Tải bản đầy đủ (.pdf) (102 trang)

Báo điện tử với việc đưa tin về bạo lực gia đình đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở trọng điểm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.86 MB, 102 trang )

KHOA XA HOI HOC
--------- &------------

ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CAP CO SO TRONG DIEM

BẢO ĐIỆN TỬ VỚI VIỆC ĐƯA TIN:.
VE BAO LUC GIA DINH
HOC VIEN BAO CH TUYEN TRUYEN |
83 4 - «¿0.14

JƯ†————TP7

Chủ nhiệm đề tài: TS Phạm Hương Trà

HA NỘI - 2013


MUC LUC

Trang

Danh mục các chữ việt tat

Danh mục các hình, bảng, biểu, hộp trong dé tài

MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU CỦA ĐÈ TÀI

10


1.1

Khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài

10

1.2

Lý thuyết chức năng áp dụng trong nghiên cứu

20

1.3

Quan diém của Đảng, Nhà nước và các cơ quan truyền thông về vấn

22

đề BLGĐ

Chương 2
2.1

: SU PHAN ANH VE BAO LUC GIA DINH TREN BAO DIEN TU
VIET NAM HIEN NAY


Thông tin chung về mẫu nghiên cứu

32


32

2.2 - Thực trạng đưa tin về bạo lực gia đình trên báo điện tử

39

Chương3

64

: NHỮNG VẤN ĐÈ ĐẶT RA VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ
NHAM NANG CAO CHAT LUONG BAI VIET VE BAO LUC
GIA DINH TREN BAO ĐIỆN TỬ

3.1

Những vấn đề đặt ra

3.2

Một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng bài viết về bạo lực
gia đình trên báo điện tử

KET LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

64


83
87
89


DANH MUC CAC CHU VIET TAT TRONG DE TAI
BL

: Bao luc

BLGD

: Bạo lực gia đình

DLXH

:Dư luận xã hội

CNH, HDH

:Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa

CTQG

: Chính trị quốc gia

ĐHQG

: Đại học Quốc gia


KHXH

: Khoa học xã hội

Nxb

: Nhà xuất bản

TH

: Trường hợp

TTĐC

: Truyền thơng đại chúng

TTTT

:Thơng tin Truyền thơng

VHTT

:Văn hóa thơng tin

SKSS

: Sức khỏe sinh sản


DANH MUC CAC HiNH, BANG, BIEU, HOP TRONG DE TAI

TT

Tên các bang, biểu,

hộp, hình

Bảng 2.1 | Tương quan giữa thê loại báo chí với tên báo (số lượng)
Bảng 2.2 | Chuyên mục đăng tải bài việt về bạo lực gia đình

Bảng 2.3 - | Nhóm ngun nhân dẫn đến BLGĐ được đê cập trong bài |
Biéu 2.1

viet
| Chủ đề chính và phụ được đê cập trong bài viết

Trang

33
36

54
38

Biểu 2.2 | Khuôn mẫu BLGĐ được đề cập trong các bài viết
Biểu 2.3 | Hình thức BLGĐ được đề cập trong các bài viết
Biểu 24 | Sô lượng bài viết đề cập tới sự kết hợp các hình thức|

40
46
46


Biểu 3.1

65

BLGĐ

| Hành vi của người gây BL được để cập trong các bài viết |

Biểu 3.2

| Số lượng bài viết đề cập tới cơ sở giúp đỡ nạn nhân

Biểu 3.4
H6p 2.1

| Nhân vật trong ảnh mà tác giả các bài việt muôn thê hiện
| Bài “CLB những ông chồng yêu vợ (l): Chuyện vê|
những người chồng “thích là... đánh””

Biểu 3.3

| Ngơn ngữ mơ tả BLGĐ thê hiện qua các bài viết

68

_74

79
12


Hộp 3.1

| Bài “Chuyện về những người chơng “thích là... đánh”

71

Hộp 3.3
Hộp 3.4

Bài “Mâu thuẫn vợ chong, dùng búa giết vợ”
| Xu hướng viết ngắn, nói ngắn

75
78

H6p 3.2

| Bài “Chỗng cuồng ghen nhốt vợ vảo...chng chó”

73


MO DAU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ năm 1989, báo cáo của Liên Hiệp quốc đã chỉ rõ bạo lực chống lại
phụ nữ trong gia đình là một vấn đề nghiêm trọng của tất cả các nước trên thế giới
|37, tr 383]. Mặc dù trong vài thập niên trở lại đây, dưới tác động của quá trình đổi

mới, gia đình Việt Nam đang có những biến đổi mạnh mẽ, đó là những thay đổi về

hình thái, cơ cấu, chức năng về những mối quan hệ nội tại đến những thay đổi về vị
trí, vai trị của các thành viên nói chung trong gia đình. Bên cạnh những mặt tích
cực cịn có những mặt trái của nó như những hiện tượng nghiện hút, cờ bạc, phân

hóa giàu nghèo...đã làm gia tăng nhiều thách thức trong gia đình ở Việt Nam,
trong đó BLGĐ đang là một vẫn đề đang gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đối
với sự phát triển của gia đình và xã hội mà nạn nhân chủ yếu là phụ nữ và trẻ em.
Trong thực tế tình trạng BLGĐ

có sự khác nhau về mức độ, tính chất, cách

thức biểu hiện cũng như nhận thức khi đánh giá về BLGĐ giữa các nhóm xã hội.
Số liệu thống kê của Việt Nam trong thời gian gần đây cho thấy tình trạng BLGĐ
có xu hướng gia tăng, nguy hiểm hơn và ngày càng biểu hiện tinh vi, phức tạp hơn.

Theo Báo cáo kết quả điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 do Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê, Viện Gia đình và Giới, Quĩ Nhi đồng Liên

hợp quốc phối hợp thực hiện đã có 21,2% số cặp vợ chồng đã từng trải qua một
trong các hình thức BLGĐ như: đánh đập, măng mỏ hoặc phải chấp nhận quan hệ
tình dục khi khơng mong muốn. Điều đáng chú ý hơn là phần lớn những vụ BLGĐ
nảy là do người chồng gây ra đối với người vợ trong gia đình.
Nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của tình trạng bạo lực trong gia đình,
trong những năm gần đây, Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị -xã hội đã có
những hành động tích cực trong phịng chống tệ nạn này. Điều đó được thể hiện rõ

nét trong các văn bản pháp luật như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Hơn
nhân và Gia đình, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em...Cùng với những chủ
trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước các cấp, các ngành và các đoàn thể xã


hội cũng đang đấy mạnh các hoạt động can thiệp nhằm giảm thiểu tình trạng

BLGBĐ...thể hiện rõ trong Luật Phịng chống bạo lực gia đình được Quốc hội khóa
XII thơng qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 21/11/2007.
Tuy nhiên ở Việt Nam, bạo lực trong gia đình vẫn cịn là một vấn đề nhạy
cảm, gắn liền với tính riêng tư trong mỗi gia đình, vì thế cịn bị che dấu, ít người
muốn nói ra. Trong những năm gần đây vấn đề này đã, đang được dư luận xã hội


cũng như nhiều nhà nghiên cứu quan tam va dé cập trên các phương tiện truyền
thơng như báo chí, truyền hình đặc biệt là những hành vi bạo lực đối với phụ nữ.
Những nghiên cứu về giới và truyền thông ở Việt Nam đều chia sẻ quan điểm
cho rằng truyền thơng có tác động rất lớn tới cơng chúng. Bởi truyền thơng với vai
trị là phương tiện giáo dục nhận thức thơng qua việc truyền tải, giải thích, tun
truyền, vận động... góp phan tạo được dư luận xã hội và môi trường thuận lợi cho

việc thay đổi thái độ và hành vi của các nhóm xã hội. Thực tế, nhiều nghiên cứu đã
cho thấy, trong xã hội hiện đại, 1⁄2 lượng thông tin mà con người thu nhận được là
thông qua hệ thống truyền thông đại chúng. Cùng với quá trình tồn cầu hố, sự
phát triển của cơng nghệ thơng tin, các phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt
Nam cũng có những bước tiến vượt bậc. Trước hết là sự đa dạng hố các loại hình
và hình thức truyền thông. Theo số liệu của BO Thong tin va truyền thơng, tính đến
tháng 6 năm 2012, cả nước đã có 748 cơ quan báo chí in với 1.052 ấn phẩm báo
chí, 184 báo, 564 tạp chí, 25 báo ngày,

67 đài phát thanh, truyền hình, 62 báo điện

tử, 1024 trang tin điện tử tổng hợp chung (trong đó có 300 trang của các cơ quan
báo


chí)

(AguầnBáo

cáo



kế

cơng

tác

quản



nhà

nước

6

tháng

đẩu

năm




phương hướng nhiệm vụ cơng tác 6 tháng cuỗi năm 2012 của Bộ Thông tin va Truyén thong)

-_ BLGĐ

là vấn đề được cả xã hội quan tâm, đối với ngành truyền thơng thì đó

khơng chỉ là đối tượng phản ánh, mà còn là trách nhiệm xã hội của nó. Tại Điều
40, Luật phịng chống BLGĐ

đã qui định rõ trách nhiệm của Bộ Thơng tín và

Truyền thơng, cũng như các cơ quan thông tin đại chúng: “Bộ Thông tin và Truyền
thơng có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan thơng tin đại chúng thơng tin, tun
truyền chính sách, pháp luật về phịng, chống BLGĐ; cơ quan thơng tin đại chúng
có trách nhiệm thơng tin kịp thời, chính xác chính sách, pháp luật về phịng, chống

BLGD”.
Tai Diéu 11, Luat phong chéng BLGD citing khang định vị thế và vai trị của
hình thức truyền thơng gián tiếp đặc biệt là thông qua các phương tiện truyền thông
đại chúng trong tiến trình tun truyền, giáo dục vận động phịng ngừa, giảm thiểu
tình trạng BLGĐ.
Mỗi phương tiện truyền thơng đại chúng như báo viết, truyền hình, phát
thanh, báo điện tử...đều có thế mạnh riêng của mình, song khơng ai có thể phủ
nhận được vai trị của Internet nói chung và báo điện tử nói riêng trong đời sống xã
hội hiện đại. Nó cung cấp lượng thông tin khổng lồ, nhanh nhất, hiệu quả và có tác

động lớn đến đời sống xã hội. Sở dĩ có thế mạnh này chính là do tính chất “đa



phương tiện” của nó: nó có thể làm việc được với cả âm thanh, hình ảnh lẫn văn
bản — điều mà các phương tiên truyền thơng trước đó như báo in, phát thanh và

truyền hình đều khơng làm được.
Nếu cuối năm 1996, trên tồn thế giới chỉ có khoảng trên 1.400 đầu báo điện
tử thì đến năm 2003, con số này đã tăng lên gấp khoảng 10 lần - trên 14.000 đầu
báo. Số đầu báo điện tử tăng tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển và phổ cập mạng
internet cũng như số lượng độc giả. Theo một số liệu thống kê khơng chính thức,
độc giả báo điện tử ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Đức, Nhật Bản...hiện đã

chiếm tới 1⁄4 tổng dân số của những nước này. Nếu như Tạp chí Quê hương điện tử
được coi là tờ báo điện tử đầu tiên của Việt Nam (khai trương ngày 3/12/1997)
cùng song hành với sự ra đời của internet Việt Nam

(19/11/1997) thì tính đến

tháng 6/2012 nước ta có 62 báo điện tử, 1024 trang tin điện tử tổng hợp chung
(trong đó có 300 trang của các cơ quan báo chí) cùng hàng ngàn trang điện tử
(website, weblog) có tính chất, cách thức hoạt động gần như trang báo hoặc tạp chí
điện tử. Các báo điện tử như VNN, VnExpress, VnMedia, báo điện tử Đảng Cộng

sản Việt Nam (là những tờ báo mạng độc lập)...đã áp dụng công nghệ làm báo
hiện đại, nội dung phong phú, đa dạng nên đã gây được sự chú ý, hap dan déc gia.
Cùng với nó là số lượng lớn báo điện tử - “phiên bản” của báo in. Bên cạnh đó đã
xuất hiện các trang tơng hợp tin tức báo chí trực tuyến (baomoi.com) hay trang
phát hành báo ¡n trên mạng (docbao.vn).
Có thể nói, báo điện tử ra đời với khả năng tích hợp cả 3 loại hình báo chí đi
trước là báo in, phát thanh, truyền hình đã khẳng định tính năng nỗi trội của nó


trong xã hội hiện đại. Điều này cũng phù hợp với chỉ thị số 52/CT-TW ngày
22/7/2005 về phát triển và quan ly bao điện tử ở nước ta hiện nay là:

-

...báo điện tử nước ta đã góp phần quan trọng trong việc phổ biến, tuyên
truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước...nâng cao dân trí và thỏa mãn nhu cầu thơng tin, hưởng thụ văn hóa
của nhân dân...

Với những vấn đề đã phân tích ở trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Báo điện tử
với việc đưa tin về Bạo lực gia đình.


2. Tổng quan nghiên cứu
Là một chủ để nhậy cảm, liên quan tới nỗi đau thầm kín trong cuộc sơng riêng
tư của mỗi cá nhân, nên BL trên cơ sở giới nói chung và BLGĐ dường như bị che
dấu và mới chỉ được đề cập gần đây một cách công khai trên các phương tiện

TTĐC ở Việt Nam. Cũng vì thế, mảng nghiên cứu đề cập đến vấn đề này trên các
phương tiện truyền thơng hiện cịn khá ít ở Việt Nam, nó chủ yếu được lồng ghép

trong các nghiên cứu khác nhau.
Dưới sự tài trợ của quỹ Rockerfeller, năm

2003

Hội Phịng

chéng


AIDS

Philippines đã tiến hành một cơng trình nghiên cứu nhăm xem xét và phân tích nội
dung, xu hướng và chất lượng đưa tin của báo chí ở Đơng Nam A vé van dé tinh
duc va tình duc an tồn. Và nghiên cứu của Phạm Đình Huỳnh và cộng sự (2004)
là một phần trong bộ báo cáo 7 tập của nghiên cứu này. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng
vấn đề Bạo hành tình dục là một trong những chủ đề lớn được quan tâm và cũng
được đăng tải trong hai tờ báo Thanh niên và Nhân dân nhưng tờ Thanh niên đề
cập nhiều hơn. Nhóm nghiên cứu cũng cho thấy vấn đề nhậy cảm như Hành vi tình
dục chủ yếu được để cập ở các tạp chí dành cho giới trẻ và các tầng lớp khá giả ở
đô thị như ở 2 tờ báo trực tuyến Vietnamnet, Vnexpress...[24]
Ở một nghiên cứu khác của Khoa Xã hội học thuộc Học viện Báo chí và

Tun truyền tiễn hành năm 2006 là Thơng điệp về tính dục trên báo mạng (nghiên
cứu

trường

hợp

báo

vnexpress.net,

thanhnienvn,

gioitinhfuoiteen.vn,

dantri.com.vn) từ tháng 6-12/2006. Trong nghiên cứu này các tác giả cũng


phân

tích về những bài viết đăng tải về BL tình dục (bao gồm cả BL tình dục trong và
ngồi gia đình). Kết quả nghiên cứu cho thấy các bài viết về BL tình dục chủ yếu
được đăng trên 2 tờ báo điện tử là đantri.com và vnexpress.net. Đặc biệt, khác với
các chủ đề khác trong Tính dục, BL tính dục (hãm hiếp, BL liên quan đến bn
bán tình dục) thường liên quan đến luật pháp nên được đăng tải khá nhiều trên
chuyên mục Pháp luật còn những chuyên mục khác như Khoa học, sức khỏe hay
Chuyên trang về SKSS/ tình duc lai rat it. Điều đó cho thấy độc giả ít có hy vọng
nhận được những thong tin mang tinh chat chia sẻ nghiên cứu về BL tình dục cũng
như tư vấn để có thể nhận biết và phịng tránh. Điều này, gợi ra rằng phóng viên,

ban biên tập cần lưu ý để cung cấp thông tin đa dạng, nhiều chiều. Nghiên cứu này


cũng cho thấy qua các bài viết thì đối tượng bị BL chủ yếu là phụ nữ, rơi vào nhiều
nhóm tuổi khác nhau. Đây cũng là một kết quả khá phù hợp với những nghiên cứu
thực nghiệm trước đó.
Trong luận văn thạc sĩ truyền thông đại chúng về đề tài Bạo hành đối với phụ
nữ trên báo chí, Nguyễn Thị Hoa đã khảo sát ở 5 báo: vietnamnet.vn, Phụ nữ Việt
Nam, Gia đình và Xã hội, Cơng an nhân dân, Công an nhân dân điện tử trong
khoảng thời gian từ 1/2006 đến 6/2007. Kết luận của nghiên cứu này cho thấy: số

lượng bài viết viết về chủ đề này khá nhiều, nội dung phản ánh khá đa dạng ở các
khía cạnh như bạo hành giới, bạo hành trong gia đình, nạn buôn bán phụ nữ và trẻ
em gái, hiện tượng xâm hại tình dục...Nhà báo chủ yếu sử dụng thể loại tác phẩm
thơng tấn trong q trình thể hiện bài viết; đồng thời, khẳng định vai trị của báo
chí trong việc làm chuyển biến, thay đổi nhận thức của cộng đồng, của cả bản thân
người phụ nữ. Sức mạnh của báo chí thê hiện ở chỗ tạo ra một dư luận xã hội rộng

rãi dé phanh phui, lên án những hành vi bạo lực đối với người phụ nữ... [22].
Điểm tương đồng ở các nghiên cứu nêu trên là các tác giả đã sử dụng cả
phương pháp phân tích định lượng và phân tích định tính trong phân tích nội dung
văn bản. Việc thống kê về tần suất xuất hiện các bài viết có liên quan chia theo chủ
đề giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quan về vấn đề cịn việc phân tích định tính
củng cỗ thêm những thơng tin định lượng.
Sự góp mặt cần thiết của các phương tiện TTĐC trong việc đăng các tin bài
về BLGĐ là hết sức cần thiết trong xu thế đại chúng hóa. Một mặt, các phương tiện
TTĐC phản ánh thực trạng, bàn luận về các nguyên nhân cũng như hậu quả của
BLGĐ

giúp nâng cao nhận thức và huy động cộng đồng hợp tác trong q trình

phịng chống BLGĐ. Nhưng mặt khác, sự thiếu sót của việc đưa tin chưa chính xác

về BL giới của các phương tiện truyền thơng, đó là “chỉ đừng lại mô tả hanh vi BL
tại thời điểm xáy ra; Cung cấp thơng tin thiếu chính xác về bản chất của BLGĐ...”
làm cho công chúng chưa nhận thức được đầy

đủ sự nghiêm trọng của BLGD,

đồng thời chưa phát huy hết hiệu quả vai trò của TTĐC.
Trong một sêri các bản tin nội bộ của Csaga về “Giới trong sản phẩm truyền
thơng” có bản tin số 3 (6/2009) tập trung nhìn nhận, đánh giá về nhậy cảm giới của
người làm truyền thơng về vấn đề BLGĐ.

Nhóm

tác giả khẳng định bên cạnh



những bài báo cố gắng phản ánh thực trạng cũng như đưa ra những bàn luận hợp lý
về nguyên nhân, hậu quả của BLGĐ thì vẫn cịn nhiều bài viết chưa phản ảnh đúng
bản chất của BLGĐ gây ra những ngộ nhận không tốt đối với cộng đồng. Bởi nếu

thông điệp như vậy được phát đi phát lại sẽ khiến cơng chúng hiểu BL là cách thức
_có hiệu quả giải quyết mâu thuẫn gia đình, là hành vi tất yếu được xã hội chấp —

nhận[7, tr.2-5]. Trong nghiên cứu này chỉ ra vấn đề giới có mối quan hệ biện

chứng với BLGĐ, nếu thiếu nhậy cảm giới khi nhìn nhận vấn đề BLGĐ thì các bài
viết này khơng đi đúng hướng với qui định trong điều 8 Luật Phòng chống BLGĐ

là nhằm thay đổi nhận thức, hành vi về BL, góp phần tiến tới xóa bỏ BLGĐ. Điều
đó có nghĩa là các bài viết không mang lại hiệu quả tốt cho cơng chúng.
Nhìn chung, các cơng trình nghiên cứu trên đa phần dựa trên các điều tra Xã
hội học thực nghiệm, báo cáo thống kê của các hội thảo...Nội dung nghiên cứu về
BLGĐ

chủ yếu xét ở khía cạnh mơ tả thực trạng, phân tích nguyên nhân dẫn tới

thực trạng này từ phía các nhóm xã hội thơng qua các phương pháp nghiên cứu
như bảng hỏi, quan sát, thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu, phân tích tài liệu. Tuy
nhiên, chưa có cơng trình nào lấy báo chí mà cụ thể là báo điện tử làm đối tượng

khái quát để nghiên cứu chủ đề BLGĐ. Chính vì thế tác giả thiết nghĩ việc nghiên
cứu đề tài “Báo điện tử với việc đưa tin về bạo lực gia đình” là rất cần thiết.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục dích nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng đưa tin của báo điện tử về Bạo lực gia đình thơng qua
việc phân tích nội dung các bài viết về BLGĐ trên 3 báo điện tử.
- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác thông tin,
truyền thông về BLGĐ trên báo điện tử đối với cơ quan quản lý báo chí, cơ quan
báo chí, phóng viên và cơng chúng trong lĩnh vực truyền thơng về phịng chống
bạo lực trong gia đình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số lý thuyết được áp dụng trong nghiên cứu và thao tác hóa khái
niệm: Truyền thơng, Truyền thơng đại chúng, Internet, Báo điện tử, Gia đình,

lực trên cơ sở giới, Bạo lực gia đình.

Bao


- Mô tả sự phản ánh về BLGĐ trên các báo điện tử được lựa chọn vào mẫu

nghiên cứu. Đặc biệt là mô tả thông điệp về BLGĐ được chuyển tải thơng qua
ngơn từ, hình ảnh, nội dung, quan điểm...của tác giá bài báo khi đưa tin và bình

luận về BLGĐ.

- Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong q trình đưa
tin về phịng, chống BLGĐ đối với giới truyền thông đặc biệt là với cơ quan báo
chí, phóng viên.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng đưa tin về bạo lực g1a đình trên báo điện tử Việt Nam hiện nay.

4.2. Khách thể nghiên cứu:

- Báo điện tử: phân tích nội dung thơng điệp được phản ánh trên 3 báo điện

tử.
4.3. Phạm vì nghiên cứu: thời gian từ 1/6/2012- 31/12/2012
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
3.1. Cơ sở lý luận
.- Đề tài sử dụng phương pháp luận tiếp cận đối tượng từ những quan điểm
của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản

Việt Nam về Báo chí.

- Vận dụng quan điểm đường lối của Đảng và Pháp luật của Nhà nước về giải
phóng phụ nữ và phịng, chống BLGĐ

làm nền tảng cho q trình phân tích nội

dung thơng điệp.
- Vận dụng lý thuyết xã hội học cụ thé ly thuyết chức năng.

5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích nội dung văn bản
Tất cả các bài viết về BLGĐ

đều được xem xét kỹ lưỡng trên 3 báo điện tử:

nhandan.org.vn; giadinh.net.vn; dantri.com.vn (không lựa chọn vào mẫu những tờ
báo điện tử, trang tin điện tử nước ngồi hoặc của các tơ chức Phi chính phủ ở Việt
Nam) được lựa chọn trong tổng số các báo điện tử trong thời gian từ 1/6/2012 đến
31/12/2012. Trong đó những tờ báo điện tử được lựa chọn theo tiêu chí ngẫu nhiên
nhưng theo tỷ lệ:

- Nội dung phong phú bao gồm các bài viết về nhiều chủ đề khác nhau.

- Có cả phiên bản của báo in và báo điện tử thuần túy.


- Có cả báo chuyên ngành liên quan đến lĩnh vực gia đình và báo thơng
thường.

Các bài viết trên các tờ báo được tập hợp, đọc, đối chiếu va phân tích.
5.3 Phương pháp chọn mẫu
Tất cả các bài báo có liên quan, đề cập tới BLGĐ trong khoảng thời gian lấy

mẫu (01/06/2012-31/12/2012) đều được sưu tầm, lựa chọn (Trong 6 tháng, tác giả
tìm thấy hơn 48.600 bài viết về các vấn đề xã hội khác nhau).

Với phương pháp

lấy mẫu ngẫu nhiên hệ thống (với bước nhảy k = N/n) từ 851 bài viết về BLGĐ thu
thập được trong khoảng thời gian trên, nghiên cứu chọn ra 213 bài viết để phân
tích (mỗi báo dantri.com.vn (có tổng số 491 bài) và báo giadinh.net.vn (có tổng số
348 bài) chọn 100 bài, riêng nhandan.org.vn có số lượng bài ít nên 13 bài được tìm
thấy đều được sử dụng vào mẫu nghiên cứu)
Trong trường hợp những bài viết trùng nhau hoàn toàn được đăng tải trên
nhiều báo khác nhau thì sẽ lựa chọn ngẫu nhiên một bài trong một báo bất kỳ,
không lấy tất cả các bài báo trùng nhau hoàn toàn trong mẫu nghiên cứu. Trong
trường hợp giống nhau nội dung hay tiêu đề nhựng có sự khác biệt về cách phân
tích hoặc cách thê hiện trong bài báo thì đều được chọn trong mẫu nghiên cứu.
3.4 Phương pháp xử lý thông tin
Đối với dữ liệu định lượng
Thông tin thu thập được từ bảng mã đối với các bài viết về BLGĐ trên 3 báo

và thông tin thu thập được từ bảng hỏi trắc nghiệm được tác giả mã hóa, nhập và
xử lý bằng chương trình SPSS 15.0. Sau khi làm sạch các số liệu sẽ tiến hành biến
đổi các số liệu để phục vụ cho việc lượng hóa các nhóm vẫn đề có liên quan đến
bạo lực trong gia đình và đánh giá các bài viết về BLGĐ.
Đối với dữ liệu định tính: Sử dụng sự hỗ trợ của phần mềm Nvivo

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa lý luận
- Vận dụng lý thuyết chức năng để lý giải thực trạng đưa tin về BLGĐ

trên

báo điện tử.
- Đề tài góp phần hệ thống lại những vấn đề lý luận về mặt phương pháp trong

nghiên cứu truyền thơng từ góc độ phân tích nội dung thơng điệp truyền thông.
* ý nghĩa thực tiễn

|

- Cung cấp thông tin khoa học về vấn đề BLGĐ hiện nay thông qua sự phản
ánh BLGĐ trên 3 báo điện tử. Trên cơ sở đó hướng tới gợi ý một số khuyến nghị


về mặt chính sách đối với cơ quan quản lý báo chí, cơ quan báo chí, đưa ra những
cơ sở thực tiễn cho nhà báo khi đưa tin về BLGĐ.
- Góp phần đưa ra các bằng chứng về sự cần thiết đưa vấn đề BLGĐ vào cùng
dòng chảy của các vấn đề chính trị - xã hội và sự cần thiết phải chú ý trong cách
đưa tin về BLGĐ ở các bài viết đăng tải trên báo điện tử Việt Nam hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho

các cá nhân, tổ chức quan tâm đặc biệt là cho các nhà truyền thông và nhằm phục
vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu.

7. Kết cấu của đề tài

|

Ngoai phan mở đầu, kết luận và chú thích, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài

được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu của đề tài
Chương 2: Sự phản ánh về bạo lực gia đình trên báo điện tử ở Việt Nam hiện

nay
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất
lượng bài viết về bạo lực gia đình trên báo điện tử


10

CHUONG 1: CO SO LY LUAN VA THUCTIEN CUA DE TAI
- 1.1 Khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài
1.1.1Truyền thông, truyền thông đại chúng, thông điệp, internet, báo điện tử

1.111

Truyền thơng

Thuật ngữ truyền thơng có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Commune” có nghĩa là
chung hay cộng đồng. Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương

tiện để đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau, giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng
đồng, xã hội. Nhờ truyền thông giao tiếp mà con người tự nhiên trở thành con
người xã hội. Truyền thông từ tiếng Anh: Communication có nghĩa là sự truyền
đạt, thơng tin, thơng báo, giao tiếp, trao đổi, liên lạc, giao thông...
Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thơng tin, tình
cảm, kĩ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và
nhận thức.
+ Thứ nhất, truyền thông là một q trình — có nghĩa nó khơng phải là một
việc làm nhất thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp, mà là một việc
diễn ra trong một khoảng thời gian lớn.Q trình này mang tính liên tục, vì nó
khơng thể kết thúc ngay sau khi ta chuyển tải nội dung cần thiết, mà có tiếp diễn

sau đó. Đấy là q trình trao đổi và chia sẻ, có nghĩa là ít nhất phải có hai thực thể
và khơng chỉ có một bên cho và một bên nhận, mà cả hai bên đều cho và nhận.

+ Thứ hai, truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kì
quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông. Và cuối cùng, truyền
thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm
sẽ trở nên vô nghĩa [40, tr.13

].

1.1.1.2 Truyền thông đại chúng
Xã hội ngày càng phát triển, càng tạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự mở
rộng nhu cầu, qui mơ, tăng cường tính đa dạng và hiệu quả của hoạt động truyền
thông. Ngày càng có nhiều người tham gia vào các giao tiếp xã hội. Trong khi đó

truyền thơng trực tiếp giữa các cá nhân không thể đáp ứng được đầy đủ nhu cầu và
địi hỏi của xã hội. Chính vì vậy, con người phải tìm đến những q trình truyền


thơng ở qui mơ lớn nhờ sự giúp đỡ của các phương tiện kỹ thuật thơng tin. Nói


11

cách khác, các phương tiện thông tin đại chúng trở thành cơng cụ điều khiển các
q trình giao tiếp mang tính xã hội rộng rai.
TTĐC

là q trình truyền thơng điệp/ thông tin đến công chúng thông qua

phương tiện TTĐC(mass media) [55, tr.369]
..„ cái mà thông thường được gọi là “[ƑTĐC” là những thiết chế sử dụng
những kỹ thuật phát triển ngày càng tỉnh vi của công nghiệp để phục vụ cho
sự giao lưu tư tưởng, những mục đích thơng tin, giải thích và thuyết phục tới
đơng đảo khán thính giả bằng phương tiện báo chí, truyền thanh, truyền

hình, sách, tạp chí, quảng cáo, hay bất cứ gì đó [2].
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm TTĐC

như sau:

TTDC là quả trình truyền tải và phổ biễn thông tin xã hội đến số lượng công chúng

lớn, phân tán về khơng gian, thời gian. Q trình này được thực hiện thông qua cơ
chế trung gian như đài phát thanh, truyền hình, báo viết, các tạp chí, báo điện tử...
Chúng ta cần phân rõ sự khác biệt giữa hai thuật ngữ: “TTĐC” và “các
phương tiện TTĐC”. Thuật ngỡ “TTĐC” được dùng để chỉ một quá trình xã hội:
quá trình chuyển tải thơng tin ra rộng rãi cơng. chúng.


Cịn “các phương

tiện

TTĐC” như báo chí, phát thanh, truyền hình, Internet...chỉ là những công cụ kỹ

thuật hay những kênh mà phải nhờ vào đó người ta mới có thé thực hiện quá trình
TTĐC, nghĩa là tiễn hành việc phổ biến, loan truyền thơng tin ra cho mọi người

[41,tr.16] hay nó chính là những phương tiện kỹ thuật được sử dụng để thực hiện
q trình TTĐC hay chính là phương tiện mang thơng điệp [55]. Các phương tiện
TTĐC chủ yếu mang chức năng cung cấp thơng tin, kiến thức và giải trí cho người

dân. Nó khơng chỉ là cơ quan phát ngơn đầy quyền uy của một tổ chức nào đó mà

cịn phải là điễn đàn của tất cả mọi người [20, tr.99].
Sự phát triển của các phương tiện TTĐC cả về mặt công nghệ (các phương
tiện lưu trữ, truyền tải thông tin) cả về mặt xã hội (tổ chức qui trình, nhân lực hoạt
động) là một trong những yếu tổ căn bản thúc đây sự phát triển của TTĐC trong
những thập kỷ gần đây. Trong khuôn khổ của đề tài, tác giả giới hạn phương tiện
TTĐC ở đây chỉ là báo điện tử —- một loại hình truyền thơng mới ra đời nhưng nó

có vai trị to lớn đơi với đời sơng xã hội.


12

1.1.1.3 Théng diép
Thơng điệp chính là nội dung thơng tin mà những người thực hiện chiến dịch
truyền thông muốn truyền đạt tới công chúng. Thông điệp phải rõ ràng, một nghĩa,

phải quan tâm tới việc kích thích lợi ích.

Nội dung thơng điệp được hiểu là tất cả những gì xuất hiện trên một phương

tiện TTĐC, từ các bài báo, tin tức hay hình ảnh in ấn trên báo chí cho tới âm thanh
và hình ảnh được phát sóng trên đài phát thanh hay truyền hình.
Đối với nội dung thơng điệp được phân tích trong đề tài đó chính là tất cả
những gì được xuất hiện trong bài viết về BLGĐ đăng tải trên 3 báo điện tử trong
thời gian khảo sát. Chúng ta có thể hiểu cặn kẽ hơn nội dung thơng điệp là gì thơng
qua ví dụ ở hộp 1.1, tất cá những ngôn từ mà nhà báo dùng để chuyển tải sự kiện

tới cơng chúng, kể cả tít bài, chữ in đậm, in thường, dấu chấm, dấu phẩy, ..., hình
ảnh xuất hiện trong bài viết được gọi là nội dung thông điệp.

GLB những ông chẳng yêu vợ (1):

`

: Ghuyện về những người chồng
' "thích là ... đánh”
.

Me

oe

bik, tne

be cacienaeuree,
.


ca

: Giadinhfet - Đánh...Chưa đã, có người cịn nét cả phâu bè vào
: niệng vợ vì “can tội? khơng nghe lời chẳng.

ua yêu:chồng: Sái

hột ly, ái ruột đăm

- Giải cl peswend

Hơp

1.1:

0

, những

vo

Bài

.1;

9P

al


ơng

(1):

những

“CLB

chồng

u

Chuyện

về

người

chồng

“thích — là..đánh””



Tiếng lã có.vợ mã
ania độc hân.

(TH

51,

.

.

)

Những sat Tầm của vợ

khu.

kai nghi Về chống

| Bao luc gia đành gây nhức nhối xã hội nhưng việc ngữn chặn không
phdi dé dang. Anh chi mang tinh minh hea.

-

PS biệt chồng

1.1.1.4 Internet

Cùng với sự thay đổi nhanh chóng của cơng nghệ, từ môi trường in sang môi

trường số, internet trở thành một phương tiện TTĐC quan trọng.


13

Thuật ngữ “Internet” lần đầu tiên ra đời ở Mỹ vào năm 1983 khi người ta lập
ra mạng trên cơ sở kết nối một số mạng đã có từ trước đó. Tuy nhiên, Internet chỉ

thực sự phát triển và lan tỏa ra toàn thế giới ké từ cuối năm 1991 khi tạo ra công
nghé WWW

(World Wide Web) [41, tr.441].

|

Vào thời gian này, nhiều người biểu lẫn lộn giữa trang Web và Internet.
Internet là cơ sở hạ tầng cho phép các máy tính có thể nói chuyện với nhau trên

tồn thế giới. Trang Web là giao diện cho phép người ta trao đổi dữ liệu. Web có
thể tồn tại khơng cần Internet nhưng cơng nghệ web sẽ khơng là gì nêu khơng có
nền tảng Internet. Internet là mạng tồn cầu của các mạng máy tính kết nối với
nhau sử dụng giao thức TCP/IP hỗ trợ kết nối giữa các mạng máy tính khác nhau.
1.1.1.5

Báo điện tử

Trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại nhiều cách gọi khác nhau
đối với loại hình báo chí mới này như: báo điện tử (electronic journal), báo trực
tuyến (online newspaper), báo mạng (cyber newspaper), báo internet và báo mạng
điện tử.

Báo trực tuyến là khái niệm được sử dụng lần đầu tiên ở Mỹ và đã trở thành
cách gọi của quốc tế. Thuật ngữ “trực tuyến” trong các từ điển tin học dùng dé chi
trạng thái của một máy tính khi đã kết nối với mạng máy tính và sẵn sàng hoạt
động. Hiện nay, thuật ngữ này gắn với tin học nhiều hơn và được sử dụng chủ yêu
trong lĩnh vực truyền thông để chỉ các khái niệm có cùng đặc tính như “xuất bản
trực tuyến”, “phương tiện truyền thông trực tuyến”, “phát thanh trực tuyến”...
Báo mạng là cách gọi tắt của báo mạng Internet. Đây là cách gọi khơng mang


tính khoa học vì nó khơng rõ nghĩa, khơng đầy đủ, dễ làm hiểu sai bản chất của
thuật ngữ. Bởi Internet là mạng thơng tin tồn cầu, dưới nó cịn rất nhiều loại mạng
như mạng nội bộ của các tổ chức, các công ty, các chính phủ...và nếu gọi tắt như
trên sẽ khơng

xác định rõ ràng ranh giới giữa khái niệm

“mạng”

và “mạng

Internet”.
Báo Internet là sự kết hợp tên gọi của Internet với một tờ báo, nói cách khác
Internet cung cấp khơng gian với đầy đủ tiện nghi cho một tờ báo hoạt động. Tờ

báo lấy Internet làm phương tiện truyền tải, lẫy các khả năng ưu việt của Internet


14

làm lợi thế và hoạt động độc lập trên Internet. Cách gọi này hiện nay được nhiều
người đồng tình. Tuy nhiên, thuật ngữ này cũng dễ dẫn đến sự nhằm lẫn đó là tắt
cả các trang Web có mặt trên Internet đều là báo Internet. Thực tế, một tờ báo phát
hành trên mạng đúng là một trang Web nhưng không phải trang Web nào cũng là
tờ báo.
Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của
một trang Web và phát hành trên mạng Internet [19, tr.4].
Tuy nhiên, báo điện tử là khái niệm thơng dụng nhất ở nước ta. Nó gan lién
với tên gọi của nhiều tờ báo in phát hành trên mạng ¡internet như Quê hương điện

tử, Nhân dân điện tử...Ngay trong các văn bản pháp luật của Nhà nước thuật ngữ
“Báo điện tử” cũng được sử dụng.
Tại điều 12 trong Nghị định 55/2001/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng
dịch vụ Internet có ghi:
Dịch vụ thơng tin trên Internet là một loại hình dịch vụ ứng dụng
Internet, bao gồm

dịch vụ phát hành báo chí (báo in, báo hình, báo điện

tử), phát hành xuất bản phẩm trên Internet và dịch vụ cung cấp các loại
hình điện tử khác nhau trén Internet.
Trong điều 1, chương 1 Luật Báo chí năm1989 cũng có ghi thuật ngữ “Báo
điện tử” để chỉ loại hình báo chí thực hiện trên mạng thơng tin máy tính.
Việt Nam nối mạng Internet toàn cầu vào ngày 19/11/1997, điều này tạo ra sự

thay đổi trong phương thức thông tin của xã hội. Một tháng sau (31/12/1997), tap
chí Quê hương đã trở thành tờ báo điện tử đầu tiên của nước ta. Liên tiếp sau đó,
hàng loạt các báo điện tử khác đã ra đời như Nhân dân, Lao động,

VietNammnel,

Vnexpress.... Từ chỗ, ban đầu những tờ báo điện tử gần như chỉ là phiên bản của

những tờ báo ¡n nay đã phát triển độc lập hơn, có đường nét hơn, dần thốt khỏi cái
bóng của “người anh” và ngày càng tỏ rõ ưu thế vượt trội của mình. Hiện nay ở
Việt Nam có 2 mơ hình tờ báo điện tử.

Thứ nhất, những tờ báo điện tử có bản in, đài phát thanh, dai truyền hình
tương ứng. Theo mơ hình này, tờ báo điện tử chỉ là một ân phẩm của cơ quan báo
chí, ví như Nhân dân điện tử là một an pham của báo Nhân dân...Cơng việc chính



15

của phóng viên, biên tập viên là lựa chọn, biên tập lại những tin bài, ảnh từ các
nguồn thông tin khác nhau.
Thứ hai, những tờ báo điện tử chỉ phát hành trên mạng. Những tờ báo điện tử
theo mơ hình này có xu hướng chun nghiệp cao, mang tính độc lập, được tổ chức
theo mơ hình site mục lục và chuyên mục, kết hợp với các site bình luận, đưa ra
các cây thư mục, các chuyên đề thông tin về mọi mặt của đời sống. Nó cung cấp
cho người đọc lượng thông tin lớn đã được viết, tập hợp, tuyển chọn, biên tập từ
nhiều nguồn thông tin khác nhau.
Trong đề tài này, khái niệm Báo điện tử được hiểu như trong điều 1, chương 1

của Luật Báo chí. Cụ thể, đó là những tờ báo điện tử chỉ phát hành trên mạng và
những tờ báo điện tử có bản in tương ứng (không xem xét tới những tờ báo điện tử
có đài phát thanh, đài truyền hình tương ứng hoặc các trang Web thông tin của các
tô chức xã hội, cơng ty, đơn vị kinh tế, cá nhân). Theo đó, ở dạng thứ nhất báo điện
tử là một cơ quan báo chí độc lập và dạng thứ hai, tờ báo điện tử chỉ là một ấn
phẩm của cơ quan báo chí. Vì vậy, mẫu nghiên cứu được lựa chọn cũng đảm bảo
cả 2 mơ hình này.
1.1.2 Bạo lực gia đình

1.1.2.1 Gia đình
Luật hơn nhân và gia đình Việt nam (2000) ghi: “ Gia đình là tập hợp những
người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống, hoặc quan hệ nuôi
dưỡng, làm phát sinh những nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau”29, tr.9].
Dưới khía cạnh Xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Các
nhà xã hội học đưa ra khái niệm gia đình như sau:


|

Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà

các thành viên của nó gắn với nhau bởi mỗi quan hệ hôn nhân, quan hệ
thuyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt,

trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của
các thành viên cũng như để thực hiện tính chất tất yếu của xã hội về tái
sản xuất con người [10].

_


16

Như vậy, khi bàn tới khái niệm gia đình cịn rất nhiều van dé phải tìm hiểu và
nghiên cứu. Nhưng căn cứ vào các đặc điểm hôn nhân và gia đình ở nước ta, kế

thừa các hạt nhân hợp lý của các cách tiếp cận khác nhau về gia đình, đề tài sử
dụng khái niệm về gia đình như sau:

Gia đình là một phạm trù dùng để chỉ một tập hợp người hình
thành trên cơ sở các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thông, quan hệ
nuôi dưỡng... Các thành viên gắn bó với nhau bởi trách nhiệm, nghĩa vụ,
quyền lợi kinh tế - văn hố — tình cảm và theo những chuẩn giá trị nhất
định, được dư luận xã hội ủng hộ, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ

[31. tr.17].
Khái niệm này bao gồm các nội dung sau:


Thứ nhất: Gia đình là một thiết chế được hình thành trước hết trên cơ sở hôn
nhân - là sự kết hợp giữa hai cá nhân (nam và nữ ) theo quy định của luật pháp
nhằm chung sống với nhau và xây dựng gia đình hạnh phúc. Đó là sự cam kết
chung sống của hai cá nhân một cách tự nguyện dựa trên sự hấp dẫn về giới tính và
sự gắn bó về tình cảm.

Thứ hai: Gia đình cịn được dựa trên cơ sở huyết thống - là quan hệ giữa cha
mẹ và con cái. Quan hệ huyết thống là sự phát triển và la hé qua tat yếu của quan
hệ hơn nhân. Nó chỉ được phát triển tốt đẹp dựa trên cơ sở hôn nhân tự nguyện,

dựa trên cơ sở tình u chính đáng và hợp pháp.
Thứ ba: quan hệ ni dưỡng là quan hệ được hình thành giữa chủ thé va đối
tượng được ni dưỡng: họ gan bó với nhau bởi những nghĩa vụ và quyền lợi được
dư luận xã hội thừa nhận và ủng hộ.
1.1.2.2 Bạo lực trên cơ sở giới

Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm BLGĐ là vấn đề mang tính tồn cầu, song
việc quan tâm nghiên cứu và cùng với nó là sự thống nhất trong cách hiểu thế nào
là bạo lực giới, BLGĐ là vấn đề quan trọng. Tuyên bố của Liên hợp quốc về Xóa
bỏ Bạo lực đối với Phụ nữ do Đại Hội Đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1993,
định nghĩa Bạo lực trên cơ sở giới như sau:



×