BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN THỊ THU HÀ
XÂY DỰNG CÁN BỘ NỮ TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ
CHỐT CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP PHƢỜNG Ở
QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN THỊ THU HÀ
XÂY DỰNG CÁN BỘ NỮ TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ
CHỐT CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP PHƢỜNG Ở
QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
Ngành : Chính trị học
Mã số : 60310201
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CHÍNH TRỊ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Võ Thị Hoa
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Những kết
quả khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ
cơng trình nào.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Thu Hà
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CÁN BỘ NỮ
TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
CẤP PHƢỜNG .................................................................................................. 9
1.1. Một số vấn đề lý luận về hệ thống chính trị cấp phƣờng......................................... 9
1.2. Một số vấn đề về cán bộ nữ trong đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống
chính trị cấp phƣờng. ....................................................................................... 16
1.3. Mục tiêu, nội dung xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ cán bộ chủ chốt của
hệ thống chính trị cấp phƣờng ......................................................................... 25
CHƢƠNG 2: XÂY DỰNG CÁN BỘ NỮ TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ
CHỐT CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP PHƢỜNG TẠI QUẬN THANH
XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI – THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
ĐẶT RA ........................................................................................................... 36
2.1. Những nhân tố tác động đến việc xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ cán bộ chủ
chốt của hệ thống chính trị cấp phƣờng tại quận Thanh Xuân............................ 36
2.2. Thực trạng xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp phƣờng
tại quận Thanh Xuân ........................................................................................ 40
2.3. Những vấn đề đặt ra ...................................................................................... 63
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM XÂY DỰNG
CÁN BỘ NỮ TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CỦA HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ CẤP PHƢỜNG TẠI QUẬN THANH XUÂN ........................... 70
3.1. Một số giải pháp nhằm xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ cán bộ chủ chốt
của hệ thống chính trị cấp phƣờng tại Quận Thanh Xuân ............................... 70
3.2. Kiến nghị ....................................................................................................... 97
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................... 103
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 109
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ANCT
An ninh chính trị
CBCC
Cán bộ chủ chốt
CBNCC
Cán bộ nữ chủ chốt
CNH, HĐH
Công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa
CBĐV
Cán bộ đảng viên
HĐND
Hô ̣i đồ ng nhân dân
HTCT
Hệ thống chính trị
TTATXH
Trật tự an tồn xã hội
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc, từ cuộc đấu tranh kiên cƣờng bất
khuất của Bà Trƣng, Bà Triệu đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ, phụ nữ Việt Nam đã không ngại gian khổ, không tiếc máu xƣơng, sẵn
sàng cống hiến cuộc đời mình cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Không chỉ
chiến đấu anh hùng, phụ nữ Việt Nam đã và đang lao động cần cù, vƣợt mọi
gian khó, vƣơn lên thốt cảnh đói nghèo, lạc hậu, góp phần xây dựng đất
nƣớc ngày càng giàu đẹp, vững mạnh. Ngày nay, các tầng lớp phụ nữ càng
thể hiện vai trị quan trọng của mình trong cơng cuộc xây dựng đất nƣớc, tích
cực tham gia trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực
chính trị.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn quan tâm lãnh đạo
công tác phụ nữ, chăm lo tới lực lƣợng phụ nữ và phát triển đội ngũ cán bộ nữ
thông qua việc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, luật pháp, chính sách liên
quan tới cơng tác phụ nữ và công tác cán bộ nữ. Nghị quyết Trung ƣơng 5,
khóa IX của Đảng về đổi mới và nâng cao chất lƣợng HTCT ở cơ sở xã, phƣờng,
thị trấn, nhấn mạnh: “Xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận
động nhân dân thực hiện đƣờng lối của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc, công tâm,
thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức
hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo cơng tác đào tạo, bồi dƣỡng, giải quyết hợp lý
và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở”. Đặc biệt Nghị quyết số 11NQ/TW ngày 27/4/2007 tiếp tục nhấn mạnh: "Xây dựng, phát triển vững chắc
đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách
quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng" và
nhiệm vụ "xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ lãnh
đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện
đại hóa".
2
Quán triệt các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, trong
những năm qua, các cấp uỷ đảng ở Quận Thanh Xuân đã quan tâm và tập
trung chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ nữ chủ chốt trong hệ thống chính trị
cấp phƣờng. Tuy nhiên, một số cấp uỷ, chính quyền, cán bộ, đảng viên cịn
nhận thức hạn chế về cơng tác cán bộ nữ, cịn có biểu hiện của tƣ tƣởng
phân biệt giới nên chƣa tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ vƣơn lên và
trƣởng thành; công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ theo lộ trình chƣa chủ
động nên ở nhiều nơi đã xảy ra tình trạng thiếu nguồn cán bộ nữ kế cận khi
có sự thay đổi. Chế độ chính sách, bồi dƣỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ chủ
chốt là nữ chƣa thoả đáng. Công tác kiểm tra giám sát, đôn đốc thực hiện
về công tác cán bộ nữ chƣa thƣờng xuyên, nghiêm túc. Bên cạnh đó, một
số bộ phận cán bộ nữ cịn có tƣ tƣởng tự ti, chƣa mạnh dạn và tích cực
phấn đấu vƣơn lên khẳng định bản thân. Những hạn chế trên đang làm ảnh
hƣớng đến chất lƣợng xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ cán bộ chủ chốt
của hệ thống chính trị cấp phƣờng ở Quận Thanh Xuân hiện nay.
Để đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới, đẩy nhanh cơng nghiệp hố, hiện
đại hố (CNH, HĐH) đất nƣớc, khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên,
đòi hỏi các cấp uỷ đảng trên địa bàn Quận Thanh Xuân phải xây dựng đội ngũ
cán bộ nữ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp phƣờng có chất lƣợng, đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Là nữ cán bộ chủ chốt đang công tác trong
hệ thống chính trị cấp phƣờng tại Quận Thanh Xuân, tác giả nhận thấy đây là
vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, cần đƣợc nghiên cứu một cách sâu
sắc, tìm giải pháp khả thi nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ nữ chủ chốt xứng
đáng với vai trị “là nhân tố quyết định mọi thành cơng của cách mạng”. Vì
vậy, tác giả chọn đề tài “Xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ cán bộ chủ chốt
của hệ thống chính trị cấp phường ở Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu
Đây là vấn đề thu hút đƣợc sự quan tâm, nghiên cứu của khá nhiều nhà
3
khoa và các nhà quản lý ở Việt Nam.
2.1. Các cơng trình nghiên cứu về cán bộ chủ chốt
Phạm Cơng Khâm (2002), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long hiện nay, Luận án Tiến sĩ khoa
học chính trị. Qua phân tích thực trạng, luận án đã chỉ ra rằng đội ngũ cán bộ
và công tác cán bộ cấp xã vùng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long đều
xuất thân từ nơng dân và trình độ, năng lực, phẩm chất của cán bộ chủ chốt
còn hạn chế. Luận án cũng đã đƣa ra các giải pháp về việc nâng cao chất
lƣợng đào tạo, bồi dƣỡng, hồn thiện chế độ chính sách, xác định rõ tiêu
chuẩn của cán bộ chủ chốt cấp xã.
Nguyễn Huy Châu (2003), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ
thống chính trị cấp xã ở tỉnh Gia Lai trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc
sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Tác
giả đã nêu và phân tích các quan niệm, quan điểm về ĐNCBCC và xây dựng
ĐNCBCC của HTCT cấp xã; phân tích những yếu tố tác động đến xây dựng
ĐNCBCC của HTCT cấp xã ở tỉnh Gia Lai. Qua khảo sát đã đánh giá thực
trạng ĐNCBCC và thực trạng xây dựng ĐNCBCC của HTCT cấp xã ở tỉnh
Gia Lai. Từ đó, chỉ ra những nguyên nhân của ƣu điểm và hạn chế và một số
kinh nghiệm xây dựng ĐNCBCC của HTCT cấp xã ở Gia Lai. Tuy nhiên, với
phạm vi khảo sát tại một tỉnh và những giải pháp do luận văn đề xuất đều
mang tính đặc thù của địa phƣơng.
Trần Trung Trực (2005), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ
thống chính trị cấp xã ở huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh giai
đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng
Đảng Cộng sản Việt Nam. Luận văn đã luận giải những vấn đề lý luận và thực
tiễn về xây dựng ĐNCBCC của HTCT cấp xã. Tiến hành đánh giá thực trạng
ĐNCBCC và thực trạng xây dựng ĐNCBCC của HTCT cấp xã ở huyện Bình
Chánh, chỉ ra nguyên nhân của ƣu điểm, của hạn chế và một số kinh nghiệm
xây dựng ĐNCBCC của HTCT cấp xã của huyện. Từ đó đƣa ra những dự báo
4
và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng ĐNCBCC của HTCT cấp
xã của huyện, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới. Tuy nhiên, với
phạm vi khảo sát tại một huyện và những giải pháp do luận văn đề xuất đều
mang tính đặc thù của địa phƣơng.
Mai Đức Ngọc (2007), Vai trò cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong
việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nơng thơn nước ta hiện nay, Luận
án tiến sĩ chính trị học. Luận án đã chỉ ra đƣợc những phẩm chất và năng lực
của cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Vai trò của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã
trong việc giữ vững ổn định chính trị- xã hội ở nơng thơn. Tác giả đã đƣa ra 6
giải pháp nhằm nâng cao vai trò cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong việc
giữ vững ổn định chính trị xã hội. Tuy nhiên, xuất phát từ mục tiêu, phạm vi
nghiên cứu nên tác giả chƣa phân tích vai trị của cả đội ngũ cán bộ chủ chốt ở
cấp xã nói chung, chƣa đi sâu nghiên cứu, làm rõ vai trò của đội ngũ cán bộ
lãnh đạo chủ chốt là nữ của hệ thống chính trị cấp xã.
2.2. Các cơng trình nghiên cứu về cán bộ nữ và cán bộ nữ chủ chốt
Lê Thi (1998), “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam”,
Nxb Phụ nữ, Hà Nội. Đây là một trong những cơng trình nghiên cứu đã chỉ
rõ thực trạng đời sống lao động nữ trong giai đoạn đổi mới đất nƣớc, những
vấn đề cần quan tâm giải quyết để thực hiện bình đẳng giới.
Nguyễn Thị Kỳ (2003), Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác cán
bộ nữ từ năm 1986 đến 2001. Luận văn thạc sĩ. Luận văn nghiên cứu rất sâu
về vai trò của Đảng và nhà nƣớc trong việc nâng cao tỷ lệ nữ lãnh đạo trong
hệ thống chính trị. Luận văn cũng nhấn mạnh tính hiệu quả của chỉ thị 37CT/TW của Đảng cộng sản Việt Nam trong việc phát huy vai trò của phụ nữ
trong hệ thống chính trị. Tuy nhiên cơng trình chƣa đi sâu phân tích các
nguyên nhân thuộc về khung chính sách và các kiến nghị cần thiết nhằm cải
thiện vị trí chính trị của phụ nữ trong nắm quyền lực.
Hà Thị Khiết (2006), Cơng tác nữ trong tình hình mới, tạp chí cộng
sản. Tác giả đã phân tích ƣu điểm và hạn chế của công tác cán bộ nữ và chỉ
5
ra nguyên nhân cơ bản nhất thuộc về nhận thức và biện pháp tổ chức thực
hiện. Tác giả đã đƣa ra 6 giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng công tác cán
bộ. Tuy nhiên trong phạm vi của bài nghiên cứu, tác giả chƣa đi sâu luận
bàn về những giải pháp đặc thù trong xây dựng đội ngũ CBNCC của HTCT
ở các phƣờng.
Nguyễn Đức Hạt (2007), Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ
trong hệ thống chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách làm
sáng tỏ những vấn đề nâng cao vị trí, vai trị, năng l ực lãnh đạo của cán bộ
nữ, tăng cƣờng sự tham gia lãnh đạo, quản lý của họ trong bộ máy của
Đảng, Nhà nƣớc và các tổ chức đoàn thể ở nƣớc ta trong tình hình mới.
Nich Khăm (2013), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Hội Liên hiệp
phụ nữ ở Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới, Luận án
tiến sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng. Luận án đã đƣa ra đƣợc một số quan
điểm của chủ nghĩa Mác- Lê Nin về cán bộ nữ và công tác cán bộ nữ. Một số
kinh nghiệm, giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Hội liên hiệp
phụ nữ ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Tuy nhiên tác giả chƣa tập trung
luận bàn và làm rõ những khái niệm chủ yếu của luận án, nhất là khái niệm
“Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt Hội Liên hiệp phụ nữ ở Cộng
hoà dân chủ nhân dân Lào” và chƣa chỉ ra nội hàm của khái niệm này.
Nguyễn Thị Giáng Thƣơng (2013), Vấn đề phát triển nguồn nhân lực
nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện
chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. Tác giả đã làm sáng tỏ hơn
về vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lƣợng cao ở Việt Nam dƣới góc
độ triết học trên cơ sở đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm công bằng của 2
giới. Luận án cũng đƣa ra những quan điểm khẳng định vai trò của nguồn
nhân lực nữ chất lƣợng cao vào sự phát triển của đất nƣớc, từ đó đề ra
những giải pháp thiết thực nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực nữ
chất lƣợng cao ở Việt Nam hiện nay.
Trịnh Thị Thanh Tâm (2013), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt là nữ
6
của hệ thống chính trị các xã ở Đồng bằng sông hồng giai đoạn hiện nay,
Luận án Tiến sĩ xây dựng đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh. Tác giả đã làm sáng rõ về vai trò và đặc điểm đội ngũ cán bộ chủ
chốt là nữ ở Đồng bằng sông Hồng. Tác giả đã đi nghiên cứu sâu về thực
trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt là nữ của hệ thống chính trị xã ở Đồng
bằng sơng Hồng, từ đó đề xuất 06 giải pháp lớn để nâng cao chất lƣợng
đội ngũ cán bộ chủ chốt là nữ của hệ thống chính trị cấp xã ở Đồng bằng
sơng Hồng.
Ngồi ra cịn có các bài viết, bài báo, luận văn, luận án đề cập đến
vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, vai trò của cán bộ nữ và cán bộ
nữ chủ chốt trong sự nghiệp phát triển đất nƣớc. Những kết quả đó có giá
trị tham khảo tốt để thực hiện đề tài luận văn. Tuy nhiên đến nay vẫn
chƣa có cơng trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ về cán bộ
nữ trong đội ngũ cán bộ chủ chốt ở quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ
cán bộ chủ chốt, luận văn phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm
xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ CBCC của HTCT cấp phƣờng tại Quận
Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ cán
bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp phƣờng.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ cán bộ
chủ chốt của hệ thống chính trị cấp phƣờng tại Quận Thanh Xuân, thành phố
Hà Nội hiện nay.
7
- Đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ cán
bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp phƣờng tại Quận Thanh Xuân, thành
phố Hà Nội hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống
chính trị cấp phƣờng tại Quận Thanh Xuân
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu cán bộ nữ trong đội ngũ cán bộ chủ chốt
của 11 phƣờng trên địa bàn Quận Thanh Xuân, tập trung vào các chức danh:
Bí thƣ Đảng ủy phƣờng; Phó Bí thƣ thƣờng trực Đảng uỷ; Chủ tịch HĐND
phƣờng; phó Chủ tịch HĐND phƣờng, Chủ tịch UBND phƣờng; Phó chủ tịch
UBND phƣờng, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Chủ
tịch Hội liên hiệp phụ nữ, Bí thƣ Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, chủ
tịch Hội Nơng dân. Khảo sát đánh giá thực trạng từ năm 2010 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn đƣợc nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đƣờng lối của Đảng ta về cán bộ, công tác
cán bộ và cán bộ nữ.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phƣơng pháp luận duy vật biên chứng, duy vật lịch sử
và các phƣơng pháp nhƣ: Lơgíc - lịch sử; phân tích - tổng hợp, phƣơng pháp
điều tra xã hội học, phƣơng pháp phỏng vấn, đối chiếu so sánh, xử lý số liệu
thống kê để giải quyết vấn đề đặt ra.
6. Đóng góp của luận văn
- Đề tài góp phần làm rõ lý luận về xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ cán
bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp phƣờng.
8
- Kết quả nghiên cứu giúp cung cấp thông tin cần thiết cho Quận uỷ Thanh
Xuân cấp ủy các phƣờng tại Quận Thanh Xuân trong xây dựng các nghị
quyết, chƣơng trình, đề án, chính sách về cơng tác cán bộ nữ chủ chốt của hệ
thống chính trị cấp phƣờng trong thời gian tới.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảng
dạy ngành Chính trị học.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
Luận văn gồm 3 chƣơng, 8 tiết.
9
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CÁN BỘ NỮ
TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CỦA HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ CẤP PHƢỜNG
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP
PHƢỜNG
1.1.1. Khái niệm và vai trị hệ thống chính trị cấp phƣờng
1.1.1.1. Khái niệm hệ thống chính trị cấp phường
- Khái niệm hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự xuất hiện của giai cấp, nhà
nƣớc nhằm thực hiện đƣờng lối chính trị của giai cấp, đảng phái cầm quyền,
do đó nó mang bản chất, lý tƣởng chính trị và phản ánh lợi ích của giai cấp
cầm quyền. Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thƣợng tầng xã hội,
bao gồm các thiết chế và thể chế có quan hệ với nhau về mặt mục tiêu, chức
năng trong việc thực hiện quyền lực chính trị. Liên quan đến vấn đề này có
nhiều quan niệm khác nhau:
- Hệ thống chính trị là tổng thể các tổ chức chính trị của xã hội đƣợc chính
thức thừa nhận về mặt pháp lý nhằm thực hiện quyền lực chính trị của xã hội đó.
Hệ thống này bao gồm Nhà nƣớc, các Chính đảng, các Nghiệp đồn và các tổ
chức chính trị khác - trong đó Nhà nƣớc là yếu tố cơ bản, trung tâm.
- Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thơng qua đó giai cấp
thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội.
- Hệ thống chính trị là một cơ cấu, tổ chức bao gồm đảng phái chính trị,
nhà nƣớc, các tổ chức chính trị - xã hội tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ
pháp luật hiện hành (hệ thống pháp luật đó đƣợc chế định theo tƣ tƣởng và lợi
ích giai cấp cầm quyền) nhằm duy trì, bảo vệ, và phát triển xã hội đó…
- Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thơng qua đó giai cấp
thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội. Hệ thống chính trị là một
10
cơ cấu, tổ chức bao gồm đảng phái chính trị, nhà nƣớc, các tổ chức chính trị xã hội tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành (hệ thống
pháp luật đó đƣợc chế định theo tƣ tƣởng và lợi ích giai cấp cầm quyền) nhằm
duy trì, bảo vệ, và phát triển xã hội đó.
- Hê ̣ thố ng chính tri ̣là mô ̣t chỉnh thể các tổ chƣ́c chính tri ̣trong xã hô ̣i
bao gồ m nhà nƣớc , các đảng c hính trị, các đồn thể nhân dân và các tổ chức
chính trị - xã hội hợp pháp đƣợc liên kết với nhau nhằm tác động vào mọi mặt
của đời sống xã hội để củng cố, duy trì và phát triể n chế đô ̣ xã hô ̣i đƣơng thời
phù hợp với lơ ̣i ić h của chủ thể cầ m quyề n.
- Hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm
các tổ chức nhƣ đảng chính trị, nhà nƣớc, các tổ chức chính trị - xã hội (hợp
pháp); với những quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó trong việc
tham gia vào các q trình hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị
nhằm bảo đảm quyền thống trị của giai cấp, lực lƣợng cầm quyền, đồng thời
đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội.
- Viện Chính trị học, Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh cho rằng: Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chính thể các thể chế
chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nƣớc, các đảng chính trị, các tổ chức và
phong trào xã hội…) đƣợc xây dựng trên các quyền và các chuẩn mực xã hội,
phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên
tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị [42, tr.73].
Nhƣ vậy, có thể hiểu HTCT theo 2 nghĩa:
Theo nghĩa rộng, khái niệm “hệ thống chính trị” đƣợc sử dụng để chỉ tồn
bộ lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội với tƣ cách là một hệ thống hoàn
chỉnh bao gồm các tổ chức, các chủ thể chính trị, các quan điểm, quan hệ
chính trị, hệ tƣ tƣởng và các chuẩn mực chính trị.
Theo nghĩa hẹp, khái niệm “hệ thống chính trị” đƣợc sử dụng để chỉ hệ
thống các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động mang tính
chính trị trong xã hội gồm nhân dân, các tổ chức chính trị, các cơ quan nhà
11
nƣớc, các tổ chức chính trị - xã hội có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với
quyền lực chính trị. Trong đó, nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị và
là nền tảng của hệ thống chính trị.
Hệ thống chính trị đƣợc cấu thành từ nhiều bộ phận chức năng khác
nhau. Nhìn chung cấu trúc của hệ thống chính trị gồm 03 nhân tố cơ bản:
Đảng chính trị, nhà nƣớc và các tổ chức chính trị- xã hội, có các cấp độ và các
quan hệ về cấp độ theo hai chiều vận động từ dƣới lên và từ trên xuống. Giữa
các tổ chức lại hình thành quan hệ tác động lẫn nhau trong hệ thống và từng
cấp độ.
Ở Việt Nam, khái niệm “hệ thống chính trị” lần đầu tiên đƣợc Đảng ta
sử dụng trong Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ƣơng
khoá VI (tháng 3-1989) thay cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vơ sản”.
Hệ thống chính trị đó bao gồm ba nhân tố cơ bản: Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức chính trị- xã hội (Tổng Liên đồn Lao động Việt Nam, Hội
Nơng dân Việt Nam, Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam và Hội Cựu chiến binh Việt Nam) [67,tr.17]. Các bộ phận
này đƣợc kết nối với nhau theo những quan hệ, những cơ chế và nguyên tắc
vận hành nhất định trong một môi trƣờng văn hố chính trị đặc thù.
+ Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận và là hạt nhân chính trị của
HTCT, lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống này và lãnh đạo toàn xã hội. Điều
này đã đƣợc Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên CNXH
(Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng lãnh đạo hệ thống chính
trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy” [26, tr.89].
+ Nhà nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nƣớc pháp quyền của dân,
do dân, vì dân, là cơng cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
Nhà nƣớc quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, cơng
chức, cơng dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Trong HTCT,
Đảng lãnh đạo Nhà nƣớc thơng qua Cƣơng lĩnh, đƣờng lối, chính sách của
12
Đảng. Nhà nƣớc thông qua đƣờng lối, chiến lƣợc, sách lƣợc của đảng để xây
dựng Hiến pháp, pháp luật, hoạch định chiến lƣợc phát triển kinh tế, văn hoá,
xã hội... để tổ chức thực hiện trong toàn xã hội.
+ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội
Nơng dân Việt Nam, Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp
phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị - xã
hội, là thành viên của HTCT nƣớc ta, đồng thời là cơ sở chính trị của HTCT.
Các tổ chức này vừa là thành viên của HTCT vừa là thành viên của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam.
- Khái niệm HTCT cấp phường
Hệ thống chính trị đƣợc chia làm 4 cấp: cấp Trung ƣơng, cấp thành phố,
cấp Quận/huyện, cấp xã/ phƣờng/thị trấn…Phƣờng là cấp thấp nhất. Nhƣ Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Cấp phƣờng là cấp gần gũi dân nhất, là nền
tảng của hành chính. Cấp phƣờng làm đƣợc việc thì mọi cơng việc đều xong
xi" [30, tr. 371]. Hiến pháp năm 1992 của nƣớc ta cũng xác định rõ: "Nước
chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tỉnh chia thành huyện,
thành phố trực thuộc tỉnh và thị xã; huyện chia thành xã, phường, thị trấn;
thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã chia thành xã và phường; quận chia thành
phường". Nhƣ vậy, phƣờng là đơn vị hành chính cuối cùng trong hệ thống
hành chính bốn cấp ở nƣớc ta. Phƣờng là hình ảnh của một xã hội thu nhỏ,
nơi tổ chức thực hiện mọi đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nƣớc và biến nghị quyết thành hiện thực sinh động.
Chính vì vậy có thể khái qt: Hệ thống chính trị cấp phƣờng là đơn vị
hành chính cuối cùng trong hệ thống hành chính bốn cấp, bao gồm tồn bộ
các thiết chế hợp pháp có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau đƣợc tạo nên
bởi Đảng bộ phƣờng; chính quyền phƣờng (gồm HĐND, UBND phƣờng);
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phƣờng (gồm Hội Nơng dân Việt
Nam, Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt
Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam), đƣợc tổ chức và hoạt động theo những
13
nguyên tắc nhất định, thể hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nƣớc
và quyền làm chủ của nhân dân.
Hệ thống chính trị cấp phƣờng có đặc điểm sau:
- Là cấp thấp nhất trong HTCT ở Việt Nam và có bộ máy đơn giản nhất
- Là cấp gần dân nhất và các cán bộ chủ chốt hoàn toàn phụ thuộc vào lá
phiếu của dân trong các kỳ bầu cử.
- Là cấp mà chi phí nhà nƣớc tính trên đầu ngƣời thấp nhất.
- Là cấp mà hiệu quả hoạt động của cả hệ thống phụ thuộc lớn nhất vào
cá nhân ngƣời lãnh đạo.
- Là cấp mà quan hệ dịng họ, văn hố ứng xử truyền thống có ảnh hƣởng
đáng kể tới hiệu quả của hệ thống chính trị.
1.1.1.2. Vai trị của hệ thống chính trị cấp phường
HTCT cấp phƣờng có vai trị và trách nhiệm rất to lớn trong lãnh đạo,
tuyên truyền, giáo dục, vận động các tầng lớp nhân dân và tổ chức thực hiện
đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc, các chỉ
thị, nghị quyết của cấp trên và nhiệm vụ chính trị của phƣờng. Đó là nhân tố
quyết định sự phát triển mọi mặt trên địa bàn phƣờng theo đúng đƣờng lối,
quan điểm của Đảng.
Thứ nhất: Các tổ chức trong hệ thống chính trị góp phần thực hiện mọi
nhiệm vụ phát triển địa phương và phát huy dân chủ của nhân dân
Đảng bộ phường: là một thành viên của HTCT ở phƣờng và là hạt nhân
chính trị lãnh đạo HTCT phƣờng. Sự lãnh đạo của Đảng bộ phƣờng là lãnh đạo
chính trị, tức là Đảng bộ đề ra các chủ trƣơng, nghị quyết, giải pháp định hƣớng
chính trị cho các hoạt động của các tổ chức trong HTCT, các tổ chức kinh tế, xã
hội, các lĩnh vực khác của đời sống xã hội trên địa bàn phƣờng. Đảng bộ phƣờng
lãnh đạo xây dựng chính quyền, Mặt trận tổ quốc, các đồn thể cơ sở vững
mạnh; thơng qua chính quyền, đồn thể, Đảng bộ phƣờng lãnh đạo phát triển
kinh tế, văn hố, xã hội, quốc phịng, an ninh… góp phần nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần cho nhân dân. Đồng thời, qua thực tiễn ở cơ sở, Đảng ủy phƣờng
14
có thể tham mƣu cho cấp ủy cấp trên quyết định những vấn đề quan trọng trên
địa bàn của Quận về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng và
những vấn đề dân tộc, tôn giáo... Đảng bộ phƣờng thƣờng xuyên kiểm tra, giám
sát hoạt động của các chi bộ đảng trực thuộc, của cán bộ, đảng viên trong việc
thực hiện Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc…
Chính quyền phường: gồm HĐND và UBND phƣờng; HĐND phƣờng
là cơ quan quyền lực ở cơ sở, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân
trong phƣờng, quyết định những vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội theo
phân cấp. Trên cơ sở nghị quyết của Đại hội Đảng bộ phƣờng, Nghị quyết của
Đảng uỷ phƣờng, HĐND xây dựng Nghị quyết, cụ thể hoá các Nghị quyết
của đại hội và của đảng uỷ để tổ chức thực hiện. UBND phƣờng chịu trách
nhiệm tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND phƣờng. Vai trị của chính
quyền phƣờng đƣợc thể hiện rõ trong quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết
của Đại hội Đảng bộ và của Đảng uỷ phƣờng. Thơng qua chính quyền
phƣờng, các nghị quyết đó đƣợc tồn dân trên địa bàn phƣờng thực hiện.
Mặt trận tổ quốc phường và các tổ chức chính trị - xã hội trong HTCT
ở phường: có vai trị là cầu nối giữa Đảng, chính quyền với nhân dân, thay
mặt cho các tầng lớp nhân dân trên địa bàn phản ánh ý chí, nguyện vọng của
nhân dân đối với Đảng, Nhà nƣớc và nhiệm vụ chính trị của địa phƣơng.
Đồng thời thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt
động của các tổ chức đảng, chính quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công
chức của phƣờng.
Nhƣ vậy, HTCT cấp phƣờng có vai trị to lớn đối với mọi hoạt động
trên địa bàn, đảm bảo cho các hoạt động của các tổ chức, các lĩnh vực đời
sống xã hội theo đúng đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật
của nhà nƣớc; đảm bảo cho nghị quyết của cấp uỷ cơ sở, chỉ thị, nghị quyết
của cấp trên đƣợc thực hiện. Cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nƣớc quản lý, nhân
dân lao động làm chủ đƣợc thực hiện ở các đã tạo thành sức mạnh tổng hợp
quyết định sự phát triển mọi mặt của phƣờng.
15
Thứ hai: HTCT cấp phường có vai trị quan trọng trong việc tổ chức và
vận động nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của đảng, pháp luật của
nhà nước
Phƣờng là nơi tiếp nhận và trực tiếp thực hiện phần rất lớn các chủ
trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nƣớc về phát triển
kinh tế, văn hố - xã hội, an ninh - quốc phịng. Phƣờng cũng là nơi kiểm
nghiệm thực tế sự đúng đắn của các chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của nhà nƣớc để sửa đổi, bổ sung cho hoàn chỉnh hơn. HTCT
cấp phƣờng đảm bảo cho hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của HTCT cấp trên
đƣợc thơng suốt, có hiệu quả và đến đƣợc đông đảo nhân dân trên địa bàn
phƣờng, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi mọi chủ trƣơng,
đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc trên địa bàn Quận, Thành phố.
Thứ ba: Hệ thống chính trị cấp phường có vai trị quan trọng trong việc
tăng cường sự đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giữ
vững và đảm bảo sự ổn định chính trị - xã hội
Khẳng định vị trí, vai trị của HTCT cấp phƣờng, Nghị quyết Trung
ƣơng 5 khoá IX về đổi mới và nâng cao chất lƣợng HTCT ở cơ sở xã,
phƣờng, thị trấn viết:
Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trị rất quan trọng trong việc tổ chức
và vận động nhân dân thực hiện đƣờng lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nƣớc, tăng cƣờng đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc
sống của cộng đồng dân cƣ [51, tr.166].
Cấp phƣờng là cấp cuối cùng trong quản lý xét theo cấp độ của hệ
thống chính trị, nhƣng nó là cấp đầu tiên và trực tiếp nhất, là nền tảng xây
dựng chế độ dân chủ của tồn bộ hệ thống chính trị nƣớc ta. Vì là cơ sở nên
cấp phƣờng là nơi diễn ra mọi hoạt động và cuộc sống của nhân dân, nơi thể
hiện ý chí nguyện vọng của nhân nhân, góp phần phát huy quyền làm chủ của
nhân dân. Thông qua việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở đã tạo điều kiện
16
cho các tầng lớp nhân dân đóng góp ý kiến và đề xuất nguyện vọng, từ đó làm
cho tổ chức Đảng và đảng viên nâng cao tinh thần trách nhiệm trƣớc nhân dân.
Hàng năm, cấp ủy, HĐND, UBND các phƣờng đều thơng báo cơng khai cho
tồn thể nhân dân biết, nắm đƣợc những kết quả đạt đƣợc trong quá trình phát
triển KT-XH, những hạn chế, định hƣớng, mục tiêu tiếp theo. Đồng thời không
ngừng mở rộng phạm vi các nội dung để nhân dân đƣợc bàn, tham gia kiểm tra,
giám sát nhƣ mức độ đóng góp xây dựng các cơng trình phúc lợi, thảo luận quy
ƣớc ở Khu dân phố, xây dựng đời sống văn hoá ở Khu dân cƣ, giữ gìn ANTT,
cải tạo xây dựng đƣờng; bình xét Khu dân cƣ, tổ dân phố văn hoá; xây dựng và
cải tạo nhà hội họp, phòng chống tệ nạn xã hội. Đồng thời tích cực tham gia
cơng tác kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền, việc triển khai thực hiện
các nghị quyết HĐND, quyết định của UBND, về phẩm chất, năng lực CBĐV;
các vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơng dân; việc quyết tốn ngân sách
địa phƣơng; chất lƣợng các cơng trình xây dựng cơ bản, cơng trình phúc lợi xã
hội; việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đất, quyền sở hữu đất ở; thu, chi các
loại quỹ, lệ phí... giám sát các cơng trình xây dựng nhà hội họp, nhà văn hoá;
làm đƣờng giao thơng, sửa chữa nâng cấp cống rãnh thốt nƣớc, giám sát triển
khai thực hiện các dự án phục vụ sản xuất, đời sống dân sinh...góp phần giữ
vững và đảm bảo sự ổn định chính trị - xã hội của phƣờng.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÁN BỘ NỮ TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CHỦ CHỐT CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP PHƢỜNG
1.2.1. Khái niệm cán bộ, cán bộ chủ chốt, cán bộ nữ trong đội ngũ cán bộ
chủ chốt
1.2.1.1. Khái niệm cán bộ:
Theo cách quan niệm thông thƣờng Cán bộ là những ngƣời thốt khỏi sản
xuất nơng nghiệp, cơng nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp… để làm trong bộ
máy chính quyền, đảng, đoàn thể; Là những ngƣời sĩ quan trong quân đội và
công an nhân dân; là những ngƣời giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các
cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế …
17
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
“Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, chính phủ giải thích cho dân
chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho
Đảng, chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng [38, tr.31]
Trong cuốn “Đại từ tiếng việt” do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên thì “Cán bộ,
người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước. Người giữ giữ
chức vụ, phân biệt với người bình thường, khơng giữ chức vụ trong các cơ
quan, tổ chức, nhà nước” [55, tr.249].
Theo Điều 1 của Pháp lệnh Công chức do Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội
ban hành ngày 13/11/2008 “Cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê
chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng,
ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng, ở huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc”
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu “cán bộ” là khái niệm dùng để
chỉ những ngƣời ở trong cơ cấu của một tổ chức nhất định, có trọng trách
hồn thành nhiệm vụ theo chức năng đƣợc tổ chức đó phân cơng.
Nhƣ vậy, có nhiều quan niệm về cán bộ, nhƣng tựu trung lại có 2 cách
hiểu cơ bản:
Một là: cán bộ bao gồm những ngƣời trong biên chế nhà nƣớc, làm việc
trong cơ quan đảng, nhà nƣớc, đồn thể chính trị- xã hội, các doanh nghiệp
nhà nƣớc và các lực lƣợng vũ trang nhân dân từ Trung ƣơng đến địa phƣơng
và cơ sở.
Hai là: cán bộ là những ngƣời giữ chức vụ trong một cơ quan hay một tổ
chức để phân biệt với ngƣời khơng có chức vụ.
Từ những khái niệm về cán bộ nêu trên cho thấy, ngƣời cán bộ có 4 đặc
trƣng cơ bản:
+ Cán bộ đƣợc sự uỷ nhiệm của Đảng, nhà nƣớc và các tổ chức khác trong
hệ thống chính trị...lấy danh nghĩa của các tổ chức đó để hoạt động.
18
+ Cán bộ giữ một chức vụ, một trong trách nào đó trong một tổ chức của
hệ thống chính trị.
+ Cán bộ phải thông qua tuyển chọn hay phân công cơng tác sau khi hồn
thành chƣơng trình đào tạo tại các trƣờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp, dạy nghề; cán bộ đƣợc bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử.
+ Cán bộ đƣợc hƣởng lƣơng và chính sách đãi ngộ căn cứ vào nội dung,
chất lƣợng hoạt động và thời gian công tác của họ.
Nhƣ vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, cán bộ là ngƣời lãnh đạo, quản lý
hoặc ngƣời làm chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức làm
việc, hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc hoặc từ các nguồn khác. Họ đƣợc
hình thành từ tuyển dụng, phân công công tác sau khi tốt nghiệp ra trƣờng, từ
bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử.
1.2.1.2. Khái niệm cán bộ chủ chốt
Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm cán bộ chủ chốt
(CBCC) cấp phƣờng. Nhiều ngƣời cho rằng CBCC của HTCT cấp phƣờng là
các uỷ viên Ban thƣờng vụ Đảng uỷ. Bởi vì, Bí thƣ đảng uỷ phƣờng ln là
uỷ viên ban Thƣờng vụ Đảng uỷ phƣờng; chủ tịch HĐND thƣờng là Bí thƣ
hoặc là Phó Bí thƣ Thƣờng trực đảng uỷ phƣờng, họ đều là uỷ viên ban
thƣờng vụ đảng uỷ phƣờng; chủ tịch UBND phƣờng thƣờng là phó bí thƣ
đảng uỷ phƣờng và là uỷ viên Ban Thƣờng vụ đảng uỷ phƣờng. Về thực chất,
đây là những ngƣời đứng đầu tổ chức đảng, chính quyền cơ sở phƣờng. Tuy
nhiên, quan niệm này chƣa hồn chỉnh và hợp lý, bởi vì cán bộ lãnh đạo, quản
lý chủ chốt của Mặt trận Tổ quốc và các đồn thể chính trị - xã hội ở phƣờng
nhƣ: Đồn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Hội Liên hiệp phụ nữ; Hội
Cựu chiến binh ở phƣờng thƣờng không là uỷ viên Ban Thƣờng vụ đảng uỷ.
Một số ngƣời khác, cho rằng, CBCC của HTCT ở các phƣờng gồm
những cán bộ hoạt động ở một trong các tổ chức của HTCT phƣờng và là uỷ
viên ban chấp hành đảng bộ phƣờng. Quan niệm này cũng chƣa hoàn chỉnh và
có phần chƣa chính xác. Bởi vì, những đảng uỷ viên ban chấp hành đảng bộ
phƣờng đều hoạt động trong đảng bộ phƣờng; trong HĐND phƣờng, UBND
phƣờng cũng có nhiều uỷ viên ban chấp hành đảng bộ phƣờng hoạt động;
19
trong hội cựu chiến binh phƣờng thƣờng khơng có uỷ viên ban chấp hành
đảng bộ phƣờng, vì thành viên của hội cựu chiến binh phƣờng gồm những
ngƣời đã tham gia quân đội, phục viên, hoặc nghỉ chế độ tại phƣờng, do đó họ
khơng đủ điều kiện, nhất là độ tuổi, trình độ, sức khoẻ để tham gia ban chấp
hành đảng bộ phƣờng. Nhiều ngƣời khác lại cho rằng, CBCC của HTCT ở
các phƣờng là những ngƣời đứng đầu từng tổ chức trong HTCT ở các
phƣờng. Quan niệm này hợp lý hơn và đƣợc nhiều ngƣời đồng tình. Tác giả
cũng đồng tình với quan niệm này.
Tại Đại hội tồn quốc lần thứ V, Đảng ta sử dụng khái niệm CBCC, thể
hiện trong các chủ trƣơng của Đảng về cán bộ: “Theo quy hoạch cán bộ, đào
tạo, bố trí đúng và đổi mới đội ngũ cán bộ chủ chốt từ trên xuống dưới”. Đồng
thời, Văn kiện nhấn mạnh: “Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ
Tổ quốc càng phức tạp, vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng tăng thì vị trí
quyết định của cơng tác cán bộ, đặc biệt là việc bồi dưỡng, đào tạo, bố trí đội
ngũ cán bộ chủ chốt càng lớn” [16, tr.110]. Tại Đại hội toàn quốc lần thứ VII
Đảng chỉ rõ: “Mục tiêu của công tác cán bộ là xây dựng đội ngũ cán bộ đồng
bộ và có chất lượng, mà nịng cốt là đội ngũ cán bộ chủ chốt của các ngành
các cấp và cơ sở ...” [18, tr.28]. Trong Chiến lƣợc cán bộ thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nƣớc, Đảng ta sử dụng thuật ngữ “cán bộ đứng đầu” và nhấn
mạnh: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp từ Trung ương đến cơ
sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính
trị vững vàng…”[24, tr. 78 - 79].
Từ phân tích trên, tác giả cho rằng: Cán bộ chủ chốt là người đứng ở vị
trí cao nhất của một tổ chức, cơ quan, đơn vị, có vai trị quyết định mọi hoạt
động của tổ chức, cơ quan, đơn vị đó.
1.2.1.3. Khái niệm cán bộ nữ trong đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ
thống chính trị cấp phường
Từ những luận giải ở trên, tác giả đƣa ra khái niệm: Cán bộ nữ trong
đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp phường là những cán bộ
chuyên trách nữ, đứng đầu một trong các tổ chức của hệ thống chính trị ở các
20
phường, có vai trị quyết định trong mọi hoạt động của tổ chức đó. Mọi chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện theo chức danh của cán bộ đó đã đƣợc
quy định, khơng kể ngƣời đó là nam hay nữ. Đội ngũ này gồm những cán bộ
nữ giữ các chức vụ: Bí thƣ Đảng ủy phƣờng; Phó Bí thƣ Đảng uỷ; Chủ tịch
HĐND phƣờng; phó Chủ tịch HĐND phƣờng, Chủ tịch UBND phƣờng; Phó
chủ tịch UBND phƣờng, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc; Chủ tịch Hội Cựu chiến
binh, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ, Bí thƣ Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh, chủ tịch Hội Nơng dân.
1.2.1.4. Khái niệm xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ cán bộ chủ chốt
.
Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Nhƣ Ý thì từ "xây dựng" có
ba nghĩa chính: 1. Làm nên, gây dựng nên; 2. Tạo ra cái giá trị tinh thần có
nội dung nào đó; 3. Thái độ, ý kiến có tinh thần đóng góp, làm tốt hơn, thái độ
xây dựng [55, tr. 1856]. Nhƣ vậy, theo nghĩa chung nhất của từ "xây dựng"
thì xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ CBCC của HTCT cấp phƣờng là những
hoạt động tạo nên, làm nên, tạo ra đội ngũ CBCC là nữ trong HTCT cấp
phƣờng đáp ứng những yêu cầu của từng giai đoạn nhất định.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong quá trình lãnh đạo
phong trào cộng sản và công nhân thế giới, khi luận bàn về công tác xây dựng
đội ngũ cán bộ đã chỉ rõ: phải đào tạo, bồi dƣỡng, giáo dục, rèn luyện, giám sát,
thậm chí phải bãi miễn cán bộ thì mới có đƣợc đội ngũ cán bộ tốt. Cán bộ tốt là
những ngƣời có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, lối
sống trong sạch, lành mạnh, có năng lực tổ chức thực tiễn, có phong cách làm
việc khoa học, tiên phong trong hành động, tiên phong về lý luận, có khả năng
tập hợp, tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ cách mạng, đƣa sự nghiệp
cách mạng của giai cấp công nhân tiến lên giành thắng lợi. Đó là những hoạt
động đặc biệt quan trọng của Đảng, cả trong lãnh đạo đấu tranh giành chính
quyền và khi trở thành đảng cầm quyền, xây dựng chế độ xã hội mới.
Vì vậy, muốn xây dựng cán bộ nữ trong đội ngũ CBCC của HTCT cấp
phƣờng đạt kết quả tốt, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, phải nắm vững