Tải bản đầy đủ (.pdf) (88 trang)

Quản lý nhà nước đối với hoạt động phật giáo ở thành phố hà nội hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (691.95 KB, 88 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC
GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
CÁT NGỌC TRÌNH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
PHẬT GIÁO Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Chuyên ngành : Quản lý xã hội
Mã số

: 60 31 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Người hướng dẫn khoa học

: PGS,TS. Nguyễn Vũ Tiến

HÀ NỘI - 2015


2

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại Học viện Báo chí và Truyên truyền, tác giả xin
gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo giảng dạy trong chương trình
đào tạo Thạc sỹ chính trị học chuyên ngành quản lý xã hội, Học viện Báo chí và


Tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Kiến thức khoa học
về chuyên ngành quản lý xã hội được các thầy, cô truyền đạt là cơ sở, nền tảng quan
trọng, giúp cho tác giả thực hiện tốt luận văn này.
Để hoàn thành luận văn, tác giả xin chân thành cảm ơn PGS,TS. Nguyễn
Vũ Tiến, Phó Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh đã tận tình, trách nhiệm hướng dẫn tác giả trong suốt thời
gian thực hiện luận văn. Tuy nhiên, luận văn với đề tài quản lý nhà nước về hoạt
động Phật giáo là vấn đề nhạy cảm nên trong quá trình thực hiện luận văn rất khó
khăn, trở ngại. Nhưng với niềm đam mê nghiên cứu khoa học và trách nhiệm cao với
học viên; với những chỉ dẫn, chỉnh sửa cụ thể thầy hướng dẫn đã giúp tơi hồn thành
luận văn và truyền đạt cho tôi kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học.
Tôi cũng xin cảm ơn chân thành các thầy, các cô tại Khoa Nhà nước và Pháp
luật, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã giúp đỡ tơi hồn thành luận văn.
Tuy nhiên, do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa
nhiều nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót, tơi rất mong nhận được ý kiến góp ý
của thầy, cô giáo và các bạn.

Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2015
Học viên

Cát Ngọc Trình


3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là cơng trình nghiên cứu
của cá nhân tơi và được sự hướng dẫn khoa học của
PGS,TS. Nguyễn Vũ Tiến, Phó Giám đốc Học viện Báo

chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình
bày trong luận văn chưa từng được ai cơng bố trong bất
kỳ cơng trình nào khác.
Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2 015
Học viên

Cát Ngọc Trình


4

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.............................................................................................................................................

Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG PHẬT GIÁO
1.1. Một số khái niệm cơ bản....................................................................................

12
12

1.2. Nội dung, phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt
động Phật giáo……………………………………………………..

30

Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG PHẬT Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN

NAY………...
2.1. Thực trạng QLNN đối với hoạt động Phật giáo ở Thành phố

39

Hà Nội hiện nay……………………...........................................................

39

2.2. Kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân ………………...

53

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
PHẬT GIÁO Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY..................................

62

3.1. Dự báo hoạt động Phật giáo ở Thành phố Hà Nội thời
gian tới..............................................................................................
3.2. Quan điểm, phương hướng, giải pháp chủ yếu tăng cường
quản lý nhà nước đối với hoạt động Phật giáo ở Thành phố Hà
Nội hiện nay.....................................................................................

62

KẾT LUẬN.......................................................................................................................................

85


TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................................

87

64


5

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Ban Tơn giáo Chính phủ:

BTGCP

Giáo hội Phật giáo Việt Nam:

GHPGVN

Khoa học Xã hội và Nhân văn:

KHXH&NV

Quản lý nhà nước:

QLNN

Quản lý nhà nước về tôn giáo:

QLNN về TG


Quyết định:



Ủy ban nhân dân:

UBND


6

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hà Nội là thủ đơ, trung tâm chính trị - hành chính quốc gia; trung tâm về
kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ của cả nước. Hà Nội cũng là
nơi đặt trụ sở của một số tôn giáo như: Phật giáo, Công giáo, Hội thánh Tin lành
Việt Nam (miền Bắc).
Theo dịng lịch sử thì suốt các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành
Thăng Long, Hà Nội cũng là trung tâm chính trị, trung tâm thương mại, trung tâm
văn hóa, giáo dục. Khi đến nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh
đơ được chuyển về Huế và Thăng Long và mang tên Hà Nội từ năm 1831, dưới
thời vua Minh Mạng (năm thứ 12). Năm 1888, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên
bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch. Trải qua hai cuộc
chiến tranh chống Pháp, Mỹ, Hà Nội là thủ đơ nước Việt Nam thống nhất và giữ
vai trị này cho tới ngày nay. Sau đợt thay đổi địa giới (1978, 1991) và gần đây
mở rộng địa giới hành chính (tháng 8 năm 2008), Hà Nội hiện nay gồm 10 quận,
01 thị xã và 18 huyện với diện tích là 3.324. 92 km2; dân số là 6.451.909 người
[Tổng cục Thống kê Việt Nam (2011), Diện tích, dân số, mật độ dân số phân
theo địa phương].

Thành phố Hà Nội hiện có 7 tôn giáo được Nhà nước công nhận về mặt tổ
chức sinh hoạt tôn giáo ổn định như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài,
Hồi giáo, Baha’i, Minh sư đạo với 792.314 tín đồ, 2.199 chức sắc, 2.178 cơ sở
thờ tự. Trong đó số lượng tín đồ phật giáo khoảng 600.000 Phật tử chiếm 75%
trên tổng số tín đồ theo các tôn giáo. Hà Nội cùng với Thành phố Hồ Chí Minh
là một trong hai thành phố có số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự đơng nhất
cả nước. Những diễn biến tôn giáo trong cả nước đều tác động trực tiếp đến các
tổ chức tôn giáo ở Hà Nội. Mặt khác, những hoạt động tôn giáo ở Hà Nội có tác


7

động không nhỏ đến hoạt động tôn giáo trên phạm vi cả nước [Ban Tôn giáo
Thành phố Hà Nội (2014), Báo cáo về giải quyết khiếu nại, tố cáo].
Trong xu thế hội nhập và mở cửa, hoạt động của Phật giáo ở Hà Nội thời
gian qua khá sôi động. Hoạt động Phật giáo ngày càng thể hiện vai trò của mình đối
với đời sống xã hội, gắn bó đồng hành cùng dân tộc; đóng góp quan trọng vào kho
tàng văn hóa, phong phú đa dạng Việt Nam. Tuy vậy, cùng với các hoạt động
thuần túy tôn giáo, hoạt động của Phật giáo ở Hà Nội thời gian qua bị lợi dụng ít
nhiều, trong đó có hoạt động mê tín dị đoan để trục lợi cá nhân, hay mục đích
chính trị... đã và đang nảy sinh những phức tạp, làm ảnh hưởng tiêu cực tới an
ninh chính trị, đời sống xã hội.
Công tác quản lý nhà nước về hoạt động của Phật giáo ở Hà Nội những
năm qua, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì cũng cịn những hạn chế nhất
định. Về lý luận, nhận thức ảnh hưởng của Phật giáo với xã hội cịn có nhiều
luồng ý kiến khác nhau, điều kiện thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động Phật
giáo còn nhiều hạn chế. Từ hệ thống lý luận cơ sở quản lý nhà nước về hoạt động
Phật giáo cho tới việc xác định chủ thể quản lý, nội dung, phương pháp, cách thức
quản lý… đang đặt ra cho quản lý nhà nước đối với hoạt động Phật giáo ở Hà Nội
nhiều vấn đề cần quan tâm giải quyết.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động Phật giáo ở Thành phố
Hà Nội hiện nay là một trong những yêu cầu cần thiết, quan trọng trong việc phát
triển Thủ đô và đất nước. Việc nghiên cứu về Phật giáo dưới góc độ tơn giáo học đã
có nhiều học giả quản lý nghiên cứu. Song lĩnh vực quản lý nhà nước về hoạt động
Phật giáo, do tính nhạy cảm, đặc thù và đa dạng của Phật giáo mà ít người đi sâu vào
nghiên cứu lĩnh vực này trong những năm gần đây dưới góc độ chính trị học.
Trước tính hình đó, việc tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước
về hoạt động Phật giáo ở Thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất phương hướng, giải


8

pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động Phật giáo ở Thành
phố Hà Nội trong thời gian tới là yêu cầu cần thiết, nhất là trong xu hướng tồn
cầu hóa hoạt động Phật giáo hiện nay.
Với lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với hoạt động Phật
giáo ở Thành phố Hà Nội hiện nay” làm chủ đề nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ khoa

học ngành chính trị học, chuyên ngành quản lý xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay cũng đã có nhiều cơng trình, bài viết nghiên cứu về khoa học quản lý
và quản lý nhà nước về tơn giáo. Cụ thể:
Các cơng trình nghiên cứu khoa học quản lý của giảng viên Khoa Nhà nước và
Pháp luật, Học viện Báo chí và Tuyên truyền: TS. Nguyễn Vũ Tiến, Trần Quang Hiển
(2007), Quản lý một số lĩnh vực xã hội; TS. Nguyễn Vũ Tiến (2010), Lý thuyết chung về
quản lý xã hội, NXB. Giáo dục, chỉ ra cho học viên phương pháp tiếp cận với các
khoa học chuyên ngành và các quy luật cho việc tiếp cận và nghiên cứu…
Đặng Nghiêm Vạn (2001), Lý luận về tơn giáo và tình hình tơn giáo ở Việt Nam,
NXB. Chính trị quốc gia, chỉ ra bức tranh tôn giáo ở Việt Nam và một số mâu thuẫn
trong quan hệ tôn giáo và Nhà nước cần được quan tâm giải quyết.

GS, TS. Đỗ Quang Hưng (2005), Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam, lý
luận và thực tiễn, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, đã bàn về những ảnh hưởng của
Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với tiến trình nhận thức của Đảng
về tơn giáo và chính sách tơn giáo trong giai đoạn từ 1945 – 2005.
Trần Hồng Liên (1993), Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam bộ Việt
Nam (từ thế kỷ XVII đến 1975), Luận án tiến sỹ.
Hồ Trọng Hồi (1995), Vai trị xã hội của tơn giáo ở Việt Nam hiện nay một số
vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sỹ.


9

PGS, TS. Nguyễn Đức Lữ - GS,TS. Lê Hữu Nghĩa (2003), Tư tưởng Hồ Chí
Minh về tơn giáo và cơng tác tôn giáo, NXB. Tôn giáo, tập hợp căn bản những bài viết
quan trọng phản ánh tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và đặt ra những yêu cầu vận
dụng tư tưởng của Người vào công tác tôn giáo ở Việt Nam.
PGS,TS. Ngô Hữu Thảo (2012), Công tác tôn giáo – Từ quan điểm Mác – Lênin
đến thực tiễn ở Việt Nam, NXB. Chính trị - Hành chính, đã chỉ rõ việc vận dụng quan
điểm Mác – Lênin vào thực hiện công tác tôn giáo ở Việt Nam, đồng thời đánh giá kết
quả công tác tôn giáo trong thời gian qua, từ đó luận giải một số vấn đề của công tác tôn
giáo trong thời gian tới cần quan tâm.
Nguyễn Nghị Thanh (2013), Phật giáo Nam Tông Khmer An Giang – Những
vấn đề đặt ra, Luận án tiến sỹ Tôn giáo học.
Bùi Hữu Dược (2014), Quản lý nhà nước về tôn giáo từ năm 1975 đến nay,
Luận án tiến sỹ.
Nguyễn Văn Long (2014), Chính sách tơn giáo - từ thực tiễn thành phố Hà
Nội, Luận văn thạc sỹ Chính sách cơng…
Nhìn chung các cơng trình tiếp cận nhiều khía cạnh khác nhau về khoa học quản
lý, tôn giáo học, chính sách tơn giáo, cơng tác quản lý nhà nước về hoạt động tơn giáo
và hiện vẫn chưa có cơng trình, luận văn, luận án nào đề cập trực diện vấn đề “Quản lý

nhà nước đối với hoạt động Phật giáo ở Thành phố Hà Nội hiện nay”.

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ tiếp thu, kế thừa có chọn lọc, thành quả
nghiên cứu của các cơng trình đã có và các tài liệu liên quan đến luận văn này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm rõ mặt lý luận quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo; quản lý nhà
nước đối với hoạt động Phật giáo; đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với
hoạt động Phật giáo trên địa bàn Thành phố Hà Nội, những kết quả đạt được, những tồn


10

tại hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm
tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động Phật giáo trên địa bàn Thành
phố Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ mặt lý luận quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo; quản lý nhà
nước đối với hoạt động Phật giáo;
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về hoạt động Phật giáo ở Thành
phố Hà Nội hiện nay; những kết quả đạt được; những tồn tại hạn chế, nguyên nhân và
bài học kinh nghiệm;
- Dự báo tình hình hoạt động Phật giáo Thành phố Hà Nội thời gian tới và đề ra
một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động
Phật giáo ở Thành phố Hà Nội hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu quản lý nhà nước về hoạt động Phật giáo ở Thành phố Hà
Nội bao gồm việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức Phật
giáo.

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước về hoạt động
Phật giáo ở Thành phố Hà Nội từ khi có Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2013 của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa IX) về cơng tác tơn giáo.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của


11

Đảng ta về tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tơn giáo và xuất phát tình hình thực
tiễn quản lý nhà nước về hoạt động Phật giáo ở Thành phố Hà Nội từ năm 2003 đến
nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng những nguyên tắc, phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành tôn
giáo học và các phương pháp nghiên cứu liên ngành, như: Luật học, chính trị học, sử
học và vận dụng các phương pháp cụ thể: khảo sát, phân tích, tổng hợp, thống kê, so
sánh…
6. Đóng góp của đề tài
Trên cơ sơ tổng kết thực tiễn quản lý nhà nước về hoạt động Phật giáo ở Thành
phố Hà Nội, tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào một số địa
bàn.
Góp phần làm rõ hơn khái niệm “quản lý nhà nước đối với hoạt động Phật
giáo”, chức năng, nhiệm vụ và cơ chế thực hiện, đảm bảo tăng cường công tác quản lý
nhà nước đối với hoạt động Phật giáo trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Làm rõ nhận thức về nội dung, phương pháp thực hiện quản lý nhà nước về hoạt
động Phật giáo trên địa bàn Thành phố Hà Nội.

Làm rõ thực trạng, những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân về công tác quản lý
nhà nước đối với hoạt động Phật giáo trên địa bàn Thành phố Hà Nội; đề ra một số giải
pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác QLNN đối với hoạt động Phật giáo và những
đề xuất, kiến nghị.
Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong công tác quản lý nhà nước đối
với Phật giáo trên địa bàn Thành phố Hà Nội và một số tỉnh, thành có tình hình tương
tự; làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy hệ thống trường chính trị trên


12

địa bàn Thành phố Hà Nội.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính
của đề tài được kết cấu thành 03 chương 6 tiết.


13

NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG PHẬT GIÁO

1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Quản lý nhà nước
Hoạt động quản lý xuất hiện từ lâu, nhưng thuật ngữ quản lý cho đến nay vẫn
còn nhiều cách hiểu. Tùy từng mục tiêu nghiên cứu khác nhau, dưới các góc độ nghiên
cứu khác nhau, người ta đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý. Có thể hiểu:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng

quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra từ trước [51, tr.8]
Tư tưởng về xây dựng một Nhà nước của dân, do dân, vì dân là điểm cơ bản nhất
để phân biệt sự khác nhau giữa nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các
hình thức nhà nước khác. Chủ tịch Hồ chí Minh nêu quan điểm: Tất cả mọi quyền bính
trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam. Việc nước là việc chung, mỗi một con
Rồng, cháu Tiên, bất kỳ già trẻ, gái trai, giàu nghèo, nịi giống, tơn giáo… đều phải ghé
vai gánh vác. Là công cụ quyền lực của nhân dân, là Nhà nước của dân, do dân và vì
dân. Do đó, Nhà nước có trách nhiệm quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật,
thông qua hệ thống thiết chế tổ chức, những quy định mang tính nhà nước pháp
quyền… Nhà nước quản lý xã hội trên tất cả mọi lĩnh vực (trong đó có lĩnh vực tơn
giáo) nhằm làm cho xã hội tồn tại trong trật tự và ổn định. Ở Việt Nam hiện nay, trong
điều kiện Đảng cầm quyền, toàn bộ tổ chức và hoạt động của Đảng phải nằm trong
khuôn khổ pháp luật.
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội mang tính nhà nước (hay nói khác
đi là quyền lực công, công quyền) nhằm tổ chức và điều khiển các quá trình xã hội và


14

hành vi hoạt động của con người bằng quyền lực Nhà nước. Tuy nhiên, trong nghiên
cứu khái niệm này, có hai điều cần lưu ý:
- Chủ thể quản lý: Là người hay cơ quan làm nảy sinh các tác động quản lý . Các
tác động quản lý gồm điều kiện hướng dẫn, chỉ huy.
- Khách thể quản lý: Là các quá trình xã hội và hoạt động của con người do con
người tạo ra và chịu trách nhiệm với nó trước pháp luật. Tuy nhiên, trong khái niệm
quản lý nhà nước nói chung, cịn có nhiều khái niệm khác.
Cũng có thể hiểu quản lý nhà nước là quản lý thực hiện bằng các cơ quan nhà
nước các cấp đối với q trình kinh tế, chính trị, văn hóa, tinh thần… nhằm huy động
sức mạnh của cả xã hội để đạt được mục tiêu của chủ thể quản lý ở cấp đó đặt ra. Hiểu
sâu khái niệm này có nhiều khía cạnh liên quan, có những vấn đề cần lưu tâm:

+ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nảy sinh khi con người hoạt động và sinh
hoạt tập thể nhằm kiểm soát, điều khiển khách thể quản lý để thực hiện mục tiêu mà chủ
thể quản lý và cộng đồng đặt ra.
+ Thực chất hoạt động của quản lý là xử lý mối quan hệ giữa chủ thể và khách
thể quản lý cũng như mối quan hệ qua lại cấu thành khách thể quản lý.
+ Quản lý là hoạt động nghề nghiệp địi hỏi phải có trình độ, có năng lực tương
xứng để thực hành chức trách quản lý; để xử lý đúng đắn các ý kiến khác; để đưa ra các
quết định đúng đắn, đúng lúc, để quy tụ sức mạnh cộng đồng.
Quản lý nhà nước (theo nghĩa rộng): Là dạng quản lý xã hội của nhà nước, được
sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của
con người do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp ) tiến hành để
thực hiện các chức năng của nhà nước đối với xã hội [51, tr.9].
Quản lý nhà nước (theo nghĩa hẹp): Là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực
nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của cơ quan


15

trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp) [51, tr.9]
1.1.2. Tơn giáo
Cho ®Õn nay ®· có rất nhiều định nghĩa cũng như lời phân tích, lý giải về
tôn giáo. Mỗi người ở những hướng tiếp cËn kh¸c nhau, hoặc dưới góc độ thần
học, hoặc dưới góc độ triết học, hoặc dưới góc độ văn hóa hay chớnh tr... đưa
ra định nghĩa hoặc lời giải thích khác nhau về tôn giáo.
Theo C. Mác "Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái
tim ca th gii không có trái tim, cũng như nó là tinh thần ca mt ch
khụng cú tinh thần" [24, tr.570]; Ph. ¡ng-ghen cho r»ng: “Tất cả các tôn giáo
chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc của con người, của những lực
lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống h»ng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh
trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu

trần thế" [25,tr.437].
Phân tích của Ph. ¡ng-ghen bổ sung thêm những lý luận mang tính tư
tưởng cho quan điểm của C. Mác về tơn giáo. Nó bóc trần bản chất mang tính
vật chất của tơn giáo. Đó là tơn giáo chẳng qua là sự tưởng tượng của con người
về một thế giới bên ngoài thế giới hiện thực mà con người đang sống. Lê nin là
người kế thừa và phát triển quan điểm của C. Mác và Ph. ¡ng-ghen về vấn đề
tôn giáo trong điều kiện giải quyết vấn đề tôn giáo ở một chế độ do giai cấp
công nhân nắm quyền sau cách mạng tháng Mười Nga. Lê nin viết: “Nguồn gốc
sâu xa nhất của các thành kiến tôn giáo là cùng khổ và dốt nát” và “Trong các
nước tư bản hiện nay những nguồn gốc ấy của tôn giáo chủ yếu là nguồn gốc xã
hội” Lê nin cho rằng: Tôn giáo là niềm tin vào thần thánh, ma quỷ và những
phép màu của con người do sự bất lực trước cuộc đấu tranh với thiên nhiên. Đó
là lịng tin vào cuộc sống tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia.
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì: Tôn giáo là do con


16

người tạo ra và có nguồn gốc từ các yếu tố sau:
- Tâm lý và sự nhận thức của con người: sự bất lực khơng giải thích được
các vấn đề do thiên nhiên, xã hội tạo ra nên đã tự suy nghĩ ra những thần thánh,
ma quỷ, số mệnh để giải thích sự đau khổ, hạnh phúc đó.
- Chính trị - Xã hội: xét trên khía cạnh các mối quan hệ giữa con người
với tự nhiên, con người với con người (nhất là khi xã hội loài người phân chia
giai cấp) đã tạo ra những hiện tượng thiên nhiên, bất cơng xã hội tác động vào
con người, từ đó phát sinh sự phản kháng mang tính tiêu cực của con người tin
vào các lực lượng siêu nhiên để giải quyết các vấn đề của tự nhiên và xã hội.
Trong các tác phẩm của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê
nin đều khẳng định “con người tạo ra tôn giáo”. Như vậy theo quan điểm của
chủ nghĩa Mác – Lê nin thì: Tơn giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh

một cách hư ảo thế giới hiện thực. Nó bao gồm hệ thống những quan niệm tín
ngưỡng về một hay nhiều thần linh với những hình thức nghi lễ cùng hệ thống tổ
chức để thực hiện nghi lễ sùng bái các thần linh đó [Nguyễn Thanh Xn
(2015), Tơn giáo và chính sách tơn giáo ở Việt Nam].
Đối với các văn bản về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về
tơn giáo thì chưa có văn bản nào giải thích khái niệm này. Pháp lệnh tín ngưỡng,
tơn giáo, phần giải thích từ ngữ, khái niệm tôn giáo vẫn bị bỏ ngỏ. Mặc dù việc
giải thích khái niệm này khá phức tạp, khó có thể thống nhất, tuy nhiên, nói đến
một tơn giáo hồn chỉnh không thể thiếu những dấu hiệu cơ bản như sau:
- Tơn giáo là cộng đồng người có chung niềm tin vào thế lực siêu nhiên,
huyền bí (tín đồ hay giáo dân);
- Có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi (kinh sách, giáo luật, sấm
giảng,…);


17

- Giáo sỹ (nhà tu hành, chức sắc, chức việc… tơn giáo);
- Có Giáo hội (tổ chức tơn giáo với đường hướng hoạt động đặc trưng của
một tơn giáo);
Tín đồ: là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tơn giáo thừa nhận
[21,tr.13].
Một người được gọi là tín đồ khơng những phải có niềm tin vào một tơn
giáo mà còn phải tuân thủ một số quy định trong giáo lý, giáo luật của tổ chức
tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận. Việc thừa nhận của tổ chức tơn
giáo thơng qua những hình thức cụ thể theo quy định của tổ chức tôn giáo,
chẳng hạn: để trở thành tín đồ của Phật giáo người đó phải quy y tam bảo (Phật,
Pháp, Tăng) và được Giáo hội Phật giáo cấp cho một loại giấy đó là “chứng
điệp”; để trở thành tín đồ của đạo Cơng giáo người đó phải được chức sắc tơn
giáo thực hiện bí tích rửa tội và ghi vào sổ theo dõi; để trở thành tín đồ đạo Tin

lành người đó phải đạt một độ tuổi nhất định và thực hiện lễ Bắp tem theo nghi
thức của đạo.
Khi tham gia hoạt động tôn giáo, tín đồ có quyền tự do bày tỏ đức tin,
thực hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh
hoạt, phục vụ lễ hội, lễ nghi tơn giáo tại gia đình và các cơ sở thờ tự; được học
tập giáo lý tơn giáo mà mình tin theo. Tín đồ khi tham gia hoạt động tơn giáo
cũng có trách nhiệm tơn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo và quyền tự do
khơng tín ngưỡng, tơn giáo của người khác; thực hiện quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo không cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân; tham gia
hoạt động tôn giáo phải tôn trọng quy định của cơ sở tôn giáo; khơng được lợi
dụng tín ngưỡng, tơn giáo để hoạt động mê tín dị đoan; hoạt động tín ngưỡng,
tơn giáo theo đúng quy định của pháp luật.
Nhà tu hành: Là tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống riêng


18

theo giáo lý, giáo luật của tơn giáo mà mình tin theo [21,tr.13].
Thơng thường nói đến nhà tu hành là người ta nói đến những người đã
xuất gia tu hành hoặc những người chuyên chăm lo việc đạo, thực hiện nếp sống
đạo.
Chức sắc tơn giáo: là tín đồ có chức vụ, phẩm sắc trong tôn giáo [21,
tr.13]
Thông thường chức sắc tôn giáo vừa là người giữ chức vụ, vừa là người
giữ phẩm sắc trong tôn giáo. Chẳng hạn, trong Phật giáo người giữ chức Chủ
tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (chức vụ) và là Hòa thượng
(phẩm sắc) được xác định là chức sắc Phật giáo. Nhưng cũng có trường hợp một
người chỉ có phẩm sắc mà không giữ chức vụ đạo nào vẫn được coi là chức sắc
tôn giáo. Tùy từng trường hợp cụ thể mà người ta xác định một người có phải là
chức sắc tôn giáo hay không.

Chức sắc, nhà tu hành trước hết cũng là những tín đồ do đó được hưởng
mọi quyền của tín đồ. Trong hoạt động tơn giáo, chức sắc, nhà tu hành được
thực hiện lễ nghi tôn giáo trong phạm vi phụ trách; được giảng đạo, truyền đạo
tại các cơ sở tôn giáo không phân biệt cơ sở tơn giáo đó có thuộc phạm vi phụ
trách của mình hay không; được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử,
suy cử, thuyên chuyển theo quy định của pháp luật và của tổ chức tôn giáo; được
học tập, tham gia hoạt động tôn giáo, du lịch, thăm thân, khám, chữa bệnh ở
nước ngoài.
Tương ứng với các quyền, Nhà nước yêu cầu khi hoạt động tôn giáo, chức
sắc, nhà tu hành có trách nhiệm thường xun giáo dục cho tín đồ lịng u
nước, thực hiện quyền, nghĩa vụ cơng dân và ý thức chấp hành pháp luật; hoạt
động tôn giáo phải tuân thủ quy định của pháp luật; không được lợi dụng tôn
giáo để chia rẽ nhân dân, chia rẽ tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân


19

tộc, kích động bạo lực, tuyên truyền trái với chính sách, pháp luật của Nhà
nước…
Tổ chức tôn giáo: Là tổ chức của những người cùng chung một tơn giáo,
có Hiến chương, Điều lệ, nêu rõ tơn chỉ mục đích được nhà nước phê duyệt, có
đăng ký hoạt động tơn giáo và hoạt động tơn giáo ổn định, có trụ sở giao dịch
của tổ chức, có tên gọi khơng trùng tên gọi của tổ chức tôn giáo đã được nhà
nước công nhận [Bùi Hữu Dược (2014), Quản lý nhà nước về tôn giáo từ năm 1975
đến nay].
Cơ sở tôn giáo: Cơ sở tôn giáo là những nơi sử dụng vào việc thờ tự, tu
hành, nơi đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn
giáo và những cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước thừa nhận [Bùi Hữu
Dược (2014), Quản lý nhà nước về tôn giáo từ năm 1975 đến nay].
Nơi thờ tự, tu hành bao gồm: Chùa, niệm phật đường, nhà thờ, thánh

đường, thánh thất, tu viện… thuộc tổ chức tôn giáo.
Nơi đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo bao gồm: Học viện,
Trường Cao đẳng, Trường Trung cấp Phật học; Đại Chủng viện của Công giáo;
Viện Thánh kinh thần học của đạo Tin lành…
Chùa, niệm phật đường, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, trụ sở của tổ
chức tôn giáo, nơi đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo, kinh bổn, các
đồ thờ cúng và các tài sản hợp pháp khác của tôn giáo được pháp luật bảo hộ.
Sinh hoạt tôn giáo: Là việc thực hành nghi thức thờ cúng, cầu nguyện,
bày tỏ niềm tin tôn giáo [Bùi Hữu Dược (2014), Quản lý nhà nước về tôn giáo từ
năm 1975 đến nay].
Tự do tơn giáo: Tự do tín ngưỡng hay tự do tôn giáo thường được coi là
một nguyên tắc ủng hộ quyền tự do của cá nhân hay cộng đồng trong việc công


20

khai hoặc bí mật thực hành, thờ phụng, rao giảng, hay tu tập một tơn giáo hay tín
ngưỡng. Khái niệm này thường được thừa nhận là bao gồm cả việc tự do thay
đổi tôn giáo hoặc tự do không theo tơn giáo nào. Tại nhiều quốc gia, tự do tín
ngưỡng được nhiều người coi là một quyền cơ bản của con người. Tuyên ngôn
Quốc tế về Nhân quyền định nghĩa tự do tín ngưỡng như sau: Mỗi người có
quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tín ngưỡng; quyền này bao gồm tự do thay
đổi tín ngưỡng và tự do thể hiện tơn giáo hay tín ngưỡng của mình một cách cá
nhân hoặc công khai trong việc rao giảng, thực hành thờ phụng và tu tập [Bùi
Hữu Dược (2014), Quản lý nhà nước về tôn giáo từ năm 1975 đến nay].
Tại một quốc gia có quốc giáo, tự do tín ngưỡng thường được hiểu là
Chính phủ cho phép thực hành các hoạt động của các tôn giáo khác với quốc
giáo và khơng đàn áp các tín đồ thuộc các tơn giáo khác [Bùi Hữu Dược (2014),
Quản lý nhà nước về tôn giáo từ năm 1975 đến nay].
Quyền tự do tôn giáo: Nếu xét theo ngữ nghĩa và hiểu theo nghĩa đơn giản

“tự do tơn giáo” là sự bảo đảm tính độc lập của tôn giáo đối với các thiết chế
quyền lực, bảo đảm tơn giáo thốt ly mọi sự cấm đốn, hạn chế, ràng buộc. Nếu
nhìn nhận dưới góc độ triết học thì khái niệm tự do phải được xem xét trong mối
quan hệ với tất yếu giáo [Bùi Hữu Dược (2014), quản lý nhà nước về hoạt động
tôn giáo từ năm 1975 đến nay].
Điều 1 và 2 tại Pháp lệnh Tín ngưỡng, tơn giáo (2004) chỉ rõ: “Cơng dân
có quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo theo hoặc khơng theo một tôn giáo nào. Nhà
nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tơn giáo của cơng dân. Khơng ai được
xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật”. Cơng
dân có tín ngưỡng, tơn giáo hoặc khơng có tín ngưỡng, tơn giáo cũng như cơng
dân có tín ngưỡng, tơn giáo khác nhau phải tơn trọng lẫn nhau. Chức sắc, nhà tu
hành và công dân có tín ngưỡng, tơn giáo được hưởng mọi quyền cơng dân và


21

có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ cơng dân. Chức sắc, nhà tu hành có trách
nhiệm thường xuyên giáo dục cho tín đồ lịng u nước, thực hiện quyền, nghĩa
vụ cơng dân và ý thức chấp hành pháp luật.
Chính sách tơn giáo: Chính sách tơn giáo là thuật ngữ để chỉ cơ sở cho
quản lý nhà nước về tôn giáo. Trong lịch sử Việt Nam cho những năm đầu thế
kỷ XX vẫn chưa có “Chính sách tơn giáo” đầy đủ theo nghĩa hiện đại. Nghĩa là
quan hệ giữa Nhà nước và các tổ chức tôn giáo chưa được định chế bằng luật
pháp. Ở Việt Nam hiện nay, chính sách tơn giáo được thể hiện ở chủ trương,
đường lối của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước đối với công tác tôn
giáo và quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo [Bùi Hữu Dược (2014), Quản lý
nhà nước về tôn giáo từ năm 1975 đến nay].
Về tôn giáo được hiểu theo 2 nghĩa:
+ Thứ nhất: Là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ
sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng

siêu nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ.
+ Thứ hai: Là hệ thống những quan niệm tín ngưỡng một hay nhiều vị
thần linh nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy. Do tơn giáo
có số đơng tín đồ và quần chúng nên dễ bị lực lượng xấu lợi dụng, nên tính chất
của tơn giáo khá đa dạng.
Tơn giáo có một số tính chất như sau:
- Tính lịch sử: Tơn giáo cịn tồn tại lâu dài, nhưng khơng phải là hiện
tượng xã hội vĩnh hằng, bất biến mà nó có tính lịch sử. Tơn giáo có bước khởi
đầu, biến động và sẽ mất đi, khi mà “Con người không chỉ mưu sự, mà lại làm
cho thành sự nữa, thì khi đó, cái sức mạnh xa lạ cuối cùng hiện nay vẫn cịn
đang phản ánh vào tơn giáo mới sẽ mất đi và cùng với nó bản thân sự phản ánh
có tính chất tơn giáo, cũng sẽ mất đi, vì khi đó sẽ khơng có gì để phản ánh nữa


22

[Các. Mác – Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, H.,1995, tr439].
- Tính quần chúng: Tính quần chúng của tơn giáo khơng chỉ biểu hiện ở
số lượng tín đồ các tôn giáo chiếm tỷ lệ cao trong dân số thế giới, mà tơn giáo là
một trong các hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần của một bộ phận quần chúng
nhân dân lao động. Dù tôn giáo hướng con người hy vọng vào hạnh phúc hư ảo
ở thế giới bên kia, song nó ln ln phản ánh khát vọng của những người bị áp
bức về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái. Khi thể hiện tính quần chúng, tơn
giáo thường có tính nhân văn, nhân đạo, hướng thiện. Do vậy, tôn giáo là một
trong những nhu cầu tinh thần của bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân lao
đơng [Các. Mác – Ăngghen tồn tập, tập 20, Nxb CTQG, H.,1995, tr439].
- Tính chính trị: Ở thời kỳ cơng xã nguyên thủy, tôn giáo chỉ phản ánh
nhận thức hồn nhiên, ngây thơ của con người về bản thân và thế giới xung
quanh mình. Nhưng, khi xuất hiện giai cấp thì tơn giáo thường phản ánh lợi ích
giai cấp và đấu tranh giai cấp. Như vậy, tính chính trị của tơn giáo chỉ có khi xã

hội đã phân chia giai cấp, khi có những lực lượng chính trị lợi dụng tơn giáo vì
mục đích ngồi tơn giáo [Các. Mác – Ăngghen toàn tập, tập 20, Nxb CTQG,
H.,1995, tr439].
Trong lịch sử và đương đại, những cuộc chiến tranh tôn giáo đã xảy ra,
thực chất vẫn là xuất phát từ những lợi ích vật chất của những lực lượng xã hội
khác nhau. Trước khi có cuộc đấu tranh giữa các giai cấp trên mặt trận kinh tế,
chính trị, quân sự… thường diễn ra cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, tôn
giáo. Những cuộc đấu tranh hệ tư tưởng tôn giáo luôn là bộ phận của đấu tranh
giai cấp. Và khi xã hội cịn giai cấp thì tơn giáo cũng ln bị các giai cấp thống
trị bóc lột sử dụng như một cơng cụ quan trọng để bảo vệ lợi ích của mình.
Dĩ nhiên, đơng đảo quần chúng tín đồ đến với tôn giáo là nhằm thỏa mãn
nhu cầu tinh thần. Song trên thực tế, tôn giáo đã và đang bị các lực lượng chính


23

trị lợi dụng cho mục đích ngồi tơn giáo.
Phật giáo: Phật giáo là một tôn giáo bao gồm một cộng đồng người có
chung niềm tin và thực hành theo giáo lý, giáo luật, lễ nghi của đức Phật
[Nguyễn Văn Long (2014), Chính sách tơn giáo – từ thực tiễn Thành phố Hà
Nội].
Hoạt động tôn giáo: Hoạt động tôn giáo bao gồm thực hành lễ nghi tôn
giáo, truyền bá giáo lý tơn giáo, quản lý tổ chức của tơn giáo (cịn gọi là hành đạo,
truyền đạo, quản đạo) và một số hoạt động khác do tổ chức, chức sắc, nhà tu
hành, tín đồ tơn giáo thực hiện nhằm phục vụ hoạt động tôn giáo [51,Tr.10]
Hoạt động Phật giáo: Hoạt động Phật giáo bao gồm thực hành lễ nghi Phật
giáo, truyền bá giáo lý Phật giáo, quản lý tổ chức của Phật giáo (còn gọi là hành
đạo, truyền đạo, quản đạo) và một số hoạt động khác do tổ chức, chức sắc, nhà tu
hành, tín đồ Phật giáo thực hiện nhằm phục vụ hoạt động Phật giáo [Nguyễn Văn
Long (2014), Chính sách tôn giáo – từ thực tiễn Thành phố Hà Nội].

Khái quát quá trình thành và hoạt động Phật giáo: Phật giáo truyền vào
Việt Nam từ rất sớm, chủ yếu từ Trung Quốc sang. Phật giáo truyền vào Việt
Nam từ đầu công nguyên. Thời kỳ đầu chủ yếu từ đường biển vào gắn với các
thương nhân người Ấn Độ vào Việt Nam truyền giáo từ đầu Công nguyên cho
đến thế kỷ III. Tuy nhiên, từ thế kỷ IV trở đi, các hoạt động truyền giáo của các
chư tăng Ấn Độ giảm dần và thay vào đó là các hoạt động truyền giáo đến từ
Trung Quốc, với các phái Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông.
Phật giáo Việt Nam không chỉ có dịng Bắc tơng như nói ở trên, mà có cả
dịng Phật giáo Nam tơng. Phật giáo Nam tơng chủ yếu trong đồng bào Khmer ở
Nam Bộ. Ngoài người Khmer, ở Việt Nam cịn có một bộ phận người Kinh
theo Pht giỏo Nam tụng, cũn gi Phật giáo Nguyên thủy hay Phật giáo Nam
tông Việt Nam do Hòa thượng Hộ Tông (tục danh là Lê Văn Giảng) thành lập


24

năm 1939. Năm 1957 chính thức thành lập Giáo hội Tăng già Nguyên thủy
Việt Nam.
Vit Nam cũn cú Pht giỏo Kht s. Phật giáo Khất sỹ do ông Minh
Đăng Quang lập ra vào khoảng giữa thế kỷ XX. Phật giáo Khất sỹ là pháp
môn gạch nối giữa Phật giáo Bắc tông với Phật giáo Nam tông, kinh sách theo
Bắc tông, còn tu hành theo Nam tông v hoạt động chđ u ë c¸c tØnh Nam
Bé.
Hoạt động Phật giáo gắn bó với dân tộc, góp phần hình thành đạo đức, tâm
lý, lối sống và phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam. Phật giáo là tôn giáo
vào Việt Nam từ rất sớm, trong q trình đó Phật giáo đã gắn bó với dân tộc
qua các chặng đường lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong những năm đầu
Công nguyên cho đến thế kỷ X, Phật giáo vừa xây dựng, mở rộng lực lượng,
vừa cùng nhân dân Việt Nam chống lại sự cai trị của phong kiến phương Bắc.
Từ thế kỷ X, khi Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ, Phật giáo

trở thành lực lượng trụ cột cùng nhân dân cả nước chống lại sự xâm lược
của phương Bắc để bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Hai triều đại Đinh - Lê
đã coi Phật giáo l tụn giáo chính thức của cả nước v có những chính sách
nâng đỡ Phật giáo. Đặc biệt, vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành đÃ
trọng dụng và phong thưởng cho những nhà sư có công giúp vua lo viƯc triỊu
chÝnh, đối nội, đối ngoại, như: Khu«ng ViƯt Thái Sư Ngô Chân Lưu, Pháp sư
Ma Ni, Thiền sư Đỗ Pháp Thuận, Thin s Huyền Quang
Triều nhà Lý được xem là triều đại Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam. Lý Công
Uẩn (Lý Thái Tổ) - người sáng lập triều Lý xuất thân từ chốn thiền môn nên ông
đà hết lòng ủng hộ Phật giáo. Dưới triều Lý, Pht giáo đã đóng góp quan trọng
cho cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống để bảo về nền độc lp dõn
tc. Thi k ny có những nhà sư nổi tiếng về việc tu hành và những đóng góp


25

đối với đất nước, như nhà sư Vạn Hạnh, Huệ Sinh, Viên Chiếu, MÃn Giác,
Không Lộ, Viên Thông...
Dưới triều đại nhà Trần, Phật giáo Việt Nam phát triển đạt tới mức cực thịnh và
trở thành tụn giỏo chớnh thng ca đất nước. Triều đại nhà Trần là một trong những
triều đại tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, đồng thời cũng là
triều đại có nhiều thành tựu về võ công, văn trị hiển hách, đặc biệt là Phật giáo đã
góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên
Mông - một kẻ thù hùng mạnh. Dưới nhà Trần có những nhà sư nổi tiếng trong
việc giúp triều đình, như: øng Thuận, Tức Lục, Đại Đăng, Thiên Phong, Phỏp Loa,
Huyn Quang... Điểm đặc sắc của Phật giáo dưới nhà Trần là nhiều nhà vua, nhiều
vị quan, tướng xuất sắc nhưng đồng thi l nh Pht hc uyờn thõm nh vua Trần
Thái T«ng, vua Trần Nhân Tơng ...
Tõ thÕ kû XV trë ®i, Phật giáo suy yếu dần do việc chÕ ®é phong kiến Việt
Nam đà lấy Nho giáo làm chỗ dựa tư tưởng chính trị và đạo đức. Tuy nhiờn, với

truyền thống yêu nước gắn bó với dân tộc, Phật giáo trở lại với thôn dÃ, trở thành
hạt nhân của sự đoàn kết dõn tc, tụn giỏo, do đó vẫn giữ được gốc rễ sâu bền
trong nhân dân. Đồng thời, với thái độ khoan dung, Phật giáo đà làm cho tư
tưởng Tam gi¸o (PhËt, L·o, Nho) vèn cã tõ tr­íc mang một sắc thái mới.
Nh vy, t xa xa, trong quỏ trình dựng nước và giữ nước, các triều đại
phong kiến Việt Nam rất quan tâm và nâng đỡ Phật giáo, lấy Phật giáo để
“đồn kết nhân tâm, vun bồi trí đức”. Và chính vậy Phật giáo đã thể hiện được
vai trò “hộ quốc, an dân” trong lịch sử Việt Nam [Nguyễn Thanh Xn (2015),
Tơn giáo và chính sách tơn giáo ở Việt Nam].
Thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Thế kỷ XX có những sự kiện
thống nhất Phật giáo quan trọng, như: Tổng hội Phật giáo Việt Nam ra đời
năm 1951 tại Huế sau phong trào Chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX, Hội


×