Tải bản đầy đủ (.pdf) (73 trang)

Quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở thành phố hà nội hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (679.36 KB, 73 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

ĐỖ HỮU DŨNG

QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH
MÃ SỐ

: QUẢN LÝ XÃ HỘI
: 52 31 02 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN QUANG HIỂN

HÀ NỘI – 2015


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.......................................................................................................1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI
VỚI DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ............................................................7
1.1. Khái niệm và đặc điểm của quản lý xã hội đối với di sản văn hóa
vật thể ..................................................................................................7


1.2. Nội dung quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể................18
1.3. Vai trị và những yếu tố tác động đến hoạt động quản lý xã hội đối
với di sản văn hóa vật thể ...................................................................21
Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ VÀ THỰC
TRẠNG QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ Ở
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY..........................................................27
2.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và di sản văn hóa
vật thể ở Thành phố Hà Nội ...............................................................27
2.2. Thực trạng quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành
phố Hà Nội hiện nay...........................................................................33
Chương 3: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG
CƯỜNG QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ Ở
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY..........................................................50
3.1. Quan điểm, phương hướng tăng cường quản lý xã hội đối với di
sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội hiện nay..............................50
3.2. Giải pháp tăng cường quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
ở Thành phố Hà Nội hiện nay.............................................................54
KẾT LUẬN.................................................................................................69
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................70


1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Di sản văn hóa là báu vật, là niềm tự hào của mỗi quốc gia, chứa đựng
sức sống của một nền văn hóa với bản sắc riêng biệt trong đó thể hiện trình độ
và khẳng định vị thế của dân tộc. Việc quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị
di sản văn hóa, đặc biệt là di sản văn hóa vật thể có ý nghĩa hết sức quan trọng

đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia. Vì vậy, quản lý, bảo tồn di
sản văn hóa vật thể đã và đang là mối quan tâm có tính chất toàn cầu, trở
thành chủ đề quan trọng được bàn thảo nhiều trên các diễn đàn quốc tế, khu
vực và các quốc gia, địa phương.
Ở Việt Nam, trong sự nghiệp đổi mới và phát triển toàn diện đất nước
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công tác bảo tồn và phát
huy giá trị di sản văn hoá vật thể của dân tộc đã được coi trọng và nâng cao
một bước. Nhiều di sản văn hoá vật thể đã được giữ gìn, sưu tầm, nghiên
cứu và từng bước phát huy những giá trị văn hóa truyền thống dưới nhiều
góc độ khác nhau, đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội và tạo ra một môi
trường tốt phục vụ cho việc tham quan du lịch của nhân dân trong nước và
bạn bè quốc tế.
Hà Nội - nơi lắng hồn thiêng sông núi ngàn năm đã là nơi gặp gỡ, giao
thoa, hội tụ của nhiều nền văn minh lớn trong khu vực và trên thế giới, là nơi
tiếp nhận và ảnh hưởng từ nhiều tư tưởng, tôn giáo như: Phật giáo, Đạo giáo,
Nho giáo, Thiên Chúa giáo, Dân chủ tư sản rồi đến Chủ nghĩa Mác - Lênin và
Tư tưởng Hồ Chí Minh, đã sàng lọc, tiếp biến để phù hợp với điều kiện hoàn
cảnh, nét đẹp truyền thống của đất nước để có thể hội nhập và phát triển, tạo
nên bản sắc riêng biệt của Thăng Long - Hà Nội. Sự kết tinh đó đã để lại cho
Thủ đơ Hà Nội hơm nay nhiều di sản văn hố vật thể phong phú, đa dạng và
quý giá.


2

Nhưng hiện nay do ảnh hưởng từ mặt trái của cơ chế thị trường, xu
hướng thương mại hóa cũng như sự buông lỏng trong quản lý của Nhà nước
và các cơ quan chức năng đã dẫn đến tình trạng các giá trị di sản văn hóa vật
thể ở Hà Nội ngày càng bị mai một, lai căng. Một số di sản văn hóa vật thể ở
Hà Nội khơng cịn giữ được nét đẹp, giá trị truyền thống từ ngàn xưa để lại.

Vấn đề quản lý di sản văn hóa đã được nhiều cơng trình quan tâm,
nghiên cứu, song chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể về quản lý xã hội đối
với di sản văn hóa ở Hà Nội. Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác
giả lựa chọn đề tài “Quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành
phố Hà Nội hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành Quản
lý xã hội tại Học viện Báo chí và Tun truyền.
2. Tình hình nghiên cứu
Có thể nói nghiên cứu về di sản văn hoá vật thể là một lĩnh vực quan
trọng được rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu trong các cơng trình, đề tài
khoa học cũng như được đề cập tới trong hội nghị, hội thảo khoa học trong
thời gian qua. Tiêu biểu có các cơng trình cụ thể như:
- Nguyễn Văn Huy (2003), “Một số vấn đề bảo tồn và phát huy những
di sản văn hóa các dân tộc hiện nay”, Tạp chí Cộng sản.
Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Huy đã khái quát chung ngắn gọn về
thực trạng di sản văn hóa của cả nước (cả di sản văn hóa vật thể và phi vật
thể). Tác giả đã nêu các nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa
các dân tộc dưới góc độ của lĩnh vực văn hóa nói chung, chưa nêu rõ giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đối với di sản văn hóa nói chung và di
sản văn hóa vật thể nói riêng.
- Tạp chí văn hóa nghệ thuật (2005), “Giữ gìn, phát huy di sản văn hóa
các dân tộc Tây Bắc”, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.


3

Bài viết này khái quát về về đặc điểm tự nhiên, thực trạng di sản
văn hóa và làm rõ tính cấp thiết cần quản lý hiệu quả di sản văn hóa vùng
Tây Bắc.
- Nguyễn Viết Cường (2014), “Bảo tồn di tích trong bối cảnh hiện
nay”, Tạp chí Di sản văn hóa số 2 (47).

Tác giả Nguyễn Viết Cường đã nêu rõ tầm quan trọng của các di tích
đối với đời sống văn hóa của tồn thể dân tộc, đồng thời làm rõ những quan
điểm của cá nhân về những sai lầm mà cộng đồng dân cư thường hiểu về di
tích. Từ thực trạng đó tác giả cho rằng cần phải tập trung giải quyết một số
vấn đề như: tăng cường công tác tuyên truyền cho cộng đồng dân cư về lịch
sử, các giá trị văn hóa cần lưu giữ và phát huy tại các di tích, về ý thức của
cộng đồng dân cư khi tham gia các lễ hội tại các di tích, về cơng tác trùng tu,
chống xuống cấp đối với các di tích để khắc phục những tồn tại.
- Lưu Minh Trị (2002, 2004, 2006, 2007), “Danh thắng, di tích và lễ
hội Việt Nam” (tập I, II, III, IV), Nhà xuất bản Hà Nội.
Trong cả bốn tập tác giả nghiên cứu và giới thiệu các di tích lịch sử,
danh thắng nổi bật và các lễ hội đặc sắc của Việt Nam. Trong mỗi tập tác giả
phân tích làm rõ thực trạng bảo tồn các di tích, danh thắng và lễ hội. Tuy
nhiên, tác giả chưa đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý đối với các di tích, danh thắng và lễ hội.
- Đỗ Thỉnh (2010), “Di tích và văn vật vùng ven Thăng Long”, Nhà
xuất bản Hội nhà văn.
Tác giả chủ yếu tập trung đi sâu vào việc giới thiệu các di tích và
những giá trị văn vật vùng ven Thăng Long, nhưng chưa nêu được các giải
pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể.
- Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội - Sở Quy hoạch và Kiến trúc Hà
Nội (2000), “Thăng Long – Hà Nội, Thắng cảnh, di sản và kiến trúc”, (nhiều
tác giả), Nhà xuất bản Thanh niên .


4

Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu về các di tích, thắng cảnh và tập trung
nghiên cứu về kiến trúc của các thắng cảnh, phân tích thực trạng trong việc
quy hoạch kiến trúc đô thị phù hợp với các di tích, thắng cảnh. Tuy nhiên, các

tác giả chưa làm rõ được các quan điểm, phương hướng nhằm nâng cao vai
trò của quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể.
Những cơng trình, bài viết kể trên là những cơng trình tiêu biểu nhất,
bên cạnh đó cịn một số cơng trình, bài viết được đăng trên các trang thơng tin
khác nhau.
Có thể thấy các cơng trình nghiên cứu, bài viết trên đã cơ bản làm rõ về
di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa vật thể nói riêng, các di tích, danh
thắng tiêu biểu của cả nước cũng như của Thành phố Hà Nội và các vấn đề
liên quan đến quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể, song chưa có cơng
trình, bài viết nào nghiên cứu quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở
Thành phố Hà Nội. Khóa luận là cơng trình đầu tiên nghiên cứu về quản lý xã
hội đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội hiện nay. Đương
nhiên, các cơng trình nghiên cứu tiêu biểu trên có những cơ sở khoa học quan
trọng để tác giả kế thừa và vận dụng trong khi thực hiện khóa luận của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quản lý xã hội đối với di
sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội, phân tích các quan điểm chỉ đạo và
phương hướng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý xã hội
đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, khóa luận tập trung giải quyết các
nhiệm vụ cơ bản sau:


5

Một là, phân tích cơ sở lý luận về quản lý xã hội đối với di sản văn hóa
vật thể.
Hai là, phân tích đánh giá thực trạng quản lý xã hội đối với di sản văn

hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội hiện nay.
Ba là, đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm tăng cường quản lý xã hội đối
với di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của
các giải pháp tăng cường quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể ở
Thành phố Hà Nội hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về khơng gian nghiên cứu: khóa luận nghiên cứu hoạt động quản lý xã
hội đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội.
Về thời gian nghiên cứu: khóa luận nghiên cứu hoạt động quản lý xã hội
đối với di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Khóa luận dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa,
quản lý xã hội, quản lý nhà nước về văn hóa.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử của triết học mác - xít, khóa luận này sử dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp,
phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp nghiên cứu kết hợp lý luận với


6

thực tiễn, phương pháp logic - lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp
phỏng vấn để thực hiện các mục tiêu của khóa luận.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận

6.1. Ý nghĩa lý luận
Vận dụng các kiến thức chuyên ngành quản lý xã hội khóa luận đã làm
rõ thêm một số vấn đề lý luận về quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể,
góp phần làm phong phú thêm kho tàng tri thức lý luận khoa học của khoa
học xã hội nói chung và khoa học quản lý xã hội nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ việc nghiên cứu thực trạng quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật
thể ở Thành phố Hà Nội, khóa luận giúp các chủ thể quản lý có cái nhìn tồn
diện về những mặt đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại trong quản lý
đối với di sản văn hóa vật thể, từ đó có nhận thức và hành động tích cực để
quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể có hiệu quả nhằm bảo tồn và
phát huy giá trị của di sản văn hóa vật thể ở Thành phố Hà Nội hiện nay.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung chính của khóa luận bao gồm 3 chương, 7 tiết.


7

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI
ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
1.1. Khái niệm và đặc điểm của quản lý xã hội đối với di sản văn
hóa vật thể
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm di sản văn hóa
Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa đã từng được nghiên cứu rất nhiều
và có nhiều định nghĩa khác nhau. Sở dĩ như vậy là do văn hóa được nhìn
nhận dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau. Xã hội càng phát triển thì
văn hóa cũng phát triển theo và văn hóa cũng chính là động lực thúc đẩy cho

cuộc sống con người phát triển lên những bước cao hơn.
Dưới góc độ triết học văn hóa được định nghĩa “ là triết lý về cuộc
sống, về các giá trị, các tiêu chuẩn và quy chế, cách hành xử thực tế cũng như
các sản phẩm vật thể và phi vật thể được tạo ra từ những nhân tố này. Triết lý
và những sản phẩm này được con người kế thừa từ các thế hệ sau, để cuối
cùng dưới mọi hình thức khác nhau, và bằng cách này hay cách khác, phân
biệt những cá thể thuộc nền văn hóa này với cá thể những nền văn hóa
khác”[23; tr.117].
Các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam tiếp cận nghiên cứu theo
nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau về văn hóa và đã đưa ra hàng trăm định
nghĩa khác nhau về văn hóa. Nhiều khi các định nghĩa về văn hóa trở thành
đầu mối của các cuộc tranh luận lâu dài. Vì vậy, khái niệm văn hóa cũng được
hiểu theo nhiều cấp độ, thậm chí có những định nghĩa rất khác nhau, vẫn còn
là một khái niệm “để ngỏ” hay còn gọi là “khái niệm mở”.
Trong các ngôn ngữ phương Tây, khái niệm văn hóa được bắt nguồn từ
tiếng La Tinh: Cultus có nghĩa là trồng trọt, từ đó được hiểu rộng ra là chăm
sóc, vun trồng, chăm sóc cây cối, chăm sóc con người, trồng cây - trồng người


8

“ vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”(lời Chủ tịch
Hồ Chí Minh).
Theo học giả Đào Duy Anh thì hai tiếng văn hóa là chỉ chung tất cả
những phương diện sinh hoạt của loài người, cho nên ta có thể nói: “văn hóa
tức là sinh hoạt”[1, tr.13].
Theo Trần Ngọc Thêm văn hóa được hiểu như sau: “văn hóa là một hệ
thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích
lũy qua q trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa người với môi
trường tự nhiên và xã hội”[21, tr.10].

UNESCO cho rằng: văn hóa nên được đề cập đến như một tập hợp của
những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và cảm xúc của một xã hội hay
một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngồi văn hóa và nghệ thuật, cả
cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị truyền thống và đức tin
[24 ;tr.2].
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn
hóa tinh thần. Người đã lý giải giản dị và dễ hiểu rằng: “ vì lẽ sinh tồn cũng
như mục đích của cuộc sống, lồi người mới sáng tạo, phát minh ra ngôn ngữ
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những
công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo đó gọi là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi
phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà lồi người đã sản sinh ra
nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[15;
tr.431].
Kết luận chung là nếu chúng ta nhìn một cách tổng quát, văn hóa là một
trong những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội, là một hệ thống giá trị về vật
chất và tinh thần do con người tạo ra và được con người thừa nhận như những
chuẩn mực chung, bao gồm trong đó có cái chân, cái thiện, cái mỹ.


9

Khái niệm di sản văn hóa rất rộng cần phải định nghĩa và tiếp cận dưới
nhiều góc độ khác nhau. Cụ thể như:
Theo Từ điển Việt Nam Tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức - Sài Gịn,
Hà Nội năm 1954 thì: Di có nhiều nghĩa, trong trường hợp này Di có nghĩa là
để lại. Văn là cái vẻ biểu hiển ra cho ta có thể nhìn thấy: văn vẻ, văn hóa. Hóa
là biến đổi mà thành. Văn hóa là “sự giáo dục do văn hóa đã thấm vào trí não
người ta”[11; tr.151].
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ

biên, Hà Nội - Đà Nẵng, xuất bản năm 1998 thì: khái niệm di sản được chú
thích là “tài sản của người chết để lại”; “cái của thời trước để lại”[16; tr.246]
Văn hóa được giải thích theo năm nghĩa: “ 1. Tổng thể nói chung
những giá trị vật chất và tinh thần của con người sáng tạo ra trong quá trình
lịch sử (kho tàng văn hóa dân tộc). 2. Những hoạt động của con người nhằm
thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần - nói tổng qt - phát triển văn hóa, cơng
tác văn hóa. 3. Tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát) - học văn hóa,
trình độ văn hóa. 4. Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn
minh - sống có văn hóa, ăn nói thiếu văn hóa. 5. nền văn hóa của một thời kỳ
cổ xưa của lịch sử, được xác định trên cơ sở một tổng thể di vật tìm được có
những đặc điểm giống nhau”[16; tr.1062].
Di sản văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do cha ông ta đã
đúc kết, xây dựng và truyền lại cho chúng ta đến ngày nay. Di sản văn hóa
dân tộc bao hàm nhiều giá trị và tinh hoa do các thế hệ tiền nhân để lại và lưu
truyền. Các thế hệ người Việt Nam, ngay từ buổi đầu dựng nước đã biết tôn
trọng, sáng tạo và giữ gìn các giá trị văn hóa, đặc biệt đã biết sáng tạo và huy
động sức mạnh văn hóa vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.
Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn


10

trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Theo điều 4 của Luật
Di sản văn hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì:
Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa
vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,

khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia.
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng
truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền
khác, bao gồm tiếng nói chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học,
ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí
quyết về nghề thủ cơng truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn
hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống văn hóa dân tộc và những tri thức
dân gian khác.
1.1.1.2. Khái niệm quản lý xã hội
Quản lý là một dạng hoạt động xuất hiện rất sớm trong trong lịch sử,
trở thành một hoạt động phổ biến mọi lúc, mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ
và có liên quan đến mọi người, là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có sự tham
gia hoạt động của nhiều người nhằm hướng mọi hoạt động tới mục tiêu đề ra.
Xuất phát từ những mục đích nghiên cứu, các học giả đã đưa ra nhiều quan
niệm khác nhau về “Quản lý”.
Theo Henry Fayol: Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có,
gồm 5 yếu tố tạo thành là kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát.
Theo Hard Koont: Quản lý là xây dựng và duy trì một mơi trường tốt
giúp con người hoàn thành mục tiêu định ra.


11

Quản lý là thiết lập, khai thác các quan hệ cụ thể để hoạt động nhiều
người được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt được hiệu quả cao, bền lâu và
không ngừng phát triển. Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thu được những diễn biến,
thay đổi tích cực.

Kế thừa và phát triển các quan niệm về quản lý, có thể tổng hợp và rút
ra định nghĩa về quản lý như sau:
Quản lý là sự tác động có ý thức, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lý thơng qua sức mạnh quyền lực theo một quy trình với những nguyên
tắc, phương pháp, phong cách nghệ thuật và các công cụ quản lý nhằm đạt
mục tiêu của tổ chức trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định.[19; tr.14]
Từ khái niệm trên có thể thấy, quản lý chính là biểu hiện mối quan hệ
giữa con người với con người, đó là mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối
tượng quản lý; là sự tác động có ý thức và bằng quyền lực. Quản lý là sự tác
động theo chu trình bởi sự phối hợp giữa các nguồn lực nhằm thực hiện mục
tiêu chung; quản lý tồn tại trong môi trường luôn biến đổi. Trong tất cả các
hoạt động quản lý, quản lý xã hội là hoạt động phức tạp nhất. Bởi đối tượng
của quản lý xã hội rất đa dạng và ln ln vận động. Do đó, u cầu cần huy
động các chủ thể khác nhau trong xã hội tham gia vào quá trình quản lý.
Quản lý xã hội là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lý đối với các hoạt động của đời sống xã hội nhằm hướng tới mục tiêu
nhất định. Một mặt hướng tới phát triển những giá trị tốt đẹp, mặt khác hạn
chế những tác động tiêu cực tới xã hội hướng tới một xã hội phát triển toàn
diện và ổn định.[19; tr.15]
Quản lý xã hội là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản: chủ thể
quản lý xã hội, đối tượng quản lý xã hội, mục tiêu quản lý xã hội, công cụ,
phương pháp quản lý xã hội và môi trường quản lý. Các nhân tố này có mối


12

quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau để hình thành nên quy luật và
tính quy luật trong quản lý xã hội.
1.1.1.3. Khái niệm quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
Có thể khái quát hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể

gồm những hoạt động sau:
- Xây dựng, hoàn thiện, sửa đổi bổ sung hệ thống thể chế và thiết chế
về di sản văn hoá vật thể. Đầu tư ngân sách cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy
giá trị di sản văn hoá vật thể của dân tộc.
- Tổ chức hệ thống các cơ quan quản lý, nghiên cứu, sưu tầm, giới
thiệu, tổ chức bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hoá vật thể.
- Tăng cường mối quan hệ hợp tác, giao lưu quốc tế về di sản văn hoá.
- Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên môn về
quản lý, nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu và bảo vệ giữ gìn di sản văn hố
vật thể.
- Tổ chức điều tra, kiểm tra việc triển khai và thực hiện Luật Di sản văn
hoá trên thực tế.
- Xử lý, giải quyết các vi phạm đối với di sản văn hố vật thể của các tổ
chức và cơng dân.
- Xử lý, giải quyết các khiếu nại, tranh chấp về di sản văn hoá vật thể.
- Tổ chức, chỉ đạo và kiểm sốt việc xã hội hố cơng tác bảo vệ, tôn
tạo, trùng tu, sửa chữa và chống xuống cấp đối với các di sản văn hoá vật thể.
Như vậy từ những hoạt động trên, có thể tổng hợp và rút ra định nghĩa
về quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể như sau:
Quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể là quá trình chủ thể quản
lý sử dụng các cơng cụ quản lý như chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, sử dụng các cơ chế, thiết chế xã hội… nhằm phòng
tránh, ngăn chặn những tác động tiêu cực tới những di sản văn hóa vật thể,
bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp, phù hợp với
thuần phong, mỹ tục của dân tộc và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước.


13


1.1.2. Đặc điểm quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
* Về chủ thể quản lý
Quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể là nhiệm vụ của mọi cấp,
mọi ngành, mọi cá nhân trong xã hội. Chủ thể quản lý xã hội đối với di sản
văn hóa vật thể rất đa dạng, là tổ chức hay cá nhân có thẩm quyền trong quá
trình tác động vào đối tượng quản lý. Bao gồm Đảng, Nhà nước và các chủ
thể khác.
Đảng cộng sản Việt Nam
Chủ thể quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể rất đa dạng, phong
phú. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và
xã hội. Đảng thực hiện vai trò chỉ đạo, định hướng của mình trên những nội
dung sau: ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị và các văn bản khác nhằm triển
khai công tác bảo tồn di sản văn hóa vật thể với những mục tiêu và phương
thức thực hiện phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh xã hội, đất nước; bố trí phân
cơng cán bộ trực tiếp chỉ đạo và thực hiện việc quản lý các di sản văn hóa vật
thể; tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên và toàn dân tham gia thực hiện
bảo tồn di sản văn hóa vật thể; kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện Nghị
quyết, Chỉ thị, chương trình có liên quan đến hoạt động quản lý di sản văn
hóa vật thể.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là chủ thể trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc bảo tồn và
quản lý di sản văn hóa vật thể. Nhà nước quản lý di sản văn hóa vật thể thơng
qua việc thiết lập bộ máy quản lý. Hiện nay, để quản lý văn hóa nói chung,
quản lý di sản văn hóa vật thể nói riêng, ở nước ta đã thiết lập và ngày càng
hoàn thiện hệ thống các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương. Trong
đó chủ yếu bao gồm:
- Các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung.



14

Theo nhiệm vụ quyền hạn của mình, Chính phủ thống nhất quản lý di
sản văn hóa trên phạm vi cả nước. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý
di sản văn hóa tại địa phương. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban
nhân dân các cấp trong quản lý di sản văn hóa được quy định cụ thể trong
Nghị định số 98/2010/ NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính Phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật di sản văn hóa.
- Các cơ quan chun mơn thuộc Ủy ban nhân dân
Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch ở cấp tỉnh và các phịng Văn hóa Thơng tin ở cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về di sản văn
hóa vật thể ở địa phương theo quy định của Luật Di sản văn hóa.
- Các cơ quan nhà nước khác
Ngoài các cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng quản lý di sản văn
hóa vật thể đã nêu trên tại các khu di tích, danh thắng có Ban quản lý di tích.
Ở Thành phố Hà Nội có Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Hà Nội – Trụ sở
đặt tại 90 Thợ Nhuộm.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi,
nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động các
thành viên của tổ chức, gia đình và nhân dân tham gia vào việc bảo tồn và
phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của di sản văn hóa vật thể.
Các thiết chế xã hội khác
Bên cạnh các chủ thể trên, hoạt động quản lý di sản văn hóa vật thể cịn
có sự tham gia của các thiết chế xã hội khác. Sự tham gia quản lý xã hội của
các thiết chế xã hội giữ vai trò quan trọng, quyết định tới sự thành công hay
thất bại của hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể tại địa
phương. Các thiết chế xã hội khác như: các tổ chức, đoàn thể xã hội, các thiết
chế làng xã, gia đình và tồn thể nhân dân tham gia quản lý trên các phương



15

diện sau: tích cực và ủng hộ tham gia các hoạt động bảo tồn và phát huy giá
trị di sản văn hóa vật thể tại địa phương như tuyên truyền, phổ biến chủ
trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về quản lý xã hội đối
với di sản văn hóa vật thể, giám sát các hoạt động của bộ máy quản lý, đội
ngũ cán bộ tham gia quản lý.
* Về đối tượng quản lý
Muốn quản lý hiệu quả, các chủ thể quản lý xã hội phải nắm vững và
hiểu rõ về đối tượng quản lý.
Đối tượng của quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể được xác
định là di sản văn hóa vật thể và những vấn đề xoay quanh di sản văn hóa vật
thể. Bao gồm tổng thể các hoạt động kiểm kê, phân tích, đánh giá hiện trạng
của các di tích, danh thắng…, hoạt động trùng tu, tôn tạo, bảo tồn và phát huy
những giá trị của di sản văn hóa vật thể, và các hoạt động khác có liên quan
đến di sản văn hóa vật thể. Đối tượng của quản lý di sản văn hóa vật thể ln
gắn với truyền thống lịch sử của dân tộc. Vì vậy, chủ thể quản lý cần phải
hiểu nguồn gốc, giá trị văn hóa lịch sử, hiểu được quy luật và tính quy luật
của đối tượng quản lý để có thể đưa ra được các phương pháp, chủ trương,
chính sách phù hợp nhằm thực hiện mục tiêu quản lý.
* Về phương pháp quản lý
Xuất phát từ đối tượng quản lý nêu trên, phương pháp quản lý xã hội
đối với di sản văn hóa được thể hiện như sau:
- Phương pháp hành chính
Là phương pháp tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lên đối tượng
quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính bắt buộc nhằm hướng các hành vi xã
hội đạt tới các mục tiêu quản lý xã hội đề ra.
Yêu cầu để sử dụng hiệu quả phương pháp này: phải có hệ thống pháp
luật quản lý xã hội đồng bộ, đầy đủ, cụ thể, ổn định, phù hợp với đông đảo

công dân, cơ quan, tổ chức; phải có hệ thống các cơ quan quản lý chức năng


16

cùng đội ngũ cơng chức có trình độ, kiến thức về di sản văn hóa vật thể và có
nhân cách tốt; phải có cơ quan thanh tra, kiểm sốt của nhà nước công tâm,
phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh những sai phạm về di sản văn hóa
vật thể.
Phương pháp này được thực hiện thông qua các quyết định, chỉ thị,
thông tư và các văn bản quy phạm pháp luật khác về di sản văn hóa vật thể
của các cơ quan quản lý, giúp cho nhà quản lý giải quyết nhanh chóng, hiệu
quả mọi mâu thuẫn, xung đột xảy ra trong quá trình quản lý.
- Phương pháp giáo dục, thuyết phục
Là sự tác động lên đối tượng quản lý thơng qua các q trình, quan hệ
tâm lý, tình cảm, nhận thức giúp đối tượng có được thái độ, tình cảm và nhận
thức tích cực từ đó tham gia hiệu quả vào hoạt động quản lý di sản văn hóa
vật thể.
Phương pháp này được thực hiện thơng qua các hoạt động như tuyên
truyền, vận động, giáo dục… thông qua hệ thống các sách, báo, phương tiện
truyền thông, đội ngũ làm công tác tuyên truyền.
Để sử dụng hiệu quả phương pháp này, cần đảm bảo các điều kiện như:
đa dạng hóa các loại hình truyền thơng và nội dung truyền thông đại chúng
nhằm cung cấp kiến thức và giáo dục một cách rộng rãi, phổ biến; Nhà nước
phải có đường lối và thể chế chính trị đúng đắn, bảo vệ và thể hiện ý chí,
nguyện vọng của nhân dân; phải có cơ quan chức năng và đội ngũ cơng chức
có phẩm chất và trình độ và cần có hệ thống pháp luật đồng bộ, phù hợp.
Thông qua phương pháp này, ý thức của cộng đồng về bảo tồn và phát
huy những giá trị truyền thống của di sản văn hóa vật thể được nâng cao từ đó
tham gia quản lý di sản văn hóa vật thể tích cực và có ý thức tự giác hơn.

- Phương pháp kinh tế


17

Là phương pháp chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý thơng
qua các lợi ích vật chất, làm cho đối tượng quản lý tự giác chấp hành đúng
các quy đinh, quy tắc quản lý.
Thực chất việc sử dụng phương pháp kinh tế trong quản lý di sản văn
hóa vật thể là việc dùng lợi ích vật chất để kích thích đối tượng thực hiện
những hoạt động bảo vệ các di sản văn hóa vật thể để các di sản còn mãi với
thời gian, và phát huy được những giá trị trong văn hóa truyền thống của dân
tộc; sử dụng biện pháp kinh tế chi phối lên động cơ hành động của con người
nhờ đó biến con người thụ động thành chủ động, sáng tạo đưa ra các sáng
kiến bảo vệ cũng như giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp trong các di
sản văn hóa vật thể để nhân rộng ra tất cả các địa phương trong cả nước.
Trong quản lý và bảo vệ di sản văn hóa vật thể, biện pháp kinh tế cũng
phát huy được tác dụng của nó. Cụ thể như thành lập các quỹ bảo vệ di sản
văn hóa vật thể. Đồng thời xét khen thưởng đối với những người có thành tích
cao trong bảo vệ di sản văn hóa vật thể, và kỷ luật, xử phạt đối với những cá
nhân, gia đình, tổ chức có hành vi xâm phạm làm ảnh hưởng đến di sản văn
hóa vật thể hay vi phạm pháp luật trong quá trình quản lý di sản văn hóa vật
thể để từ đó nêu cao tinh thần tự giác bảo vệ và phát huy những giá trị truyền
thống của mọi người dân trong xã hội.
1.2. Nội dung quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
1.2.1. Hoạch định chiến lược, chính sách và ban hành các văn bản
quy phạm pháp luật quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
Hoạch định chiến lược, chính sách quản lý xã hội, chủ trương bảo tồn
và phát huy những giá trị văn hóa nói chung và văn hóa vật thể nói riêng là
một nội dung quan trọng trong quản lý xã hội của các chủ thể quản lý. Đây là

giai đoạn lập kế hoạch, mở đường cho cả quy trình quản lý, là cơ sở, tiền đề
tiến hành các giai đoạn tiếp theo trong quá trình quản lý. Ban hành các văn
bản quy phạm pháp luật về quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể là nội


18

dung quan trọng trong quản lý di sản văn hóa vật thể của các chủ thể quản lý
nhằm xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, đầy đủ, cụ thể và
khoa học, làm cơ sở pháp lý để tiến hành hoạt động bảo tồn và phát huy
những giá trị của di sản văn hóa vật thể.
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành
hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được
quy định cụ thể, trong đó có các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc,
được Nhà nước đảm bảo thực hiện trên thực tế để điều chỉnh các quan hệ xã
hội. Bao gồm các văn bản như Hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật khác
như: nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị…
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý di sản văn
hóa vật thể cần được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền để góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể.
Đồng thời các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa vật thể phải
phản ánh được yêu cầu của việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá
trình quản lý. Những văn bản này phải là công cụ hữu hiệu để các chủ thể
quản lý tác động lên các quan hệ phát sinh trong q trình quản lý di sản văn
hóa vật thể.
1.2.2. Kiện toàn bộ máy quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
làm nhiệm vụ quản lý di sản văn hóa vật thể
Hoạt động quản lý văn hóa nói chung và di sản văn hóa vật thể nói
riêng thành cơng hay không phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy và đội ngũ
cán bộ làm nhiệm vụ quản lý văn hóa. Bởi quản lý chính là hoạt động của con

người, do con người do đó nó phải được tiến hành thông qua bàn tay khéo léo
của con người theo một bộ máy tổ chức nhất định làm nhiệm vụ quản lý.
Để hoạt động quản lý di sản văn hóa vật thể có hiệu quả, yêu cầu phải
xây dựng được bộ máy quản lý đồng bộ, có sự phân cơng chức năng, nhiệm vụ
rõ ràng giữa các bộ phận và phân cấp quản lý từ trung ương đến cơ sở theo


19

nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong bộ máy quản lý di sản văn hóa vật thể phải
có những cán bộ làm cơng tác quản lý có kiến thức, trình độ, kỹ năng để thực
hiện đầy đủ chức năng quản lý và hồn thành mọi nhiệm vụ được phân cơng.
1.2.3. Chỉ đạo tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, pháp luật về
quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
Khi chiến lược, chính sách pháp luật về quản lý di sản văn hóa vật thể
được ban hành, bộ máy quản lý văn hóa sẽ triển khai các hoạt động của mình,
ra quyết định thuộc thẩm quyền, thực hiện những nhiệm vụ cụ thể và những
giải pháp cụ thể để điều chỉnh để điều hành quá trình thực hiện chính sách,
pháp luật phù hợp với thực tế, xây dựng mối quan hệ quản lý phối hợp theo
chiều dọc và chiều ngang. Trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện, các nhà quản lý
đưa ra các quyết định quản lý chỉ đạo cho cấp dưới và đến từng thành viên để
tổ chức thực hiện.
Ngoài hệ thống chuẩn mực về mặt pháp luật, trong quá trình chỉ đạo, tổ
chức thực hiện chiến lược, chính sách, pháp luật về quản lý xã hội đối với di
sản văn hóa vật thể các chủ thể quản lý cần quan tâm đến chuẩn mực phong
tục tập quán do cộng đồng đề xuất. Đây cũng là biện pháp nhằm tăng cường
vai trò của cộng đồng trong quản lý, bảo tồn và phát huy những giá trị truyền
thống tốt đẹp. Tuy nhiên, khi tiến hành xây dựng các quy ước cần phải tính
đến sự phù hợp pháp luật, phù hợp văn hóa nếp sống của từng địa phương có
như vậy thì hoạt động quản lý mới đạt được hiệu quả tối đa.

1.2.4. Thanh tra, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện chiến lược,
chính sách, pháp luật và xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý di sản văn
hóa vật thể
Mục đích của hoạt động thanh tra, kiểm tra là nhằm phòng ngừa, ngăn
chặn, xử lý kịp thời những vi phạm trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa vật
thể. Đây chính là hoạt động nhằm đảm bảo pháp chế trong quản lý xã hội.


20

Nếu hoạt động quản lý mà khơng có hoạt động thanh tra, kiểm tra sẽ tạo điều
kiện cho những sai sót xảy ra.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra có thể được tiến hành định kỳ hoặc đột
xuất. Tuy nhiên để tránh được những sai phạm cần phải kiểm tra thường
xuyên bởi kiểm tra thường xuyên giúp nhà quản lý nắm chắc được tình hình
thực hiện kế hoạch, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực quản lý văn hóa vật
thể. Từ đó có những đánh giá khách quan về mặt tích cực và hạn chế của công
tác trên thực tế, xử lý kịp thời những vi phạm, đồng thời khuyến khích những
nhân tố tích cực giúp hoạt động quản lý đạt hiệu quả cao nhất.
Đánh giá là việc xem xét, nhận định về các giá trị, kết quả thu được khi
thực hiện chiến lược, chính sách. Đánh giá kết quả thực hiện chính sách là
một cơng việc tương đối phức tạp bởi khó xác định được căn cứ nhất quán để
đánh giá, cơ sở của việc đánh giá không cụ thể.
Trong quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể cần phải kết hợp hài
hòa giữa hoạt động thanh tra, kiểm tra với hoạt động đánh giá kết quả thực
hiện chiến lược, chính sách để có thể vừa kịp thời bổ sung, hồn thiện chiến
lược, chính sách vừa chấn chỉnh cơng tác thực hiện, góp phần nâng cao hiệu
quả thực hiện chính sách.
1.2.5. Điều tra, sưu tầm, quản lý bộ dữ liệu, thơng tin đầy đủ, chính
xác về di sản văn hóa vật thể

Trong hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể việc điều
tra, sưu tầm và quản lý bộ dữ liệu thơng tin về các di sản văn hóa vật thể là cần
thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc lập quy hoạch, kế hoạch về việc trùng tu,
tôn tạo và làm hồ sơ căn cứ để xét công nhận di tích địa phương, di tích quốc
gia, di tích quốc gia đặc biệt…Đồng thời, nhằm chịu trách nhiệm với hậu thế
về tính chính xác của những thơng tin dữ liệu của các di sản văn hóa vật thể từ
xã xưa để lại và những dữ liệu điều tra, nghiên cứu mới thu thập được.


21

Do vậy cần phải quản lý thường xuyên, liên tục và tồn diện, chính xác
về di sản văn hóa vật thể, coi việc quản lý bộ dữ liệu, thông tin về di sản văn
hóa vật thể là một nội dung quan trọng phải tiến hành ngay và có bộ phận
chuyên trách. Có rất nhiều hình thức quản lý bộ dữ liệu, thơng tin về di sản
văn hóa vật thể như: thơng qua đội ngũ cán bộ văn thư văn phịng, thơng qua
hệ thống máy tính điện tử, thơng qua kho lưu trữ truyền thống để lưu trữ
những sách báo, tài liệu liên quan.
1.2.6. Tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát việc xã hội hố cơng tác bảo vệ,
tơn tạo, trùng tu, sửa chữa và chống xuống cấp đối với các di sản văn hoá
vật thể
Tổ chức chỉ đạo và kiểm sốt việc xã hội hóa cơng tác bảo vệ, tơn tạo
trùng tu, sửa chữa và chống xuống cấp đối với các di sản văn hoá vật thể là
một hoạt động quản lý có tầm quan trong trong giai đoạn hiện nay. Để hoạt
động quản lý này có hiệu quả, trước hết cần phải tăng cường tuyên truyền
nâng cao ý thức tôn trọng, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể
trong mọi tầng lớp nhân dân.
Đồng thời, việc triển khai công tác đấu thầu và tổ chức thi cơng tu bổ các
di tích các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phụ trách quản lý các di sản văn
hóa vật thể phải thường xun đơn đốc, nhắc nhở và cùng đơn vị thi công,

trùng tu lên kế hoạch trùng tu, tôn tạo, sửa chữa để tránh việc sửa chữa trùng tu
di tích mất đi những giá trị truyền thống nguyên bản vốn có từ xa xưa để lại.
1.3. Vai trò và những yếu tố tác động đến hoạt động quản lý xã hội
đối với di sản văn hóa vật thể
1.3.1. Vai trị của quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể
Quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể là biện pháp chỉ đạo, tổ
chức các hoạt động nhằm bảo vệ di sản văn hóa vật thể. Đây là một quá trình
thực hiện rất nhiều hoạt động khác nhau như: xây dựng, ban hành và thực thi
pháp luật về di sản văn hóa, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về di


22

sản văn hóa cho người dân; thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại,
tố cáo và xử lý những vi phạm trong lĩnh vực văn hóa. Các hoạt động này
nhằm định hướng và hướng dẫn các chủ thể thực hiện các chương trình, kế
hoạch bảo vệ di sản văn hóa vật thể.
Khơng có quản lý xã hội, khơng có các biện pháp chỉ đạo, tổ chức và
quản lý của các chủ thể quản lý di sản văn hóa thì việc bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa vật thể sẽ diễn ra tự phát, dẫn đến tình trạng xâm phạm,
trùng tu, chống xuống cấp khơng đúng với giá trị truyền thống của các di sản
văn hóa vật thể.
Đặc biệt, đất nước ta ở vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, nhiều loại
hình di sản như Đình, Chùa, Miếu và các di tích kiến trúc nghệ thuật, lịch sử
văn hố có nguy cơ xuống cấp, bị lấn chiếm và xâm hại của con người rất cần
phải có hoạt động quản lý xã hội, chính sách, kế hoạch của các chủ thể quản
lý để có thể kịp thời chống xuống cấp, tôn tạo, tu sửa và nâng cấp các di sản
văn hóa vật thể để có thể lưu giữ những nét đẹp, giá trị văn hóa truyền thống
mà cha ông ta đã để lại.
Trong giai đoạn hiện nay quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể

khơng chỉ nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống văn hóa của dân
tộc mà còn nhằm phát huy và khai thác giá trị của các di sản văn hóa vật thể,
tạo ra nhiều cơ hội lớn cho phát triển du lịch, phát tiển kinh tế đất nước.
Trong định hướng phát triển du lịch hoạt động quản lý xã hội đối với di sản
văn hóa vật thể đóng vai trị quan trọng trong xây dựng hệ thống sản phẩm du
lịch chất lượng cao phát triển thành thương hiệu du lịch nổi tiếng, có khả năng
cạnh tranh trong khu vực và quốc tế.
Có thể thấy rằng, di sản văn hóa vật thể có vai trị quan trọng đối với
đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư và quản lý xã hội đối với di sản văn
hóa vật thể là một vấn đề quan trọng để ổn định, phát triển kinh tế - xã hội,


23

giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc trong quá trình
giao lưu, hội nhập với các nền văn hóa trên thế giới.
1.3.2. Những yếu tố tác động đến hoạt động quản lý xã hội đối với di
sản văn hóa vật thể
Quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể là đặc biệt quan trọng,
góp phần lưu giữ và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp mà ông cha
để lại. Đồng thời, góp phần ổn định kinh tế - xã hội của đất nước. Trong quá
trình quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể có rất nhiều yếu tố tác động
đến theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Các yếu tố tác động đến
hoạt động quản lý xã hội đối với di sản văn hóa vật thể bao gồm:
- Sự định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được coi là
yếu tố đầu tiên quyết đến sự thành công trong quản lý. Đây chính là những
cơng cụ, phương tiện, những giải pháp của chủ thể quản lý nhằm định hướng
dẫn dắt, khích lệ, điều hịa, phối hợp hoạt động của con người và cộng đồng
người trong việc đạt được mục tiêu đề ra. Theo quy luật chủ thể quản lý tác

động vào đối tượng quản lý. Bên cạnh đó, đối tượng quản lý cũng tác động
vào chủ thể quản lý nhằm cùng đạt được mục tiêu quản lý chung thơng qua
việc xác định và q trình thực hiện cơng việc chung nhằm đạt được những
mục tiêu nhất định.
Định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có tác động
trực tiếp đến nội dung, phương pháp và hiệu quả quản lý di sản văn hóa vật
thể. Nếu chủ trương, chính sách, pháp luật ban hành đúng, nghiêm minh và
kịp thời sẽ là đòn bẩy định hướng và thúc đẩy quản lý xã hội đối với di sản
văn hóa vật thể đạt được mục tiêu quản lý và ngược lại.
- Tính đồng bộ hợp lý của chính sách, pháp luật quản lý xã hội về di
sản văn hóa


×