Tải bản đầy đủ (.pdf) (115 trang)

Phân tích chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung đang điều trị hoá chất tại một số bệnh viện chuyên khoa ung bướu trong giai đoạn dịch bệnh covid 19

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.56 MB, 115 trang )

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

TRỊNH VĂN QUÝ

PHÂN TÍCH
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA
BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐANG
ĐIỀU TRỊ HOÁ CHẤT TẠI MỘT SỐ
BỆNH VIỆN CHUYÊN KHOA
UNG BƯỚU TRONG GIAI ĐOẠN
DỊCH BỆNH COVID-19
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI - 2021


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TRỊNH VĂN QUÝ
Mã sinh viên: 1601649

PHÂN TÍCH
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA
BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐANG
ĐIỀU TRỊ HOÁ CHẤT TẠI MỘT SỐ
BỆNH VIỆN CHUYÊN KHOA
UNG BƯỚU TRONG GIAI ĐOẠN
DỊCH BỆNH COVID-19
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:


1. ThS. Dương Khánh Linh
2. DSCKII. Hoàng Thị Lê Hảo
Nơi thực hiện:
1. Bộ môn Dược lâm sàng
2. Bệnh viện K

3. Bệnh viện Ung bướu Hà Nội

HÀ NỘI - 2021


LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến ThS. Dương Khánh Linh –
Giảng viên bộ môn Dược lâm sàng, là người trực tiếp hướng dẫn tơi hồn thành khóa
luận. Tơi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ThS. Nguyễn Thị Hồng Hạnh –
Giảng viên bộ môn Dược lâm sàng đã luôn đồng hành, tận tình giúp đỡ, chỉ bảo tơi trong
suốt thời gian thực hiện khóa luận.
Tơi xin gửi lời cảm ơn đến DSCKII. Hoàng Thị Lê Hảo – trưởng khoa Dược
bệnh viện Ung bướu Hà Nội, DS. Bạch Văn Dương – dược sĩ lâm sàng bệnh viện Ung
bướu Hà Nội, DSCKII. Vũ Đình Tiến – trưởng khoa Dược bệnh viện K, ThS. Hoàng
Thị Minh Thu – dược sĩ lâm sàng bệnh viện K cùng các anh chị trong khoa Dược đã
luôn nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho nghiên cứu của tôi tại viện.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc bệnh viện, lãnh đạo khoa Dược cùng
toàn thể cán bộ, nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng của cả hai viện đã giúp đỡ, tạo mọi
điều kiện cho tơi trong suốt q trình thu thập số liệu tại bệnh viện.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô tại bộ môn Dược lâm sàng đã ln tạo
điều kiện và có những chia sẻ q báu nhất giúp tơi hồn thành tốt hơn khóa luận của
mình tại bộ môn.
Tôi cũng dành lời cảm ơn đến các bạn, các em trong nhóm nghiên cứu khoa học
đã nhiệt tình giúp đỡ tơi trong q trình thu thập số liệu của đề tài.

Đặc biệt, tơi xin bày tỏ lịng biết ơn đến bố mẹ cùng tất cả người thân trong gia
đình, bạn bè, những người đã ln ở bên, động viên, chia sẻ trong những lúc tơi cảm
thấy khó khăn nhất, và là nguồn động lực để tôi cố gắng.
Và cuối cùng, tơi xin dành tặng khóa luận này cho người bác đã mất vì ung thư
và người bà vừa mới qua đời của tôi.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 2021
Sinh viên

Trịnh Văn Quý


MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH MINH HỌA
ĐẶT VẤN ĐỀ ………………………………………………………………………...1
Chương 1. TỔNG QUAN .............................................................................................. 3
1.1. Tổng quan về bệnh ung thư và hóa trị trong điều trị ung thư ...........................3
1.1.1. Bệnh ung thư ................................................................................................. 3
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm bệnh ung thư ....................................................... 3
1.1.1.2. Dịch tễ bệnh ung thư ................................................................................ 3
1.1.1.3. Các phương pháp điều trị ung thư ........................................................... 3
1.1.2. Hóa trị trong điều trị ung thư ....................................................................... 5
1.1.2.1. Vai trị của hóa trị trong điều trị ung thư ................................................ 5
1.1.2.2. Tác dụng khơng mong muốn của hóa trị .................................................. 6
1.2. Tổng quan về chất lượng cuộc sống ...................................................................7
1.2.1. Khái niệm về chất lượng cuộc sống và chất lượng cuộc sống liên quan đến
sức khỏe .................................................................................................................... 7
1.2.2. Mô hình chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe .............................. 9

1.2.3. Đo lường chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe. ......................... 11
1.3. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đang điều trị hóa chất ..........13
1.3.1. Lợi ích của đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đang
điều trị hóa chất ..................................................................................................... 13
1.3.2. Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư
đang điều trị hóa chất. ........................................................................................... 14
1.3.2.1. Các yếu tố về nhân khẩu học của bệnh nhân ......................................... 14
1.3.2.2. Các yếu tố về bệnh lý và điều trị ung thư ............................................... 14
1.3.2.3. Các yếu tố về đặc điểm chức năng, triệu chứng .................................... 15


1.3.3. Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đang
điều trị hóa chất bằng bộ công cụ EORTC QLQ-C30 ......................................... 16
1.3.3.1. Trên thế giới ........................................................................................... 16
1.3.3.2. Tại Việt Nam ........................................................................................... 17
1.4. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư trong giai đoạn dịch bệnh
COVID-19 ..................................................................................................................18
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................ 20
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.....................................................................20
2.2. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................................20
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn.................................................................................... 20
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ ...................................................................................... 20
2.3. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................20
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu ..................................................................................... 20
2.3.2. Cỡ mẫu và phương pháp lấy mẫu ............................................................... 20
2.3.2.1. Cỡ mẫu .................................................................................................. 20
2.3.2.2. Phương pháp lấy mẫu ............................................................................ 21
2.3.3. Quy trình thu thập bệnh nhân và dữ liệu nghiên cứu ............................... 21
2.3.4. Công cụ sử dụng trong nghiên cứu ............................................................ 22
2.3.5. Các chỉ tiêu nghiên cứu............................................................................... 23

2.3.5.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu .................................................... 23
2.3.5.2. Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 1: Đánh giá chất lượng cuộc sống của
bệnh nhân ung thư đang điều trị hóa chất trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19
thông qua điểm số chất lượng cuộc sống theo bộ câu hỏi EORCT QOL-C30….24
2.3.5.3. Chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan
đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đang điều trị hóa chất trong
giai đoạn dịch bệnh COVID-19. ......................................................................... 24
2.3.6. Quy ước trong nghiên cứu .......................................................................... 25


2.3.7. Phương pháp xử lý số liệu........................................................................... 25
2.4. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu ............................................................... 26
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.......................................................................27
3.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu ..........................................................................27
3.1.1. Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu ......................................... 28
3.1.2. Đặc điểm bệnh lý và điều trị ung thư của mẫu nghiên cứu ...................... 29
3.1.3. Đặc điểm liên quan đến dịch bệnh COVID-19 của mẫu nghiên cứu ....... 31
3.2. Mục tiêu 1: Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đang điều
trị hóa chất trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19 thông qua điểm số chất lượng
cuộc sống theo bộ câu hỏi EORCT QOL-C30. ........................................................34
3.2.1. Chất lượng cuộc sống tổng thể của bệnh nhân ......................................... 34
3.2.2. Lĩnh vực các chức năng của bệnh nhân .................................................... 35
3.2.2.1. Chức năng thể chất................................................................................. 35
3.2.2.2. Chức năng hoạt động ............................................................................. 36
3.2.2.3. Chức năng cảm xúc ................................................................................ 36
3.2.2.4. Chức năng nhận thức ............................................................................. 37
3.2.2.5. Chức năng xã hội ................................................................................... 38
3.2.3. Các triệu chứng liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. .... 38
3.2.4. Lĩnh vực tài chính liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. 39
3.2.5. Điểm số chất lượng cuộc sống tổng thể và thành phần. ............................ 40

3.3. Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của
bệnh nhân ung thư đang điều trị hóa chất trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19
....................................................................................................................................41
3.3.1. Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống tổng thể của bệnh nhân 41
3.3.2. Các yếu tố liên quan đến các lĩnh vực chức năng của bệnh nhân ........... 42
3.3.2.1. Các yếu tố liên quan đến chức năng thể chất của bệnh nhân ................ 42
3.3.2.2. Các yếu tố liên quan đến chức năng hoạt động của bệnh nhân ............ 43


3.3.2.3. Các yếu tố liên quan đến chức năng cảm xúc của bệnh nhân ............... 43
3.3.2.4. Các yếu tố liên quan đến chức năng nhận thức của bệnh nhân ............ 44
3.3.2.5. Các yếu tố liên quan đến chức năng xã hội của bệnh nhân ................... 45
3.3.3. Các yếu tố liên quan đến lĩnh vực triệu chứng của bệnh nhân ................ 45
3.3.4. Các yếu tố liên quan đến lĩnh vực tài chính của bệnh nhân ..................... 48
Chương 4. BÀN LUẬN ............................................................................................... 50
4.1. Bàn luận về đặc điểm của mẫu nghiên cứu......................................................50
4.1.1. Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu ......................................... 50
4.1.2. Đặc điểm bệnh lý và điều trị ung thư của mẫu nghiên cứu ...................... 51
4.1.3. Đặc điểm liên quan đến dịch bệnh COVID-19 của mẫu nghiên cứu ....... 52
4.2. Bàn luận về điểm số chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đang điều
trị hóa chất trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19 ..................................................52
4.3. Bàn luận về một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân
ung thư đang điều trị hóa chất trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19. .................55
4.3.1. Các yếu tố liên quan đến lĩnh vực chức năng của bệnh nhân .................. 55
4.3.2. Các yếu tố liên quan đến lĩnh vực triệu chứng của bệnh nhân ................ 56
4.3.3. Các yếu tố liên quan đến lĩnh vực tài chính của bệnh nhân. .................... 57
4.3.4. Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống tổng thể của bệnh nhân 58
4.4. Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu ...........................................................59
4.4.1. Điểm mạnh ................................................................................................... 59
4.4.2. Hạn chế ........................................................................................................ 59

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT…………………………………………………………. 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CINV (Chemotherapy-induced nausea and Buồn nơn và nơn do hóa trị
vomiting)
EORCT (European Organisation for

Tổ chức nghiên cứu và điều trị ung

Research and Treatment of Cancer)

thư châu Âu

FACIT (Functional Assessment of

Thang Đánh giá Chức năng trong Điều

Chronic Illness Therapy)

trị Bệnh mạn tính

FACT-G (Functional Assessment of

Thang Đánh giá chức năng của liệu

Cancer Therapy – General)


pháp điều trị ung thư nói chung

HRQOL (Health-Related Quality of Life)

Chất lượng cuộc sống liên quan đến
sức khỏe

ISOQOL (International Society for

Hiệp hội Quốc tế về nghiên cứu chất

Quality of Life Research)

lượng cuộc sống

NCCN (National Comprehensive Cancer

Mạng lưới thông hiểu ung thư quốc gia

Network)

Mỹ

QALYs (Quality – adjusted life years)

Số năm sống trong tình trạng sức khỏe
hồn hảo

QOL-C30 (Quality of life questionnaire


Bộ câu hỏi đánh giá chất lượng

C30)

cuộc sống C30

WHO (World Heath Organisation)

Tổ chức y tế thế giới

CLCS

Chất lượng cuộc sống

UBHN

Ung bướu Hà Nội


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Một số bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe 11
Bảng 1.2. Ưu điểm và nhược điểm của một số bộ công cụ đo lường HRQOL ............12
Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân nghiên cứu ....................................28
Bảng 3.2. Đặc điểm về bệnh lý ung thư của bệnh nhân nghiên cứu ............................. 29
Bảng 3.3. Đặc điểm về điều trị ung thư của bệnh nhân nghiên cứu .............................. 30
Bảng 3.4. Các phác đồ hóa chất được dùng nhiều nhất trong chu kỳ trước đó ở mẫu
nghiên cứu .....................................................................................................................31
Bảng 3.5 Phân bố bệnh nhân theo phân loại đối tượng nhiễm và nghi nhiễm COVID-19
(Phân loại F) ..................................................................................................................31
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 đến điều trị của bệnh nhân ...............33

Bảng 3.7. Điểm số trung bình chất lượng cuộc sống tổng thể, các chức năng, triệu chứng
và lĩnh vực tài chính ......................................................................................................40
Bảng 3.8. Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống tổng thể trong mơ hình hồi
quy tuyến tính đa biến ...................................................................................................41
Bảng 3.9. Các yếu tố liên quan đến chức năng thể chất trong mơ hình hồi quy tuyến tính
đa biến............................................................................................................................ 42
Bảng 3.10. Các yếu tố liên quan đến chức năng hoạt động trong mơ hình hồi quy tuyến
tính đa biến ....................................................................................................................43
Bảng 3.11. Các yếu tố liên quan đến chức năng cảm xúc trong mơ hình hồi quy tuyến
tính đa biến ....................................................................................................................43
Bảng 3.12. Các yếu tố liên quan đến chức năng nhận thức trong mơ hình hồi quy tuyến
tính đa biến ....................................................................................................................44
Bảng 3.13. Các yếu tố liên quan đến chức năng xã hội trong mơ hình hồi quy tuyến tính
đa biến............................................................................................................................ 45
Bảng 3.14. Các yếu tố liên quan đến triệu chứng mệt mỏi trong mơ hình hồi quy tuyến
tính đa biến ....................................................................................................................46
Bảng 3.15. Các yếu tố liên quan đến triệu chứng đau trong mơ hình hồi quy tuyến tính
đa biến............................................................................................................................ 46
Bảng 3.16. Các yếu tố liên quan đến triệu chứng mất ngủ trong mơ hình hồi quy tuyến
tính đa biến ....................................................................................................................47


Bảng 3.17. Các yếu tố liên quan đến triệu chứng chán ăn trong mơ hình hồi quy tuyến
tính đa biến ....................................................................................................................47
Bảng 3.18. Các yếu tố liên quan đến lĩnh vực tài chính trong mơ hình hồi quy tuyến tính
đa biến............................................................................................................................ 48


DANH MỤC CÁC HÌNH MINH HỌA
Hình 1.1. Mơ hình chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của Wilson và Cleary

đã được sửa đổi ..............................................................................................................10
Hình 3.1. Sơ đồ kết quả lựa chọn bệnh nhân .................................................................27
Hình 3.2. Tỷ lệ bệnh nhân phân loại theo đặc điểm phác đồ chu kỳ hóa trị gần nhất ..31
Hình 3.3. Phân bố bệnh nhân theo các mức độ lo lắng liên quan đến dịch bệnh COVID19 ...................................................................................................................................32
Hình 3.4. Phân bố bệnh nhân về mức độ lo lắng giữa bệnh ung thư và dịch bệnh COVID19 ...................................................................................................................................33
Hình 3.5. Phân bố bệnh nhân theo các đáp án lựa chọn trong thang đo chất lượng cuộc
sống tổng thể ..................................................................................................................34
Hình 3.6. Phân bố bệnh nhân theo các mức độ lựa chọn trong thang đo chức năng thể
chất.................................................................................................................................35
Hình 3.7. Phân bố bệnh nhân theo các mức độ lựa chọn trong thang đo chức năng hoạt
động ............................................................................................................................... 36
Hình 3.8. Phân bố bệnh nhân theo các mức độ lựa chọn trong thang đo chức năng cảm
xúc .................................................................................................................................37
Hình 3.9. Phân bố bệnh nhân theo các mức độ lựa chọn trong thang đo chức năng nhận
thức ................................................................................................................................ 37
Hình 3.10. Phân bố bệnh nhân theo các mức độ lựa chọn trong thang đo chức năng xã
hội ..................................................................................................................................38
Hình 3.11. Phân bố bệnh nhân theo các mức độ lựa chọn trong thang đo các triệu chứng
mệt mỏi, buồn nơn và nơn, đau .....................................................................................39
Hình 3.12. Tỷ lệ bệnh nhân theo các mức độ khó khăn tài chính .................................40


ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư đã và đang là vấn đề lớn đối với sức khỏe cộng đồng, và là nguyên nhân
gây tử vong đứng thứ hai trên toàn thế giới, chỉ sau bệnh lý tim mạch, ước tính khoảng
10 triệu ca tử vong do ung thư vào năm 2020 [80]. Gánh nặng ung thư tiếp tục gia tăng,
ảnh hưởng lớn đến thể chất, tình cảm và tài chính đối với các cá nhân, gia đình, cộng
đồng và hệ thống y tế [81]. Trong những năm gần đây, các biện pháp điều trị ung thư
ngày càng phát triển nhưng hóa trị vẫn đóng vai trị quan trọng trong điều trị nhiều loại
ung thư tại Việt Nam. Việc sử dụng hóa chất có hiệu quả trong việc tiêu diệt các tế bào

ung thư và làm giảm sự tái phát của ung thư, giúp bệnh nhân kéo dài tuổi thọ và cải thiện
chất lượng cuộc sống [6], [79]. Tuy nhiên, bên cạnh những tác dụng điều trị, hóa chất
cũng gây ra các tác dụng khơng mong muốn nghiêm trọng có thể gây bất lợi cho nhiều
khía cạnh của chất lượng cuộc sống. Một số nghiên cứu cho thấy điểm số chất lượng
cuộc sống tổng thể thấp ở bệnh nhân ung thư đang điều trị bằng hóa chất [24], [38].
Khái niệm “chất lượng cuộc sống” được đề cập ngày càng phổ biến trong nhiều
lĩnh vực. Trong y học, khái niệm này được cụ thể hóa thành “chất lượng cuộc sống liên
quan đến sức khỏe” (HRQOL). Thuật ngữ “chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe”
là một thước đo đa chiều, đề cập đến sức khỏe tổng thể của một cá nhân, bao gồm các
khía cạnh tinh thần, tình cảm, xã hội và thể chất của cá nhân đó. Gần đây trong lĩnh vực
ung thư, chất lượng cuộc sống được xem như một trong các thước đo tiêu chuẩn để đánh
giá hiệu quả điều trị và phản ánh quan điểm của bệnh nhân về tác động của chẩn đoán
và điều trị ung thư đối với cuộc sống hàng ngày [52]. Do vậy, việc tìm hiểu các yếu tố
có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống giúp định hướng các can thiệp lên các vấn đề
về thể chất và tâm lý là rất cần thiết, để từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh
nhân ung thư đang hóa trị.
Mặt khác, hiện nay sự bùng phát của dịch bệnh COVID-19 đã ảnh hưởng đến tất
cả các khía cạnh của cuộc sống hàng ngày. Riêng đối với bệnh nhân ung thư đang điều
trị hóa chất, họ phải đối mặt với một tình huống lựa chọn khó khăn. Nếu bệnh nhân vì
những ngun nhân chủ quan hoặc khách quan, không đến viện để tiếp tục thực hiện các
chu kỳ hóa chất điều trị ung thư, bệnh lý ung thư có thể diễn biến xấu. Trong khi đó,
việc đến bệnh viện thăm khám và điều trị có thể làm tăng nguy cơ nhiễm COVID-19.
Điều này cộng thêm những khó khăn chung về tài chính và tình hình kinh tế khơng ổn
định do dịch COVID-19, có thể gây ra tâm lý lo lắng, đồng thời có những tác động đáng
1


kể đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [26], [73].
Tại Việt Nam, ghi nhận đợt bùng phát dịch COVID-19 lần thứ ba từ ngày
27/01/2021, tuy nhiên tình hình dịch không quá căng thẳng. Đến ngày 21/03/2021, tổng

số ca bệnh ở nước ta là 2572 ca, trong đó có 908 ca mắc mới tính từ ngày 27/01/2021,
phân bố tại 13 tỉnh thành trên cả nước [77]. Trong giai đoạn dịch, nhiều bệnh nhân ung
thư có thể phải hỗn điều trị hoặc thăm khám bác sỹ do yếu tố nguy cơ dịch tễ cao, một
số bệnh nhân cảm thấy khó khăn trong việc di chuyển đến bệnh viện điều trị do các quy
định về phong tỏa, cách ly. Tất cả có thể làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân
ung thư. Tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam về chất lượng cuộc
sống của bệnh nhân ung thư trong giai đoạn này được công bố. Do đó, chúng tơi tiến
hành đề tài nghiên cứu: “Phân tích chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư
đang điều trị hóa chất tại một số bệnh viện chuyên khoa ung bướu trong giai đoạn
dịch bệnh COVID-19” nhằm hai mục tiêu:
Mục tiêu 1: Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đang điều trị hóa
chất trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19 thông qua điểm số chất lượng cuộc sống theo
bộ câu hỏi EORCT QOL-C30.
Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân
ung thư đang điều trị hóa chất trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19.

2


Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về bệnh ung thư và hóa trị trong điều trị ung thư
1.1.1. Bệnh ung thư
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm bệnh ung thư
Ung thư là một thuật ngữ chung cho một nhóm gồm nhiều bệnh khác nhau trong
đó các tế bào tăng sinh một cách bất thường, khơng có kiểm sốt và có thể xâm lấn vào
các tổ chức xung quanh. Tế bào ung thư có khả năng di căn tới các hạch bạch huyết hoặc
các tạng ở xa, hình thành các khối u mới và cuối cùng dẫn tới tử vong. Cùng với di căn
xa, tính chất nhiều bệnh ung thư có thể tái phát sau khi điều trị, điều này làm cho việc
quản lý bệnh sẽ khó khăn và ảnh hưởng xấu đến tiên lượng bệnh [5], [41].
1.1.1.2. Dịch tễ bệnh ung thư

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ước tính năm 2020 có khoảng
19,3 triệu ca mắc mới với các loại ung thư phổ biến bao gồm ung thư vú (11,7%), ung
thư phổi (11,4%), ung thư đại trực tràng (10%), ung thư tuyến tiền liệt (7,3%), ung thư
dạ dày (5,6%), ung thư gan (4,7%), ung thư cổ tử cung (3,1%) và ung thư thực quản
(3,1%). Ung thư trở thành nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trên thế giới, với số
lượng ca tử vong tăng từ 9,6 triệu ca (năm 2018) lên 9,9 triệu ca (năm 2020). Gánh nặng
ung thư tiếp tục gia tăng trên toàn cầu, gây tác động lớn đến vấn đề thể chất, tâm lý và
tài chính của cá nhân, gia đình, cộng đồng và tồn bộ hệ thống y tế; ước tính đến năm
2040, số lượng ca mắc mới có thể lên đến 30,2 triệu người [40], [81].
Tại Việt Nam, theo số liệu mới nhất năm 2020, ước tính khoảng 182563 ca mắc
mới và 122690 ca tử vong do ung thư, xếp thứ 91/185 quốc gia về tỷ suất mắc mới và
thứ 50/185 quốc gia về tỷ suất tử vong trên 100000 người. Thứ hạng này của năm 2018
lần lượt là 99/185 và 56/185 trên thế giới. Như vậy, có thể thấy là tình hình mắc mới và
tử vong do ung thư ở Việt Nam đều đang tăng nhanh [39], [78].
1.1.1.3. Các phương pháp điều trị ung thư
Đặc tính cơ bản của bệnh ung thư là tế bào phát triển mạnh tại chỗ khơng chịu sự
kiểm sốt của cơ thể, xâm lấn rộng ra các vùng tổ chức xung quanh, di căn xa vào hệ
thống bạch huyết và các cơ quan. Do đó, điều trị bệnh ung thư tùy theo loại, giai đoạn
bệnh, mô bệnh học, thể trạng người bệnh,…mà cần điều trị một hoặc phối hợp nhiều
phương pháp trong đó phẫu thuật là phương pháp điều trị tại chỗ; xạ trị là phương pháp
điều trị tại vùng; hóa chất, nội tiết, điều trị đích, miễn dịch là phương pháp điều trị toàn
3


thân [4], [5], [7].
➢ Các phương pháp điều trị tại chỗ, tại vùng:
Phẫu thuật: phẫu thuật dùng để điều trị triệt căn với trường hợp bệnh nhân ở giai
đoạn sớm – tổn thương khu trú chưa có di căn xa; bằng cách cắt rộng, lấy toàn bộ khối
ung thư và một phần tổ chức lành bao quanh, vét toàn bộ hạch vùng với mục đích khơng
cịn để sót lại tế bào ung thư; thường áp dụng cho các loại ung thư như dạ dày, đại trực

tràng, vú, cổ tử cung, … [5], [7]. Phẫu thuật điều trị tạm thời chỉ định cho trường hợp
bệnh ở giai đoạn muộn, tổn thương đã lan rộng. Trong trường hợp này phẫu thuật không
thể lấy hết được những tổ chức ung thư đã xâm lấn rộng ra xung quanh, do đó có thể
dẫn đến tái phát tại chỗ kèm theo di căn xa nếu chỉ được điều trị bằng phẫu thuật đơn
độc [5], [7].
Xạ trị: là phương pháp dùng tia bức xạ ion hóa có năng lượng cao để tiêu diệt
các tế bào ung thư, phương pháp này tiêu diệt được các tế bào ung thư đã xâm lấn rộng
ra các vùng xung quanh khối u nguyên phát, là nơi mà không thể phẫu thuật được. Xạ
trị có thể dùng đơn độc, ví dụ trong ung thư vòm họng; hoặc phối hợp với phẫu thuật,
hóa chất. Xạ trị phối hợp với phẫu thuật thường được áp dụng trong trường hợp ung thư
đã phát triển tương đối lớn; có khi xạ trị trước mổ nhằm giảm bớt thể tích u, hạn chế di
căn xa trong lúc mổ; có khi xạ trị sau mổ nhằm diệt nốt những tế bào ung thư cịn sót lại
sau mổ. Xạ trị phối hợp với hoá chất để tăng khả năng diệt tế bào ung thư tại một khu
vực mà điều trị hố chất khơng đủ khả năng diệt hết [5], [7].
➢ Các phương pháp điều trị toàn thân:
Khoảng 1/3 số bệnh nhân ung thư khi phát hiện bệnh, chẩn đốn cịn ở giai đoạn
tại chỗ, chưa có di căn xa, nên có thể chỉ cần điều trị bằng các phương pháp tại chỗ.
Nhưng khoảng 2/3 số bệnh nhân khi phát hiện đã ở giai đoạn muộn, đã có di căn xa hoặc
nghi ngờ có di căn xa. Các trường hợp này cần có các phương pháp điều trị tồn thân,
bao gồm các liệu pháp: điều trị bằng hóa chất, điều trị nội tiết, điều trị (nhắm) đích và
điều trị miễn dịch [5], [6], [7].
Hóa trị liệu (Chemotherapy): là phương pháp đưa các thuốc hóa chất vào cơ thể
theo các con đường khác nhau nhằm mục đích tiêu diệt tất cả các tế bào ung thư đang
lưu hành trong cơ thể người bệnh. Mặc dù mục tiêu là các tế bào ung thư phát triển
khơng kiểm sốt, hóa chất cũng tác dụng trên các tế bào lành, gây ra nhiều tác dụng
khơng mong muốn ảnh hưởng đến sức khỏe tồn thân, do đó lựa chọn phác đồ và liều
4


lượng hóa chất đưa vào cơ thể cần cân nhắc cả yếu tố hiệu quả và nguy cơ gặp các tác

dụng khơng mong muốn [5], [6], [7].
Ngồi ra, một số biện pháp điều trị ung thư khác có thể bao gồm điều trị nội tiết,
điều trị đích, miễn dịch, sử dụng phối hợp với các phương pháp điều trị khác. Bản thân
các phương pháp này khơng có tác dụng điều trị triệt căn và được sử dụng tùy thuộc vào
đặc điểm bệnh, tính sẵn có, mong muốn của bệnh nhân [6].
1.1.2. Hóa trị trong điều trị ung thư
1.1.2.1. Vai trị của hóa trị trong điều trị ung thư
Hóa trị liệu là biện pháp điều trị ung thư có hiệu quả nhằm loại bỏ và ngăn chặn
các tế bào ung thư trong cơ thể, giúp bệnh nhân cải thiện chất lượng cuộc sống và kéo
dài tuổi thọ [6], [28]. Vai trò của hóa trị khác nhau theo từng loại ung thư và theo từng
tình huống lâm sàng cụ thể:
- Hóa trị điều trị chính: thường áp dụng cho bệnh nhân ung thư giai đoạn di căn
(thường là giai đoạn IV), lan tràn hoặc khơng có phương pháp điều trị hiệu quả khác;
nhằm mục tiêu giảm nhẹ các triệu chứng của bệnh, cải thiện chất lượng cuộc sống tổng
thể, kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân. Bên cạnh đó, hóa chất có thể dùng trong điều trị
triệt căn với một số bệnh ung thư như bệnh bạch cầu cấp tính, u lympho ác tính khơng
Hodgkin, bệnh Hodgkin, ung thư tế bào mầm và ung thư biểu mơ tuyến [29].
- Hóa trị bổ trợ (adjuvant chemotherapy): Hóa trị bổ trợ được sử dụng để điều
trị ở bệnh nhân có nguy cơ tái phát cao sau khi đã điều trị bằng phương pháp điều trị tại
chỗ (phẫu thuật, xạ trị) nhằm mục đích tiêu diệt các tế bào ung thư cịn sót lại, những
tổn thương vi di căn không phát hiện được để ngăn ngừa tái phát sau điều trị và kéo dài
thời gian sống thêm cho người bệnh. Tiêu chí để đánh giá nguy cơ tái phát bao gồm: vị
trí, kích thước khối u, đặc điểm sinh học của khối u nguyên phát, mức độ hạch vùng
(nguy cơ có thể thay đổi ở các giai đoạn I, II hay III) và trong một số trường hợp cần
đánh giá nguy cơ di truyền [48]. Các thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh hiệu quả của
hóa trị bổ trợ trong việc kéo dài thời gian sống không bệnh và thời gian sống tổng thể ở
bệnh nhân ung thư vú, đại tràng, dạ dày, khối u Wilms [29], [48].
- Hóa trị tân bổ trợ (Neoadjuvant chemotherapy): điều trị hóa chất được thực
hiện trước các phương pháp điều trị tại chỗ (phẫu thuật, xạ trị) nhằm ba mục tiêu chính:
thu nhỏ kích thước khối u nguyên phát tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật hoặc xạ

trị; tiêu diệt tổn thương vi di căn đã xuất hiện; đánh giá mức độ nhạy cảm của tế bào ung
5


thư với hóa chất giúp lựa chọn phác đồ điều trị bổ trợ sau phẫu thuật hoặc xạ trị. Hiện
nay, hóa trị tân bổ trợ đã được chứng minh hiệu quả ở bệnh nhân ung thư vú tiến triển
tại chỗ, ung thư thanh quản, thực quản, bàng quang [7], [48].
1.1.2.2. Tác dụng khơng mong muốn của hóa trị
Bên cạnh những hiệu quả trên quản lý bệnh ung thư, hóa trị có thể đi kèm với
một số tác dụng khơng mong muốn ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả điều trị và chất
lượng cuộc sống của bệnh nhân [6], [24], [38]. Các triệu chứng mà bệnh nhân gặp phải
trong quá trình hóa trị cịn làm thay đổi nhận thức của bệnh nhân về liệu pháp điều trị,
từ đó tác động đến vấn đề tâm lý của bệnh nhân [64]. Các tác dụng khơng mong muốn
phổ biến của hóa trị được báo cáo bao gồm các tác dụng trên da, móng, tóc, và trên hệ
tiêu hóa [36], [56]. Dưới đây là một số tác dụng không mong muốn thường được đề cập
của hóa trị:
- Tác dụng khơng mong muốn trên da, móng, tóc: thường gặp là rụng tóc, ban đỏ,
hội chứng lịng bàn tay, bàn chân, tăng sắc tố da và thay đổi ở móng,… Rụng tóc là một
trong các dấu hiệu phổ biến ở bệnh nhân hóa trị. Đối với nhiều bệnh nhân, rụng tóc
khiến họ cảm thấy buồn chán vì sự thay đổi ngoại hình của bản thân, điều này có thể có
ảnh hưởng nhất định đến tâm lý người bệnh [18], [48].
- Tác dụng không mong muốn trên hệ tiêu hóa: các tác dụng phụ trên đường tiêu
hóa (GI) thường phổ biến với hầu hết các thuốc hóa chất, bao gồm viêm miệng, viêm
thực quản, khó nuốt, viêm dạ dày, buồn nôn và nôn, bất thường chức năng gan, tiêu
chảy, táo bón,…Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng các tác dụng không mong muốn
này thường được báo cáo không đầy đủ. Một báo cáo về buồn nôn và nôn do hóa trị
(CINV), tỷ lệ gặp CINV cấp tính (trong vòng 24 giờ sau khi dùng thuốc) ở 37% đến
59% và CINV muộn (>24 giờ sau khi dùng thuốc) ở 47% đến 75% bệnh nhân điều trị
hóa chất [48]. Buồn nơn và nơn do hóa trị làm giảm chất lượng lượng cuộc sống của
bệnh nhân [17], [27], [31], [59]; gây gián đoạn điều trị và giảm tỷ lệ tuân thủ điều trị

của bệnh nhân, tình trạng nơn nặng có thể dẫn đến mất nước, mất cân bằng điện giải,
thường xuyên dẫn đến nhập viện và tăng chi phí chăm sóc sức khỏe. Hiện nay buồn nôn
và nôn đã được kiểm sốt tốt hơn nhờ các phác đồ chống nơn; trong giai đoạn nơn muộn,
dự phịng đầy đủ theo hướng dẫn của Bộ Y Tế và NCCN làm tăng khả năng không gặp
biến cố của bệnh nhân [10], [11]; tuy nhiên đây vẫn là mối lo ngại đối với nhiều bệnh
nhân. Bên cạnh đó, tiêu chảy cũng được báo cáo là tác dụng khơng mong muốn của hố
6


trị có tác động đáng kể đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [63]. Các bệnh về răng
miệng thường xảy ra ở khoảng 10% bệnh nhân điều trị hóa chất bổ trợ và khoảng 40%
với điều trị chính là hóa chất. Việc quản lý độc tính nghiêm trọng ở khoang miệng bằng
cách làm giảm liều hoặc gián đoạn điều trị hóa chất có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều
trị và thời gian sống thêm của bệnh nhân. Việc quản lý tốt các vấn đề răng miệng trước
và sau hóa trị là cần thiết, góp phần giảm nguy cơ di chứng tồn thân, giảm chi phí chăm
sóc bệnh nhân và nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh [48].
- Mệt mỏi: là một trong các tác dụng không mong muốn phổ biến của hóa trị. Tỷ
lệ mệt mỏi ở bệnh nhân ung thư được ước tính là từ 10% đến 99%; có thể lên tới 90,3%
ở bệnh nhân đang điều trị hóa chất. Hầu hết các nghiên cứu đã báo cáo tỷ lệ mệt mỏi từ
mức độ trung bình đến nặng tương đối cao (30% -60%), có thể dẫn đến việc phải ngừng
điều trị [20]. Mệt mỏi do hóa trị thường xảy ra trong vịng hai tuần sau hóa trị, có thể
kéo dài nhiều năm sau khi kết thúc điều trị và thường ít cải thiện khi người bệnh nghỉ
ngơi. Mệt mỏi tác động lên tất cả các khía cạnh của cuộc sống (thể chất, hoạt động, cảm
xúc, xã hội), từ đó làm giảm chất lượng cuộc sống và giảm thời gian sống thêm bệnh
nhân [19].
Ngoài các tác dụng kể trên, hóa trị cịn tiềm tàng nhiều tác dụng không mong
muốn khác như là: viêm tắc tĩnh mạch, suy tủy xương, bệnh lý thần kinh ngoại biên, …
1.2. Tổng quan về chất lượng cuộc sống
1.2.1. Khái niệm về chất lượng cuộc sống và chất lượng cuộc sống liên quan đến
sức khỏe

Khái niệm “chất lượng cuộc sống” xuất hiện lần đầu tiên vào 1920, tuy nhiên đến
năm 1960 nó mới được chú ý đến và dần trở nên phổ biến trong nhiều thập kỷ gần đây
[69]. Kể từ đó, nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng cuộc sống đã được các cá nhân
và tổ chức đề xuất, tuy nhiên chưa có sự đồng thuận rõ ràng về việc dùng định nghĩa
nào là phù hợp nhất. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1993, chất lượng
cuộc sống là quan niệm của mỗi cá nhân về các khía cạnh của cuộc sống phù hợp với
nền văn hóa và hệ thống các giá trị ở nơi mà họ sinh sống, có liên quan đến mục tiêu,
kỳ vọng, tiêu chuẩn và sở thích của họ. Đây là một khái niệm rộng, chịu các tác động
phức tạp từ đặc điểm thể chất, tình trạng tâm lý, mức độ độc lập chức năng sinh hoạt,
các mối quan hệ xã hội, niềm tin cá nhân và mối liên hệ với các đặc điểm của môi trường
[72]. Năm 2000, Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa CLCS là “cảm
7


giác hạnh phúc và hài lòng với cuộc sống và mơi trường xung quanh, bao gồm tất cả các
khía cạnh của cuộc sống: sức khỏe, giải trí, văn hóa, quyền lợi, giá trị, niềm tin, mong
muốn và các điều kiện để có một cuộc sống bao gồm tất cả các yếu tố trên” [37]. Như
vậy, chất lượng cuộc sống là một khái niệm đa chiều gồm những đánh giá chủ quan về
cả khía cạnh tích cực và tiêu cực của cuộc sống [71]. CLCS là một khái niệm rộng và
khó định nghĩa vì có nhiều yếu tố tiềm ẩn (ví dụ: chức năng, tình trạng và nhận thức về
sức khỏe, điều kiện sống, sự hạnh phúc, sự hài lòng, văn hóa, giá trị và lối sống, …).
Khái niệm chất lượng cuốc sống liên quan đến sức khỏe (HRQOL) được phát
triển từ những năm 1980 bao gồm các khía cạnh của chất lượng cuộc sống tổng thể mà
được chỉ ra là có ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần. Đến nay, có nhiều định
nghĩa về HRQOL nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất nào được đưa ra, dưới đây
là một số định nghĩa về HRQOL [42]:
- Đầu tiên, HRQOL có thể được định nghĩa là các chức năng của con người trong
cuộc sống và nhận thức về hạnh phúc trong các lĩnh vực sức khỏe thể chất, tinh thần và
xã hội.
- Định nghĩa thứ hai về HRQOL liên quan trực tiếp với chất lượng cuộc sống:

CLCS là một khái niệm toàn diện bao gồm tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến cuộc sống
của một cá nhân, trong đó HRQOL chỉ bao gồm những yếu tố là một phần của sức khỏe
cá nhân. Các khía cạnh phi sức khỏe của CLCS, ví dụ như hồn cảnh kinh tế và chính
trị, khơng bao gồm trong HRQOL.
- Định nghĩa thứ ba về HRQOL tập trung vào các khía cạnh của CLCS bị ảnh
hưởng bởi sức khỏe. HRQOL được định nghĩa là các khía cạnh của hạnh phúc mà cá
nhân tự nhận thức rằng có liên quan đến hoặc bị ảnh hưởng bởi bệnh hoặc việc điều trị.
- Định nghĩa thứ tư của HRQOL tập trung vào giá trị của sức khoẻ, HRQOL có
thể là các giá trị tham chiếu chỉ các trạng thái sức khỏe khác nhau. Các giá trị này được
sử dụng để tính tốn QALYs (Quality adjusted life years: số năm sống trong tình trạng
sức khỏe hồn hảo) và đo lường lợi ích của các can thiệp y tế.
Như vậy, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe là một phần của CLCS,
đề cập đến các khía cạnh sức khỏe của CLCS một cách đa chiều, thay đổi theo thời gian,
phản ánh sự ảnh hưởng của bệnh tật và liệu pháp điều trị lên bệnh nhân, do chính họ tự
đánh giá.Đánh giá chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe là một trong những
phần quan trọng trong việc đo lường kết quả đầu ra của bệnh nhân cũng như các can
8


thiệp y tế [35].
Hiện nay, việc phân biệt giữa hai khái niệm CLCS và CLCS liên quan đến sức
khỏe còn gặp nhiều khó khăn. Khái niệm CLCS phản ánh một tổng thể về con người và
có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của một cá nhân, bao gồm CLCS liên quan
đến sức khỏe và CLCS không liên quan đến sức khỏe. Không dễ để tách biệt hai khái
niệm này bởi tất cả các khía cạnh của CLCS đều ít nhiều ảnh hưởng trực tiếp hay gián
tiếp đến CLCS liên quan đến sức khỏe [42].
1.2.2. Mơ hình chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe
Mơ hình lý thuyết về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe là tổng hợp
tất cả các khía cạnh và mối liên hệ qua lại giữa các khía cạnh của HRQOL, mơ hình rất
quan trọng đối với việc lựa chọn các cơng cụ đo lường thích hợp và cho phép xây dựng,

kiểm tra các giả thuyết về quan hệ nhân quả trong cấu trúc phức tạp của HRQOL. Ngồi
ra, mơ hình cịn giúp định hướng các biện pháp can thiệp cho các giai đoạn bệnh khác
nhau [16], [33]. Năm 1995, Wilson và Cleary đã cơng bố một mơ hình về CLCS liên
quan đến sức khỏe; theo đó, các bác sỹ cần đặc biệt chú ý đến các biến số lâm sàng, như
là phương pháp điều trị sẽ có tác động thế nào đến tình trạng triệu chứng, tình trạng chức
năng và CLCS tổng thể của bệnh nhân [68]. Năm 2015, bản sửa đổi mơ hình (HRQOL)
của Wilson và Cleary (Hình 1.1) ra đời, trong đó 5 miền chính của mơ hình ban đầu
được giữ lại bao gồm: đặc điểm sinh học, các triệu chứng, tình trạng chức năng, nhận
thức chung về sức khỏe và chất lượng cuộc sống tổng thể. Nhóm tác giả đã đưa ra các
định nghĩa rõ ràng về đặc điểm cá nhân và môi trường, đồng thời cũng đơn giản hóa mơ
hình bẳng cách loại bỏ các yếu tố phi y tế trên mơ hình. Đây là mơ hình có tiềm năng
lớn nhất để hướng dẫn nghiên cứu và thực hành HRQOL [16]. Mơ hình lý thuyết là điểm
khởi đầu cho việc tạo ra các bộ công cụ đánh giá CLCS, từ đó giúp so sánh và lựa chọn
bộ công cụ phù hợp nhất [33].

9


Đặc điểm cá nhân:
Yếu tố nhân khẩu học: tuổi, dân tộc, học vấn, việc làm, …
Lối sống: tập thể dục, hút thuốc, uống rượu, hoạt động thể chất

Nhận thức

Chất lượng cuộc

năng:

chung về sức


sống tổng thể:

Các triệu chứng

Chức năng thể

khỏe:

Mô tả mức độ

Các xét nghiệm,

về thể chất, cảm

chất, hoạt động,

Đánh giá chủ

hạnh phúc hoặc

đánh giá thể chất,

xúc, nhận thức

tâm lý và xã hội.

quan về tất cả

hài lòng với


phương pháp điều

của bệnh nhân.

các khía cạnh

CLCS nói chung.

Các yếu tố sinh

Tình trạng triệu

Tình trạng chức

học, sinh lý học và

chứng:

lâm sàng:

trị, giai đoạn bệnh.

của sức khỏe.

Đặc điểm mơi trường:
Mơi trường xã hội: tình trạng hôn nhân, trách nhiệm với con cái, trách nhiệm và hỗ trợ xã hội
Môi trường vật lý: môi trường sống
Hỗ trợ kinh tế: thu nhập, chính sách bảo hiểm
Hình 1.1. Mơ hình chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của Wilson và Cleary đã được sửa đổi [32]
10



1.2.3. Đo lường chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe.
Trong hai thập kỷ vừa qua, Hiệp hội Quốc tế về nghiên cứu chất lượng cuộc sống
(ISOQOL) đã nỗ lực thúc đẩy nghiên cứu khoa học về chất lượng cuộc sống liên quan
đến sức khỏe và chăm sóc sức khỏe trên toàn thế giới. CLCS là khái niệm mang tính
chất chủ quan, do mỗi người tự đánh giá nên việc đo lường CLCS cũng sử dụng những
phương pháp chủ quan, cụ thể là các bộ câu hỏi cho bệnh nhân tự trả lời. Hiện nay có
khoảng hơn 800 bộ công cụ khác nhau đã được xây dựng để đánh giá chất lượng cuộc
sống, các bộ công cụ được chia thành hai loại: bộ công cụ chung và bộ công cụ đặc hiệu
cho một bệnh cụ thể. Các bộ công cụ chung được sử dụng rộng rãi trên bất kỳ một nhóm
dân số nào, bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến sức khỏe nhằm so sánh chất lượng
cuộc sống của bệnh nhân mắc những bệnh khác nhau. Ví dụ, các bộ câu hỏi Đánh giá
chức năng của liệu pháp điều trị bệnh mạn tính (FACIT) được sử dụng trên một nhóm
dân số chung với kết quả được sử dụng để làm tiêu chuẩn so sánh và hiểu rõ hơn về
những thay đổi về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe trong các thử nghiệm
lâm sàng [21], [23]. Ngược lại, các bộ công cụ đặc hiệu cho một bệnh cụ thể với các câu
hỏi tập trung chủ yếu vào tình trạng bệnh lý hoặc phương pháp điều trị đang được nghiên
cứu; do đó, khía cạnh thay đổi về lâm sàng cũng được phản ánh tốt hơn so với các bộ
công cụ chung [23]. Một số bộ công cụ đo lường HRQOL nói chung và dành riêng cho
bệnh nhân ung thư được liệt kê trong bảng 1.1. Mỗi bộ cơng cụ có nhưng ưu điểm và
nhược điểm riêng được mô tả trong bảng 1.2.
Bảng 1.1. Một số bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe
Bộ công cụ chung

Bộ công cụ cho BN ung thư

WHOQOL-BREF [70]

Functional Assessment of Cancer Therapy


Medical Outcomes Study Short-Form

General (FACT-G) [22]

36 (SF36) [67]

European Organization for the Research and

EuroQol-5D (EQ-5D) [76]

Treatment of Cancer Quality of Life

Sickness Impact Profile (SIP)

Questionnaire Core 30-item (EORTC QLQ-

Nottingham Health Profile (NHP)

C30) [12]
Cancer Rehabilitation Evaluation System
(CARES) [54]

11


Bảng 1.2. Ưu điểm và nhược điểm của một số bộ công cụ đo lường HRQOL
Ứng dụng

Ưu điểm


Nhược điểm

Bộ công cụ

- Báo cáo và theo dõi kết - Có thể sử dụng trên các - Có thể khơng

chung:

quả trong các buổi khám

bệnh và quần thể

nhạy cảm với

WHOQOL-

lâm sàng.

- Cho phép so sánh cùng

sự thay đổi

BREF [58],

-Theo dõi sức khỏe dân

một chỉ số giữa các

như các công


[70];

số

bệnh, mức độ sức khỏe

cụ dành riêng

SF-36 [67],

- Ước tính gánh nặng

và độ tuổi.

cho bệnh ung

EQ-5D [55]

của các bệnh tật khác

- Dễ quản lý

thư.

nhau

- Đánh giá QOL chi tiết

- Không đưa ra


- Là điểm cuối trong các

bằng điểm số

một điểm

thử nghiệm lâm sàng

CLCS tổng thể

Bộ công cụ

- Đánh giá đầy đủ tất cả

- Nhạy hơn với các sự

- Thường chỉ

cho bệnh

các khía cạnh của

khác biệt nhỏ hoặc thay

áp dụng với

nhân ung

HRQoL


đổi nhỏ theo thời gian

bệnh cụ thể.

thư:

- Sử dụng trong các

- Tính đặc hiệu cho đối

EORTC

nghiên cứu lâm sàng đa

tượng nghiên cứu.

QLQ-C30

văn hóa

- Dễ quản lý và có thể tự

[12], [61];

quản lý.

FACT-G

- Dễ thu thập và tính


[22]

điểm.
- Cung cấp một giá trị
QOL tổng thể
Trong lĩnh vực ung thư, bộ câu hỏi đánh giá chất lượng cuộc sống được thiết kế

đặc biệt nhằm đo lường các mối quan tâm được ghi nhận ở bệnh nhân ung thư (ví dụ:
các triệu chứng và tác động của điều trị ung thư) và các bộ công cụ này phải nhạy với
các thay đổi nhỏ của HRQOL [60]. Trong đó, EORCT QOL-C30 và FACT-G là hai bộ
câu hỏi được sử dụng phổ biến nhất trên bệnh nhân ung thư đang điều trị hóa chất. Cả
hai bộ cơng cụ có nhiều điểm tương đồng, đánh giá đầy đủ các khía cạnh của HRQOL.
Tuy nhiên, EORCT QOL-C30 nhấn mạnh vào tình trạng sức khỏe và các triệu chứng
trong khi FACT-G lại tập trung hơn vào khía cạnh tâm lý xã hội [34], [75]. Thật khó để
12


đưa ra đánh giá bộ câu hỏi nào tốt hơn, tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu liên quan đến
sự tác động của loại khối u, phương pháp điều trị hoặc các triệu chứng cụ thể để lựa
chọn bộ công cụ thích hợp [43]. Trong nghiên cứu này, chúng tơi tập trung trên đối
tượng bệnh nhân đang điều trị hóa chất, đánh giá các tác dụng khơng mong muốn của
hóa chất ảnh hưởng lên CLCS của bệnh nhân, do đó nghiên cứu lựa chọn bộ công cụ
EORCT QOL-C30. Bộ công cụ EORCT QLQ-C30, trung bình cần 11-12 phút để hồn
thành bảng câu hỏi và trong tất cả các trường hợp đều do bệnh nhân tự điền với ít hoặc
khơng có sự hỗ trợ. Trong một nghiên cứu trên mẫu bệnh nhân thư phổi đa dạng về văn
hóa, EORCT QLQ-C30 đạt yêu cầu xuất sắc trong việc đo lường chất lượng cuộc sống
của bệnh nhân và bộ cơng cụ cịn đáp ứng được với tình trạng sức khỏe bệnh nhân thay
đổi theo thời gian [12]. Ngồi ra, tính sẵn có phiên bản tiếng Việt của bộ công cụ cũng
là một ưu điểm để khơng tốn thời gian và chi phí liên quan đến bản dịch so với các bộ

công cụ khác.
1.3. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đang điều trị hóa chất
1.3.1. Lợi ích của đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đang điều
trị hóa chất
Ngày nay trong lĩnh vực ung thư, đo lường HRQOL được sử dụng như một thước
đo để đánh giá hiệu quả điều trị, là một trong những chỉ tiêu nghiên cứu trong các thử
nghiệm lâm sàng. HRQOL giúp đánh giá các vấn đề như thể chất, tâm lý của bệnh nhân
hoặc cung cấp các thông tin quan trọng về tình trạng bệnh nhân, tác dụng khơng mong
muốn của hóa chất để lập kế hoạch điều trị tốt hơn, khắc phục các sự cố không mong
muốn, đem lại cuộc sống tốt hơn cho người bệnh. CLCS cũng được xem xét như một
chỉ số giúp các bác sĩ đánh giá tiến triển, tiên lượng bệnh của bệnh nhân bên cạnh các
chỉ số lâm sàng. Bên cạnh đó, đo lường CLCS cịn dùng để so sánh hiệu quả giữa các
phương pháp điều trị [34], [60].
Với bệnh nhân ung thư đang hóa trị, đo lường HRQOL giúp đánh giá tác động
của hóa trị đối với bệnh nhân để đưa ra các can thiệp phù hợp. Hiện nay, nhiều thử
nghiệm lâm sàng tích hợp việc đo lường CLCS để đánh giá hiệu quả của các can thiệp
liên quan đến hóa trị, ví dụ như các thử nghiệm lâm sàng chứng minh vai trò tư vấn sử
dụng hóa chất bởi dược sỹ trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh
[47], [66].

13


1.3.2. Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đang
điều trị hóa chất.
1.3.2.1. Các yếu tố về nhân khẩu học của bệnh nhân
Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy mối quan hệ giữa chất lượng cuộc sống
của bệnh nhân ung thư đang điều trị hóa chất với các yếu tố nhân khẩu học của bệnh
nhân. Trong đó, độ tuổi có mối liên hệ với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư
đang điều trị hóa chất. Một nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh nhân trong độ tuổi từ 40 đến 60

tuổi đạt điểm cao hơn trên thang điểm triệu chứng tiêu chảy và khó khăn tài chính, tức
là họ gặp vấn đề về tiêu chảy và khó khăn tài chính nhiều hơn so với các nhóm tuổi khác
[46]. Kết quả từ một nghiên cứu khác cho thấy, bệnh nhân trên 65 tuổi có chất lượng
cuộc sống tốt hơn trên lĩnh vực tâm lý, điều này được giải thích rằng bệnh nhân lớn tuổi
có thể ít lo lắng hơn về vấn đề tài chính vì sự phụ thuộc tài chính vào các con của họ
[62].
Nhiều nghiên cứu đồng thuận rằng bệnh nhân giới tính có ảnh hưởng đến chất
lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư đang hóa trị [24], [46], [75]. Một nghiên cứu
mô tả cắt ngang tiến hành trên 352 bệnh nhân hóa trị tại đơn vị hóa trị ngoại trú của một
bệnh viện tiểu bang ở Thổ Nhĩ Kỳ, kết quả nghiên cứu cho thấy nữ giới có sức khỏe thể
chất và các hoạt động xã hội kém hơn nam giới [64]. Bên cạnh đó, điểm số chức năng
nhận thức ở nữ giới cũng thấp hơn so với nam giới [46].
Mối liên quan giữa tình trạng hơn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập
cá nhân và CLCS của bệnh nhân ung thư đang hóa trị cũng đã được ghi nhận trong một
số nghiên cứu [14], [46], [50], [62]. Bệnh nhân nghỉ hưu hoặc ở nhà nội trợ có sức khỏe
tổng qt tốt hơn, ít gặp triệu chứng buồn nôn và nôn hơn so với các bệnh nhân đang
phải hoạt động kinh tế [46]. Ngoài ra, các bệnh nhân làm nơng nghiệp hoặc kinh doanh
có chức năng hoạt động kém hơn so với các nhóm nghề nghiệp khác (p = 0,04) [50].
1.3.2.2. Các yếu tố về bệnh lý và điều trị ung thư
Loại ung thư cũng liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư
hóa trị: các loại ung thư khác nhau thì các lĩnh vực bị ảnh hưởng khác nhau [38], [64],
[75]. Với ung thư vùng đầu cổ, chức năng vật lý bị ảnh hưởng nhiều nhất với các biểu
hiện triệu chứng khó nuốt, khó nói, khơ miệng, đau và mệt mỏi. Hay với ung thư đại
trực tràng, điểm số QOL tổng quát kém có liên quan đến tình trạng tâm lý căng thẳng
và giai đoạn bệnh [75]. Bệnh nhân ung thư vú được báo cáo là có chức năng xã hội kém
14


×