Tải bản đầy đủ (.pdf) (214 trang)

Báo chí với vai trò phản biện xã hội khảo sát báo nhân dân, hà nội mới, tuổi trẻ tp hồ chí minh, thanh niên, vnexpress net

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.19 MB, 214 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUN TRUYỀN

BÙI THANH TÙNG

BÁO CHÍ VỚI VAI TRỊ PHẢN BIỆN XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Ngành:

Báo chí học

Mã số:

60 32 01 01

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Trần Văn Thư

HÀ NỘI - 2012


2

MỤC LỤC



MỞ ĐẦU...................................................................................................................4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN VẤN ĐỀ BÁO CHÍ PHẢN
BIỆN XÃ HỘI..........................................................................................................11
1.1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài.........................................11
1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề báo chí phản biện xã hội..19
1.3. Vai trị phản biện xã hội của báo chí nước ta hiện nay...............................22
1.4. Tổng quan về các báo khảo sát.......................................................................29
Tiểu kết chương1................................................................................... 31
Chương 2: THỰC TRẠNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRÊN 5 TỜ BÁO
KHẢO SÁT............................................................................................................33
2.1. Vấn đề khảo sát................................................................................................33
2.2. Nhận xét về phản biện xã hội trên các báo khảo sát................................. 70
Tiểu kết chương 2...................................................................................................74
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÁO CHÍ
PHẢN BIỆN XÃ HỘI............................................................................................76
3.1. Một số vấn đề đặt ra........................................................................................76
3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng phản biện xã hội của báo chí.......81
Tiểu kết chương 3..................................................................................................110
KẾT LUẬN............................................................................................................112
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


3

DANH MỤC VIẾT TẮT
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
GS: Giáo sư
ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức

PGS: Phó Giáo sư
TP: Thành phố
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
TS: Tiến sĩ
UBND: Ủy ban Nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa


4

MỞ ĐẦU
1. Tính thời sự của đề tài
Phản biện xã hội là hiện tượng, nhu cầu tất yếu trong đời sống chính trị
- xã hội. Vấn đề này đã được chú ý và thực hiện từ lâu ở nhiều nước trên thế
giới. Ở nước ta, những năm gần đây, phản biện xã hội mới được quan tâm,
chú ý của giới nghiên cứu, nhất là sau khi nội dung này được chính thức ghi
trong Văn kiện Đại hội Đảng tồn quốc lần thứ X:
Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân
dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội [21, 124]; Phát
huy vai trò và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các đoàn thể
nhân dân tham gia xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát và phản
biện xã hội [21, 305].
Từ chỗ nêu quan điểm: “Báo chí là cơng cụ của Đảng và Nhà nước”
(1958), đến việc, lần đầu tiên Đảng ta nâng tầm, xác định rõ báo chí là một
trong bốn hệ thống giám sát xã hội: “Sử dụng đồng bộ hệ thống giám sát cán
bộ, đảng viên, nhất là sự giám sát của tổ chức Đảng, trước hết là từ chi bộ, sự
giám sát của nhân dân và các cơ quan đại diện nhân dân, sự giám sát của công
luận...” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 - lần 2, khóa VIII) đã cho thấy sự
nhất quán trong sự phát triển các quan điểm của Đảng ta về báo chí cách mạng.

Bên cạnh sứ mệnh to lớn là tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật Nhà nước; cổ vũ động viên toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh phong
trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội và góp
phần chuyển tải, nâng cao kiến thức, trình độ văn hóa, thẩm mỹ cho các tầng
lớp nhân dân, báo chí cách mạng Việt Nam cịn đảm nhiệm chức năng, vai trò
quan trọng là tham gia phản biện xã hội. Báo chí Việt Nam trong nhiều năm
qua đã có nhiều cố gắng tăng cường tính phản biện xã hội, khẳng định ngày


5

càng rõ hơn vai trị là tiếng nói của Đảng, là diễn đàn của nhân dân, là cầu nối
giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, qua đó góp phần tạo dựng nên những kết
quả đáng ghi nhận trong sự nghiệp phát triển đất nước.
Chưa bao giờ báo chí được phát huy quyền dân chủ và cởi mở, thơng
thống, rộng rãi như những năm qua để chủ động tham gia phản biện xã hội,
đóng góp tích cực vào việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước và đấu tranh, phản bác các luận điệu thù địch,
sai trái, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội đang làm cản
trở sự phát triển của đất nước. Mặt khác, do biết cách khơi gợi vấn đề, khuyến
khích động viên đơng đảo cơng chúng tham gia ý kiến, nhiều cơ quan báo chí
đã mở diễn đàn tập hợp ý kiến của những nhà khoa học, chuyên gia và các
tầng lớp nhân dân đóng góp vào các văn bản pháp luật, giúp cơ quan lập pháp,
hành pháp, tư pháp sửa đổi nội dung, quy định của văn bản đó phù hợp với
thực tiễn cuộc sống, xã hội, từng bước hoàn thiện nền pháp chế xã hội chủ
nghĩa (XHCN).
Bám sát sự kiện, thông tin nhanh nhạy, nắm bắt đúng bản chất sự kiện,
phân tích trúng vấn đề trọng điểm và định hướng tư tưởng, hướng dẫn dư luận
rõ ràng, các cơ quan thông tấn, báo chí đã thực hiện tốt chức năng phản biện,
mang lại hiệu quả xã hội rõ rệt. Bởi thế, vai trò, chức năng phản biện của báo

chí ngày càng được khẳng định và sức mạnh của báo chí, niềm tin của cơng
chúng đối với cơ quan truyền thơng cũng từ đó được nâng lên.
Việc nghiên cứu, đánh giá vai trò phản biện xã hội của báo chí hiện nay sẽ
cho thấy chức năng này của báo chí. Đây là lý do tơi chọn đề tài: Báo chí với vai
trị phản biện xã hội (Khảo sát các báo Nhân Dân, Hà Nội mới, Tuổi trẻ Thành
phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Thanh niên và Vnexpress.net thời gian từ 01/01/2010
đến 31/6/2012 qua hai sự kiện nổi bật: Dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam và Vụ
cưỡng chế đất tại Tiên Lãng, Hải Phòng) làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình.


6

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, đã có nhiều tác giả, các cơng trình nghiên
cứu chức năng, vai trò phản biện xã hội của báo chí. Trong đó, tiêu biểu phải
kể đến các tác giả:
Năm 2006, Tiến sĩ (TS) Trần Đăng Tuấn công bố cuốn sách Phản biện
xã hội – Những câu hỏi đặt ra từ cuộc sống, Nhà xuất bản (NXB) Đà Nẵng
gồm 31 tác phẩm báo chí bám sát thực tiễn sinh động về phản biện xã hội.
Cuốn sách đề cập đến những vấn đề rất rộng như việc đảng viên làm kinh tế tư
nhân; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí… dưới góc nhìn phản biện của tác giả.
Nhằm giúp bạn đọc có cái nhìn sâu hơn về vai trị và tầm quan trọng
của phản biện xã hội, năm 2012, tác giả Phan Văn Kiền cho ra đời cuốn sách
Phản biện xã hội của tác phẩm báo chí Việt Nam qua một số sự kiện nổi bật,
NXB Thông tin và Truyền thông. Cuốn sách đã nêu lên một số vấn đề về
phản biện xã hội của tác phẩm báo chí Việt Nam; thông qua loạt bài về “Đêm
trước đổi mới”, “Mưa lũ lịch sử tại Hà Nội năm 2008”, tác giả phân tích sâu
sắc nghệ thuật tổ chức vấn đề, nghệ thuật phản biện: thể loại, ngơn ngữ và cấu
trúc…, qua đó tính phản biện xã hội được phát huy một cách hiệu quả, giúp
cho những vấn đề bất cập được xem xét lại.

Ngồi những cuốn sách đã nêu, cịn phải kể đến các bài viết, cơng trình
nghiên cứu của Phó Giáo sư (PGS), TS Nguyễn Văn Dững. Trong bài viết Vai
trò phản biện của báo chí và dư luận xã hội đăng trên Tạp chí Khoa học Xã
hội Việt Nam năm 2010, tác giả đã xác định vai trò phản biện xã hội của báo
chí là rất quan trọng, bởi: “Phản biện thơng qua báo chí và dư luận xã hội là
cách phản biện trực tiếp nhất, kịp thời nhất, phong phú và sinh động nhất, tập
hợp và tổ chức được nhiều nguồn lực trí tuệ và cảm xúc nhất, cơng khai minh
bạch nhất, có tác dụng – hiệu quả nhanh nhất” [18]. Còn trong bài viết Nâng


7

cao năng lực giám sát xã hội của báo chí, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền
thơng năm 2007, tác giả tiếp tục nhận định:
Trong điều kiện thiết chế chính trị được phân cơng tam quyền
nhưng khơng phân lập như ở nước ta, nguy cơ lũng đoạn, thao túng
của cán bộ chủ chốt trong cơ quan hành pháp, tư pháp là khó tránh
khỏi. Như vậy, để đảm bảo “trong sạch và an lành” cho những vị trí
nhạy cảm này, cần có một thiết chế dân chủ nhằm bảo đảm huy
động sức mạnh tồn dân tham gia (thơng qua báo chí) giám sát,
phản biện xã hội là một địi hỏi tất yếu lịch sử. Thiết chế ấy cần và
phải thông qua báo chí [17].
Từ kinh nghiệm thực tiễn nghề nghiệp và hoạt động nghiên cứu, tác giả
Nguyễn Mạnh Bình, trong bài viết Vai trị của báo chí trong phản biện, giám
sát trong thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Lý luận
chính trị và Truyền thơng năm 2009, đã đưa ra những đánh giá:
Báo chí thực hiện tốt vai trò phản biện xã hội đối với chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, là
cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Ở khía cạnh khác,
phương tiện thơng tin đại chúng còn là diễn đàn để nhân dân phản

ánh, phê bình những yếu kém, sai phạm tiêu cực [5].
Bên cạnh những quan điểm đã nêu, một số luận văn thạc sĩ cũng quan
tâm nghiên cứu nhiều góc độ khác nhau về báo chí với vấn đề phản biện xã
hội. Có thể kể một số cơng trình sau:
- Luận văn Tính phản biện xã hội của tác phẩm báo chí Việt Nam
(Khảo sát qua hai báo Tuổi trẻ TP.HCM và Thanh niên các năm 2006 – 2008)
(2008) của tác giả Hoàng Thuỷ Chung làm rõ vai trò và giá trị của tính phản
biện xã hội trong sự phát triển của báo chí Việt Nam; khảo sát và phân tích
tính phản biện xã hội thể hiện qua các tác phẩm báo chí trong các sự kiện chung


8

mà hai báo Tuổi trẻ TP.HCM và Thanh niên cùng thơng tin trong các năm 2006 2008; phân tích nghệ thuật tổ chức tác phẩm mang tính phản biện xã hội.
- Luận văn Báo chí với vấn đề kiểm sốt quyền lực và phản biện xã hội
(2009) của tác giả Mai Thị Thúy Hường phản ánh thực trạng việc thực hiện chức
năng giám sát quyền lực và phản biện xã hội của báo in; từ đó đề ra một số giải
pháp nâng cao hiệu quả của báo chí trong giám sát quyền lực và phản biện xã hội.
- Luận văn Phản biện xã hội trên báo chí TP.HCM thập kỷ đầu thế kỉ XXI
(2011) của tác giả Huỳnh Thị Xuân Hạnh khảo sát hoạt động phản biện xã hội của
bốn tờ báo Sài Gịn Giải phóng, Tuổi trẻ TP.HCM, Người Lao động và Pháp luật
TP.HCM trong ba năm trước năm 2011; nghiên cứu xu hướng tổ chức, phản biện xã
hội và các giải pháp, kiến nghị để phát triển phản biện xã hội của báo chí TP.HCM.
Mục dù các cuốn sách, bài viết, cơng trình nghiên cứu kể trên đều ít nhiều
bàn đến vấn đề phản biện của báo chí (ở các khía cạnh khác nhau), nhưng nhìn
chung, tính đến nay chưa có một cơng trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp, cụ
thể về vai trò phản biện của báo chí, thơng qua các sự kiện nóng bỏng, thu hút sự
quan tâm lớn của xã hội từ năm 2010 đến nay. Vì vậy, tác giả quyết định lựa chọn
hướng đề tài như đã nêu.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về báo chí phản biện xã hội và vai trò,
thực trạng phản biện xã hội của năm tờ báo Nhân Dân, Hà Nội mới, Tuổi trẻ
TP.HCM, Thanh niên, Vnexpress.net thơng qua một số sự kiện tiêu biểu.
Từ đó, đưa ra những giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng phản biện xã
hội của báo chí nói chung và năm tờ báo khảo sát nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, trong phạm vi luận văn này, tác giả xác định
những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:


9

- Về lý luận: xác lập hệ thống các khái niệm liên quan đến vai trò phản biện
xã hội của báo chí nước ta hiện nay.
- Phân tích thực trạng, vai trị của báo chí trong nhiệm vụ phản biện xã hội.
Khảo sát các tờ báo tiêu biểu (cụ thể là các báo Nhân Dân, Hà Nội mới, Tuổi trẻ
TP.HCM, Thanh niên và Vnexpress.net) phản biện một số vấn đề nóng bỏng thu
hút sự quan tâm của dư luận xã hội.
- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của báo
chí nước ta hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: vai trò phản biện xã hội của báo chí.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là các báo Nhân Dân, Hà Nội mới, Tuổi trẻ TP.HCM,
Thanh niên và Vnexpress.net thời gian từ 01/01/2010 đến 31/6/2012.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
- Luận văn vận dụng tổng hợp những quan điểm của Tư tưởng Hồ Chí

Minh, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về
báo chí, vai trị phản biện xã hội của báo chí.
- Dựa trên cơ sở lý luận báo chí về chức năng, vai trị và ngun tắc hoạt
động của báo chí, nhất là vai trị phản biện xã hội.
- Luận văn sử dụng những công trình khoa học, sách, tài liệu, các bài viết,
bài báo tiêu biểu về vai trò phản biện xã hội của báo chí.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận văn sử dụng chủ nghĩa Mác – Lê nin, kết hợp một số
phương pháp nghiên cứu như: phân tích – tổng hợp, quy nạp – diễn dịch,
logic lịch sử, thống kê, so sánh... Bên cạnh đó, luận văn cịn sử dụng phương


10

pháp phỏng vấn sâu để có cái nhìn khách quan và đa chiều của nhiều chuyên
gia, nhà quản lý, nhà báo đối với vai trò phản biện xã hội của báo chí hiện
nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Qua nghiên cứu đề tài, nhận diện và khẳng định rõ hơn vai trò phản biện xã
hội của báo chí. Các kiến nghị được nêu ra trong luận văn nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả phản biện xã hội của báo chí hiện nay.
Luận văn đóng góp một phần nhỏ vào kho tàng tư liệu báo chí của Học
viện Báo chí và Tuyên truyền nói chung và khoa Báo chí nói riêng. Những kiến
thức chung và cơ sở lý luận về vai trò phản biện xã hội của báo chí sẽ có thể là
những tài liệu tham khảo cho công tác học tập và nghiên cứu báo chí.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể là một tài liệu tham khảo cho lãnh đạo, biên tập viên,
phóng viên các cơ quan báo chí; các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí.
7. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa
luận gồm 3 chương, 8 tiết.


11

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN – THỰC TIỄN VẤN ĐỀ BÁO CHÍ PHẢN BIỆN XÃ HỘI
1.1. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài
1.1.1. Phản biện
Theo Từ điển Tiếng Việt [41, 1197] thì phản biện là một động từ với
nội hàm: “1. Đánh giá chất lượng một cơng trình khoa học khi cơng trình
được đưa ra bảo vệ trước hội đồng thẩm định hoặc hội đồng chấm thi; 2.
Phân tích mọi khía cạnh của một vấn đề (thường là vấn đề quyết sách), nhằm
đánh giá sự đúng sai, lợi hại.”
Theo cách giải thích về từ nguyên, phản biện là một từ Hán Việt, nghĩa
là “bàn luận theo hướng (theo cách) ngược lại”, hoặc là sự tranh luận, tranh
cãi. Do đó, có thể hiểu phản biện là dùng chứng cứ, lập luận để bác bỏ chứng
cứ, lập luận đã được đưa ra trước đó. Theo đó, phản biện là sự tranh luận, tức
là đưa ra lập luận để làm rõ đúng - sai; trong phản biện phải hội đủ các luận
cứ (thực tiễn, khoa học) để làm rõ cái đúng, cái sai của vấn đề đang tranh
luận. Vì vậy, phản biện khác với góp ý kiến, phê bình, kiến nghị (khơng địi
hỏi phải có đủ căn cứ khoa học, thực tiễn). Là sự tranh luận, phản biện bao
hàm cả biện luận và phản biện luận, chứ không chỉ “một chiều”.
Như vậy, hiểu một cách khái quát, phản biện là hoạt động đưa ra các
lập luận, chứng cứ, phân tích, đánh giá về một vấn đề nào đó (như các đề án
kinh tế, các dự án xã hội, các dự án luật…) nhằm đánh giá, chứng minh tính
hợp lý hay khơng hợp lý, từ đó có thể khẳng định, góp ý, bổ sung hoặc phản
bác một phần hoặc cả phương án, dự án, kế hoạch.
Trong mỗi một xã hội bao giờ cũng có nhiều nhóm lợi ích khác nhau.

Các nhóm lợi ích bao giờ cũng có nhu cầu tiến hành hành động vì một mục
tiêu nào đó. Nhưng trên mỗi khía cạnh hay mỗi lĩnh vực của đời sống con
người bao giờ cũng có những cách lý giải khác nhau và do đó có những cách


12

hành động khác nhau để đạt được mục tiêu như vậy. Phản biện tạo ra một giai
đoạn đệm cho quá trình hành động tự nhiên của các nhóm lợi ích, đó là giai
đoạn thảo luận và thỏa thuận.
Nếu một xã hội khơng có phản biện và mỗi hành động đều được đương
nhiên tiến hành thì đấy là cách thể hiện rõ rệt nhất tính chất phi dân chủ của
xã hội. Bởi vì mỗi một hành động chính trị bao giờ cũng là kết quả thỏa thuận
của các khuynh hướng chính trị, một hành động chính trị chỉ có thể được tiến
hành khi nó là sự thúc bách của nhu cầu đời sống và để cân đối các nguyện
vọng khác nhau của đời sống. Phản biện là một đòi hỏi khách quan của đời
sống. Phản biện góp phần điều chỉnh các khuynh hướng kinh tế, văn hố,
chính trị, làm cho các khuynh hướng đó trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn
và gần với đời sống con người hơn.
1.1.2. Phân biệt phản biện - phản bác
Phản biện là thuật ngữ được dùng trước hết trong hoạt động khoa học –
phản biện khoa học. Tức là, đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi
cơng trình được đưa ra trước hội đồng khoa học. Theo đó, phản biện có nhiệm
vụ khẳng định những kết quả đạt được, những ưu điểm nổi trội của cơng
trình; đồng thời nêu ra những hạn chế, khiếm khuyết để tiếp tục hoàn thiện;
và cuối cùng, khẳng định rằng cơng trình đó có đạt được những tiêu chí khoa
học cần thiết khơng. Như vậy, phản biện khác với phản bác. Phản bác là dùng
lý lẽ và lập luận để bác bỏ, phủ nhận ý kiến hay quan điểm của người khác;
còn phản biện vừa khẳng định (nếu phù hợp với tiêu chí khoa học), vừa phản
bác (nếu khơng đáp ứng tiêu chí cơ bản) và hướng tới giúp hồn thiện cơng

trình ấy.
Trong phản biện, khơng chỉ là bác bỏ, phủ định, mà có thể có cả sự bổ
sung, làm rõ hơn vấn đề ở góc độ, phương diện khác nhau. Do đó, khơng thể đồng


13

nhất phản biện với phản bác, bài xích. Phản biện có nội hàm rộng hơn phản bác;
phản bác chỉ là một khả năng, một tình huống có thể có trong phản biện.
1.1.3. Phản biện xã hội
Từ cách hiểu về phản biện như trên, có thể thấy phản biện xã hội thực
chất là sự phản biện của xã hội (hay là sự phản biện mang tính xã hội), tức là
sự biện luận, thẩm định, đánh giá của các lực lượng xã hội đối với chủ trương,
chính sách, đề án, dự án xã hội… liên quan đến quyền lợi và đời sống của
thành viên trong xã hội. Như vậy, phản biện xã hội là tiếng nói nhận thức của
xã hội, của các lực lượng xã hội. Đó là những lập luận có chứng cứ (khoa học,
thực tiễn) nhằm phát hiện, bổ sung, chứng minh, khẳng định hoặc bác bỏ, phủ
định một chủ trương, chính sách hay đề án xã hội được cơng bố hay đang hình
thành. Là “tiếng nói”, phản biện xã hội khác với tâm trạng xã hội (trạng thái
tâm lý, tình cảm mang tính cảm tính, thường biểu hiện một cách âm ỉ, âm
thầm); phản biện xã hội biểu hiện một cách công khai, rõ ràng. Là “nhận
thức”, phản biện xã hội phải có chứng cứ, lập luận; do đó, nó cũng khơng
đồng nhất với dư luận xã hội (khơng cần phải có chứng cứ, lập luận, lý lẽ).
Liên quan đến khái niệm này, tác giả Nguyễn Văn Dững định nghĩa:
Phản biện xã hội là quá trình huy động nguồn lực trí tuệ, tinh
thần và cảm xúc của nhân dân, trước hết là thơng qua việc khơi dậy
nguồn lực trí tuệ trong xã hội, thể hiện sức mạnh dư luận xã hội vào
việc khẳng định những cái tốt, cái hay, cái có lợi cho cộng đồng vì
sự phát triển bền vững của đất nước trong các quyết sách lớn của
Đảng và Nhà nước; đồng thời chỉ ra những hạn chế, khiếm khuyết,

thậm chí sai lầm hay sự lợi dụng và lạm dụng quyền lực, nhằm mưu
lợi cá nhân hoặc vì lợi ích nhóm. Phản biện xã hội được thực hiện
bằng nhiều con đường, cách thức khác nhau, như phản biện thông


14

qua tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phản biện thông qua các tổ
chức kinh tế - xã hội… [18].
Còn tác giả Nguyễn Trần Bạt cho rằng:
Phản biện xã hội là trạng thái chuyên nghiệp của quá trình
thảo luận cho nên nó cần có sự tham gia của hai lực lượng, lực
lượng thứ nhất là để nói một cách chuyên nghiệp và lực lượng thứ
hai là để nghĩ một cách chuyên nghiệp. Trước khi nói phải nghĩ,
nghĩ chuyên nghiệp là giới trí thức và nói chun nghiệp là giới báo
chí. Phản biện xã hội là sự tranh luận một cách chuyên nghiệp giữa
các lực lượng xã hội với nhau hoặc là với nhà cầm quyền để tạo sự
chính xác chính trị của mỗi một hành động có chất lượng chính sách
hoặc định hướng, cho nên, nếu khơng có sự tham gia của hai lực
lượng này thì q trình cịn lại là q trình phản ứng xã hội chứ
khơng phải phản biện xã hội [4, 571-572].
Tuy nhiên, quan niệm của tác giả Nguyễn Trần Bạt về phản biện xã hội
còn có hạn chế. Tác giả cho rằng phản biện xã hội là sự tranh luận một cách
chuyên nghiệp, mà nghĩ chun nghiệp là giới trí thức và nói chun nghiệp
là giới báo chí – như vậy lực lượng này quá hẹp, chưa khái quát hết lực lượng
đa dạng, phong phú cùng tham gia phản biện xã hội.
Ngoài ra, Thạc sĩ Nguyễn Mậu Hưng, Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội,
Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng, mặc dù cụm từ “phản biện xã hội” mới
chỉ được sử dụng một cách phổ biến trong khoảng chục năm trở lại đây, tuy
nhiên, bản thân báo chí tiềm ẩn đã mang chức năng này. Theo đó:

Cụm từ “phản biện xã hội” hiểu theo một cách đơn giản nhất là
việc đưa ra/trình bày những cơ sở có căn cứ để bổ sung, phản bác hay
chấp thuận một vấn đề nào đó có tính thời sự và liên quan đến lợi ích
của nhiều người, của cộng đồng xã hội. Phản biện xã hội chính là kết


15

quả của sự va chạm, xung đột của các quan điểm, nhận thức, cách tiếp
cận, cách nhìn nhận khác nhau của các nhóm người trong xã hội được
chuyển tải thơng qua các kênh của báo chí và báo chí trở thành môi
trường để cho phản biện xã hội diễn ra. (Phỏng vấn sâu, Nguyễn Mậu
Hưng, Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội, Ban Tuyên giáo Trung ương)
Cũng theo tác giả này thì phản biện xã hội nhằm bổ sung, phản bác hay
chấp thuận một vấn đề, như vậy cũng chưa lột tả hết nhiệm vụ của phản biện
xã hội là tranh luận để tìm ra chân lý của vấn đề, mà muốn tranh luận thì phải
nên nhận xét, lập luận:
Đối tượng phản biện xã hội của báo chí lại khơng phải là cá
nhân hay vấn đề mang tính cá nhân mà là vấn đề có tính thời sự của
xã hội, liên quan đến lợi ích của các nhóm xã hội, cộng đồng xã hội.
Như vậy phản biện xã hội không đề cập tới cá nhân cụ thể mà đề
cập tới hành vi xã hội của con người cụ thể trong đó bao hàm cả ý
nghĩa hành vi xã hội của cá nhân thực hiện hành vi đó trong xã hội.
(Phỏng vấn sâu, Nguyễn Mậu Hưng, Viện Nghiên cứu Dư luận xã
hội, Ban Tuyên giáo Trung ương)
Qua nghiên cứu những quan điểm trên, tác giả luận văn cho rằng, phản
biện xã hội là quá trình tập hợp những lập luận, tranh luận khách quan, có
chứng cứ khoa học và thực tiễn, mang tính xây dựng, nhằm khẳng định cái
đúng, cái hay, phù hợp với lợi ích cộng đồng, chỉ ra những hạn chế, bất cập,
sai lầm; đồng thời nêu lên giải pháp tối ưu để giải quyết vấn đề. Phản biện xã

hội thể hiện quan điểm, nhận thức, ý chí của một người, của các nhóm người
trong xã hội về một vấn đề nào đó được xã hội quan tâm. Phản biện xã hội
thông qua nhiều chủ thể khác nhau, như cá nhân, tổ chức, bằng cách chuyển
tải trực tiếp hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng đến đối tượng
được phản biện.


16

1.1.4. Báo chí phản biện xã hội
Báo chí phản biện xã hội có nghĩa là báo chí thực hiện hoạt động phản
biện xã hội khi có các vấn đề, sự kiện thu hút sự quan tâm của công chúng.
Bên cạnh sứ mệnh to lớn là tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật Nhà nước; cổ vũ động viên toàn dân, toàn quân ta đẩy
mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế xã hội và góp phần chuyển tải, nâng cao kiến thức, trình độ văn hóa, thẩm mỹ
cho các tầng lớp nhân dân, báo chí cách mạng Việt Nam còn đảm nhiệm chức
năng, vai trò quan trọng là tham gia phản biện xã hội. Phản biện xã hội không
đơn thuần chỉ là hoạt động tác nghiệp của nhà báo mà nó cịn tn theo chức
năng, nhiệm vụ, tơn chỉ, mục đích của mỗi cơ quan báo chí. Mỗi cơ quan báo
chí có chức năng, nhiệm vụ, tơn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ khác nhau,
do đó, chủ trương, cách thức tiến hành hoạt động phản biện xã hội khác nhau.
Trong q trình phản biện xã hội, thơng tin thể hiện rõ quan điểm phản
biện của mỗi tờ báo. Có tờ báo tích cực phản biện xã hội: thơng tin nhanh
chóng, liên tục, mang tính chiến đấu cao, khai thác sâu vào nhiều khía cạnh
của vấn đề, khơng né tránh những vấn đề nhạy cảm; có những báo hạn chế
trong việc phản biện xã hội: thông tin chung chung, nửa vời, không dám đụng
chạm vào những vấn đề nhạy cảm. Để có thể thực hiện tốt hoạt động phản
biện xã hội, đòi hỏi sự bản lĩnh của cơ quan báo chí xuyên suốt từ trên xuống
dưới: từ cơ quan chủ quản, lãnh đạo cơ quan báo chí, ban biên tập cho đến
từng phóng viên, biên tập viên.

Các cơ quan báo chí tổ chức diễn đàn để khơi nguồn dư luận phản biện
xã hội. Đó là q trình trao đổi thơng tin hai chiều cơng khai giữa tịa soạn và
bạn đọc, giúp thông tin trở nên khách quan, tập hợp được những ý kiến có
trọng lượng nhất. Thực hiện chức năng phản biện xã hội là báo chí góp phần
tập hợp nguồn lực trí tuệ tồn dân, trước hết là đội ngũ trí thức, góp ý và phản


17

biện các quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước trong quá trình xây dựng và thực
hiện, nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,
xã hội dân chủ, cơng bằng, văn minh”. Đó là quá trình quán triệt quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam “lấy dân làm gốc”, là tư tưởng về nhà nước dân chủ
nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo đó, phản biện xã hội bằng và thơng
qua báo chí thể hiện sinh động nhất của việc phát huy dân chủ xã hội và “quyền
lực nơi dân” hay “để người dân được mở mồm ra nói” [28, 18].
Liên quan đến vấn đề báo chí phản biện xã hội, trong bài báo “Báo chí
và phản biện”, tác giả Nguyễn Quang A viết:
Báo chí là một kênh phản biện xã hội quan trọng bởi vì tính cơng
khai của nó. Ý kiến trên báo chí có thể được nhiều người thảo luận, bàn
cãi từ nhiều góc độ khác nhau. Một ý kiến độc đáo có thể gây cảm hứng
cho hàng ngàn ý kiến khác. Đấy là một kênh rất hiệu quả cho lập luận
công, thảo luận công về các vấn đề liên quan đến nhiều người. Việc
lắng nghe các ý kiến đa chiều, các ý kiến thiểu số là hết sức quan trọng.
Ý kiến của đa số chưa hẳn đã xác đáng, có khi ý kiến của thiểu số, thậm
chí của một người có thể rất đáng cân nhắc. Chính vì thế phải lắng nghe
ý kiến đa chiều, kể cả các ý kiến thiểu số [1].
Quan điểm của tác giả Nguyễn Quang A khẳng định vị trí của báo chí
trong phản biện xã hội, nêu lên tầm quan trọng của ý kiến đa chiều, nhưng
cũng rất tôn trọng ý kiến thiểu số xác đáng. Bởi lẽ, số đông không phải lúc

nào cũng đúng, cũng là chân lý. Ý kiến số đông nhưng khơng khách quan, bị
lợi dụng thì khơng bằng ý kiến thiểu số nhưng tâm huyết, khách quan và có
cơ sở khoa học.
Báo chí trong tương quan với phản biện xã hội, là cơ quan “nói chuyên
nghiệp” để bảo vệ quyền lợi cho nhân dân. Vì vậy, khi nói đến phản biện
trong báo chí là nói đến vai trị của báo chí trong tư vấn, giám sát và quản lý


18

xã hội thơng qua hình thức “nói chun nghiệp”. Phản biện xã hội của báo chí
chính là phương pháp bảo vệ quyền lợi chính đáng cho cơng chúng của báo
chí. Trong q trình đó, báo chí tác động đến chính trị và giai cấp cầm quyền
cũng có những phản hồi ngược, tất cả nhằm biến đổi xã hội theo một chiều
hướng tốt đẹp hơn. Nói cách khác, tính phản biện xã hội của báo chí nhằm tạo
ra một xã hội dân chủ cao, ở đó, người dân được đối thoại và góp ý thẳng thắn
những vấn đề liên quan đến đời sống của mình, vận mệnh của đất nước… với
các nhà lãnh đạo.
Xét trong quá trình phản biện xã hội, để thực hiện tốt vai trị phản biện
của mình, trước tiên báo chí cần phải thực hiện phản biện trên từng khía cạnh
của vấn đề, đó là điều kiện và cơ sở để tạo ra phản biện xã hội. Muốn phản
biện một vấn đề cần phải xem xét nó dưới từng góc độ khác nhau để đảm bảo
tính tồn diện và đúng đắn, nghĩa là nhà báo phải biết bóc tách vấn đề, để
phản biện nó trong từng lớp nhỏ. Dưới góc độ đặc tính xã hội của phản biện
xã hội (đặc tính này giúp cho phản biện xã hội khác với phản biện khoa học),
báo chí muốn thực hiện chức năng phản biện xã hội thì cần xem xét phản biện
ở các mặt của vấn đề xã hội trước đó.
Rõ ràng là báo chí khơng lên tiếng, khơng xã hội hóa các sự kiện thời
sự đang diễn ra thì cơng chúng và nhân dân khó có thể biết, nên không thể
bày tỏ thái độ, phán xét hay đánh giá kịp thời về các sự kiện và vấn đề ấy. Nói

cách khác, báo chí khơng khơi nguồn thơng tin thì khó có thể bùng lên dư
luận xã hội về những vấn đề quốc kế dân sinh. Phản biện bằng, thông qua báo
chí và dư luận xã hội là cách làm cơng khai, minh bạch, có thể giúp ngăn
ngừa và hạn chế lạm dụng quyền lực trong bối cảnh thiếu vắng sự giám sát
độc lập. Bởi vì, nếu khơng ngăn chặn, hạn chế được việc lạm dụng quyền lực,
sẽ dẫn đến tha hóa quyền lực và tha hóa chế độ xã hội. Do đó, trong xã hội


19

hiện đại, vai trò phản biện xã hội của báo chí ngày càng gia tăng, ngày càng
có ý nghĩa quan trọng đặc biệt [18].
Tuy nhiên, để phản biện xã hội tốt, địi hỏi báo chí phải nhận thức và có
cách giải quyết vấn đề đúng. Một phản biện sai có thể kéo theo nhiều hậu quả
khôn lường. Câu chuyện xung quanh quả bưởi năm 2007 là một ví dụ. Từ
thơng tin khơng chính xác trên báo chí nước ngồi, một số tờ báo Việt Nam
đã dịch và công bố, ăn bưởi có nguy cơ bị ung thư. Thơng tin này đã khiến
hàng ngàn người dân trồng bưởi bị điêu đứng, phá sản. Chỉ do một phản biện
sai lầm của báo chí như vậy đã ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống rất nhiều
người dân.
1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề báo chí phản biện
xã hội
Báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội
và là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản
lí của Nhà nước và hoạt động trong khn khổ pháp luật; phải bảo đảm tính tư
tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính đa dạng của hoạt
động báo chí.
Dấu mốc quan trọng đối với báo chí Việt Nam là lần đầu tiên trong Nghị
quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi nhận,
khẳng định báo chí và truyền thông đại chúng là một trong bốn hệ thống giám

sát xã hội. Đấy là bước phát triển quan trọng về lý luận, nhận thức của Đảng ta
về vai trò xã hội của báo chí, cũng là một dấu mốc quan trọng của quá trình thực
hiện mở rộng dân chủ. Về thực chất, đó là sự xác định và đề cao hơn quyền dân
chủ của nhân dân, đồng thời trao cho nhân dân công cụ sắc bén trong việc thực
hiện quyền giám sát, phản biện xã hội [17].
Phản biện xã hội là thuật ngữ được sử dụng chính thức trong Báo cáo
chính trị tại Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam:


20

Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đồn thể nhân
dân thực hiện tốt vai trị giám sát và phản biện xã hội [21, 124]; Phát
huy vai trò và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các đoàn thể
nhân dân tham gia xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát và phản
biện xã hội [21, 305].
Tuy nhiên, cho đến lúc này, qua các phương tiện thông tin đại chúng,
các diễn đàn trao đổi; trong thực tiễn hoạt động của hệ thống chính trị nói
chung, hoạt động của Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc nói riêng vẫn chưa có
câu trả lời thỏa đáng.
Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã cụ thể hóa quan điểm về
phản biện, phản biện xã hội, coi phản biện xã hội là nhu cầu cần thiết của quá
trình lãnh đạo và điều hành đất nước:
Phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định cơng trình
khoa học, dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau; Phản biện xã hội là
sự phản biện nói chung, nhưng có quy mơ và lực lượng rộng rãi hơn của
xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung và phương
hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội,
khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an ninh chung

toàn xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan [11, 87].
Đảng và Nhà nước ln quan tâm, lãnh đạo sâu sát báo chí. Trong
những năm qua, hệ thống thông tin đại chúng rất được chú trọng phát triển.
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã khẳng định:
“Chú trọng nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin,
giáo dục, tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại
chúng” [22, 225]. Vận dụng chủ trương của Đảng vào thực tiễn, nhà báo Hữu
Thọ cho rằng:


21

Lần đầu tiên Văn kiện Đại hội nêu đầy đủ chức năng của báo
chí. Chúng ta cần thảo luận và cụ thể hóa chức năng này thì hoạt
động báo chí dưới sự lãnh đạo của Đảng mới có hiệu quả xã hội cao.
Vấn đề quan trọng bây giờ là chúng ta phải cụ thể hóa bằng luật
pháp, nếu khơng chỉ vẫn dừng lại ở khẩu hiệu [37].
Nhà báo Hữu Thọ đã nêu lên một thực tế: lâu nay đường lối, chủ
trương, nghị quyết chưa đi vào cuộc sống là do chưa triển khai tổ chức thực
hiện tốt, nhiều quy định khơng được cụ thể hóa. Đáng ra, sau mỗi nghị quyết
của Đảng thì cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước phải có các quy định cụ thể về
việc thơng tin và phản biện xã hội của báo chí ra sao để thực hiện, nhưng đến
nay khơng có.
Tính phản biện xã hội trong báo chí ngày nay là một bước phát triển
của tính chiến đấu trong trong lý luận báo chí cách mạng. Lý luận báo chí
cách mạng coi tính chiến đấu như một yếu tố quan trọng, khẳng định vai trị
và vị trí của báo chí trong hệ thống xã hội với hình thức phê bình và tự phê
bình trên báo chí:
Cơng tác phê bình và tự phê bình chính là một bộ phận quan
trọng thực hiện tính chiến đấu của báo chí. Tờ báo làm tốt việc phê

bình và tự phê bình là một tờ báo có tính chiến đấu cao. Tính chiến
đấu nghĩa là làm cho chân lý được sáng tỏ, điều phi chân lý bị đẩy
lùi; làm cho các mới được sinh sôi nảy nở và cái cũ héo hon tàn lụi;
làm cho cái tiến bộ được phát triển, cái lạc hậu bị xóa bỏ [32].
Hoạt động phản biện xã hội tích cực, rộng rãi nói lên sự quan tâm
hưởng ứng của người dân đối với đường lối chính sách của Đảng và Nhà
nước được ban hành. Điều đó là rất cần thiết để nâng cao uy tín của Đảng và
Nhà nước, tăng cường sức mạnh đồn kết, nhất trí giữa các cơ quan Đảng,
chính quyền các cấp với đông đảo nhân dân, tạo ra sự đồng thuận xã hội ngày


22

càng cao. Động viên được nhân dân dám nói, dám góp ý kiến một cách mạnh
dạn, thẳng thắn với Đảng và Nhà nước, dám nói thật những suy nghĩ đúng, sai
của họ là một việc làm cần thiết, một thắng lợi của Đảng và Nhà nước. Đó
chính là sự đảm bảo cho công bằng về quyền lực giữa hai bên: Đảng, Nhà
nước và người dân, khiến hai bên xích lại gần nhau hơn, từ đó xây dựng sự
đồng thuận xã hội thật sự, vững chắc, tạo nên khối đoàn kết toàn dân tộc để
xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội dân chủ, cơng bằng, văn minh.
1.3. Vai trị phản biện xã hội của báo chí nước ta hiện nay
Thực tế, vai trò, nội dung phản biện xã hội của báo chí là rất rộng lớn.
Báo chí có thể phản biện tất cả các khía cạnh của đời sống: chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội, quốc phịng, an ninh, khoa học cơng nghệ, phịng chống tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực, tệ nạn xã hội, quan hệ quốc tế… Tuy nhiên, trong
khn khổ luận văn chỉ phân tích hai vai trị báo chí phản biện để góp phần
sửa đổi, bổ sung những chủ trương, chính sách chưa hợp lý của Đảng và Nhà
nước; báo chí phản biện những vụ việc nổi cộm, gây bức xúc lớn trong xã hội, bởi:
Thứ nhất, đây là hai vai trò quan trọng của báo chí trong phản biện xã hội; Thứ hai,
sự kiện Dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam và Vụ cưỡng chế đất Tiên Lãng, Hải

Phòng mà tác giả khảo sát, phân tích ở Chương 2 là khá tiêu biểu, điển hình cho hai
vai trị này của báo chí trong phản biện xã hội.
1.3.1. Báo chí phản biện để góp phần sửa đổi, bổ sung những chủ
trương, chính sách chưa hợp lý của Đảng và Nhà nước
Nội dung của phản biện xã hội rất rộng. Đường lối, quan điểm, chủ
trương, chính sách... của Đảng, Nhà nước là đối tượng của phản biện xã hội.
Thơng qua báo chí, nhân dân có thể phát huy quyền làm chủ của mình, đồng
thời Đảng, Nhà nước hiểu rõ thêm tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, kiểm
tra việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật trong
cuộc sống. Báo chí là phương tiện để nhân dân bày tỏ ý chí, nguyện vọng,


23

hình thành dư luận xã hội, tạo sự nhất trí cao trong trong suy nghĩ và hành
động của toàn xã hội. Nâng cao tính nhân dân của báo chí là tăng cường phản
biện, giám sát của người dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, với các
chủ trương, chính sách có ảnh hưởng sát sườn đến lợi ích người dân.
Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Bình cho rằng: “Thơng tin của nhà nước gồm
hai loại: thông tin đang nằm trong kho lưu trữ nhà nước và thông tin do cơ
quan thực thi cơng quyền quản lý. Thơng tin đó bao gồm: chính sách; pháp
luật; dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục…” [5]. Báo chí là
một trong những kênh thông tin quan trọng nhằm cung cấp thông tin để nhân
dân hiểu rõ, nắm bắt được các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời,
thơng qua báo chí, các cơ quan Nhà nước cũng nắm bắt được trong q trình
thực hiện, chính sách, pháp luật có phù hợp với nhu cầu xã hội hay không.
Các cơ quan nhà nước có thể nắm bắt được ý nguyện, tâm tư của nhân dân,
trên cơ sở đó để ban hành chính sách, pháp luật phù hợp với nhu cầu xã hội.
Thơng qua báo chí, nhân dân có thể biết được quyền và nghĩa vụ của mình, đó
chính là cơ sở để phản biện, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước. Qua

đó, nhân dân có thể đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng quá trình
thực thi quyền lực nhà nước. Thơng qua báo chí, những đại biểu cơ quan dân
cử, cơ quan soạn thảo chính sách, pháp luật tiếp thu ý kiến để bổ sung, sửa đổi
nhằm hồn thiện dự thảo các chính sách, pháp luật phù hợp với ý chí, nguyện
vọng của quảng đại quần chúng nhân dân.
Lập luận phản biện nhằm vạch ra những thiếu sót, làm rõ những khía
cạnh chưa hợp lý; bổ sung, hoặc khẳng định, hoặc bác bỏ phương án, dự án
“chính thống”. Trong ý nghĩa tích cực của nó, phản biện xã hội khơng có mục
đích phủ định sạch trơn hay tìm cách đánh đổ kiến tạo chính sách của cơ quan
cơng quyền. Ngược lại, nó giúp cơ quan kiến tạo chính sách nhận ra những
vết rạn hay lỗ hổng của bản thân chính sách, kể cả việc đề xuất các hướng đi


24

hay giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế ấy. Phản biện xã hội góp phần
khắc phục những khiếm khuyết của các kiến tạo chính sách - thể chế, qua đó
nâng cao chất lượng quản trị của bộ máy Nhà nước. Khi hoạt động phản biện
diễn ra, người ta hiểu rằng, trước đó, đã tồn tại một số vấn đề nhất định trong
sự kiến tạo chính sách của cơ quan Nhà nước chun trách cơng việc này.
Khiếm khuyết ấy có thể làm cho bản thân chính sách, quyết định đó trở nên
bất khả thi khi áp dụng vào điều kiện thực tế. Cho nên, phản biện xã hội thực
chất là đưa ra một cách nhìn khác của cộng đồng đối với chất lượng và triển
vọng của chính sách vừa được ban hành. Phản biện xã hội, nếu được thực
hiện đúng đắn, sẽ đem lại kết quả tích cực trực tiếp, tạo điều kiện thuận lợi để
chúng ta có những phương án, dự án hợp lí nhất, hiệu quả nhất.
Kỳ họp lần thứ 7, Quốc hội khóa XII là một dẫn chứng sinh động về
vai trò phản biện xã hội của báo chí để góp phần sửa đổi những chủ trương,
chính sách chưa hợp lý xung quanh vấn đề như Đề án quy hoạch Thủ đô Hà
Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến 2050; Dự án Bơ xít Tây Ngun... Trước

một số bất cập của đề án, dư luận xã hội đã phản biện mạnh mẽ, nhằm sửa đổi
chủ trương, chính sách trở nên đúng đắn, hợp lý hơn. Các phương tiện truyền
thông đại chúng tổ chức chiến dịch phản biện quy mô, mạnh mẽ với đông đảo
chuyên gia, nhà khoa học, những độc giả tâm huyết và các ý kiến đầy trách
nhiệm từ nghị trường. Từ đó, cơ quan xây dựng Đề án quy hoạch Thủ đô Hà
Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến 2050 đã có sự tiếp thu với tinh thần cầu thị,
tháo gỡ và làm rõ những vấn đề gây tranh cãi như: Trung tâm chính trị quốc
gia sẽ vẫn được đặt tại Ba Đình chứ khơng di dời lên Ba Vì; xác định rõ các
trục khơng gian hướng tâm về nội đô, cũng như phương án tìm nguồn vốn để
thực hiện đề án... Cịn Dự án Bơ xít Tây Ngun, Quốc hội đã chỉ đạo triển
khai thí điểm ở Tân Rai và Nhân Cơ tại khu vực Tây Nguyên, thay vì dự án


25

khai thác Bơxít tại Tây Ngun trước đó do Tập đồn Than - Khống sản Việt
Nam triển khai vào năm 2008.
Trong quá trình thực thi quyền lực Nhà nước, sự công khai, minh bạch
là một trong những thước đo của dân chủ. Do vậy, cơng khai trên báo chí là
điều kiện hết sức cần thiết trong việc thực hiện dân chủ. Thơng qua báo chí,
các cơ quan Nhà nước có thể phát hiện ra những khâu ách tắc, sai lầm trong
quá trình thực thi quyền lực Nhà nước, giúp cho người có trách nhiệm tìm ra
những biện pháp tháo gỡ những khó khăn để thực hiện tốt hơn mục tiêu,
nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị mình. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền
XHCN của dân, do dân và vì dân, phản biện xã hội là hình thức sinh hoạt
chính trị dân chủ thúc đẩy thực hiện mục đích xã hội tốt đẹp. Phản biện xã hội
vừa là một nhu cầu khách quan của công việc lãnh đạo xã hội, vừa là một hiện
thực tất yếu luôn tồn tại trong đời sống chính trị, xã hội.
Báo chí từ trước đến nay vẫn được coi như là cơng cụ chính trị của giai
cấp cầm quyền. Vì thế, phản biện xã hội trong báo chí dễ bị hiểu sai lệch là

phản biện những vấn đề giai cấp cầm quyền đưa ra (những chủ trương, chính
sách, nghị quyết được giai cấp cầm quyền ban hành). Cách hiểu như trên mới
chỉ nhận thức được một mặt của phản biện xã hội trong báo chí. Ngồi phản
biện những chủ trương, chính sách, nghị quyết, quyết định… của giai cấp cầm
quyền đưa ra, báo chí cịn đóng vai trị phản biện những vấn đề nảy sinh trong
cuộc sống xã hội nói chung. Từ q trình phản biện đó, báo chí có những định
hướng nhận thức kịp thời cho quần chúng cũng như định hướng để giai cấp
cầm quyền đưa ra chính sách hợp lý.
Ý nghĩa và giá trị của phản biện xã hội là to lớn, nhưng cũng khơng nên
tuyệt đối hóa nó, cho đó là giải pháp vạn năng trong đời sống chính trị. Phản
biện xã hội chỉ là một trong các biểu hiện của cơ chế tập trung dân chủ. Một
nhà nước điều hành hoạt động xã hội hằng ngày, không thể áp dụng phản biện


×