Tải bản đầy đủ (.pdf) (111 trang)

Phát triển kinh tế biển và các huyện ven biển tỉnh thanh hóa hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (816.44 KB, 111 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRẦN THỊ HẰNG

PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN CÁC HUYỆN
VEN BIỂN TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành
Mã số

: Kinh tế chính trị
: 60 31 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Trần Thị Ngọc Nga

HÀ NỘI - 2015


2

XÁC NHẬN LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC SỬA CHỮA
Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng
chấm luận văn thạc sĩ.


Hà Nội, ngày .... tháng 11 năm 2015
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

TS. Đồng Văn Phường


3

LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi. Luận văn
được hồn thành dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Thị Ngọc Nga. Các số liệu,
tài liệu trong luận văn là hoàn toàn đáng tin cậy.
Hà Nội, ngày……tháng…..năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN


4

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu sản lượng khai thác thủy sản huyện Hậu Lộc 2011 – 2014 ......52
Bảng 2.2: Tổng giá trị khai thác thủy sản huyện Hậu Lộc 2011 – 2014 ........ 53
Bảng 2.3: Cơ cấu sản lượng nuôi trồng thủy sản huyện Hậu Lộc 2011 – 2014 ....55
Bảng 2.4: Tổng giá trị sản lượng nuôi trồng thủy sản huyện Hậu Lộc
2011 – 2014.................................................................................................. 57
Bảng 2.5: Cơ cấu sản lượng chế biến thủy sản huyện Hậu Lộc 2011 – 2014........58
Bảng 2.6: Tổng sản lượng và tổng giá trị ngành thủy sản huyện Hậu Lộc
2011 – 2014.................................................................................................. 59
Bảng 2.7: Kết quả hoạt động sản xuất muối huyện Hậu Lộc ........................ 60
Bảng 2.8: Cơ cấu sản lượng khai thác thủy sản huyện Hoằng Hóa 2011 – 2014....63
Bảng 2.9: Diện tích ni trồng thủy sản huyện Hoằng Hóa 2011-2014 ........ 65

Bảng 2.10. Tổng sản lượng và năng suất nuôi trồng thủy sản huyện Hoằng
Hóa giai đoạn 2011-2014 ............................................................................. 65
Bảng 2.11: Cơ cấu sản lượng chế biến thủy sản huyện Hoằng Hóa giai đoạn
2011-2014 .................................................................................................... 66
Bảng 2.12: Kết quả hoạt động ngành du lịch biển huyện Hoằng Hóa giai đoạn
2012-2014 .................................................................................................... 70
Bảng 2.13 : Kết quả hoạt động nuôi trồng thủy sản huyện Quảng Xương giai
đoạn 2011-2014............................................................................................ 73
Bảng 2.14: Kết quả hoạt động du lịch biển huyện Quảng Xương giai đoạn
2011 – 2014.................................................................................................. 75
DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng sản lượng thủy sản huyện Hậu Lộc 2011 – 2014 ........52
Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng sản lượng nuôi trồng thủy sản huyện Hậu
Lộc 2011 – 2014 .......................................................................................... 56
Biểu đồ 2.3: Tốc độ tăng trưởng sản lượng khai thác thủy sản huyện Hoằng
Hóa giai đoạn 2011 – 2014........................................................................... 64


5

MỤC LUC
MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ BIỂN.. 7
1.1. Khái niệm, cơ cấu và đặc điểm của kinh tế biển ................................... 7
1.2. Nội dung, vai trò và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển .......... 17
1.3. Kinh nghiệm phát triển kinh tế biển ở một số địa phương .................. 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN Ở CÁC
HUYỆN VEN BIỂN TỈNH THANH HÓA GIAI ĐOẠN 2011 – 2014..... 41
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến phát triển
kinh tế biển................................................................................................ 41

2.2. Thực trạng phát triển kinh tế biển ở các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa.. 49
2.3. Đánh giá chung .................................................................................. 76
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH
TẾ BIỂN Ở CÁC HUYỆN VEN BIỂN TỈNH THANH HÓA ĐẾN NĂM
2020 ............................................................................................................. 83
3.1. Phương hướng phát triển kinh tế biển các huyện ven biển tỉnh Thanh
Hóa ........................................................................................................... 83
3.2. Giải pháp tiếp tục phát triển kinh tế biển ở các huyện ven biển tỉnh
Thanh Hóa ................................................................................................ 86
KẾT LUẬN............................................................................................... 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 102


6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ĐVT

:

Đơn vị tính

FAO

:

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

HĐND


:

Hội đồng nhân dân

NN & PTNN

:

Nông nghiệp và phát triển nông thôn

UBND

:

Uỷ ban nhân dân

VH-TT&DL

:

Văn hóa – thể thao và du lịch

VSANTP

:

Vệ sinh an tồn thực phẩm



1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia có bờ biển dài hơn 3200 kilơmét bao lấy lãnh thổ
ở cả ba hướng: Đông, Nam và Tây Nam, trung bình cứ khoảng 100 km2 đất
liền thì có 1 bờ biển, không một nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam lại cách xa
biển hơn 500 km. Vì vậy, từ trước đến nay, biển ln gắn bó mật thiết và ảnh
hưởng tới mọi miền của tổ quốc. Đặc biệt, với vị trí địa lý thuận lợi nằm trên
đường hàng hải quốc tế, có cảng biển sâu, có 1 triệu km2 vùng biển kinh tế
đặc quyền rộng gấp 3 lần diện tích đất liền, có vị trí địa chính trị hết sức quan
trọng với hơn 3000 hịn đảo,… thì biển cũng như phát triển kinh tế biển càng
đóng vai trị to lớn và ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội ở nước ta.
Xuất phát từ những lợi thế đó, và để phát huy mọi tiềm năng của biển,
cũng như đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ chủ quyền an ninh
và môi trường biển, Hội nghị trung ương 4 (khóa X) đã thơng qua nghị quyết
số 09 – NQ/TW ngày 9/2/2007 về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020”, trong đó đã đề ra mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh từ
biển, giàu lên từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc
gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện
đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh. Cho đến nay, Chiến lược biển Việt
Nam đến năm 2020 đã và đang được triển khai ở các tỉnh thành có biển trên
cả nước, trong đó có Thanh Hóa.
Thanh Hóa nằm ở cực Bắc miền trung, cách thủ đơ Hà Nội 150 km về
phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 1560 km. Thanh Hóa có 102 km bờ
biển và vùng lãnh hải rộng 17000 km2 với những bãi cá, bãi tơm có trữ lượng
lớn. Bờ biển Thanh Hóa trải dài trên 5 huyện (Hậu Lộc, Nga Sơn, Hoằng Hóa,
Quảng Xương, Tĩnh Gia) và 1 thị xã (Sầm Sơn) với những lợi thế và tiềm



2

năng phong phú. Do đó, phát triển kinh tế biển ở các huyện, thị xã này đóng
một vai trị vơ cùng quan trọng và ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực kinh tế xã
hội của tỉnh nói chung và mỗi vùng nói riêng.
Trong những năm qua, các vùng ven biển của tỉnh Thanh Hóa đều chú
trọng phát triển nhiều lĩnh vực của kinh tế biển như nuôi trồng và đánh bắt
thủy, hải sản; vận tải biển, cảng biển; du lịch; làm muối… Có thể nói, với mỗi
ngành nghề, các huyện đều đã có những đầu tư nhất định về mọi mặt và đạt
được nhiều thành quả đáng khích lệ, khơng chỉ góp phần đẩy nhanh tốc độ
tăng trưởng GDP của tỉnh mà còn nâng cao mức thu nhập hàng năm của
người dân, cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, tinh thần của ngư dân… Do đó,
trong thời gian tới, chúng ta cần phải có những giải pháp và chiến lược thích
hợp nhằm khai thác tối đa nguồn lợi từ biển đem lại.
Bên cạnh những thành quả đã đạt được, kinh tế biển với nhiều ngành
nghề khác nhau ở mỗi địa phương cũng đang gặp phải những khó khăn nhất
định về chiến lược, về vốn, về kỹ thuật, về nhân lực… Và những khó khăn
này nếu khơng có giải pháp khắc phục thì khơng chỉ thành quả đạt được
khơng tương xứng với tiềm năng vốn có của biển, mà thậm chí cịn ảnh hưởng
và gây ra những hệ lụy đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội nói chung.
Chính vì vậy, phát triển kinh tế biển vừa có vai trò quan trọng, lại vừa là nhu
cầu bức thiết đối với các vùng ven biển của tỉnh Thanh Hóa.
Xuất phát từ tầm quan trọng và nhu cầu bức thiết đó, tơi xin lựa chọn
đề tài “Phát triển kinh tế biển các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa hiện
nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Biển và phát triển kinh tế biển luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước,
các cấp, các ngành cũng như nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Từ



3

trước đến nay, đã có nhiều cơng trình khoa học, đề tài nghiên cứu, các bài viết
liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế biển được công bố, cụ thể:
- Vũ Khánh Trường, Kinh tế biển ở Nghệ An trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, 2009. Tác giả đã trình bày một cách khoa học những vấn đề lý luận về
khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trị của kinh tế biển trong thời kỳ hội nhập
kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã đưa ra một số khuynh hướng và
kinh nghiệm phát triển kinh tế biển ở các địa phương khác. Tiếp theo, tác giả
tiến hành phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế biển ở tỉnh
Nghệ An trong giai đoạn 2003 – 2008, từ đó đưa ra một số đánh giá chung về
kết quả mà Nghệ An đã đạt được về lĩnh vực này. Trên cơ sở phân tích lý luận
và thực trạng, tác giả đã đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế
biển ở Nghệ An đến năm 2015 trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Lê Minh Thơng, Chính sách phát triển kinh tế ven biển tỉnh Thanh
Hóa, Luận án tiến sỹ kinh tế, 2010. Với cơng trình nghiên cứu này, tác giả đã
trình bày một hệ thống lý luận về kinh tế biển, kinh tế ven biển, chính sách
phát triển kinh tế ven biển… Trên cơ sở phân tích thực trạng chính sách phát
triển kinh tế ven biển ở tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2000 – 2010, tác giả
đã đưa ra những nhận xét đánh giá về thành tựu và hạn chế cũng như một số
nguyên nhân của chính sách phát triển kinh tế ven biển mà tinh Thanh Hóa đã
gặp phải. Từ sự phân tích khoa học và khách quan về lý luận cũng như thực
trạng của chính sách phát triển kinh tế biển ở tỉnh Thanh Hóa, tác giả đã đề
xuất một số giải pháp và điều kiện để thực hiện giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả của chính sách phát triển kinh tế ven biển tỉnh Thanh Hóa trong thời gian
tiếp theo.
- Nguyễn Đăng Chương, Kinh tế biển ở Thanh Hóa trong thời kỳ hội
nhập kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Báo chí và Tuyên



4

truyền, 2013. Trong luận văn này, tác giả đã trình bày một loạt các vấn đề lý
luận sâu sắc như khái niệm, vị trí, vai trị của kinh tế biển; tác động của hội
nhập kinh tế quốc tế đối với quá trình phát triển kinh tế biển ở nước ta; kinh
nghiệm phát triển của một số nước và địa phương khác… Tiếp theo, tác giả
cũng đã phân tích một cách khoa học những thành tựu và hạn chế (thực trạng)
của hoạt động kinh tế biển ở Thanh Hóa thời kỳ 2008 – 2012. Trên cơ sở đó,
tác giả đã đưa ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
kinh tế biển ở tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020.
- Nguyễn Thị Lương, Kinh tế biển góp phần xóa đói giảm nghèo ở
huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện
Báo chí và Tun truyền, 2013. Với cơng trình nghiên cứu này, tác giả đã
trình bày nhiều vấn đề lý luận về kinh tế biển và xóa đói giảm nghèo như khái
niệm, vai trò của kinh tế biển, sự tác động của kinh tế biển đến vấn đề xóa đói
giảm nghèo, kinh nghiệm của một số địa phương khác về vấn đề phát triển
kinh tế biển để góp phần xóa đói giảm nghèo. Đồng thời, tác giả cũng đã phân
tích những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Quảng Xương có ảnh
hưởng đến q trình xóa đói giảm nghèo của kinh tế biển; cũng như phân tích
thực trạng của hoạt động kinh tế biển và xóa đói giảm nghèo ở huyện, từ đó
đưa ra nhận xét đánh giá của bản thân về vấn đề này. Cuối cùng, tác giả đã
đưa ra phương hương và giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế biển phát triển
nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
trong thời gian tiếp theo.
Tóm lại, các cơng trình nghiên cứu nói trên đã phân tích một cách hệ
thống và khoa học những vấn đề lý luận nói chung về kinh tế biển, kinh tế du
lịch ở nhiều địa phương khác nhau. Đồng thời, các tác giả cũng đã căn cứ vào
thực trạng phát triển ở từng vùng mà đưa ra nhiều giải pháp thiết thực nhằm
phát triển kinh tế biển và kinh tế du lịch. Tuy nhiên, các cơng trình đó chủ yếu

nghiên cứu kinh tế biển hay kinh tế du lịch của một tỉnh nói chung, hoặc có


5

cơng trình đi vào phân tích kinh tế biển gắn với vấn đề xóa đói giảm nghèo,
nhưng chưa có cơng trình nào tiến hành nghiên cứu về vấn đề phát triển
kinh tế biển ở các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa. Bên cạnh đó, tác giả
tiến hành nghiên cứu kinh tế biển tỉnh Thanh Hố với cách tiếp cận dưới
góc độ kinh tế chính trị, tức là sự tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Khái quát những vấn đề lý luận về kinh tế biển, từ đó khảo sát thực
trạng và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế biển các huyện ven biển tỉnh
Thanh Hóa.
- Nhiệm vụ:
+ Hệ thống hóa các quan niệm về kinh tế biển nhằm đưa ra quan niệm
cơ bản về kinh tế biển.
+ Tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế biển ở các
huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa nhằm phát hiện các vấn đề và nguyên nhân.
+ Tiến hành luận chứng cho các giải pháp tác động có thể được áp dụng
nhằm nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế biển trong giai đoạn sau nghiên cứu.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng:
Kinh tế biển ở các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa
- Phạm vi:
+ Khơng gian: 3 huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa gồm: Hoằng Hóa, Hậu
Lộc và Quảng Xương (Thị xã Sầm Sơn là một địa phương tiêu biểu cho kinh
tế biển của tỉnh, song do đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về kinh tế biển

Sầm Sơn nên tác giả lựa chọn 3 huyện ven biển này trong phạm vi nghiên cứu
của luận văn).
+ Thời gian: Từ 2011 đến nay


6

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Luận văn lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và các quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam làm cơ sở lý luận, kế thừa những lý luận về kinh tế biển của các
tác giả đi trước…
- Phương pháp luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo của đề tài này là phương pháp phân tích
– tổng hợp. Trong q trình nghiên cứu, tơi sẽ chú ý kết hợp với phương pháp
phương pháp thu thập và phân loại sơ bộ tài liệu, phương pháp đọc tài liệu và thu
thập thông tin, phương pháp lược thuật, tổng thuật tài liệu trong khi xây dựng cơ
sở lý thuyết của đề tài và tiến hành đánh giá quá trình phát triển kinh tế biển của
các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa trong thời gian qua.
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về phát triển
kinh tế biển trong tình hình và điều kiện mới.
- Khảo sát, đánh giá quá trình phát triển kinh tế biển, từ đó đề xuất giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế biển.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia thành 3 chương lớn:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về kinh tế biển
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế biển ở các huyện ven biển tỉnh

Thanh Hóa giai đoạn 2011 - 2014
Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển ở các
huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020


7

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ BIỂN
1.1. Khái niệm, cơ cấu và đặc điểm của kinh tế biển
1.1.1. Khái niệm kinh tế biển và kinh tế ven biển
Kinh tế biển và kinh tế ven biển là các khái niệm với những nội dung
khác nhau, việc phân định các khái niệm này sẽ giúp cho việc nghiên cứu
được tiến hành rõ ràng và chính xác.
1.1.1.1. Kinh tế biển
Biển là một bộ phận quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của tồn thể nhân loại nói chung, các quốc gia có biển nói riêng, trong đó
có Việt Nam. Lịch sử hình thành và sự phát triển mạnh mẽ từ hoạt động khai
thác tiềm năng biển của các nền kinh tế lớn như Mỹ, Anh, Nhật, Trung
Quốc…là minh chứng thực tế cho vai trò, vị trí của biển.
Riêng ở Việt Nam, kể từ khi dựng nước cho đến nay, biển luôn là một
thành phần khơng thể thiếu và đem lại nhiều lợi ích thiết thực kể cả trong việc
chiến thắng ngoại xâm cho đến phát triển kinh tế. Đặc biệt, trong những năm
gần đây, khái niệm kinh tế biển đã trở thành một phạm trù quen thuộc nhưng
vô cùng đa dạng.
Hiện nay, các nước vẫn chưa hoàn toàn thống nhất chung về việc định
nghĩa thế nào là kinh tế biển, mỗi quốc gia đều có những nhìn nhận khác nhau
về vấn đề này. Cịn ở Việt Nam, có hai kiểu định nghĩa về kinh tế biển phổ
biển như sau:
Theo nghĩa hẹp, kinh tế biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra

trên biển, đó là: một, kinh tế hàng hải (vận tải biển, cảng biển và các dịch vụ
liên quan đến cảng biển); hai, đánh bắt và nuôi trồng hải sản; ba, khai thác
dầu khí trên biển; bốn, du lịch biển; năm, nghề làm muối; sáu, dịch vụ tìm
kiếm cứu hộ, cứu nạn; bảy, kinh tế hải đảo.


8

Theo nghĩa rộng, kinh tế biển bao gồm những hoạt động kinh tế trực
tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra trên biển nhưng
những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tố biển hoặc trực tiếp phục vụ các
hoạt động kinh tế biển dải đất liền ven biển, đó là: một, đóng và sửa chữa tàu
biển ( hoạt động này cũng có thể xếp vào chung lĩnh vực kinh tế hàng hải); hai,
công nghiệp chế biến dầu khí; ba, cơng nghiệp chế biến thủy hải sản; bốn, cung
cấp dịch vụ biển; năm, thông tin liên lạc biển (đài phát tín ven biển, hệ thống
định vị); sáu, nghiên cứu khoa học, công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ
phát triển kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên – môi trường biển.
Khái quát lại, có thể định nghĩa kinh tế biển như sau: Kinh tế biển là
một ngành kinh tế bao gồm nhiều phân ngành khác nhau trong tổng thể cơ
cấu nền kinh tế quốc dân; các hoạt động kinh tế biển được diễn ra trên biển
và vùng ven biển để tạo ra của cải vật chất cho xã hội cũng như thu nhập cho
người dân.
Ở Việt Nam hiện nay, kinh tế biển bao gồm nhiều hoạt động đa dạng có
mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình phát triển như vận tải
biển, cảng biển; khai thác, nuôi trồng và chế biển thủy hải sản; khai thác dầu
khí trên biển; du lịch biển; nghề làm muối; kinh tế hải đảo,… Mỗi hoạt động,
mỗi phân ngành của kinh tế biển đều có những đặc điểm và vai trị khác nhau,
vì vậy, phát triển kinh tế biển địi hỏi vừa phải có sự đồng bộ vừa phải có
trọng tâm, trọng điểm trong từng thời kỳ, từng giai đoạn và từng địa phương.
1.1.1.2. Kinh tế ven biển

Kinh tế ven biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế ở dải ven biển, có thể
tính theo địa bàn các xã ven biển, các huyện ven biển hoặc các tỉnh ven biển
và biên giới giáo đất liền tiếp giáp với biển.
Kinh tế ven biển bao gồm các hoạt động kinh tế trong những lĩnh vực
như: nông nghiệp (nông – lâm – ngư nghiệp), công nghiệp và dịch vụ diễn ra
trên phạm vi địa bàn lãnh thổ này.


9

1.1.2. Cơ cấu của kinh tế biển
Ở Việt Nam, cơ cấu kinh tế biển đã dần hình thành ngày càng hoàn
chỉnh qua các thời đại từ xa xưa cho đến nay. Lúc đầu, khi con người còn
sống trong thời cổ đại, họ đã biết dử dụng tài nguyên biển cho đời sống hàng
ngày, lợi dụng thủy triều để thực hiện giao thông thương mai, trồng trọt, đánh
giạc ngoại xâm. Sang thời kỳ phong kiến, kinh tế biển ngày càng được khai
thác rộng và sâu hơn. Thời Trần và Lý, nghề muối đã bắt đầu phát triển, bên
cạnh đó là việc khai hoang vùng ven biển, đánh bắt cá và làm nước mắm cũng
được thực hiện. Vào thời nhà Nguyễn, việc giao thương qua các cửa khẩu
được chú ý nhiều hơn, các đội thuyền được phát triển nhằm phục vụ kinh tế
và đảm bảo an ninh. Một số đạo luật về khai thác phát triển kinh tế biển vùng
ven biển đã được ban hành vào thời vua Minh Mạng. Từ sau năm 1945, kinh
tế biển đã có những bước phát triển mới, song vẫn mang tính tự cấp, tự túc,
các hoạt động chỉ diễn ra gần bờ với phương tiện thô sơ, chỉ tập trung vào
nghề khai thác thủy sản. Sau đó, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, nền
kinh tế biển đã thực sự được đầu từ cả về chiều rộng và chiều sâu; đồng thời,
cũng dần dần hình thành cơ cấu kinh tế biển hồn chỉnh hơn.
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan
hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành. Cơ cấu ngành kinh tế là một bộ phận
cấu thành cơ bản của nền kinh tế quốc dân.

Hiện nay, cơ cấu kinh tế biển Việt Nam bao gồm 5 thành phần chủ yếu
sau: Một, kinh tế hàng hải (vận tải biển, dịch vụ cảng biển và cơng nghiệp
đóng, sửa chữa tàu biển); hai, đánh bắt và ni trồng thủy hải sản; ba, cơng
nghiệp dầu khí; bốn, nghề làm muối; năm, du lịch biển.
1.1.2.1. Kinh tế hàng hải
Kinh tế hàng hải là một ngành chủ yếu và quan trọng trong các ngành
kinh tế biển. Kinh tế hàng hải bao gồm vận tải biển, dịch vụ cảng biển và
cơng nghiệp đóng, sửa chữa tàu biển.


10

Kinh doanh vận tải biển là việc khai thác tàu biển của doanh nghiệp để
vận chuyển hàng hóa, hành khách, hành lý trên các tuyến vận tải biển. Cơ sở
vật chất kỹ thuật của vận tải biển là các tuyến đường biển, cảng biển và các
phương tiện vận chuyển. Các tuyến đường biển là các tuyến đường nối hai
hay nhiều cảng với nhau trên đó tàu biển hoạt động chở khách hoặc hàng hóa.
Khác với đường sơng, đường sắt, đường bộ, đường biển là đường thiên nhiên,
tương đối bằng phẳng, khả năng thơng thương lớn, nhiều tàu thuyền có thể
qua lại cùng lúc. Cảng biển là nơi ra vào neo đậu của tàu biển, là nơi phục vụ
tàu và hàng hóa trên tàu và là đầu mối giao thơng quan trọng của một quốc
gia có biển. Phương tiện vận chuyển của vận tải biển chủ yếu là tàu biển. Tàu
biển có hai loại là tàu bn và tàu qn sự, trong đó tàu bn là những tàu
biển được dùng vào mục đích kinh tế trong hàng hải. Tàu chở hàng là loại tàu
buôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong đội tàu buôn. Ngày nay, phương thức vận tải
biển phổ biến nhất là vận tải container đường biển. Đây là phương thức vận
tài tiên tiến đã phát triển rất nhanh trên thế giới.
Dịch vụ cảng biển bao gồm các loại dịch vụ như bốc xếp hàng hóa tại
cảng, dịch vụ giao nhận ( hay dịch vụ logistic – là hoạt động thương mại, theo
đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận

hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ
khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các
dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận khác với khách hàng
để hưởng thù lao – theo điều 233 Luật Thương mại), dịch vụ phục vụ khách
du lịch tại cảng,…
Cơng nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển là ngành công nghiệp cung cấp
phương tiện vận chuyển cho ngành vận tải đường biển. Hoạt động chủ yếu
của ngành này là đóng mới và sửa chữa tàu biển bị hư hỏng, bảo trì thường
xuyên, định kỳ tàu biển để đảm bảo an toàn cho các phương tiện này trong


11

quá trình sử dụng. Sản phẩm của ngành là phương tiện vận tải sử dụng trên
biển, phục vụ các hoạt động kinh tế.
1.1.2.2. Đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản
Đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản là một lĩnh vực trong hệ thống kinh
tế biển, đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế nói chung và hỗ trợ
cho các ngành kinh tế khác nói riêng. Đặc biệt, cùng với ngành nơng nghiệp
và lâm nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản đã góp phần cung cấp thực
phẩm chủ yếu cho xã hội.
Theo tổ chức FAO thì việc ni trồng thủy sản là nuôi các thủy sinh vật
trong môi trường nước ngọt và lợ/mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật vào qui
trình nuôi nhằm nâng cao năng suất thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể. Trong
đó, nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá
trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát
triển nguồn lợi thủy sản.
Hoạt động thủy sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển
thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy
sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản, điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi

thủy sản. Khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển,
sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác. Ðất để ni trồng thủy
sản là đất có mặt nước nội địa, bao gồm ao, hồ, đầm, phá, sơng, ngịi, kênh,
rạch; đất có mặt nước ven biển; đất bãi bồi ven sông, ven biển; bãi cát, cồn cát
ven biển; đất sử dụng cho kinh tế trang trại; đất phi nông nghiệp có mặt nước
được giao, cho th để ni trồng thủy sản. Hầu hết các thủy sản là động thực
vật hoang dã, nhưng nuôi trồng thủy sản đang gia tăng. Canh tác có thể thực
hiện ở ngay các vùng ven biển, chẳng hạn như với các trang trại hàu, nhưng
hiện này vẫn thường canh tác trong vùng nước nội địa, trong các hồ, ao, bể
chứa và các hình thức khác.


12

Biển Việt Nam có khoảng hơn 2000 lồi hải sản, trong đó có khoảng
hơn 130 lồi hải sản khác nhau với trữ lượng là 3 triệu tấn, tiềm năng nuôi
trồng thủy hải sản là rất lớn 1,7 triệu ha mặt nước nội địa, 300000 ha bãi biển,
400000 ha hồ chứa sông, suối nhỏ; 600000ha ao hồ nhỏ, rộng trũng và hàng
trăm ngìn ha bồi ven biển có thể đưa vào nơi trồng thủy hải sản.
Tại các địa phương có biển trên cả nước nói chung, hoạt động đánh bắt
và ni trồng thủy hải sản luôn được chú trọng và tạo điều kiện tối đa để đạt
hiệu quả cao nhất. Vì thế, ngành thủy sản ngày càng phát triển và tỷ trọng
GDP của ngành đóng góp vào GDP của tồn quốc liên tục tăng qua các năm.
Nghị quyết Đại hội Đảng tồn quốc lần thứ X và Nghị quyết TW4
(khóa X) về chiến lược biển Việt Nam 2020 đã tiếp tục khẳng định ngành
thủy sản là một ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm năng phát triển mạnh nhất là
về ni trồng, cần phấn đấu vươn lên hàng đầu trong khu vực.
1.1.2.3. Cơng nghiệp dầu khí
Cơng nghiệp dầu khí bao gồm các hoạt động khai thác, chiết tách, lọc,
vận chuyển (thường bằng các tàu dầu và đường ống), và tiếp thị các sản phẩm

dầu mỏ. Phần lớn các sản phẩm của ngành công nghiệp này là dầu nhiên liệu
và xăng. Dầu mỏ là nguyên liệu thô dùng để sản xuất các sán phẩm hóa học
như dược phẩm, dung mơi, phân bón, thuốc trừ sâu và nhựa tổng hợp.
Cơng nghiệp dầu khí là ngành kinh tế chủ lực trong kinh tế biển. trong
những năm qua, ngành dầu khí đã có nhiều đóng góp vào sự nghiệp cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hoạt động kinh doanh dầu khí ở nước ta
đang từng bước được hiện đại hóa với hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật tiên
tiến. Cho đến nay, ngành dầu khí đã được xây dựng và phát triển tương đối
đồng bộ từ tìm kiếm, thăm dị, khai thác tới chế biến, phân phối và kinh doanh
dịch vụ.


13

1.1.2.4. Nghề làm muối
Việt Nam với chiều dài bờ biển hơn 3200 kilômét chạy dài khắp ba
miền Bắc – Trung – Nam thì làm muối được coi là một ngành nghề có nhiều
tiềm năng và cơ hội. Đây là nghề truyền thống đã có từ rất lâu đời và được
phát triển ở khắp các tỉnh có biển trên cả nước. Tuy nhiên, do đặc thù ngành
muối phụ thuộc quá nhiều vào tự nhiên nến có lúc mất mùa, lúc được mùa;
đồng thời nghịch lý “được mùa mất giá, được giá mất mùa” cũng thương
xuyên diễn ra trong ngành này. Hơn nữa, do trình độ cũng như cơng nghệ sản
xuất muối còn lạc hậu nên cả về số lượng và chất lượng muối đều không đáp
ứng được nhu cầu trong nước. Chính vì thế, hiện nay Việt Nam vẫn cịn tình
trạng nhập khẩu muối cơng nghiệp từ nước ngồi.
Riêng trong năm 2014, tính đến tháng 11/2014, Báo cáo của Bộ Nơng
nghiệp và Phát triển Nông thôn cho thấy giá trị nhập khẩu muối trong tháng
11 ước đạt 2 triệu USD, đưa giá trị nhập khẩu 11 tháng đầu năm 2014 lên 19
triệu USD, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, trong khi Việt
Nam phải bỏ tiền để nhập khẩu muối cơng nghiệp về dùng thì nhiều nước

giàu có như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc lại tìm cách nhập khẩu muối biển sạch tự
nhiên từ Việt Nam để phục vụ nhu cầu người tiêu dùng trong việc ăn, nêm,
chế biến thực phẩm. Hiện tại, sản phẩm muối của ta đã xuất khẩu sang một
số nước như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào... Trong đó xuất sang Mỹ bình
qn 800 tấn/năm, Nhật gần 2.000 tấn/năm. Tuy nhiên, ngành muối vẫn
chưa thể đẩy mạnh xuất khẩu do cịn nhiều tồn tại, đó là sản xuất muối vẫn
chủ yếu thủ công, phụ thuộc chính vào những điều kiện thời tiết. Hệ thống
cơ sở hạ tầng còn yếu kém nên phần lớn chỉ xuất muối thô để các nước nhập
khẩu tinh chế lại.
Đầu năm 2015, do diễn biến thời tiết phức tạp, khơng khí lạnh liên tục
tràn về theo hướng từ biển vào, nền nhiệt độ các vùng muối cả nước xuống


14

thấp, sương mù nhiều nên lượng muối sản xuất ra khơng nhiều tuy nhiên tình
hình cung cầu muối vẫn ổn định, giá muối trên cả nước vẫn giữ ở mức hợp lý.
Cụ thể, diện tích sản xuất muối cả nước ước đạt 14.814 ha, tăng 625 ha so với
cùng kỳ 2014. Sản lượng muối đạt khoảng 12.688 tấn, giảm 41% so với cùng
kỳ 2014.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số
1815/TTg-KTN ngày 22/9/2014 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển sản
xuất muối đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Bộ trưởng Bộ Nơng
nghiệp và Phát triển nơng thơn có Quyết định số 4513/QĐ-BNN-CB ngày
21/10/2014 phê duyệt Quy hoạch phát triển sản xuất muối đến năm 2020 và
tầm nhìn đến năm 2030 (thay thế cho Quyết định số 161/QĐ-TTg ngày
05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển sản
xuất muối đến năm 2010 và năm 2020): Giữ ổn định diện tích sản xuất muối
là 14.500 ha, sản lượng muối đạt 2 triệu tấn (trong đó muối cơng nghiệp là
1,35 triệu tấn) vào năm 2020.

Vùng sản xuất muối công nghiệp: Tập trung phát triển ở những nơi có
điều kiện thuận lợi và có lợi thế sản xuất tập trung, quy mơ lớn để hình thành
vùng sản xuất muối cơng nghiệp và thực hiện cơ giới hóa sản xuất, nhất là
khâu thu hoạch muối.
Vùng sản xuất muối thủ công: Gắn chuyển dịch cơ cấu sản xuất với
việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nhằm giảm thiểu sự ảnh hưởng của
thời tiết, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trên đơn vị diện tích; giải
quyết việc làm ổn định cho diêm dân, tăng tỷ lệ muối qua chế biến và đảm
bảo an toàn thực phẩm.
1.1.2.5. Du lịch biển
Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng lớn về du lịch biển với hệ thống
biển, đảo rộng khắp cả nước. Ngành du lịch nói chung, du lịch biển nói riêng


15

của nước ta ngày càng phát triển lớn mạnh đem lại giá trị lớn trong tổng thu
nhập quốc dân.
Dọc bờ biển Việt Nam đã có khoảng 125 bãi biển thuận lợi cho việc
phát triển du lịch, trên 30 bãi biển đã được đầu tư và khai thác. Trong đó, các
khu vực biển có tiềm năng lớn đã đầu tư phát triển là vịnh Hạ Long – Hải
Phòng – Cát Bà; Huế – Đà Nẵng – Quảng Nam; Vân Phong – Đại Lãnh – Nha
Trang; Vũng Tàu – Long Hải – Côn Đảo; Hà Tiên – Phú Quốc; Phan Thiết –
Mũi Né.
Với địa thế nằm giữa hai trung tâm du lịch tàu biển lớn trong khu vực
là Hong Kong và Singapore, là quốc gia ổn định về chính trị với nền kinh tế
đang phát triển, đặc biệt có lợi thế về bờ biển với nhiều di tích thiên nhiên,
văn hóa được UNESCO cơng nhận… Việt Nam có rất nhiều lợi thế để phát
triển du lịch tàu biển. Các vùng biển, đảo và ven biển hiện thu hút rất nhiều
khách du lịch, còn nhiều tiềm năng để phát triển nên từ đây đến năm 2020, cơ

quan quản lý nhà nước sẽ có sự đầu tư mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng, sản phẩm,
quảng bá... để đến năm 2020 thu nhập du lịch biển đạt trên 10 tỉ đô la Mỹ.
Như vậy, kinh tế biển Việt Nam với 5 lĩnh vực: kinh tế hàng hải (vận
tải biển, dịch vụ cảng biển và cơng nghiệp đóng, sửa chữa tàu biển), đánh bắt
và ni trồng thủy hải sản, cơng nghiệp dầu khí, nghề làm muối, du lịch biển
đã và đang ngày càng phát triển với những tiềm năng và đầu tư thiết thực.
1.1.3. Đặc điểm của kinh tế biển
Kinh tế biển là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế ở nước ta
hiện nay. Và có thể khẳng định, chúng ta đã gặt hái được khá nhiều thành quả
trong quá trình phát triển kinh tế biển, cũng như đã có những bước cải thiện
lớn về tư duy, công nghệ và nhân lực của ngành. Tuy nhiên, kinh tế biển luôn
luôn biến động vì nhiều lý do khác nhau, điều này địi hỏi chúng ta phải
không ngừng đổi mới và sáng tạo trong tư duy, đường lối và cách làm. Mà


16

muốn đổi mới, muốn sáng tạo mà không đi sai hướng thì trước hết chúng ta
cần phải nắm rõ những đặc điểm cơ bản của kinh tế biển như sau:
Thứ nhất, kinh tế biển là một bộ phận trong cơ cấu nền kinh tế quốc
dân. Cùng với những lĩnh vực kinh tế khác, kinh tế biển đang ngày càng
khẳng định vị trí và vai trị quan trọng của mình trong nền kinh tế nước ta.
Nếu như khơng có kinh tế biển thì những ngành kinh tế khác cũng sẽ bị suy
yếu và trì trệ, ngược lại, khi kinh tế biển phát triển sẽ kéo theo những ngành
kinh tế khác cùng phát triển. Do đó, chúng ta cần phải xác định được vị trí của
kinh tế biển là một ngành kinh tế độc lập và mạnh mẽ như những ngành khác,
chứ khơng phải chỉ bó hẹp trong phạm vi là một phần phụ trợ cho các lĩnh
vực khác.
Thứ hai, kinh tế biển là một lĩnh vực rộng lớn, bao gồm nhiều ngành
nghề khác nhau. Nếu như trước đây kinh tế biển chỉ bó hẹp trong phạm vị

đánh bắt, vận chuyển, du lịch thì ngày nay kinh tế biển đã mở rộng ra các lĩnh
vực như khai thác tài nguyên dưới đáy biển, năng lượng biển, công nghiệp
xây dựng trên biển, bảo vệ mội trường biển,…
Thứ ba, kinh tế biển phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên. Sự thay
đổi của tự nhiên về thời tiết, khí hậu, thủy triều…sẽ ảnh hưởng tích cực hoặc
tiêu cực một cách rõ rệt tới các hoạt động kinh tế biển, đặc biệt là nghề làm
muối, đánh bắt nuôi trồng thủy hải sản và du lịch biển.
Thứ tư, các hoạt động kinh tế biển ảnh hưởng lớn và trực tiếp tới môi
trường sinh thái. Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
công nghệ, kinh tế biển cũng ngày càng được đầu tư và cải thiện rõ rệt, từ đó
đem lại nguồn thu vô cùng lớn cho quốc gia. Tuy nhiên, đi đơi với những đổi
mới và phát triển đó chính là sự ô nhiễm môi trường sinh thái, ảnh hưởng lớn
đến cuộc sống và sức khỏe của nhân dân, đặc biệt là người dân ven biển.
Như vậy, đặc điểm của kinh tế biển có thể khái quát lại thành bốn điểm
cơ bản như trên. Việc nghiên cứu đặc điểm của kinh tế biển sẽ góp phần giúp


17

các nhà quản lý có những kiến thức nền tảng về lĩnh vực này. Hơn nữa, trong
quá trình tiến hành hoạch định và triển khai các giải pháp phát triển kinh tế
biển chúng ta cũng cần phải xem xét và căn cứ vào các đặc điểm cơ bản để có
hướng đi đúng đắn và chính xác.
1.2. Nội dung, vai trị và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển
1.2.1. Nội dung phát triển kinh tế biển
Việc xác định nội dung phát triển kinh tế biển đóng vai trị đặc biệt
quan trọng khơng thể thiếu trong q trình thúc đẩy các hoạt động kinh tế
biển đạt hiệu quả tối đa. Ở Việt Nam hiện nay, phát triển kinh tế biển bao
gồm những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, nhận diện lợi thế để phát triển các ngành kinh tế biển.

Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm, có đường bờ biển
dài hơn 3260 km từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang), 1
triệu km2 vùng biển kinh tế đặc quyền rộng gấp 3 lần diện tích đất liền, có vị
trí địa chính trị hết sức quan trọng với hơn 3.000 hòn đảo. Cả nước có 28 tỉnh
thành phố trực thuộc trung ương có biển (trong đó có 10 tỉnh và thành phố có
hải đảo, quần đảo) với tổng diện tích 208.560 km2 chiếm 41% diện tích cả
nước và 41,2 triệu dân chiếm gần một nửa dân số Việt Nam. Trong vùng biển
Việt Nam có trên 400 hịn đảo lớn nhỏ, là nơi có thể cung cấp các dịch vụ hậu
cần cơ bản, trung chuyển sản phẩm khai thác, đánh bắt, đồng thời làm nơi neo
đậu cho tàu thuyền trong những chuyến ra khơi; chủng loại sinh vật đa dạng và
phong phú với khoảng 510 lồi cá trong đó có nhiều lồi có giá trị kinh tế cao.
Sự ổn định chính trị - xã hội là nền tảng vững chắc tạo ra môi trường
thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội, công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo
đang chuyển sang giai đoạn phát triển cao theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
Nguồn lao động có kinh nghiệm đánh bắt và ni trồng, giá nhân công
thấp hơn so với khu vực và thế giới.


18

Nhu cầu trên thế giới ngày càng tăng, thị trường ngày càng mở rộng.
Khoa học và công nghệ phát huy có tác dụng thúc đẩy phát triển sản xuất kinh
doanh, có thể tạo ra các bước đột phá mới về giống, nguyên liệu, nhất là trong
việc tạo luận cứ cho việc phát triển bền vững trong nhiều năm tới.
Từ những đặc điểm trên, Việt Nam cần phát triển các ngành nghề kinh
tế biển trên ba phương diện: Một là khai thác vùng không gian biển (mặt biển,
dưới biển và bầu trời trên biển); hai là khai thác vùng bờ biển (vùng duyên hải
với các cảng biển, bãi biển, thành phố biển, khu kinh tế ven biển); ba là phát
triển các lĩnh vực “hậu cần” cho kinh tế biển và các khu vực kết nối (các

ngành phục vụ phát triển kinh tế biển, phát triển khoa học – công nghệ biển,
nguồn nhân lực cho kinh tế biển, kết nối tuyến du lịch đất liền, v.v.).
Ba phương diện này hình thành các khâu liên tục của một chuỗi phát
triển cho bất cứ ngành kinh tế biển cụ thể nào. Thiếu một khâu bất kỳ nào, các
ngành kinh tế biển cũng đều sẽ bị mất cân đối, khó vươn lên thành ngành hiện
đại, hoạt động hiệu quả và có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Thứ hai, xây dựng kế hoạch phát triển các ngành kinh tế biển mà Việt
Nam có lợi thế.
Hội nghị lần thứ 4 ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã thông
qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/2/2007 “Chiến lược biển Việt Nam
đến năm 2020”, trong đó đã phấn đấu đến năm 2020 “kinh tế trên biển và ven
biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước; xây dựng một số
thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đồn kinh tế
mạnh, sẽ xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển”.
Dựa trên những lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế - chính trị - xã hội
nêu trên, đồng thời, cũng dựa trên tinh thần của Nghị quyết số 09, Việt Nam
cần phải xây dựng một kế hoạch phát triển lâu dài, trong đó, trọng tâm chính
là chun mơn hóa phátịa
phương; sản phẩm du lịch cịn ít, chưa phát huy được ưu thế về giá trị của tài
nguyên, văn hố du lịch cịn nhiều hạn chế.
Chất lượng nguồn nhân lực du lịch vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi
về tính chuyên nghiệp, kỹ năng quản lý, giao tiếp và chất lượng phục vụ. Đội
ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp với nhiều loại hình du lịch và ứng với các
ngôn ngữ thuộc thị trường mục tiêu vẫn chưa sẵn sàng đầy đủ. Đồng thời,
công tác quản lý và thực hiện quy hoạch du lịch còn nhiều bất cập, hiệu quả
chưa được như mong muốn. Hoạt động xúc tiến du lịch nói chung và tuyên
truyền quảng bá nói riêng chưa được quan tâm đúng mức.
Bên cạnh đó, sự phát triển của du lịch biển sẽ dẫn đến tình trạng mơi
trường nước, khơng khí, đất bị ơ nhiễm và xâm hại nghiêm trọng nếu không



80

được xử lý chặt chẽ, như là: vứt rác, đổ nước thải bừa bãi vào các nguồn
nước, đất bờ bị sụt lở, cũng như thải ra một lượng xăng dầu nhất định trong
quá trình vận hành các thiết bị xây dựng,…
Thứ ba, đối với nghề làm muối
Nghề muối là một trong những nghề truyền thống có từ lâu đời của tỉnh
Thanh Hóa nói chung, huyện Hậu Lộc nói riêng, song, hiện nay các diêm dân
đang đứng trước nguy cơ phải bỏ nghề bởi kết quả thu được không tương
xứng với cơng sức bỏ ra. Những người làm nghề muối có mức thu nhập thấp
hơn nhiều so với các ngành nghề khác, hơn nữa, lại tồn tại nghịch lý “được
mùa mất giá, được giá mất mùa”, do đó, hàng năm, Hậu Lộc đều diễn ra tình
trạng diêm dân bỏ nghề, bỏ quê đi làm ăn xa. Hiện nay, những người còn duy
trì nghề làm muối phần lớn đều là người già và phụ nữ, còn các thanh niên
trai tráng và đàn ông khỏe mạnh đều đi xa làm ăn để nâng cao thu nhập cho
gia đình.
Do đặc thù nghề muối lệ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên nên các
diêm dân vẫn bị động trong việc phòng chống thiên tai và khắc phục hậu quả.
Khi thời tiết biến đổi thất thường, mưa nhiều thì hầu như những người làm
muối đều chấp nhận sản lượng muối bị giảm trầm trọng. Hơn nữa, cơ sở vật
chất và kỹ thuật làm muối còn lạc hậu, chưa áp dụng công nghệ làm muối
sạch vào sản xuất, do đó, chất lượng muối kém, dẫn đến giá thành thấp và
thường xuyên bị ép giá. Ngoài ra, số lượng cơng ty thu mua muối ít, khơng
đáp ứng đủ yêu cầu đầu ra cho ngành muối, vì vậy, phần lớn diêm dân vẫn
phải đem muối đi bán lẻ vừa vất vả vừa bán được ít.
2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế
Nhìn chung, các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa hiện nay, đặc biệt là
Hậu Lộc, Hoằng Hóa và Quảng Xương giai đoạn 2011 – 2014 đã đạt được



×