sống với nội hàm của khái niệm môi trường sinh thái nhân văn. Lý
giải điều này tác giả cho rằng, ngày nay, môi trường sống đã và đang trở
thành một trong những vấn đề được quan tâm nhất và cũng là một trong
những thách thức lớn nhất của nhân loại trong quá trình phát triển. Bởi lẽ, mơi
trường sống gắn bó hữu cơ với cuộc sống của mỗi con người, cũng như với sự
tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Hơn nữa, vấn đề mơi trường sống
cịn quan hệ mật thiết với những vấn để toàn cầu của thời đại, đặc biệt là các
vấn đề như dân số, sức khỏe và bệnh tật; lương thực và thực phẩm;
chiến
tranh hủy diệt, v.v.. mà để giải quyết được chúng cần phải có sự hợp lực của
tất cả các dân tộc, các quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới [58, tr.32].
Theo chúng tôi, khái niệm sinh thái và những cách hiểu môi trường
như trên về cơ bản đêu đề cập đên một nội dung rât quan trọng đó là mơi quan
10
hệ giữa con người với môi trường sống xung quanh con người. Bởi vậy, trong
phạm vi luận văn này chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ môi trường với nội hàm
như đã được định nghĩa trong
“Luật bảo vệ môi trường” đã được Quốc
hội.
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ tư thơng qua
ngày 27 tháng 12 năm 1993, theo đó thì: “Mơi trường bao gồm các yếu tô tự
nhiên và yếu tô vật chất nhân tạo quan hệ mát thiết với nhau, bao quanh con
người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tôn tại, phát triển của con
người và thiên nhiên [15, tr.5-6].
1.1.2. Ý thức môi trường
Ngày nay, khi những vấn nạn về mơi trường như lụt lội, sóng thần, cạn
kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm đất đai, không khí... và hơn
hết là sự biến đổi khí hậu đang diễn ra, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh tồn
của bản thân con người thì những lời kêu gọi con người phải hành động đề
bảo vệ môi trường ngày càng trở nên khẩn thiết. Các hoạt động bảo vệ môi
trường, cả ở qui mơ quốc gia, khu vực và tồn cầu ngày nay khơng cịn chỉ
dừng lại ở các phong trào vận động, kêu gọi mà đã thực sự trở thành mối quan
tâm, là tiêu chí trong hoạch định chính sách của các quốc gia. Nhưng làm thế
nào để những hoạt động bảo vệ môi trường trở thành hành động thực tiễn
khơng chỉ của mỗi cá nhân mà cịn của cả toàn thể cộng đồng, của toàn xã
hội. Đây là vấn đề đã được khơng ít các nghiên cứu đơn ngành cũng như liên
ngành đề cập tới. Song từ góc độ triết học, chúng tơi cho răng, để có được
những hành vi bảo vệ mơi trường thì con người khơng chỉ dừng lại ở viéc
nhận thức được tầm quan trọng của mơi trường đối với sự sống của mình mà
cịn phải ý thức được vai trị trách nhiệm của mình đối với mơi trường. Ý thức
mơi trường chính là nhân tố cần thiết cho việc đảm bảo điều khiển một cách
có ý thức hành vi của con người, và xa hơn là điều khiển một cách có ý thức
mối quan hệ giữa con người với môi trường sông xung quanh con nguoi.
11
Theo chúng tơi, ý đưức mơi trường, nói chung, là tập hợp các quan niệm
của con người về tự nhiên (mơi trường sóng) chung quanh con người và ý thức
trách nhiệm đối với mơi trường đó. Từ đó con người ý thức được tầm quan trọng
của môi trường đối với sự ton tại và phát triển của xã hội, bién những quan điểm
đó thành hành động cụ thé dé xây dựng ý thức cộng động về bảo vệ môi trường.
Từ góc độ triết học, có thể nhìn nhận về ý thức môi trường từ một SỐ
điểm căn bản sau:
Thủ nhất, với tư cách là ý thức của con người nói chung, ý thức môi
trường là một bộ phận của ý thức xã hội. Bởi vậy, về nguyên tắc, nó chịu sự
chỉ phối của tồn tại xã hội, tức là những điều kiện sinh hoạt vật chất mà trên
đó nó được hình thành. Tuy nhiên, ý thức mơi trường cũng mang đặc trưng
của ý thức con người nói chung và ý thức xã hội nói riêng, đó là khả năng
vượt trước của nó đối với tồn tại xã hội trong những phạm vi nhất định. Chính
vì vậy, việc xây dựng ý thức môi trường, một mặt, không thể tách rời những
điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội nhưng mặt khác cũng khơng thể đóng
khung trong phạm vi những điều kiện đó.
Thứ hai, về mặt câu trúc, ý thức mơi trường được thể hiện ở ý thức cá
nhân và ý thức xã hội. Như vậy, ý thức môi trường không chỉ bó hẹp trong phạm
vi ý thức trách nhiệm đối với môi trường của từng cá nhân mà hơn thế, nó phải
là ý thức trách nhiệm đối với mơi trường của toàn thể cộng đồng và xã hội.
Thứ ba, ý thức môi trường, về cơ bản, được thể hiện qua ý thức pháp
luật đối với môi trường và ý thức đạo đức đối với mơi trường. Nói cách khác
đây là hai khía cạnh hay hai phương diện quan trọng nhất của ý thức mơi
trường, khía cạnh pháp luật và khía cạnh đạo đức. Hai khía cạnh này là cơ sở
để điều chỉnh hành vi của con người đối với môi trường.
Ngồi ra ý thức mơi trường cũng cịn được nhìn nhận từ phương diện
thâm mỹ nữa. Đặc trưng của khía cạnh này là nó cho ta thấy được nhận thức
12
và đánh giá của con người về cái đẹp của tự nhiên, của mơi trường. Từ đó
hướng hoạt động của con người tới mục tiêu giữ gìn và tái tạo vẻ đẹp của tự
nhiên và xã hội.
Tuy nhiên, do mục tiêu đặt ra trong luận văn là xây dựng ý thức môi
trường nhằm tạo dựng
được một ý thức trách nhiệm của các cá nhân nói
chung cũng như của cộng đồng nói riêng nên chúng tơi sẽ chỉ tập trung chủ
yếu vào khía cạnh giáo dục ý thức pháp luật và ý thức đạo đức đối với mơi
trường mà thơi.
1.2. Tính tất yếu của việc giáo dục ý thức môi trường
Bên cạnh những phân tích bên trên từ phương diện lý luận thì trên thực
tế cũng có thể khẳng định rằng giáo dục ý thức môi trường là một tất yếu
khách quan, một nhu cầu cấp thiết không chỉ của một quốc gia, một dân tộc
mà là của toàn thế giới. Sở đĩ như vậy là vì:
Trên bình diện tồn cầu, có thể nhận thấy, ngày nay, những cải biến
khoa học và công nghệ hiện đại, một mặt tạo điều kiện nâng cao chất lượng
cuộc sống con người, song mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của nó cũng đang
kích thích tâm lý tiêu dùng thái quá; sự phát triển không đồng đều giữa các
quốc gia trên thế giới mà ở đó vẫn tồn tại những cơng nghệ cịn lạc hậu; sự
khơng thống nhất về lợi ích giữa các quốc gia, dân tộc... tựu trung lại là
những rào cản về mặt kinh tế, xã hội, cũng như văn hóa đang ảnh hưởng trực
tiếp đến ý thức của con người đối với môi trường.
Với Việt Nam, vấn đề về ô nhiễm môi trường cũng đã và đang là vẫn
để nổi cộm. Ở Việt Nam, ô nhiễm môi trường dang ở mức nghiêm trọng. Do
q trình phát triển cơng nghiệp hóa đã làm cho những vấn đề như: ơ nhiễm
nguồn nước, khơng khí, sa mạc hóa đất đai,... đang trở thành những vẫn đề
cấp bách được coi là những nhiệm vụ trọng điểm cân giải quyết của quôc gia.
13
Tình hình này cũng là địi hỏi cấp thiết cần phải có ý thức đúng đắn trong việc
giữ gìn, bảo vệ môi trường của mọi thành viên và tổ chức trong xã hội.
Việc giáo dục ý thức môi trường cho con người biết bảo vệ mơi trường
có ý nghĩa rất quan trọng. Bởi vì, mơi trường chính là nơi cư trú của con.
người và xã hội loài người, bảo vệ mơi trường là bảo vệ sự sinh tồn của lồi
người khỏi bị ô nhiễm và khỏi bị phá hoại, qua đó khiến cho mơi trường tự
nhiên ngày càng phù hợp với sản xuất và đời sống của loài người, đồng thời
bảo vệ tốt các loài sinh vật trong thế giới tự nhiên.
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cũng có nghĩa là bảo vệ sức sản
xuất. Mơi trường sản xuất, môi trường xã hội và môi trường tự nhiên tốt đẹp
chính là cơ sở của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nếu cơ sở này bị phá hoại thì
khơng những sẽ ảnh hưởng tới phát triển kinh tế mà cịn ảnh hưởng đến ổn
định xã hội. Nói cách khác, “bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của
đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính chất xã hội sâu sắc, gắn liền với
cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đâu tranh vì hịa
bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi tồn thế giới” [27, tr.6-7]. Chính vì vậy,
bảo vệ môi trường là nhu cầu để phát triển kinh tế, là nhu cầu trong cuộc sống
thường ngày của con người.
Cùng với tiến triển của lịch sử, con người ngày càng nhận thức được
rằng mơi trường đóng vai trị hết sức quan trọng đối với sự ton tai va phat
triển của con người, bởi môi trường không chỉ cung cấp các nguồn tài nguyên
đầu vào cho sản xuất, đáp ứng nhu cầu sinh sống hàng ngày cho con người
mà còn là nơi chứa và hấp thụ nguồn chất thai do chính sản xuất và con người
tạo ra. Do đó, để bảo vệ mơi trường phải duy trì các quy trình sinh thái chủ
yếu và các hệ sinh thái quyết định đến đời sống con người, phải sử dụng hợp
lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là các tài nguyên sinh vật, tránh làm
14
cạn kiệt hoặc hủy diệt tài nguyên, đám bảo có một chiến lược phát triển lâu
bền và ổn định. Vì lẽ đó “bảo vệ là có ý nghĩa tích cực, nó bao gồm cả sự bảo
quản duy trì, sử dụng hợp lý, hồi phục và nâng cao hiệu suất của môi trường
tự nhiên, bao gồm cả các nguồn tài nguyên tái tao và không tái tạo” [5, tr.14].
Ở nước ta, Luật bảo vệ môi trường đã khắẳng định: Bảo vệ môi trường
“là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi
trường, bảo đảm cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do
con người và thiên nhiên gây ra môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết
kiệm tài nguyên thiên nhiên” [15, tr.6].
Như vậy, để bảo vệ môi trường tốt, nhất thiết phải chú trọng tới việc
giáo dục con người ngay từ còn nhỏ cho tới tuổi trưởng thành và đặc biệt là
khi kết thúc quá trình học tập trong nhà trường, chuẩn bị bước vào đời, trực
tiếp tham gia sản xuất của cải vật chất cho xã hội.
Bên cạnh đó, để thực hiện tốt việc giáo dục ý thức mơi trường của
người dân thì khơng có cách gì tốt hơn là cho họ thấy những lợi ích thiết thực
của những hành vi bảo vệ môi trường trong từng hoạt động của đời sống.
Việc cải thiện và bảo vệ môi trường không chỉ là vấn đề kỹ thuật và
luật pháp mà đòi hỏi sự tham gia của những người sống trong mơi trường ay,
vì các cá nhân, cộng đồng là những tác nhân có ảnh hưởng đến mơi trường,
tích cực hay tiêu cực tùy theo nhận thức, thái độ, hành vi của những tác nhân
ấy. Ở Việt Nam,
giáo dục môi trường còn ở giai đoạn bắt đầu. Phần lớn
những người tham gia giáo dục môi trường là những người đã học về môi
trường nhưng chưa nắm vững phương pháp tập huấn nâng cao nhận thức cho
các đối tượng khác nhau trong xã hội. Hoặc họ là những người được đào tạo
về sư phạm và sau đó chun mơn hóa trong giảng dạy về môi trường. Do
vậy, việc đây mạnh giáo dục đạo đức môi trường cho mọi tầng lớp nhân dân
là vô cùng cần thiết đặc biệt là tầng lớp trong học sinh, sinh viên.
15
1.3. Nội dung và phương pháp giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên
1.3.1. Mục tiêu của giáo dục ý thức mơi trường
Về vai trị và ý nghĩa của cơng tác giáo dục mơi trường nói chung, năm
1987, tại Hội nghị về môi trường 6 Moscow do UNEP va UNESCO đồng tổ
chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của giáo dục môi trường: “Nếu
không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mật
thiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng liên tục các nhu cầu
ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mỗi nguy
cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên tồn thế giới. Bởi vì, hành
động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động cơ này lại tùy
thuộc vào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ. Do đó, giáo dục môi
trường là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết về môi
trường” [67, tr.37]. Hội nghị quốc tế về Giáo dục môi trường của Liên hợp
quốc tổ chức tại Tbilisi vào năm
1977 đã đưa ra khái niệm: “Giáo dục mơi
trường có mục đích làm cho cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất
phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác
của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa; đem lại cho họ
kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia
một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phịng ngừa và giải quyết các vấn
đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường” [67, tr37].
Trong những năm gần đây trên tồn thế giới nói chung, ở Việt nam nói
riêng, các hiện tượng biến đổi khí hậu tồn cầu, thiên tai, bão lũ diễn ra bất thường
và rất nặng nề; mơi trường nước, khơng khí, đất đai... bị ơ nhiễm nghiêm trọng:
các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, thiếu quy hoạch... đã gây
ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống và sức khoẻ của con người. Do đó, việc giáo
dục ý thức mơi trường cho mỗi người dân đã trở thành đòi hỏi bức thiết nhằm tạo
1a trong họ có những suy nghĩ và hành động vì sự tồn vẹn của mơi trường.
16
Trong giáo dục ý thức mơi trường nói chung, dù cho đối tượng tiếp
nhận là người dân, hay học sinh trong các trường phổ thông, sinh viên trong
các trường đại học hay trung học chuyên nghiệp... đều phải nhằm mục tiêu
đem lại cho các đối tượng được giáo dục có cơ hội:
+ Hiểu biết bản chất của các vấn đề mơi trường: tính phức tạp, quan hệ
nhiều mặt, nhiều chiều, tính hạn chế của tài nguyên thiên nhiên và khả năng
chịu tải của môi trường, mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển,
giữa môi trường địa phương, vùng, quốc gia với mơi trường khu vực và tồn
cầu. Mục tiêu này thực chất là trang bị cho các đối tượng được giáo dục các
kiến thức về môi trường [61, tr.37].
+ Nhận thức được ý nghĩa, tam quan trọng của các van đề môi trường
như một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đối với bản thân họ
cũng như đối với cộng đồng, quốc gia của họ và quốc tế, từ đó có thái độ,
cách ứng xử đúng đẫn trước các vẫn đề môi trường, xây dựng cho mình quan
niệm đúng đắn về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách dé dần hình thành
các kỹ năng ứng xử và phát triển sự đánh giá thâm mỹ. Mục tiêu này nhằm tới
định hướng xây dựng /Jái độ, cách đối xử thân thiện với môi trường.
+ Có tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực
trong việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp
lý và khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên, để họ có thể tham gia
hiệu quả vào việc phịng ngừa và giải quyết các vẫn đề môi trường cụ thê nơi
họ ở và làm việc. Đây là mục tiêu về khả năng hành động cụ thê.
Thái độ đúng đẫn
Hiểu biết về
với mỗi trưởng
môi trưởng
- Vẫn đề
les
- Hậu quả
|
~ Nguyên nhân
- Nhậnthức
~ Thái độ
- Ứng xử
Khả năng hành động
hiệu quá vào BVATF
P....
~ Kỹ nẵng
- Dự báo các tác động
~ Tổ chức hành động
Ba mục tiêu của giáo dục môi trường.
17
Như vậy, vai trị của giáo dục mơi trường nói chung và giáo dục ý thức
mơi trường nói riêng là vơ cùng cần thiết. Giờ đây, nó khơng chỉ là sự quan
tâm của mỗi quốc gia mà còn là sự quan tâm của toàn thế giới. Mục tiêu của
giáo dục ý thức mơi trường là nhằm hình thành ở mỗi cá nhân, mỗi con người
các chuẩn mực hành vi đạo đức môi trường thể hiện ở thái độ và hành vi ứng
xử tích cực đối với các vẫn đề mơi trường cụ thể; xây dựng tình yêu thiên
nhiên, sống thân thiện với mơi trường thiên nhiên, bồi dưỡng lịng u thương
con người, đảm bảo sự hài hoà giữa quyền lợi của chính mình với quyền lợi
của người khác và cộng đồng.
Có thể thấy, giáo dục ý thức mơi trường, về thực chất là giáo đục con
người có những nhận thức đúng đắn về mơi trường, từ đó giáo dục và nâng cao ý
thức pháp luật và ý thức đạo đức của cá nhân, cộng đồng đối với mơi trường
nhằm hình thành nên ở mỗi cá nhân cũng như cộng đồng ý thức, chuẩn mực và
hành vi đúng đắn đối với môi trường cả về phương diện pháp luật và đạo đức.
Như vậy, nội dung của giáo dục ý thức môi trường, về cơ bản phải tập
trung vào ba vấn đề chính, đó là giáo dục tri thức về mơi trường; giáo dục ý
thức pháp luật về môi trường (ý thức tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi
trường); và giáo dục ý thức đạo đức đối với môi trường (tỉnh thần trách
nhiệm, bốn phận đạo đức trong các ứng xử với môi trường).
1.3.2. Nội dung và phương pháp của giáo dục ý thức môi trường doi
voi sinh vién
Trong giáo dục mơi trường thì phương thức và cách tiếp cận là điều hết
sức quan trọng. Giáo dục mơi trường có nhiều phương thức, được phân chia
thành các bộ phận phù hợp với trình độ nhận thức và tính chất đặc thù của
cương vị công tác như:
|
+ Giáo dục môi trường cho cộng đồng cịn gọi là nâng cao nhận thức về
mơi trường cho cộng đồng được thực hiện chủ yếu thông qua các phương tiện