Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

Phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của học viên hệ trung cấp lý luận chính trị hành chính ở thanh hóa hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.37 MB, 100 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

PHẠM BÁ THỊNH

PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ NHẬN THỨC
TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN HỆ TRUNG CẤP
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
Ở THANH HĨA HIỆN NAY
Chun ngành: Triết học
Mã số

: 60 22 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN ĐỨC LUẬN

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng
được công bố trong bất cứ cơng trình nào.



TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Bá Thịnh


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỦ THỂ NHẬN THỨC
VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ NHẬN THỨC TRONG HỌC TẬP
CỦA HỌC VIÊN HỆ TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH ................................................................................................ 7
1.1. Chủ thể nhận thức và tính đặc thù của học viên hệ Trung cấp lý luận
Chính trị - Hành chính với tư cách là chủ thể trong học tập ............... 7
1.2. Phát huy vai trò chủ thể nhận thức và những yêu cầu cơ bản của
việc phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của học viên
hệ Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính .................................... 29
Chương 2: PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ NHẬN THỨC
TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN HỆ TRUNG CẤP LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH Ở TỈNH THANH HĨA HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP................................................................. 40
2.1. Thực trạng phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của
học viên hệ Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính ở Thanh Hóa
hiện nay ............................................................................................. 40
2.2. Một số nhóm giải pháp nhằm phát huy một cách có hiệu quả vai trò
chủ thể nhận thức trong học tập của học viên hệ Trung cấp lý luận
chính trị - hành chính ở Thanh Hóa hiện nay ................................... 65
KẾT LUẬN .................................................................................................... 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 86
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 93



1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã dành được nhiều thành tựu quan
trọng, Việt Nam đã trở thành nước đạt mức thu nhập trung bình và đang trong
quá trình đẩy mạnh cơng nghiệp hố - hiện đại hóa. Tuy nhiên, nhiệm vụ
trước mắt cịn rất nặng nề, q trình cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa cịn gặp
nhiều khó khăn, địi hỏi Đảng ta phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ có
đủ năng lực, phẩm chất mới có thể hoàn thành được.
Hiện nay, nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN. Bản thân nền kinh tế thị trường này mang trong mình hai xu hướng
đối lập nhau: thứ nhất, nó kích thích con người ln tích cực, chủ động, sáng
tạo, tạo điều kiện cho mọi người phát huy năng lực và khai thác tốt mọi tiềm
năng của đất nước; thứ hai, sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường dễ hình
thành lối sống chạy theo đồng tiền và nhiều hiện tượng tiêu cực khác. Đối với
một bộ phận cán bộ, đảng viên, mặt trái của kinh tế thị trường dễ khiến họ dẫn
đến chủ nghĩa cá nhân, phai nhạt lý tưởng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống,... Để khắc phục tình trạng đó thì một biện pháp quan trọng là
phải chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, đặc biệt là phải nâng cao
chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận Chính trị - Hành chính cho đội ngũ cán
bộ, đảng viên. Chính vì vậy, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn
coi trong công tác giáo dục đào tạo; xác định việc phát triển nguồn nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên” là
nhiệm vụ chiến lược, đồng thời góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây
dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Tuy nhiên, để công tác đào tạo, bồi
dưỡng, nhất là đào tạo, bồi dưỡng lý luận Chính trị - Hành chính thực sự có
hiệu quả thì một u cầu quan trọng được đặt ra là người học, tức chủ thể
nhận thức phải phát huy được tính năng động, chủ động, tích cực của mình.



2

Đối với tỉnh Thanh Hóa, để xây dựng đội ngũ cán bộ vừa “hồng”, vừa
“chuyên”, đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, cơng nghiệp hóa - hiện
đại hóa, tỉnh đã ln chú trọng cơng tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là đào
tạo, bồi dưỡng về lý luận Chính trị - Hành chính hệ trung cấp. Tuy nhiên, trong
những năm vừa qua, hiệu quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng này chưa cao.
Một trong những ngun nhân dẫn đến tình trạng đó là do nhiều học viên - chủ
thể nhận thức cịn có sự thụ động, ỷ lại, thiếu sự tích cực, chưa thực hiện tốt vai
trị của mình điều này dẫn đến thái độ, động cơ và mục đích trong học tập
khơng đúng đắn. Để phát huy tốt vai trò chủ thể nhận thức trong học tập lý luận
chính trị của học viên hệ Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính, vấn đề đặt
ra là phải “đặt người học vào vị trí trung tâm”. Chỉ như vậy mới phát huy được
vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập, tiếp nhận thơng tin, thu nhận
tri thức khoa học và có nhiều cơ hội tham gia đối thoại, tranh luận, trình bày ý
kiến, quan điểm riêng của mình, gắn lý luận với thực tiễn sinh động ở cơ sở.
Xuất phát từ tình hình đó, tơi quyết định lựa chọn vấn đề “Phát huy vai
trò chủ thể nhận thức trong học tập của học viên hệ Trung cấp lý luận
Chính trị - Hành chính ở Thanh Hóa hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Là một vấn đề quan trọng trong lý luận nhận thức mácxít, trong những năm
qua, vai trị của yếu tố chủ quan, chủ thể của quá trình nhận thức đã nhận được sự
quan tâm nghiên cứu của một số tác giả, điển hình là các cơng trình dưới đây.
- “Những yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến tư tưởng chính
trị của sinh viên - thực trạng và giải pháp” Luận án Phó Tiến sĩ của Nguyễn
Đình Đức, 1996;
- “Từ Bút ký triết học” của Lênin - “quan hệ chủ thể - khách thể và
sáng tạo nghệ thuật” của PGS. TS. Vũ Minh Tâm, Tạp chí Thông tin Lý luận

số 4, 2000;


3

- “Quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức với việc phát huy vai
trò chủ thể trong học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ
Triết học của Nguyễn Tiến Thủ, 2001;
Đề tài đã chỉ ra khái niệm chủ thể nhận thức, khách thể nhận thức và
quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách thể nhận thức; đề ra những phương
hướng, giải pháp, phân tích thực trạng, tính đặc thù của sinh viên.
- “Phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao
đẳng” ở Việt Nam hiện nay (qua một số trường cao đẳng ở Hải Dương), Luận
văn thạc sĩ triết học của Nguyễn Đức Hoàn, 2002;
- “Nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên ở
tỉnh Thái Bình hiện nay”, Luận văn thạc sĩ triết học của Đoàn Thị Toan, 2005.
- “Tự học, tự bồi dưỡng suốt đời trở thành một quy luật”, Tạp chí Tự
học số 8, 2000;
- “Hiệu quả của việc dạy - tự học trong quá trình tự học ở Đại học”;
Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp số 2, 1999;
Qua nghiên cưu, tác giả đã khai thác yếu tố tự do, sáng tạo trong phản
ánh của chủ thể, nhờ đó mà chủ thể có khả năng dự đoán sự phát triển của
tương lai, phát huy vai trị tích cực, chủ động, sáng tạo của chủ thể trong nhận
thức và cải tạo hiện thực.
- “Cơ sở lý luận của việc biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào
tạo”, Tạp chí Triết học số 4, 1990.
Đề tài đã làm sáng rõ vai trị tích cực của chủ thể trong chuyển biến quá
trình đào tạo thành tự đào tạo…
Bên cạnh các cơng trình nghiên cứu thì các Nghị quyết của Đảng ta,
đặc biệt là các Nghị quyết từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến đại hội

Đảng tồn quốc lần thứ XI ln đề cập đến vấn đề phát huy tinh thần độc lập
suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao tinh thần tự học,…


4

Trong q trình tìm hiểu, tơi nhận thấy các cơng trình nghiên cứu trên
đã có nhiều ý tưởng gần gũi với luận Văn, chứng tỏ vấn đề quan hệ giữa chủ
thể và khách thể, phát huy vai trò chủ thể nhận thức là vấn đề lớn tiếp tục
được nghiên cứu, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với công cuộc đổi mới
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nói chung và đổi mới
giáo dục và đào tạo nói chung; các cơng trình nghiên cứu trên đã thể hiện rõ
như: đã đề cấp đến vấn đề lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa chủ thể và
khách thể nhận thức; chỉ ra tính lạc hậu trong tư duy của chủ thể nhận thức so
với khách thể, do đó, vấn đề đổi mới tư duy phải là vấn đề phải được thực
hiện thường xuyên, liên tục ở tất cả mọi người, tất cả mọi thời đại. Nhưng cho
đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống “Phát huy vai
trị chủ thể nhận thức trong học tập của học viên hệ Trung cấp lý luận Chính
trị - Hành chính ở Thanh Hóa hiện nay”. Điều đó, càng thơi thúc tơi trong
quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là làm rõ thực trạng phát huy vai trò chủ thể nhận
thức trong học tập của học viên hệ Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính ở
Thanh Hóa hiện nay và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy một cách có
hiệu quả vai trị chủ thể của họ trong q trình học tập đó.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, khái quát quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ thể
nhận thức và vai trị của chủ thể trong q trình nhận thức; làm rõ tính đặc thù
của học viên hệ Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính với tư cách là chủ

thể trong học tập.
Hai là, làm rõ phát huy vai trò chủ thể nhận thức; sự cần thiết và
những yêu cầu cơ bản để phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của
học viên hệ Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính.


5

Ba là, làm rõ sự cần thiết và vai trò phát huy vai trò chủ thể nhận thức
trong học tập của học viên hệ Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính ở Thanh
Hóa hiện nay.
Bốn là, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy một cách có hiệu quả vai
trò chủ thể nhận thức trong trong học tập của học viên hệ Trung cấp lý luận
Chính trị - Hành chính ở Thanh Hố hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề phát huy vai trò chủ thể nhận thức
trong học tập của học viên hệ Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tại tỉnh Thanh Hóa từ 2009 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trọng
tâm là lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ
giữa chủ thể và khách thể nhận thức; các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng và
Chính sách của Nhà nước; các văn bản, tài liệu của tỉnh Thanh Hóa và một số
sách báo, tạp chí có liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là các nguyên tắc, quan điểm của chủ nghĩa
duy vật biện chứng; phương pháp kết hợp lôgic - lịch sử, phương pháp phân

tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, phương pháp phỏng vấn, phương pháp
điều tra xã hội học,…
6. Đóng góp mới về mặt khoa học
Thứ nhất, luận văn góp phần làm rõ thực trạng phát huy vai trò chủ thể
nhận thức trong học tập của học viên hệ Trung cấp lý luận Chính trị - Hành
chính ở Thanh Hóa hiện nay.


6

Thứ hai, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy một cách có
hiệu quả vai trị chủ thể nhận thức trong học tập của học viên hệ Trung cấp lý
luận Chính trị - Hành chính ở Thanh Hóa hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận Chính trị ở Thanh Hóa.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy ở
trường Chính trị của tỉnh và các trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện, thị,
thành phố ở Thanh Hóa.
8. Kết cấu của luận văn
Ngồi phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận
văn gồm 2 chương và 4 tiết.


7

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỦ THỂ NHẬN THỨC
VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ NHẬN THỨC TRONG HỌC TẬP
CỦA HỌC VIÊN HỆ TRUNG CẤP LÝ LUẬN

CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
1.1. Chủ thể nhận thức và tính đặc thù của học viên hệ Trung cấp
lý luận Chính trị - Hành chính với tư cách là chủ thể trong học tập
1.1.1. Quan điểm của triết học Mác - Lênin về chủ thể và khách thể
nhận thức
Trong lịch sử triết học, vấn đề chủ thể, khách thể nhận thức đã được
nhiều nhà triết học, nhiều trường phái triết học bàn đến. Triết học phương
Đông chủ yếu khai thác các yếu tố trực giác hoặc phương pháp thiền (tập
trung cao độ) để đạt tới cảm giác siêu giác quan, từ đó có thể biết được quy
luật vận hành của thế giới (vũ trụ). Còn ở triết học phương Tây, các trường
phái thường hướng nhiệm vụ của triết học tới việc giải quyết mối quan hệ
giữa tư duy và tồn tại. Họ có xu hướng “hướng ngoại”, hướng ra thế giới bên
ngoài, đặt ra những nhiệm vụ cho nhận thức. Tuy đã đạt được những thành
tựu nhất định, nhưng nhìn chung, lý luận nhận thức của các nhà triết học trước
Mác về chủ thể, khách thể nhận thức còn nhiều hạn chế như: tách rời nhận
thức cảm tính và lý tính, khơng thấy được vai trị của hoạt động thực tiễn đối
với nhận thức, chia cắt khách thể và chủ thể,…
Triết học Mác - Lênin đã khắc phục được những hạn chế và kế thừa
những thành tựu lý luận về nhận thức trước đó, từ đó đưa đến một quan niệm
thực sự đúng đắn về chủ thể và khách thể nhận thức.
- Chủ thể nhận thức:
Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, con người chỉ trở thành chủ thể
nhận thức khi con người là thành viên của xã hội, tham gia vào hoạt động của


8

cộng đồng nhằm cải tạo khách thể. Vì thế, chủ thể nhận thức không chỉ là
những cá nhân con người (với tư cách là thành viên của xã hội), mà cịn là
những tập đồn người cụ thể, một dân tộc cụ thể, là lồi người nói chung.

Đối với mỗi cá nhân - chủ thể nhận thức không nhất thiết phải trực tiếp
tham gia hoạt động thực tiễn xã hội mà những tri thức họ có được là do kế
thừa tri thức của nhân loại. Nhưng đối với chủ thể nhận thức - nhân loại thì
mọi nhận thức xét đến cùng đều bắt nguồn trực tiếp từ hoạt động thực tiễn.
Mỗi chủ thể nhận thức đều là một chỉnh thể thống nhất gồm:
Tồn tại tự nhiên: Con người, trước hết là một thực thể sinh vật, con
người phải tuân theo những quy luật của tự nhiên. Chỉnh thể sinh vật trong
con người biểu hiện như là một hệ thống bao gồm các yếu tố, các tổ chức giác
quan, các quá trình sinh lý, sinh hóa, các q trình đồng hóa và dị hóa, di
truyền và biến dị,… Q trình phát triển của con người tất yếu phải trải qua
các giai đoạn: bào thai, nhi đồng, thiếu nhi, trưởng thành, già lão và chết.
Tồn tại có ý thức: Với tư cách là tồn tại có ý thức, con người phải tuân
theo các quy luật hình thành tâm lý, ý thức. Các quy luật này hình thành, phát
triển trên cơ sở những tiền đề sinh học của con người. Đó là quy luật về sự
hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí, tư tưởng, các quy luật nhận
thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.
Tồn tại xã hội: Trong quan niệm của triết học Mác, con người không
phải là con người sinh học thuần túy, trừu tượng, mà là con người xã hội, con
người hiện thực sống trong môi trường xã hội nhất định, thuộc một thời đại
nhất định, với các quan hệ xã hội phong phú, phức tạp và ngày càng mở rộng
theo đà tăng tiến của nền văn minh vật chất và tinh thần. Con người hiện thực
đã sống, hoạt động tạo ra của cải vật chất để thỏa mãn những nhu cầu tự
nhiên: ăn, mặc, ở, nhu cầu tái sản sinh. Thực tế đã chứng minh, quan hệ xã
hội của con người ngày càng phong phú, phức tạp, thì tính cách của nó cũng


9

trở nên phong phú, phức tạp, sâu sắc. Tồn tại trong quan hệ đó, con người
phải tuân theo những quy luật khách quan của xã hội: quy luật quan hệ sản

xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất; quy luật cơ sở hạ tầng quyết
định kiến trúc thượng tầng; quy luật đấu tranh giai cấp;… Trong con người,
tính sinh vật và tính xã hội thống nhất biện chứng với nhau, nhưng tính xã
họi, tổng hịa những quan hệ xã hội mới là yếu tố quyết định bản chất của con
người. Chính vì vậy, trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác đã
khẳng định: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng, cố hữu
của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là
tổng hòa những quan hệ xã hội [63, tr.11].
Từ mệnh đề trên, C.Mác đã nhấn mạnh các quan hệ xã hội khơng tồn
tại ở ngồi con người hiện thực. Bản chất con người, một sự trừu tượng khoa
học, là sự khái quát từ đời sống cụ thể của những con người hiện thực, từ thế
hệ này sang thế hệ khác. Bản chất con người thể hiện thông qua tổng thể các
quan hệ xã hội.
Luận đề của C.Mác khơng làm mất vai trị của cá nhân, khẳng định sự
kỳ diệu, sự phong phú vô hạn của nhân cách cá nhân. Cá nhân ở đây, theo
C.Mác là những cá thể sống, sáng tạo ra những quan hệ xã hội, chi phối
chúng, cá thể hóa chúng thành thế giới bên trong rất phong phú và độc đáo.
Trong cuộc sống xã hội không thể tách cá nhân ra khỏi cộng đồng, song cũng
khơng thể có những quan hệ xã hội mà khơng có những cá nhân. Mỗi cá nhân
vừa là thành viên của cộng đồng giai cấp, dân tộc, nhân loại; vừa là một thực
thể độc lập có nhân cách.
Trong cuộc sống hiện thực cụ thể của loài người, của mỗi người, ba hệ
thống quy luật trên không tồn tại tách biệt nhau mà hòa quyện vào nhau, tạo
nên bản chất người với tư cách là sự đồng nhất, khác biệt của cái tự nhiên và
cái xã hội. Chính những nhu cầu tự nhiên về ăn, mặc, ở, tinh thần đã đặt ra
mục đích cho sự phát triển sản xuất xã hội.


10


Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu ba
tiền đề cơ bản để con người tham gia vào lịch sử của mình:
Tiền đề thứ nhất: Để tồn tại con người trước hết phải được thỏa mãn
các nhu cầu ăn, ở, mặc, sau đó mới làm chính trị, khoa học, tơn giáo v.v…
Chính con người bằng hành vi lao động sản xuất, tự thực hiện để tồn tại. Để
tồn tại, con người phải lao động, và để lao động con người phải tồn tại. Trong
lao động hình thành các mối quan hệ xã hội, tạo thành xã hội. Nhờ lao động
con người hoàn thiện các tổ chức giác quan, phát triển ý thức cá nhân, ngôn
ngữ, phát triển hoàn thiện năng lực phản ánh của chủ thể.
Tiền đề thứ hai: Sự thỏa mãn những nhu cầu đầu tiên dẫn đến sự mở
rộng, phát triển những nhu cầu mới. Nhu cầu mới nảy sinh, là biểu hiện của
quy luật phát triển lịch sử, nó vừa là quy luật kinh tế, vừa là quy luật xã hội.
Mỗi thời đại, con người tự tạo ra một hệ thống các nhu cầu. Qua đó, dựng lại
chân dung đời sống hiện thực và tâm lý của con người trong từng giai đoạn
phát triển lịch sử.
Tiền đề thứ ba: Ngay từ đầu con người đã tham dự vào quá trình lịch sử.
Hằng ngày con người tái tạo ra đời sống của mình, đồng thời còn tái sinh ra
người khác. Con người trong quá trình cải tạo chính bản thân mình, bao giờ cũng
mang vào đó tất cả những yếu tố đạo đức tâm lý, văn hoá xã hội [63, tr.40- 41].
Những tiền đề về con người của C.Mác - Ph.Ăngghen cho thấy, con
người có bản chất xã hội, có tính lịch sử. Mỗi thời đại lịch sử đã tạo ra một
mẫu hình con người đặc trưng riêng với những đặc điểm về lối sống, sinh
hoạt, tâm lý, tính cách, trình độ nhận thức v.v…Điều đó cũng có nghĩa,
theo C.Mác - Ph.Ăngghen, con người - chủ thể nhận thức, luôn tồn tại
trong những điều kiện, hoàn cảnh xã hội hiện thực. Trong mỗi thời đại, con
người - vừa là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử, đồng thời vừa là sản
phẩm của lịch sử.


11


- Khách thể nhận thức:
Khách thể nhận thức không đồng nhất với toàn bộ hiện thực mà chỉ là
một bộ phận, một lĩnh vực của hiện thực nằm trong miền hoạt động của nhận
thức và trở thành đối tượng nhận thức của chủ thể nhận thức.
Khách thể nhận thức không chỉ là các sự vật, hiện tượng vật chất mà
còn có thể là tư duy, tâm lý, tình cảm, tư tưởng,… Khách thể nhận thức luôn
thay đổi cùng với sự vận động phát triển của hoạt động thực tiễn cũng như sự
mở rộng năng lực nhận thức của con người - chủ thể nhận thức. Như vậy,
không chỉ chủ thể nhận thức mà cả khách thể nhận thức cũng mang tính lịch
sử - xã hội, cũng bị quy định bởi điều kiện lịch sử - xã hội. Do điều kiện lịch
sử - xã hội mà chỉ có một bộ phận nào đó của hiện thực khách quan mới trở
thành đối tượng nhận thức hay khách thể nhận thức. Ví dụ: dù các hạt cơ bản
như điện tử, proton… vẫn tồn tại khách quan, nhưng mãi đến cuối thế kỷ XIX
mới trở thành khách thể nhận thức của con người. Khách thể nhận thức là một
bộ phận của hiện thực khách quan tồn tại không phụ thuộc vào chủ thể nhận
thức nhưng luôn nằm trong mối quan hệ biện chứng với chủ thể nhận thức.
Trong đó, khách thể nhận thức khơng phải là mặt đối lập trừu tượng với chủ
thể, bởi vì chủ thể tích cực cải tạo khách thể. Sự cải tạo đó dựa trên sự tác
động qua lại với nhau trong thực tiễn lịch sử xã hội loài người, khi một bộ
phận nào đó của giới tự nhiên, của đời sống xã hội đã trở thành khách thể
nhận thức một khi chủ thể tích cực tác động vào nó. Có thể nói, khách thể
nhận thức khơng độc lập tuyệt đối, trừu tượng với chủ thể nhận thức. Thực
tiễn lịch sử cho thấy hoạt động thực tiễn của chủ thể càng đa dạng, phong phú
về hình thức và đạt đến trình độ ngày càng cao thì khách thể nhận thức theo
đó ngày càng mở rộng.
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển của khoa học và công nghệ đã chế
tạo ra những cơng cụ: kính hiển vi điện tử, kính viễn vọng, tàu du hành vũ trụ,



12

người máy, máy vi tính,… có tác dụng nối dài khí quan của con người. Do đó,
trong nhiều trường hợp chúng ta không nhận thấy mối liên hệ trực tiếp giữa chủ
thể và khách thể nhận thức. Chẳng hạn, con người có thể nhận biết được nhiều
điều bí mật ẩn giấu trong lòng đất, dưới đáy đại dương, trong vũ trụ bao la,…
thông qua những công cụ, những phương tiện do chính mình chế tạo ra.
Như vậy, bằng hoạt động thực tiễn tác động trực tiếp hoặc gián tiếp
thông qua các cơng cụ, lồi người đã khơng ngừng mở rộng phạm vi của
khách thể nhận thức. Thông qua hoạt động thực tiễn tác động vào khách thể
mà buộc khách thể bộc lộ ra những yếu tố, những thuộc tính, từ đó, con người
khái quát thành hệ thống lý luận. Để hiểu rõ hơn khách thể nhận thức, cần đặt
nó trong tương quan so sánh với khái niệm “thực tại khách quan” và “đối
tượng nhận thức”
“Thực tại khách quan” - cụm từ trong định nghĩa vật chất của V.I.Lênin
dùng để khái qt thuộc tính chung nhất, phổ biến nhất của tồn bộ thế giới
vật chất với tất cả mọi hình thức và mọi biểu hiện của nó. Xét về vấn đề cơ
bản của nhận thức luận thì “thực tại khách quan” được hiểu là tất cả những gì
tồn tại độc lập, khách quan ở bên ngoài ý thức của loài người. Nó là cái có
trước, là tính thứ nhất. Dùng cụm từ “thực tại khách quan” để khái quát thuộc
tính cơ bản nhất của tất cả mọi dạng cụ thể của vật chất, V.I.Lênin có ý phân
biệt sự khác nhau tuyệt đối giữa vật chất và ý thức. Mặc dù vậy, chủ nghĩa
duy vật biện chứng chỉ thừa nhận sự đối lập tuyệt đối giữa vật chất và ý thức
trong lĩnh vực nhận thức (nghĩa là trong nhận thức phải phân biệt cho được
vật chất là gì? Ý thức là gì? Vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có
sau, cái nào giữ vai trị quyết định) cịn ngồi ranh giới của nhận thức đó, sự
đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có tính tương đối. Bởi vì, ý thức khơng tồn
tại như một thế giới riêng biệt, tách rời với vật chất. Ý thức là thuộc tính của
một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc của con người.



13

Cũng cần phân biệt khách thể nhận thức với đối tượng nhận thức. Đối
tượng nhận thức là một khía cạnh, một phương diện, một mặt nào đó của hiện
thực khách quan mà chủ thể nhận thức tập trung hướng vào nhận thức.
Ở thời cổ đại, sản xuất chưa phát triển, khoa học kỹ thuật con ở trình độ
sơ khai, do đó, triết học bao trùm lên tồn bộ các lĩnh vực tự nhiên, xã hội.
Triết học hầu như giữ vị trí độc tơn, các nhà triết học đồng thời là những nhà
toán học, thiên văn học, vật lý học. Triết học được quan niệm là “khoa học
của mọi khoa học”. Khoa học trong thời kỳ này chỉ bó hẹp trong các lĩnh vực
cơ học, toán học, thiên văn, hàng hải, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tưới nước,
đi lại trên biển, xây dựng lăng tẩm cho vua chúa.
Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, sản xuất tư bản phát triển, khoa học đi
sâu nghiên cứu từng mặt, từng lĩnh vực cụ thể của thế giới hiện thực phá vỡ
quan niệm bất biến, cô lập về đối tượng nghiên cứu của các bộ môn khoa học,
gắn liền với sản xuất.
Từ cuối thế kỷ XIX đến nay, khoa học phát triển theo hướng chun
mơn hóa sâu. Các mơn khoa học tự nhiên và xã hội trở thành một thể tổng
hợp của ngành tri thức đó là một khoa học riêng biệt. Đồng thời, do nhu cầu
sản xuất và thực tiễn đặt ra tình huống mới là phải nghiên cứu đối tượng của
những mơn khoa học giáp ranh giữa hóa - sinh, hóa - lý, sinh học - vật lý; địa
chất - hóa học v.v… Cùng với các khuynh hướng trên là khuynh hướng nhất
thể hóa các tri thức khoa học trở thành một lực lượng trí tuệ thống nhất để
nhận thức và cải tạo hiện thực.
Như vậy, tùy theo trình độ phát triển của thực tiễn và của nhận thức mà
người ta có thể phân chia đối tượng nghiên cứu cụ thể khác nhau, có thể
nghiên cứu cả những hiện tượng mà bản chất đã được nhận thức ở một mức
độ nào đó. Trong trường hợp này, người ta nhận thức những quy luật cơ bản,
chung hơn của khách thể để phát hiện bản chất của nó sâu sắc, triệt để hơn,…

Ngoài ra, những kiến thức về khách thể càng phát triển, người ta lại càng phát


14

hiện ra những mặt mới của nó và những mặt mới này lại trở thành đối tượng
nhận thức. Cùng một khách thể, những khoa học khác nhau có đối tượng
nghiên cứu khác nhau, như: Môn tâm lý học nghiên cứu các q trình phát
triển tâm lý, nhân cách; mơn giải phẫu học nghiên cứu cấu tạo của cơ thể;
lôgic học nghiên cứu các quá trình tư duy, đưa ra một hệ thống các phương
pháp để giúp cho chủ thể tư duy bảo đảm nhất quán, chặt chẽ trong suốt quá
trình nhận thức chân lý. Đối tượng nhận thức là khách quan vì nó thuộc về
khách thể nhận thức. Nội dung của đối tượng nhận thức không phụ thuộc vào
con người, vào nhân loại. Trong mỗi trường hợp cá biệt, việc lựa chọn đối
tượng nhận thức có thể mang tính chủ quan, nhưng xét đến cùng thì nó quyết
định bởi nhu cầu và trình độ phát triển của thực tiễn xã hội.
Trong các phạm trù “thực tại khách quan”, “khách thể nhận thức” và
“đối tượng nhận thức”, thì khái niệm “thực tại khách quan” là phạm trù bao
quát tất cả các những hiện tượng, sự vật của thế giới vật chất - đối lập với
phạm trù ý thức. Giải quyết mối quan hệ giữa vật chật chất và ý thức trở thành
vấn đề cơ bản nhất của tất cả các trào lưu triết học cổ đại, cận đại và hiện đại.
Phạm trù “khách thể nhận thức” bao quát những lĩnh vực của tự nhiên, xã hội,
tư duy, trong khả năng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của thực tiễn xã hội ở
từng giai đoạn phát triển của lịch sử. Còn phạm trù “đối tượng nhận thức” bao
gồm những mặt, những đặc tính, những quan hệ của khách thể được nghiên
cứu nhằm một mục đích nhất định … Để tiếp cận với các khách thể nhận
thức, chủ thể phải sử dụng các loại công cụ để nối dài các giác quan của mình.
Cơng cụ nhận thức có thể chia làm hai loại:
Công cụ vật chất: bao gồm hàng loạt các sản phẩm do con người chế
tạo ra nhằm hỗ trợ các giác quan, hỗ trợ quá trình nhận thức, như: máy gia

tốc, phịng thí nghiệm, kính hiển vi, kính viễn vọng, tàu khơng gian, các vệ
tinh,… Các cơng cụ có tính vật chất: sơ đồ, la bàn, bản đồ,…


15

Công cụ tinh thần: bao gồm hệ thống ngôn ngữ, phạm trù, khái niệm,
các phương pháp nhận thức thích ứng với từng đối tượng nghiên cứu của mỗi
khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng,…
Như vậy, ranh giới và sự phân biệt các khái niệm “thực tại khách quan”,
“khách thể nhận thức” và “đối tượng nhận thức” cũng chỉ tương đối. Vấn đề
này tùy thuộc vào các mối quan hệ cụ thể và điều kiện lịch sử cụ thể. Chẳng
hạn trong mối quan hệ này khái niệm, phạm trù có thể được coi là khách thể
nhận thức, thì trong mối quan hệ khác lại có thể là đối tượng nhận thức. Ví dụ:
phạm trù “thực tại khách quan” được V.I.Lênin dùng để chỉ sự khái quát thế
giới vật chất đối lập với phạm trù ý thức, nhưng khi giải quyết vấn đề cơ bản
của triết học thì nó lại trở thành đối tượng nghiên cứu của triết học.
Sản xuất và thực tiễn càng phát triển, càng đặt ra nhiệm vụ phải nhận
thức chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó của giới tự nhiên và xã hội. Vì thế,
lịch sử phát triển của khoa học là một quá trình khơng ngừng phân chia đối
tượng nghiên cứu, từ đó hình thành các mơn khoa học chính xác như: tốn, lý,
hóa; các môn khoa học ứng dụng; các môn khoa học lý luận; khoa học tư duy;
khoa học quản lý,… Ở các thế kỷ trước, khoa học phát triển theo hướng phân
ngành thì trong thế kỷ XX đến nay, khoa học vừa phát triển theo hướng
chuyên sâu, lại vừa phát triển theo hướng hợp ngành, dẫn tới sự hình thành
các mơn khoa học giáp ranh. Do đó, khách thể nhận thức, đối tượng nhận thức
luôn thay đổi, thu hẹp, mở rộng, chuyển hóa lẫn nhau. Trong điều kiện khoa
học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì khoa học khơng chỉ hướng vào
nhiệm vụ ứng dụng kỹ thuật chính xác mà còn hướng vào việc nghiên cứu
bản thân con người, tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần cho sự phát

triển tồn diện năng lực sáng tạo vơ tận của tư duy con người.
Ranh giới giữa chủ thể và khách thể nhận thức cũng không phải tuyệt
đối. Con người, cũng như xã hội loài người, ở mọi thời đại luôn tồn tại với tư


16

cách là chủ thể nhận thức, chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử của mình.
Nhưng chính con người và xã hội loài người lại trở thành khách thể, trở thành
đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội như: tâm lý học, xã hội
học, đạo đức học, y học, lơgic học, triết học,…
Có thể nói, hệ thống các phạm trù chủ thể - khách thể, chủ quan - khách
quan, đối tượng nhận thức là những phạm trù cơ bản của lý luận nhận thức.
Giải quyết mối quan hệ giữa các phạm trù này có ý nghĩa quyết định đến hàng
loạt các vấn đề của nhận thức luận như: bản chất của nhận thức, con đường
biện chứng của nhận thức, vấn đề con người có khả năng nhận thức được
chân lý khách quan hay không,… Trong lịch sử nhận thức, căn cứ vào cách
quan niệm và giải quyết mối quan hệ của các phạm trù trên mà hình thành các
trường phái, các khuynh hướng duy vật - duy tâm, duy cảm - duy lý, khả tri bất khả tri,…
- Quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức:
Như chứng ta đã biết, tính chất của mối quan hệ giữa chủ thể và khách
thể nhận thức cũng thay đổi cùng với quá trình hoạt động thực tiễn của con
người. Cho nên quan hệ chủ thể - khách thể nhận thức không đơn giản chỉ là
những mối quan hệ trong nhận thức mà còn cả trong hoạt động thực tiễn.
Chính trình độ hoạt động thực tiễn quy định tính chất của mối quan hệ giữa
chủ thể và khách thể nhận thức.
Trong hoạt động nhận thức khơng có chủ thể tồn tại thiếu khách thể và
ngược lại, khơng có khách thể nếu thiếu chủ thể tác động tích cực, chủ động
vào nó. Sự phát triển, mở rộng khách thể cũng như hồn thiện chủ thể phụ
thuộc vào trình độ tác động biện chứng giữa chủ thể và khách thể.

Vấn đề thực tiễn là điểm mấu chốt để triết học Mác - Lênin khắc phục
được những biểu hiện siêu hình, duy tâm của các trường phái triết học về chủ
thể và khách thể nhận thức. Vấn đề thực tiễn luôn được C.Mác và V.I.Lênin


17

coi là vấn đề đầu tiên và cơ bản của toàn bộ lý luận nhận thức, mà sự khởi đầu
của nhận thức là hoạt động cảm tính trực tiếp. Theo C.Mác chính hoạt động
thực tiễn đã nói lên vai trị tích cực, chủ động của yếu tố chủ quan của con
người trong việc tác động vào khách thể. Đây là điều cơ bản để giải quyết mối
quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức mà chủ nghĩa duy vật cũ khơng
thể có được.
Chủ nghĩa duy vật cũ đứng trên lập trường duy vật để giải quyết vấn đề
cơ bản của triết học, nhưng họ chỉ dừng lại ở chủ nghĩa duy vật siêu hình nên
chưa bao giờ đạt đến trình độ tư duy biện chứng, họ chỉ nhìn thấy đối tượng
của nhận thức là những khách thể thuần túy - cịn con người thì hồn tồn
trừu tượng. Do đó, C.Mác đã đưa ra phạm trù thực tiễn. Theo các nhà sáng lập
chủ nghĩa Mác - Lênin thì thơng qua hoạt động thực tiễn, bằng hoạt động thực
tiễn, chủ thể tác động tích cực vào khách thể, buộc khách thể bộc lộ ra những
thuộc tính, những tính chất, những mối liên hệ,… trên cơ sở đó chủ thể thu
nhận được những tri thức về khách thể. Điều này muốn khẳng định một sự
thật hiển nhiên là con người - chủ thể khơng dừng ở bên ngồi thế giới để
“chiêm ngưỡng” nó, mà con người bằng hoạt động thực tiễn, tác động tích
cực vào khách thể, vào thế giới để nhận thức khách thể.
C.Mác quan niệm con người ở đây khơng phải số ít các cá nhân, vĩ
nhân, lãnh tụ lỗi lạc - mà là sức mạnh của nhân tố con người trong lực lượng
sản xuất. Theo nghĩa đó, nhân tố tạo nên sự biến đổi của hồn cảnh chính là
con người cùng với những hình thức hoạt động thực tiễn đa dạng, phong phú
của nó. Con người, bằng hoạt động thực tiễn của mình biến đổi hiện thực bao

nhiêu thì đồng thời cũng biến đổi chính bản thân mình bấy nhiêu. Ngay cả khi
con người nhận thức về mình, khám phá những kết cấu và nội tâm bên trong,
cung cấp khả năng nhận thức khách thể thì cũng chính là do khách thể đã thôi
thúc chủ thể phải nhận thức chính bản thân mình. Như vậy, nhận thức của chủ


18

thể là một q trình biện chứng vừa bị thơi thúc bởi các quy luật khách quan,
vừa phát huy tính chủ động chủ quan.
Như vậy, thực tiễn theo C.Mác quan niệm là hoạt động vật chất thuộc
về xã hội. Hoạt động thực tiễn nhằm mục đích cải tạo thế giới, cải tạo, hồn
thiện, nối dài các khí quan của con người. Trên cơ sở hoạt động thực tiễn mà
con người có được nhận thức đúng đắn về bản chất, quy luật của sự vật, hiện
tượng trong thế giới.
Nhận thức là một quá trình biện chứng giữa chủ thể và khách thể nhận
thức dẫn tới sự hình thành trong bộ óc con người hình ảnh về khách thể, mà nội
dung của hình ảnh đó do chính khách thể quyết định, đồng thời còn bị chi phối,
ảnh hưởng bởi những yếu tố chủ quan của chủ thể phản ánh. Như chúng ta đã
biết, chủ thể phản ánh con người (cá nhân, nhóm xã hội, giai cấp, dân tộc, nhân
loại), con người luôn mang tính lịch sử - xã hội, trong q trình nhận thức các
yếu tố chủ quan của chủ thể nhận thức như điều kiện vật chất, lợi ích, lý tưởng,
tài năng, tình cảm, tâm sinh lý,…đều tham gia và ảnh hưởng đến kết quả nhận
thức. Vì thế mà khách thể đã được chủ thể phản ánh, tiếp nhận, xử lý, cải biến
và kiến tạo những hình ảnh rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Như vậy, khách thể và chủ thể nhận thức có mối quan hệ biện chứng
với nhau, đây là cặp phạm trù gắn liền nhau. Nếu không có khách thể nhận
thức thì cũng khơng có chủ thể nhận thức, ngược lại cái gì đó chỉ trở thành
khách thể nhận thức khi chủ thể nhận thức vươn tới. Trong mối quan hệ này
thì khách thể ln đóng vai trị quyết định đối với chủ thể. Vì khách thể quy

định sự ra đời tồn tại và phát triển của chính bản thân con người với tư cách là
chủ thể nhận thức; khách thể nhận thức là nguồn gốc sâu xa, là nội dung vật
chất khách quan của cái phản ánh có ý thức của con người với tư cách là chủ
thể nhận thức. Khách thể nhận thức còn quy định con đường, phương pháp
nhận thức của chủ thể nhận thức.


19

Có thể nói rằng, việc làm rõ khái niệm chủ thể nhận thức, khách thể
nhận thức và mối quan hệ giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức là
cơ sở để nghiên cứu việc phát huy tính tích cực của học viên hệ trung cấp lý
luận chính trị - hành chính với tư cách là chủ thể nhận thức trong học tập.
1.1.2. Tính đặc thù của học viên và một số yêu cầu của công tác đào
tạo hệ Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính
1.1.2.1. Tính đặc thù của học viên hệ trung cấp lý luận Chính trị Hành chính với tư cách là chủ thể trong học tập
Đối với học viên hệ Trung lý luận Chính trị - Hành chính thì học là một
q trình tương tác với đối tượng. Trong đó, học viên là chủ thể nhận thức;
những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, một số
nội dung của khoa học hành chính và kỹ năng lãnh đạo quản lý là khách thể.
Trong quá trình học, lĩnh hội kiến thức, mặc dù học viên được sự
hướng dẫn của giảng viên, nhưng để học tốt, học viên phải xác định được
cho mình thái độ, động cơ, mục đích học tập đúng đắn và phải thiết lập cho
mình một phương pháp học tập khoa học. Có như vậy, học viên mới nắm
vững kiến thức đã học, nâng cao hiểu biết, nắm bắt các quy luật, phạm trù,
nguyên lý,… của các môn lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
biến tri thức khoa học này thành tri thức của mình để nhận thức và cải tạo
thế giới, vận dụng tri thức lý luận vào thực tiễn công tác ở cơ sở và thực
tiễn cuộc sống. Như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Học để làm

việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân
dân, tổ quốc và nhân loại. Tri thức thức khoa học là đối tượng nhận thức
của học viên, nó được các nhà khoa học và loài người đã tổng kết, khái
quát từ thực tiễn, được thực tiễn kiểm nghiệm.


20

Thực tế cho thấy, bất kể loại hình đào tạo nào, cấp học nào (phổ thông
trung học, đại học, sau đại học, chun mơn, kỹ thuật, nghiệp vụ,…) đều hình
thành hai mối quan hệ cơ bản: quan hệ giữa người dạy và người học, quan hệ
giữa người học và tri thức khoa học. Dạy lý luận Chính trị - Hành chính cũng
khơng nằm ngồi ngoại lệ đó. Trong mối quan hệ giữa giảng viên và học viên
thì giảng viên là chủ thể còn học viên là khách thể của quá trình đào tạo; trong
mối quan hệ với tri thức lý luận khoa học chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước,... thì học viên tồn tại
với tư cách là chủ thể của q trình nhận thức, cịn các tri thức đó… là khách
thể nhận thức (khách thể nhận thức của học viên trung cấp lý luận chính trị hành chính). Ngồi ra, khách thể nhận thức của học viên cịn nghiên cứu tình
hình nhiệm vụ địa phương (hoặc ngành),… để từ đó có sự so sánh, đối chiếu
với những việc đã nghiên cứu, giải quyết trước kia khi chưa tiếp cận với tri
thức lý luận Chính trị - Hành chính với hiện tại đang học xem có gì đúng hoặc
sai, phù hợp - chưa phù hợp để điều chỉnh trong nhận thức và hành động.
Chính bản chất khoa học và cách mạng của lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh,… sẽ giúp học viên củng cố niềm tin, lập trường quan
điểm, ra sức học tập nâng cao trình độ chun mơn, nghiệp vụ, lý luận chính
trị; năng lực, kỹ năng lãnh đạo quản lý; tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo
đức;… Vì thế, trong lĩnh vực đào tạo nói chung, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
cấp cơ sở nói riêng - học viên ln tồn tại mối quan hệ “kép”. Họ vừa là
khách thể, vừa là chủ thể; trong mối quan hệ với nhà trường, giảng viên, họ là
khách thể của q trình đào tạo. Cịn trong học tập, nghiên cứu thực tế họ là

chủ thể nhận thức.
Trong quá trình nhận thức chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh…, học viên hệ trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính về cơ bản cũng
khơng nằm ngồi q trình nhận thức của con người đi “từ trực quan sinh


21

động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Đó là con
đường biện chứng của quá trình nhận thức mà V.I. Lênin đã chỉ ra. Tuy nhiên,
điểm khác biệt căn bản ở đây là tri thức mà họ cần phải nắm đó là tri thức lý
luận cơ bản và cần thiết về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; một số
nội dung của khoa học hành chính và kỹ năng lãnh đạo, quản lý. Những tri
thức này là để phục vụ cho hoạt động lãnh đạo, quản lý ở cấp cơ sở, có sự
khác biệt rất lớn so với các tri thức được giảng dạy ở bậc phổ thông và các
trường cao đẳng, đại học… Hơn nữa, học viên Trung cấp lý luận Chính trị Hành chính là cán bộ lãnh đạo quản lý của hệ thống chính trị cấp cơ sở; cán
bộ công chức, viên chức ở địa phương, có nhiều kinh nghiệp thực tiễn, đa số
là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, cả về hệ thống tri thức, mục
đích đào tạo và chủ thể nhận thức trong học tập của hệ đào tạo Trung cấp lý
luận Chính trị - Hành chính đều có sự khác biệt rất lớn so với giáo dục phổ
thông, cao đẳng và đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Tính đặc thù của học viên hệ Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính
với tư cách chủ thể nhận thức được biểu hiện ở những khía cạnh dưới đây.
* Về đặc điểm tâm - sinh lý - xã hội của học viên hệ Trung cấp lý luận
Chính trị - Hành chính.
Học viên hệ Trung cấp Chính trị - Hành chính đều là cán bộ lãnh đạo
quản lý của hệ thống chính trị cơ sở; cán bộ cơng chức, viên chức ở địa phương.
Do vậy, họ đã có những năng lực nhất định về tổ chức, vận động, tập hợp quần
chúng, là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, có triển vọng sau này

giữ những chức vụ cao hơn; những học viên này có tuổi đời lớn, chủ yếu trên 30
tuổi đến khoảng 50 tuổi, đã phát triển đầy đủ cả về thể lực và trí lực.
Học viên hệ Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính không phải là
những học viên tự do mà là những học viên được cử đi học theo một quy trình


22

chặt chẽ. Họ được ban Tổ chức huyện ủy, tỉnh ủy chọn lựa rất kỹ lưỡng trước
khi cử đi học, đa số là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, đã được rèn
luyện, thử thách từ phong trào thực tiễn ở cơ sở, có phẩm chất đạo đức và
năng lực công tác. Nhiệm vụ chủ yếu của họ khi học Trung cấp lý luận Chính
trị - Hành chính là nắm vững những kiến thức cơ bản và cần thiết về chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước; một số nội dung của khoa học hành
chính và kỹ năng lãnh đạo, quản lý; biết vận dụng kiến thức lý luận Mác Lênin và đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
vào thực tiễn cơng tác của mình; một số kỹ năng lãnh đạo, quản lý, nghiệp vụ
về cơng tác Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân nhằm
nâng cao hơn nữa năng lực tổ chức thực tiễn, tổ chức quần chúng thực hiện
nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.
Tuy nhiên, do hầu hết các học viên này đều là những người lớn tuổi, có
sự khác biệt lớn về thế hệ, phong tục, tập quán, điều kiện sinh hoạt,... chính vì
vậy, khả năng tiếp nhận tri thức khoa học nói chung, tri thức lý luận chính trị
hành chính nói riêng, sẽ gặp nhiều khó khăn, nếu khơng có biện pháp phù hợp
sẽ dẫn đến sự phân hóa lớn giữa các học viên.
* Về trình độ văn hóa, chun mơn nghiệp vụ của học viên Trung cấp
lý luận Chính trị - Hành chính.
Hầu hết học viên hệ Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính hiện nay
có trình độ văn hóa 12/12 và đã trải qua những lớp đào tạo, bồi dưỡng nhất
định về chuyên môn nghiệp vụ thuộc nhiều chun ngành khác nhau.

Trình độ văn hóa, chun mơn nghiệp vụ là yếu tố hết sức quan trọng,
là chìa khóa giúp cán bộ cấp cơ sở mở rộng tầm nhìn, nâng cao trình độ hiểu
biết tri thức nói chung và kiến thức chuyên ngành, lĩnh vực mà họ nghiên cứu.
Trình độ văn hóa, trình độ chun mơn nghiệp vụ càng cao thì khả năng tư


×