NHÓM 1:
ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ VÀ VĂN HÓA GIAO TIẾP
CỦA NGƯỜI HÀN QUỐC
Môn: Tâm lý du khách và giao tiếp du lịch
MỤC LỤC
Trang
1.
2.
3.
4.
Tổng quan về Hàn Quốc
3
Lời chào, bắt tay, cách gửi danh thiếp, tặng quà
7
Cách sử dụng trang phục, cách ăn uống trong giao tiếp 10
Đặc điểm tâm lý và những lưu ý khi giao tiếp với khách du lịch
đến từ Hàn Quốc
15
5. Những điều du khách cần lưu ý trong giao tiếp, ứng xử khi đến
Hàn Quốc
1.Tổng quan về Hàn Quốc
19
1.1 Vị trí địa lí
Hàn Quốc nằm ở Đơng Á, ở nửa phía nam của Bán đảo Triều Tiên.
Phía bắc giáp với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên qua giới
tuyến quân sự chạy dọc vĩ tuyến 38 độ bắc. Hàn Quốc được biển bao
quanh và có 2,413 kilơmét đường bờ biển dọc theo ba biển; phía tây
là biển Hồng Hải ( biển Tây), phía nam là biển Hoa Đơng và phía
đơng là biển Nhật Bản (được gọi là "biển Đơng" ở Hàn Quốc). Hàn
Quốc có khí hậu ơn đới và địa hình chủ yếu là đồi núi.
1.2 Diện tích:
Lãnh thổ Hàn Quốc trải rộng 100.363 km². Với dân số vào
khoảng hơn 50 triệu người (51,64 triệu người năm 2018), Hàn
Quốc là quốc gia có mật độ dân số cao thứ 3 thế giới (chỉ xếp
sau Bangladesh và Đài Loan).
Thủ đô của Hàn Quốc là thành phố Seoul, trung tâm đô thị lớn
thứ tư trên thế giới với dân số ước tính đạt tới 9,72 triệu người
(2019) và là một thành phố toàn cầu quan trọng. Seoul là một
trong những thành phố du lịch lớn và hấp dẫn tại châu Á với vô
số những điểm tham quan, vui chơi, mua sắm khắp nơi như
Cung điện Gyeongbokgung, Cung điện Changdeokgung, Khu
làng cổ Bukcheon Hanok, Suối Cheonggyecheon, Chợ
Namdaemun, Myeongdong...
1.3 Đặc trưng văn hóa – lịch sử
1.3.1 Văn hóa
- Văn hóa Hàn Quốc là một biểu hiện rõ nét cho văn hóa phương
đông và mang đậm tư tưởng Nho giáo. Người Hàn Quốc rất
kính trọng người già, tơn thờ tổ tiên, và nghe lời cha mẹ. Điều
này đặc biệt được thể hiện rõ trong quan hệ giữa cha mẹ và con
cái, giáo viên và học sinh, ông chủ và người làm công, thủ
trưởng và nhân viên.
- Người Hàn Quốc có văn hóa gia đình rất vững chắc. Họ cũng
thích tụ tập. Ví dụ, họ thích gặp gỡ bạn bè và họ hàng để ăn
uống, và thích tổ chức các cuộc tụ họp như vậy ở nhà. Khi người
Hàn Quốc đến nhà hàng, rất hiếm khi mọi người góp tiền cùng
thanh tốn. Thường thì người già nhất sẽ trả tiền cho tất cả.
- Người Hàn Quốc nhiệt tình và năng động. Họ yêu lao động và
thường gắn bó với cơng việc, hồn thành nhiệm vụ đúng hạn.
- Người Hàn quốc rất coi trọng giáo dục. Đa phần các bậc cha mẹ
sẵn sàng hy sinh mọi thứ để tạo điều kiện học tập tốt nhất cho
con cái. Hàn quốc có tỷ lệ biết đọc biết viết cao cũng như tỷ lệ
phần trăm những người học đại học lớn. Từ xa xưa, người Hàn
Quốc đã luôn đề cao người có học vấn.
- Nền âm nhạc, phim ảnh và thời trang phát triển, không chỉ là xu
hướng đi đầu tại Châu Á mà nó cịn lan tỏa và phủ sóng trên
khắp thế giới.
1.3.2 Lịch sử
Trong phần lớn quá khứ, Hàn Quốc có chung lịch sử với Bắc
Triều Tiên, thế nhưng Triều Tiên vẫn thường xuyên bị chia
thành nhiều nước và vùng lãnh thổ riêng biệt. Từng thời kì,
các nước này được một thế lực bá quyền thống nhất trước khi
lại bị tan rã lần nữa. Do đó lịch sử của Triều Tiên rất phức
tạp. Ta có thể tổng kết lịch sử của Hàn Quốc thông qua 7 thời
kỳ:
- Thời kỳ thứ 1: thời kỳ GOJSEON ( 2333 – 108 trước công
nguyên )
- Thời kỳ thứ 2 : thời kỳ 3 vương quốc ( từ năm 57 trước công
nguyên – năm 668 sau công nguyên )
- Thời kỳ thứ 3 : thời kỳ SILLA thống nhất ( từ năm 668 – năm
935 )
- Thời kỳ thứ 4 : triều đại GORYEO ( từ năm 918 – năm 1392 )
- Thời kỳ thứ 5 : triều đại JOSEON ( từ năm 1392 – năm 1910 )
- Thời kỳ thứ 6 : thời kỳ bị Nhật chiếm đóng ( 1910 – 1945 )
- Thời kỳ thứ 7 : Đại Hàn Dân Quốc ( từ 1945 đến nay )
1.4 Quốc kỳ - Quốc hoa
1.4.1 Quốc kỳ
Quốc kỳ Đại Hàn Dân
Quốc là hình chữ nhật
có nền trắng, ở giữa
có hình âm dương
(màu đỏ ở trên và màu
xanh dương ở dưới),
bốn góc có 4 quẻ Bát
Quái tượng trưng cho
trời, đất, nước và lửa.
Lá cờ này được sử dụng từ năm 1950 đến nay.
1.4.2 Quốc hoa
Từ thời cổ đại, hoa Mugunghwa đã được xem là biểu tượng
của tinh thần dân tộc Hàn. Tình u của người Hàn Quốc
dành cho lồi hoa này
được thể hiện rõ nét khi
những ca từ “Hoa
Mugunghwa, nở ngàn
dặm trên những ngọn
núi và bên những dịng
sơng tươi đẹp” đã mở
đầu một đoạn điệp
khúc trong quốc ca của
Đại Hàn Dân Quốc.
Các cơ quan lập pháp,
hành pháp và tư pháp của Hàn Quốc đều lấy hoa
Mugunghwa làm biểu tượng và đế cắm quốc kỳ cũng được
quy định làm theo hình dạng của nụ hoa Mugunghwa.
2. Lời chào, bắt tay, cách gửi danh thiếp, tặng quà
2.1. Văn hóa chào hỏi
Thái độ và cử chỉ khi chào hỏi rất được người Hàn Quốc chú trọng,
nụ cười và động tác gập lưng không thể thiếu trong văn hóa chào hỏi
ở Hàn Quốc. Do quá trình phát triển của xã hội hiện đại cùng sự thâm
nhập của văn hóa phương Tây mà ngày nay người Hàn Quốc đã thay
động tác gập lưng bằng cái cúi đầu nhẹ. Tuy nhiên, ở những trường
hợp đặc biệt trang trọng hoặc thể hiện sự kính trọng với người cao
tuổi, người có chức vụ cao trong xã hội thì động tác gập lưng vẫn đặc
biệt được coi trọng. Người Hàn Quốc thường đánh giá cao những nỗ
lực của người nước ngồi khi cố gắng bày tỏ lời chào bằng chính
ngơn ngữ Hàn Quốc.: “an-nhon-ha-sae-yo” (xin chào).
2.2 Bắt tay
Người Hàn Quốc có thể chào hỏi bằng cách bắt tay, thường chỉ dùng
trong quan hệ công việc, kinh doanh, ngoại giao, chủ yếu giữa những
người đàn ông với nhau. Cách chào hỏi này không thông dụng lắm
nên chúng ta nên đợi người Hàn Quốc đưa tay trước thể hiện họ muốn
bắt tay, nếu khơng thì hãy cúi đầu nhẹ để chào.
2.3 Cách gửi danh thiếp
Trao danh thiếp cũng được xem
là một việc rất quan trọng, vì thế
bạn hãy chuẩn bị một lượng lớn
danh thiếp giao dịch, bởi người
Hàn có thói quen trao danh thiếp
khi lần đầu gặp mặt. Nếu ai đó
trao danh thiếp cho bạn mà bạn
khơng đưa lại thì họ sẽ nghĩ rằng bạn khơng muốn làm quen với họ
hoặc vị trí của bạn ở công ty quá thấp hoặc quá cao.
Khi trao hoặc nhận thiếp phải dùng cả
hai tay và đặt theo chiều người nhận có
thể đọc được. Sau khi nhận thiếp, trước
khi cất nó vào hộp hoặc túi đựng danh
thiếp, hãy đọc và đưa ra một vài lời
bình luận về danh thiếp. Tiếp đó, đặt
danh thiếp lên bàn trước mặt bạn hoặc để vào hộp đựng danh thiếp.
Không nên cho danh thiếp vào ví một cách cẩu thả vì nó sẽ khiến
người trao danh thiếp nghĩ rằng bạn không tôn trọng họ. Bạn cũng
khơng nên viết những chú thích lên danh thiếp của người khác khi có
mặt họ tại đó.
2.4 Văn hóa tặng quà
Người Hàn Quốc khá tỉ mỉ trong việc chọn và tặng quà ,thể hiện sự
chân thành của người tặng với người nhận quà. Khi nhận quà, bạn nên
dùng hai tay. Nó thể hiện sự tơn trọng của bạn đó. Cũng đừng nên mở
quà ngày trước mặt họ, trừ khi được yêu cầu hoặc bạn có thể hỏi xem
có được mở ln hay khơng?
Những điều lưu ý khi tặng quà:
- Không nên tặng dao, kéo và các vật sắc nhọn vì người Hàn cho rằng
những vật như vậy dễ cắt đứt mối quan hệ;
- Không nên tặng giày vì họ nghĩ người được tặng giày sẽ trốn chạy
khỏi mối quan hệ với bạn.
- Không nên tặng khăn tay vì với người Hàn Quốc: khăn tay để lau
mồ hôi và nước mắt nên không dùng để tặng cho người khác.
- Giấy gói quà thường là màu đỏ và vàng, đặc biệt tránh gói quà màu
xanh lá cây, trắng hoặc đen.
- Bạn nên tặng quà liên quan đến số 7 và kiêng số 4. Còn một lưu ý
nữa cho bạn là đừng viết thiếp tặng quà bằng bút đỏ vì đó là phong
tục trong đám tang.
Một số gợi ý về quà tặng cho người hàn quốc như : Trống đồng mạ
vàng, chùa một cột mạ vàng, hoa sen mạ vàng, đặc sản địa phương,
tranh ảnh...
3. Cách sử dụng trang phục, cách ăn uống của Hàn Quốc
3.1. Trang phục Hàn Quốc
Hanbok là trang phục truyền thống của Hàn Quốc, ra đời trong thời
đại Joseon. Hanbok được mặc chủ yếu trong các dịp lễ tết, ngày hội
cổ truyền hay những ngày kỉ niệm đặc biệt để thể hiện tấm lịng của
con cháu ln nhớ tới cội nguồn. Vì là trang phục truyền thống nên
Hanbok phản ánh nét đặc trưng của văn hóa Hàn Quốc. Hiện nay, chất
liệu phổ biến cho Hanbok là vải gai, bông, muslin, lụa và satin. Mùa
đơng, người Hàn thường mặc thêm áo khốc dày hoặc mặc Hanbok
may bằng vải bông dày.
Hoa văn trong Hanbok cũng thường thiên về các họa tiết thiên
nhiên hoặc những hình sang trọng như rồng phượng, có thể là in chìm
trên nền vải lụa, satin, gấm,… hoặc thêu tay đủ các hình thù rất cầu kì
và tinh tế. Một họa tiết cũng khá phổ biến trên Hanbok là hình trịn
âm dương, hoặc hình trịn chia làm ba phần với ba màu cơ bản là đỏ,
vàng và lam. Thời xưa ở Hàn Quốc giới thượng lưu được mặc quần
áo nhiều màu sắc sặc sỡ, những màu sáng được dành cho trẻ em và
các bé gái, cịn màu dịu hơn thì dành cho những người trung niên.
Hanbok cho người lớn tuổi thường sử dụng vải trơn, gam màu ít nổi
bật hơn để tạo sự trang trọng.
Hanbok Hàn Quốc vốn nổi tiếng cả thế giới về sự đa sắc bởi màu
sắc, không phụ thuộc nhiều vào dịp mặc, chỉ trừ tang lễ thì người Hàn
Quốc thường mặc Hanbok bằng vải gai trắng hoặc dùng vải đen, nếu
là người thân của người đã mất thì nữ thường đeo một chiếc nơ nhỏ
màu trắng trên tóc. Hanbok cho lễ cưới thì thường có họa tiết rồng
phượng, những họa tiết xưa được thêu rất tỉ mỉ trên các bộ Hanbok
của hoàng gia hoặc Hanbok mặc khi tham gia vào những sự kiện lớn.
3.1.1. Hanbok nữ
Hanbok nữ bao gồm hai phần chính là jeogori và chima. Jeogori là
áo khoác ngắn, chima là váy thắt eo cao. Jeogori có thể ngắn chỉ vừa
đủ che ngực hoặc dài đến eo (với hình dáng lưỡi liềm cong lên hoặc
đơn giản là gấu áo thẳng). Đi kèm với jeogori là nơ otgoreum, được
tạo nên từ hai dải vải dài buộc chặt vào nhau. Bên cạnh đó cũng
khơng thể thiếu tất trắng beoson và những đơi giày hình chiếc thuyền.
Ngồi ra cịn mặc một lớp “hanbok trong” cũng có thể có jeogori
nhưng tất cả đều là màu trắng. Đi cùng có rất nhiều phụ kiện của nữ
như trâm, hoa cài, mũ, dây buộc tóc,… đặc biệt rất nhiều màu sắc và
đa dạng. Hanbok khơng có túi nên người mặc thường mang những túi
nhỏ làm bằng lụa, có thể thêu thêm họa tiết, gọi là joomeoni.
Nữ khi mặc Hanbok lót màu trắng là mặc váy trước, cố định váy
bằng dây buộc hoặc như Hanbok hiện nay có sẵn chun bao quanh,
phần chun cao đến che quá ngực nên có thể mặc thêm jeogori lót hoặc
khơng. Sau đó lớp Hanbok chính bên ngoài cũng mặc tương tự, phần
quan trọng là thắt nơ goreum sao cho đẹp. Goreum cần được thắt về
bên tay phải người mặc, độ rủ mềm mại vừa phải để giữ được nét nữ
tính và thanh lịch của phái nữ. Vải của bộ áo không được để nhàu và
chima phải giữ được nếp và độ phồng ban
đầu.
3.1.2. Hanbok nam
Hanbok nam bao gồm jeogori, quần baji và áo choàng durumagi.
Áo choàng durumagi dài đến đầu gối hoặc hơn, jeogori ngang hơng,
quần baji thì rộng và bó ở gấu. Đi kèm với Hanbok nam là mũ (gat),
dây buộc ngang lưng dalleyong và giày. Cũng như hanbok nữ, hanbok
nam cũng có một lớp mặc trong màu trắng.
Khi mặc Hanbok nam cũng là mặc baji lót màu trắng trước, sau đó
đến jeogori, dáng áo mở có dây cùng chất liệu buộc lại. Sau đó mặc
baji ngồi rồi đến áo khốc. Nếu là
durumagi thì chỉ cần khốc vào và
buộc bằng dalleyong là xong.
Dalleyong có thể là một sợi dây
mảnh đeo thêm miếng ngọc bội
hoặc móc treo thắt nút bằng vải để
trang trí, hoặc có thể là một thắt
lưng vải bản to để cố định áo. Nếu
là áo khoác cộc tay (cùng kiểu với
jeogori) thì mặc tương tự như
jeogori, dây buộc áo khốc này
cũng là vải cùng chất liệu nhưng được thắt chặt và rủ về bên tay phải.
3.2. Cách ăn uống của Hàn Quốc
3.2.1. Đồ ăn Hàn Quốc
Cơm là món chính trong thực đơn của người Hàn Quốc. Gạo trắng
nấu lên gọi là cơm trắng (Ssalbap), gạo được trộn lẫn với các loại ngũ
cốc (Japgokbap), hoặc cơm trộn với rau và thịt bằm (Bibimbap), rong
biển cuộn cơm và các loại thực phẩm khác (Kimbap)
Người Hàn Quốc cũng thưởng thức nhiều loại canh khác nhau. Món
canh Dwenjangguk được làm từ đậu nghiền, trong khi món canh
Miyeokguk được làm từ rong biển và theo truyền thống được dùng
trong các dịp sinh nhật. Tang, một món hầm, được ninh từ thịt bò
hoặc thịt gà và ninh trong một khoảng thời gian dài. Gomtang và
Samgyetang là một số ví dụ về loại đồ ăn được chế biến theo cách
này.
Dwenjangguk
Miyeokguk
Gomtan
Samgyetang
Kimchi là một món ăn khơng thể thiếu trong đời sống của người
Hàn Quốc. Có rất nhiều loại kimchi, được chế biến bằng cách muối
các loại rau như dưa chuột, cải bắp, củ cải, sau đó cho thêm ớt bột,
hành tươi, gừng và một số loại gia vị khác. Kimchi là một đại diện
tiêu biểu của thức ăn chế biến theo phương thức lên men của Hàn
Quốc.
3.2.2 Đồ uống Hàn Quốc
Rượu Soju gần như đã trở thành 1 loại rượu ngon truyền thống của
người Hàn. Rượu Soju có thành phần chính là gạo, lúa mì, khoai lang,
lúa mạch hoặc bột sắn hột. Loại rượu này xuất hiện trong hầu hết các
bữa ăn của người hàn quốc, trong các bữa tiệc, lễ tết hay các buổi gặp
mặt…Rượu Soju có vỏ chai màu xanh lá và vị của nó thì nhẹ hơn rượu
Vodka. Độ cồn của Soju giao động từ 19–25 %. Rượu Soju được
người Hàn Quốc dùng khi ăn cùng những món nướng.
Rượu
Makgeolli
được đánh
giá là có
tuổi thọ lâu
đời ở đất
nước hàn
quốc. Loại
rượu này
có màu sắc tự nhiên là màu trắng
đục khơng khác gì mấy với màu
nước vo gạo. Rượu gạo Makgeolli
có nồng độ thấp, nó chỉ khoảng 6–7 độ.
Rượu Makgeolli có hương vị dịu nhẹ giống như đang uống sữa, rượu
uống rất khó say. Hương vị của nó lại khiến tâm trạng của bạn trở nên
vui vẻ, phấn chấn hơn.
3.2.3 Một số lưu ý khi dùng bữa của Hàn Quốc
Một bàn ăn Hàn Quốc sẽ bao gồm cơm, canh, kimchi, các món phụ,
và các đĩa nhỏ chứa nước xốt. Khi ăn, người Hàn Quốc dùng cả
muỗng và đũa.
Người Hàn Quốc coi các điểm sau là các yếu tố cần quan tâm về
mặt nghi thức dùng bữa.
_Chỉ nên bắt đầu dùng bữa khi người lớn tuổi nhất trong bàn ăn
đã bắt đầu dùng bữa.
_Mỗi người phải có một bát canh riêng, khơng dùng bát canh
chung.
_Khi ăn không được bưng bát cơm, phải đặt bát xuống bàn.
_Không nhấc các đĩa để đồ ăn lên khi đang dùng bữa.
_ Thìa và đũa khơng nên cầm cùng một tay và trong cùng 1 lúc,
thìa chỉ được dùng với cơm và canh. Khi dùng thìa thì đặt đũa trên
bàn ăn, và ngược lại. Khơng đặt thìa, đũa trên đĩa hoặc bát.
_ Vì lý do vệ sinh, khơng nên dùng thìa lấy các món ăn phụ trên
bàn ăn. Chỉ dùng đũa lấy các món ăn khác trên bàn ăn.
_Khi ăn khơng được úp thìa xuống, phải để thìa ngửa, khơng
được để thìa trong bát canh.
_Khơng tạo bất cứ âm thanh nào khi dùng bữa.
_ Trước tiên phải thử canh trước mới đến cơm hoặc các món ăn
khác. Trong bữa ăn, nếu phải bỏ xương cá hay xương bị, lợn... thì
phải bọc trong giấy ăn để khơng nhìn thấy, khơng được để trên bàn
ăn.
_ Khi ho hay hắt xì hơi thì phải quay đầu sang một phía và dùng
khăn tay che miệng, mũi để tránh ảnh hưởng đến người bên cạnh và
vệ sinh trong bữa ăn.
_ Khi uống rượu, nếu có những người bề trên, lớn tuổi thì những
người nhỏ tuổi hơn, bề dưới phải quay người sang một phía và che
miệng khi uống thể hiện thái độ tơn trọng.
_Người Hàn Quốc rót rượu cho nhau chứ khơng tự rót rượu cho
mình bao giờ. Thơng thường, người rót rượu là người trẻ tuổi nhất
hoặc có thứ bậc thấp nhất. Họ sẽ rót với tư thế thẳng lưng, một tay đặt
lên ngực hoặc đỡ khuỷa tay kia để tỏ lịng kính trọng. Về phía người
nhận rượu, nên uống cạn phần rượu trong ly trước khi nhận rượu mới.
4. Đặc điểm tâm lý và những lưu ý khi giao tiếp với khách du lịch
đến từ Hàn Quốc.
4.1 Đặc điểm tâm lý
- Người Hàn Quốc dễ gần, giao tiếp cởi mở, thoải mái, thường nói
nhiều, nói to. Thích tranh cãi, ln thể hiện là những người ham học
hỏi, năng động, cần cù, coi trọng đạo đức và yếu tố tinh thần.
- Người Hàn Quốc thích du ngoạn, vui chơi và làm việc rất chăm chỉ.
Họ thường phân biệt hết sức rõ ràng các vấn đề như cơng việc, gia
đình và giải trí.
- Thanh niên có xu
hướng sống hiện đại.
Họ thực tế, đơn giản,
năng động, thích giao
tiếp, dễ hịa mình và
thích nghi với hồn
cảnh mới. Thích đi du
lịch và tham dự các
hoạt động mang tính
chất phong trào phù
hợp với tuổi trẻ.
- Phụ nữ Hàn Quốc ơn hịa,
điềm đạm, lịch sự và giỏi
nội trợ. Người Hàn Quốc có
quan niệm việc tề gia nội
trợ, chăm sóc chồng con là
thiên chức của người phụ
nữ.
- Người Hàn Quốc rất thích màu trắng. Vì đối với họ, màu trắng
biểu trưng cho sự thuần khiết, trong trắng và thủy chung.
Người Hàn Quốc thích chơi thể thao. Đặc biệt là các mơn thể thao:
bơi lội, lướt ván, bóng đá, bóng chuyền, golf, leo núi, võ thuật, …
Khách du lịch Hàn Quốc
thích các loại hình du lịch biển, nghỉ ngơi, tìm hiểu văn hóa.
Bãi biển Mỹ Khê - Đà Nẵng là một địa điểm du lịch thú vị đối với
người Hàn Quốc.
Hội An
- Bên cạnh đó, đi du lịch với mục đích tìm kiếm đối tác hợp tác
kinh doanh cũng là một trong những loại hình du lịch phổ biến
của người Hàn Quốc.(đưa ra chương trình du lịch kết hợp đi
Hội chợ Thương mại Xuất nhập khẩu, Hội thảo thương mại,
ký kết hợp đồng...)
- Mặc dù có lối sống thống hơn so với một số quốc gia châu Á
khác nhưng khách du lịch Hàn Quốc khi ra nước ngoài du lịch
vẫn giữ gìn được bản sắc dân tộc. Trong giao tiếp, họ tỏ ra cởi
mở, vui vẻ, sôi nổi nhưng rất lịch sự, giữ được chừng mực và có
tính tự chủ khá cao.
- Du khách Hàn Quốc khi đi du lịch thích được sống trong bầu
khơng khí vui vẻ với những cuộc tham quan và các hoạt động
tập thể.
- Khách du lịch Hàn Quốc có khả năng thanh tốn khá cao. Do
đó, họ thường lựa chọn các dịch vụ du lịch loại khá trở lên.
4.2 Những lưu ý khi giao tiếp với khách du lịch đến từ Hàn Quốc
Khi chào hỏi
Người Hàn Quốc rất thích người nước khác chào họ bằng câu chào
quen thuộc “An-nhon-ha-sae-yo”. Khi chào người Hàn, bạn phải
tươi cười và cúi đầu nhẹ. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc
biệt, để thể hiện sự kính trọng đối với những người có địa vị, bạn
nên vừa chào vừa gập lưng. Khi mới gặp người Hàn, không nên
gọi tên khi họ chưa cho phép mà hãy để họ đề nghị với bạn. Khi
gọi tên, nên xưng hô bằng Họ+ Chức vụ, đó là cách tơn trọng tốt
nhất.
Lưu ý khi viết tên
Với người Hàn Quốc, màu đỏ chỉ sự chết chóc nên khi viết tên
khách hàng bạn chú ý không nên sử dụng bút có màu đỏ.
Giao tiếp
Người Hàn cho rằng người mắc lỗi cần phải nghiêm túc kiểm điểm
và tỏ ra biết lỗi, nên những hành động gãi đầu, cười để lấy lòng,
xoa dịu đối phương - “cười trừ” trong giao tiếp ứng xử theo hướng
nhẹ nhàng của người Việt sẽ rất dễ gây hiểu nhầm, tạo nên căng
thẳng và xung đột.
Khi gặp chuyện bực mình, cảm thấy khó chịu, thường là tức giận,
người Hàn hay có cử chỉ đập tay vào ngực, tỏ thái độ quá mức,
không thể chịu nổi. Tuy nhiên đây là điều ít thấy ở người Việt,
người Việt ít khi bày tỏ phản ứng mạnh mẽ như vậy và thường thì
người ta chỉ đập khi ho, khó thở v.v… do đó cần phải chú ý khi
thấy tín hiệu này để kịp thời xử lý thỏa đáng cho khách.
Mặc dù là một quốc gia nổi tiếng về phẩu thuật thẩm mỹ nhưng
phụ nữ Hàn Quốc không thích nói chuyện về chủ đề này. Khi rót
rượu cho khách Hàn Quốc, khơng nên chạm vào thành ly vì đó là
cách rót rượu khi cúng.
Người Hàn Quốc thường dùng từ “vâng” khi nghe người khác nói
chuyện, nhưng điều đó khơng đồng nghĩa với việc họ đồng ý với
những gì bạn nói.
Người Hàn cũng thường hay chú ý tới bộ phận chân của đối
phương. Thơng thường khi ra ngồi, để tỏ sự tơn trọng, ngồi việc
ăn mặc chỉnh tề, lưu ý cần phải đi giày hoặc dép quai hậu, chứ
khơng nên đi dép lê. Khi nói chuyện, nên tránh chạm vào chân họ
vì người Hàn quan niệm chân là bộ phận không sạch sẽ.
Khi gặp những khách Hàn Quốc lớn tuổi muốn trò chuyện, bạn nên
dành chút thời gian để hỏi thăm khách và nên ca ngợi sức khỏe của
họ.
Người Hàn Quốc khi nói chuyện thường nhìn vào đối phương, tuy
khơng nhìn chằm chằm liên tục vào mắt, có thể nhìn, hướng về
phía mặt của đối phương để tỏ sự chú ý và tơn trọng. Việc nhìn đi
chỗ khác sẽ thể hiện sự né tránh hoặc có điều gì đó khơng thật.
Khi người Hàn Quốc cảm thấy thân thiện với một người trẻ tuổi
hơn, họ thường đập nhẹ tay vào người đó. Trong những trường hợp
đó, bạn khơng nên cảm thấy bị xúc phạm.
Người Hàn Quốc sử dụng kem chống nắng từ rất sớm. Khi du lịch
Việt Nam vào những mùa nắng, nóng hãy nhắc nhở họ sử dụng sản
phẩm có chỉ số chống nắng cao.
Đối với hướng dẫn viên nên sử dụng danh thiếp để giới thiệu mình
cũng như công ty du lịch với khách.
Ăn uống
Trong bữa ăn, Người Hàn thường sử dụng bát canh riêng, khác với
người Việt khi dùng một tơ canh lớn. Vì vậy khi đặt món ăn tại nhà
hàng nên lưu ý cho nhà hàng biết để họ chuẩn bị bát canh riêng cho
mỗi khách.
Người Hàn thích ăn cay, do đó ớt là thứ không thể thiếu trong bữa
ăn của họ
Lưu trú
Người Hàn quen sử dụng các trang thiết bị hiện đại. Họ thích sử
dụng các dịch vụ khá, tốt. Vì vậy khi đặt khách sạn, nơi lưu trú nên
ưu tiên những nơi có cấp độ từ 4 sao, 5 sao để đảm bảo đáp ứng
dịch vụ tốt nhất cho họ.
Người Hàn Quốc rất kị con số 4, bởi trong tiếng Hàn, số 4 có phát
âm gần giống như từ "chết" và mang đến nhiều xui xẻo. Để tránh
con số này, người Hàn thường sử dụng nhiều cách khác nhau. Như
trong thang máy người ta thay số 4 bằng 3A, 3F... hoặc bằng chữ
"F" - viết tắt của từ"Four" (số 4 trong tiếng Anh). Cịn ở các tịa
nhà cơng cộng, phịng tang lễ, bệnh viện... tầng số 4 và phòng 4
thường được bỏ qua. Vì vậy, nhà lữ hành lưu ý tránh đặt khách sạn
và nhà hàng cho du khách Hàn Quốc tại tầng số 4, các phịng có
bội số 4 và những số kết hợp như 14, 44, 444...
5. Những điều du khách cần lưu ý trong giao tiếp, ứng xử khi đến
Hàn Quốc
Khi đi du lịch, làm việc, học tập hoặc sinh sống tại Hàn Quốc, các
bạn nên chú ý một số quy tắc lễ nghi trong giao tiếp, những quy tắc
này khá tương đồng với lễ nghi phép tắc trong xã hội Việt Nam
5.1 Ở nơi công cộng
- Đừng hỉ mũi, khạc nhổ ở nơi công cộng – rất bất lịch sự.
- Khi đi xe buýt, tàu điện ngầm hay những phương tiện công cộng
khác, bạn không được tự do cười đùa thoải mái,khơng nên nói chuyện
quá to, tránh gây ảnh hưởng đến người khác, nên nhường ghế cho
người già và phụ nữ mang thai.
– Không nhìn chằm chằm hoặc chỉ trỏ vào người khác tại nơi công
cộng.
– Xếp hàng mọi lúc mọi nơi, khi chờ xe buýt, khi chờ đến lượt thanh
toán, mua hàng…
5.2 Khi vào đền, chùa
- Vào ngôi chùa ở Hàn Quốc, bạn nên tránh đi vào cửa chính mà đi
vào cửa hơng chùa, để lại giày dép ở phía ngồi.
- Bạn khơng nên ngồi hoặc đứng ngay trước tượng Phật chính mà phải
ngồi phía bên.
- Nên nhớ đầu tóc phải được buộc lại gọn gàng, ăn mặc lịch sự, kín
đáo.
5.3 Khi được mời đến nhà một người Hàn Quốc
- Phải bỏ giày, dép bên ngồi vì người Hàn Quốc lau nhà rất sạch, họ
sinh hoạt nghỉ ngơi, chuyện trò, xem TV… ngay trên sàn nhà. Vì
nhiều gia đình và quán ăn ở Hàn vẫn giữ truyền thống kê bàn bệt và
trải nệm ngồi, nên khách buộc phải cởi giày dép nếu muốn dùng cơm.
Bởi vậy bạn nên đảm bảo chắc rằng mình đang đi một đôi tất sạch và
bàn chân không bốc mùi.
- Nên chuẩn bị một chút quà nhỏ để thể hiện sự thành tâm, lời cảm ơn
lời mời của gia chủ.
- Nếu muốn đi thăm quan căn nhà hay động vào một đồ vật nào đó thì
phải hỏi ý kiến của gia chủ trước.
5.4 Khi dùng cơm
- Người Hàn Quốc thường không bưng bát cơm mà đặt bát cơm
xuống bàn và dùng đũa, thìa để xúc thức ăn,vì người Hàn cho rằng
“Chỉ kẻ ăn mày mới bưng bát cơm lên!”. Ngày nay, những quy ước về
việc này cũng đã cởi mở hơn nên nếu bạn không quen với cách ăn của
người Hàn thì có thể nói rõ cho những người Hàn dùng bữa cùng hiểu
và bưng bát ăn cơm theo kiểu Việt Nam. Tuy nhiên, bát cơm ở Hàn
thường được làm bắt sắt để giữ nhiệt nên rất nóng, nên khi cầm các
bạn chú ý kẻo bị bỏng nhé!
- Không cắm đũa vào bát ăn cơm. Cũng giống ở một số nước, việc
cắm đũa vào bát cơm giống như là bát cơm cúng.
- Khơng để thìa úp xuống, bao giờ cũng phải để thìa ngửa trên bàn.
Khơng gác hay đặt đũa hoặc thìa lên trên bát.
- Khi nhai không để phát ra tiếng. Chú ý không để đũa và thìa va vào
bát gây nên tiếng động.
- Khi ăn, khơng nên để thức ăn cịn thừa lại trên đũa, thìa.
– Sau khi ăn xong, để đũa và thìa ngay ngắn vào vị trí ban đầu.
5.5 Việc trả tiền sau khi ăn
- Khi một người Hàn Quốc (lớn tuổi) mời bạn đi ăn thì thường họ sẽ
trả tiền cho bữa ăn, việc tranh giành trả tiền trong trường hợp này đôi
khi lại là thất lễ. Nhưng nếu muốn bày tỏ lời cảm ơn và mời giáo sư,
người lớn tuổi đi ăn thì trước bữa ăn bạn phải nói trước với họ lý do
và thiện ý muốn mời dùng bữa.
Ngoài ra, không viết tên bằng bút đỏ – điều này khá giống với người
Việt Nam. Người Hàn Quốc cho rằng người đã chết mới viết tên bằng
mực đỏ, vì vậy đây là điều tối kỵ