Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

Hiệu quả sử dụng phương tiện tuyên truyền trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc mường ở huyện ba vì, thành phố hà nội hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.14 MB, 109 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LÊ CHÍ THỨC

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN TUYÊN TRUYỀN
TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA
CỦA DÂN TỘC MƯỜNG Ở HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Ngành
: Chính trị học
Chuyên ngành : Công tác tư tưởng
Mã số
: 60 310 201

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Lương Ngọc Vĩnh

HÀ NỘI - 2014


XÁC NHẬN LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC SỬA CHỮA

Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng
chấm luận văn thạc sĩ.


Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2014
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS, TS. Lương Khắc Hiếu


LỜI CẢM ƠN!

Trong q trình thực hiện và hồn thành Luận văn tốt nghiệp, em
xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các quý thầy cơ
trong Khoa Tun truyền, Học viện Báo chí và Tun truyền, sự giúp đỡ
của các cô, chú, anh chị em trong Ban Tun giáo Huyện ủy Ba Vì,
Phịng Văn hóa thơng tin,Trung tâm văn hóa thơng tin, Đài truyền thanh
huyện Ba Vì. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy TS
Lương Ngọc Vĩnh - phụ trách Khoa Tuyên truyền đã tận tình hướng dẫn,
chỉ bảo em trong suốt q trình hồn thành Luận văn tốt nghiệp.

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2014
Học viên

Lê Chí Thức


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHƯƠNG
TIỆN TUYÊN TRUYỀN TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC
GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC MƯỜNG.......................................... 7
1.1. Một số nét khái quát về các giá trị văn hóa của dân tộc Mường ...... 7
1.2. Phương tiện tuyên truyền trong bảo tồn và phát huy các giá trị

văn hóa của dân tộc Mường.......................................................... 16
1.3. Hiệu quả sử dụng phương tiện tuyên truyền trong bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Mường ........................... 27
Chương 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN
TUYÊN TRUYỀN TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ
TRỊ VĂN HĨA CỦA DÂN TỘC MƯỜNG Ở HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI .............................................................................. 35
2.1. Các giá trị văn hóa tiêu biểu của dân tộc Mường ở huyện Ba Vì
thành phố Hà Nội hiện nay ........................................................... 35
2.2. Hiệu quả sử dụng phương tiện tuyên truyền trong bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Mường ........................... 48
2.3. Nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế về hiệu quả sử
dụng phương tiện tuyên truyền trong bảo tồn và phát huy các
giá trị văn hóa của dân tộc Mường.............................................. 57
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
PHƯƠNG TIỆN TUYÊN TRUYỀN TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT
HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC MƯỜNG Ở
HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY .............................. 66


3.1. Tăng cường lãnh đạo, quản lý của cấp ủy Đảng, chính quyền các
cấp huyện Ba Vì trong việc đầu tư, sử dụng và phát huy hiệu quả
các phương tiện tuyên truyền trong bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa của dân tộc Mường ............................................................ 66
3.2. Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của cán bộ làm cơng tác
văn hóa, đội ngũ báo cáo viên, tun truyền viên trong bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Mường ....................... 70
3.3. Đầu tư xây dựng, phát triển các phương tiện tuyên truyền trọng tâm
là các phương tiện thông tin đại chúng và các thiết chế văn hóa
trong bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ................ 73

3.4. Đẩy mạnh tuyên truyền đi đôi với chăm lo phát triển kinh tế, xă
hội nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ................. 78
3.5. Nâng cao trình độ dân trí và ý thức của người dân trong việc
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc Mường ................. 83
KẾT LUẬN................................................................................................. 91
KIẾN NGHỊ................................................................................................ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 94
PHỤ LỤC.................................................................................................... 98


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Số lượng nhà sàn ở huyện Ba Vì huyện nay ................................ 40
Bảng 2.2: Số lượng trang phục ở huyện Ba Vì hiện nay .............................. 43
Bảng 2.3: Tần suất sử dụng các phương tiện tuyên truyền trong bảo tồn
và phát huy bản sắc giá trị văn hóa dân tộc Mường ở huyện Ba Vì .............. 51


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Là một trong ba bộ phận cấu thành công tác tư tưởng, công tác tun
truyền đóng vai trị quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, củng cố niềm
tin và cổ vũ tính tích cực của nhân dân trong các hoạt động đời sống thực tiễn
thông qua hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin, quan điểm, đường lối
của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, những tinh hoa văn hóa dân
tộc, nhân loại làm cho chúng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của
toàn xã hội. Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên công tác tuyên truyền phải sử
dụng các phương tiện tuyên truyền khác nhau như: đội ngũ báo cáo viên, hệ

thống thông tin đại chúng, các thiết chế văn hóa, văn nghệ…Việc sử dụng
hiệu quả các phương tiện tuyên truyền sẽ giúp cho việc truyền bá nội dung
tuyên truyền diễn ra nhanh hơn, tác động tới nhiều đối đượng cùng một lúc,
sinh động, phong phú và hấp dẫn hơn.
Trong q trình tồn cầu hóa hiện nay, vấn đề kế thừa và phát huy các
giá trị văn hóa truyền thống được đặt ra bức thiết hơn bao giờ hết đối với mọi
quốc gia. Giá trị văn hóa truyền thống là những giá trị thuộc về tư tưởng, lối
sống, chuẩn mực đạo đức được cộng đồng thừa nhận và bảo tồn, gìn giữ từ
đời này sang đời khác… Khơng dựa trên nền tảng của giá trị văn hóa truyền
thống thì khơng thể tiếp thu có hiệu quả những thành tựu hiện đại và càng
khơng thể có sự phát triển lâu bền. Trước sự tác động của cơ chế thị trường,
của hội nhập quốc tế và sự giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ nhiều giá trị văn
hóa truyền thống Việt Nam ngày nay đang bị mai một.
Dân tộc Mường ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội là dân tộc có số
lượng đơng với số dân khoảng 24 nghìn người. Bản sắc văn hóa dân tộc
Mường nói chung và ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội nói riêng bao gồm
những giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà


2

nước đặc biệt của ủy ban nhân dân huyện Ba Vì, những giá trị văn hóa đó
đang dần được khơi phục, bảo tồn. Những giá trị thực vốn có của dân tộc
Mường như nhà sàn, trang phục, cồng chiêng và ngơn ngữ của dân tộc
Mường đó là những giá trị văn hóa thể hiện bản sắc riêng của mỗi dân tộc và
những giá trị nó bất biến theo thời gian. Tuy nhiên trong điều kiện hội nhập
quốc tế như hiện nay thì những giá trị văn hóa mang bản sắc riêng của người
Mường đang bị mai một, lai căng, không cịn giữ ngun bản sắc; trước tình
hình đó thì việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Mường đang là
vấn đề thời sự cấp bách trong giai đoạn hiện nay.

Những năm qua, cùng với nhiều biện pháp của Huyện ủy, ủy ban nhân
dân huyện, các phương tiện tun truyền đã và đang góp phần tích cực trong
việc tuyên truyền giá trị văn hóa các dân tộc nói chung và giá trị văn hóa dân
tộc Mường nói riêng. Hiệu quả của việc tuyên truyền giá trị văn hóa dân tộc
Mường đã góp phần nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa và đáp ứng nhu
cầu thưởng thức văn hóa, đồng thời đẩy lùi các tệ nạn xã hội diễn ra trên địa
bàn một huyện miền núi. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được,
hiệu quả tuyên truyền còn hạn chế, chưa đạt hiệu quả cao; một trong những
nguyên nhân dẫn tới công tác tuyên truyền không đạt hiệu quả là do việc sử
dụng các phương tiện tuyên truyền trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hóa của dân tộc Mường chưa được quan tâm đúng mức. Trước tình hình đó
việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện tuyên truyền
trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Mường là việc làm có ý
nghĩa cấp thiết.
Vì những lí do trên, tơi chọn vấn đề “Hiệu quả sử dụng các phương
tiện tuyên truyền trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc
Mường ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn
Thạc sỹ.


3

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề hiệu quả sử dụng phương tiện tuyên truyền đã được một số nhà nghiên
cứu quan tâm dưới góc độ, phạm vi và mức độ, mục đích tiếp cận khác nhau.
Các cơng trình, tài liệu liên quan đến đề tài có thể chia làm hai nhóm
như sau:
- Các tài liệu bàn về hiệu quả truyền thơng nói chung và các phương
tiện tun truyền nói riêng.
Ngơ Văn Thạo (2002), Đổi mới công tác tuyên truyền miệng và hoạt

động của báo cáo viên trong tình hình mới, Tạp chí Tư tưởng Văn hóa, số 7;
Mai Quỳnh Nam (2006), Vấn đề nghiên cứu hiệu quả truyền thơng đại chúng,
Tạp chí Xã hội học; Đinh Phương Thảo (2006), Hiệu quả của truyền thông đại
chúng với công chúng thanh niên đô thị, Luận văn Thạc sĩ Xã hội học; Tiến sĩ
Phạm Huy Kỳ (2009), Các loại hình tuyên truyền và tiêu chuẩn đánh giá các
loại hình truyền thơng tun truyền, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông
số 10; Nguyễn Thị Liễu, Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện dạy
học ở trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, Luận văn Thạc sỹ Giáo
dục học; Học viện Báo chí và Tun truyền, Khoa Tun truyền (2009) Giáo
trình Ngun lý cơng tác tư tưởng tập 2, Hà Nội; Đổi mới công tác tuyên
truyền, vận động quần chúng (năm 2013), Tạp chí Tuyên giáo, số 1, tr 15.
Nhìn chung các bài viết nêu trên đã làm rõ được khái niệm, vị trí, vai
tṛị, chức năng của phương tiện tun truyền nói chung và phương tiện thơng
tin đại chúng nói riêng. Tuy nhiên các cơng trình nói trên chưa đi sâu làm rõ
hiệu quả sử dụng phương tiện tuyên truyền hoặc có tài liệu chỉ đề cập sâu nội
dung cho một loại phương tiện tun truyền nhưng cịn rời rạc chưa mang
tính tổng quát cao.
- Các tài liệu bàn về các giá trị văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị văn
hóa dân tộc Việt Nam, văn hóa dân tộc thiểu số:


4

Lũ Giàng Pỏo (1997), Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số,
Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội; Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt
Nam; Ngơ Văn Lệ (1998), Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nxb.
Giáo dục, Hà Nội. Nguyễn Khoa Điềm (2000) Văn hóa truyền thống các dân
tộc thiểu số trong cuộc sống hơm nay, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 7; Phan
Ngọc (2004) Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa Thơng tin; GS.TS Ngơ
Đức Thịnh (2010), Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt

Nam trong thời đổi mới và hội nhập, Nxb. Hành chính Quốc gia.
Các cơng trình, tác phẩm nêu trên đều đã đi vào khai thác những đặc
điểm chung về bản sắc văn hóa; văn hóa các dân tộc thiểu số; văn hóa của dân
tộc Mường nói riêng ở nước ta. Tuy nhiên, những cơng trình này mới nghiên
cứu những giá trị văn hóa tổng quát, những phong tục tập qn của người
Mường. Một số đề tài, cơng trình cũng đề cập tới vấn đề bảo tồn, giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường nhưng chưa đi sâu tìm hiểu một số
nét văn hóa cụ thể, đặc biệt là vấn đề hiệu quả sử dụng phương tiện tuyên
truyền trong bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Mường ở huyện
Ba Vì, thành phố Hà Nội hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lí luận, khảo sát đánh giá thực trạng hiệu quả sử
dụng các phương tiện tuyên truyền trong bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc
Mường, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện tuyên
truyền trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Mường ở huyện
Ba Vì, thành phố Hà Nội hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ lý luận về hiệu quả sử dụng các phương tiện tuyên truyền
trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Mường.


5

- Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng các phương tiện tuyên truyền
trong bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Mường.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các phương tiện
tuyên truyền trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Mường ở huyện
Ba Vì, thành phố Hà Nội hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả sử dụng phương tiện tuyên truyền trong bảo tồn và phát huy
giá trị văn hóa của dân tộc Mường.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Hiệu quả sử dụng phương tiện tuyên truyền trong bảo tồn và phát huy
giá trị văn hóa của dân tộc Mường ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội hiện
nay. Trên thực tế, giá trị văn hóa dân tộc Mường rất đa dạng và phong phú
nhưng vì thời gian nên phạm vi nghiên đề tài này tập trung nghiên cứu hiệu
quả sử dụng phương tiện tuyên truyền trong bảo tồn và phát huy giá trị văn
hóa về trang phục, lễ hội và ẩm thực của dân tộc Mường trong thời gian từ
năm 2008 đến nay.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lí luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước về vai trị của phương tiện tun truyền trong giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số. Mặt khác luận văn có tham
khảo, kế thừa có chọn lọc về cơ sở lí luận và kết quả của các cơng trình
nghiên cứu, đề án, bài viết, báo cáo… đã được được công bố.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, một số phương pháp nghiên cứu khoa học: Phân


6

tích - tổng hợp, lịch sử - logic, phân tích số liệu điều tra xã hội học, phân tích
so sánh và hệ thống cấu trúc trên cơ sở gắn lý luận với thực tiễn.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn đề lí luận về hiệu quả sử

dụng phương tiện tuyên truyền trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của
dân tộc Mường ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội hiện nay.
- Đề ra một số phương hướng cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
các phương tiện tuyên truyền trong giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của dân
tộc Mường.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1. Về lý luận
Hệ thống hóa và làm rõ hơn về lý luận hiệu quả sử dụng phương tiện
tuyên truyền trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Mường.
7.2. Về thực tiễn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho cán bộ, cơ quan tun giáo,
phịng Văn hóa - Thơng tin, Trung tâm Văn hóa - Thơng tin huyện và các cơ
quan, đơn vị khác có liên quan; Cán bộ, lãnh đạo ở huyện Ba Vì thành phố Hà
Nội trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Mường trên
địa bàn.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương 11 tiết.


7

Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN
TUYÊN TRUYỀN TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ
VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC MƯỜNG

1.1. Một số nét khái quát về các giá trị văn hóa của dân tộc Mường
1.1.1. Quan niệm về giá trị văn hóa
* Khái niệm về văn hóa

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, lồi người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo
đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những cơng cụ cho
sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng - tồn bộ
những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa” {25,tr.431}.
Giáo sư Hà Văn Tấn xem: Văn hóa là hệ thống ứng xử của con người
với thiên nhiên và xã hội, trong hoạt động sinh tồn và phát triển của mình; nói
khác đi, văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người trong mối quan hệ
tương tác với tự nhiên và xã hội diễn ra trong không gian, thời gian và hồn
cảnh nhất định.
Hiện nay, văn hóa thường được hiểu là toàn bộ những giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo trong lịch sử hướng tới chân, thiện, mỹ vì
sự tiến bộ của con người.
* Khái niệm giá trị, giá trị văn hóa
Giá trị là một khái niệm của nhiều bộ môn khoa học khác nhau, toán
học, xã hội học, triết học, nghệ thuật, văn hố học..., do vậy trong mỗi bộ mơn
khoa học, khái niệm này mang những hàm nghĩa khác nhau. Chúng tơi tiếp
cận khái niệm giá trị từ góc độ văn hố học, một bộ mơn nghiên cứu mang
tính liên ngành, do vậy giá trị được hiểu theo những ý nghĩa sau:


8

Giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức... đều là sản phẩm của
quá trình tư duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất
của văn hố. Giá trị là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh và
kết tinh đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người.
Giá trị, trước nhất là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của
con người về tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái gì là cần, là tốt,
là hay, là đẹp, nói cách khác đó chính là những cái được con người cho là

chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người.
Giá trị là những cái thuộc về sự vật, hiện tượng và những thuộc tính
của chúng mà có ý nghĩa tích cực đối với xã hội, một nhóm người và cá nhân,
với tư cách là phương tiện thỏa mãn nhu cầu và lợi ích, đồng thời biểu thị
niềm tin của con người về những mục đích và phương thức ứng xử lý tưởng.
* Khái niệm về giá trị văn hóa
Giá trị văn hóa là những gì tốt đẹp thuộc về tư tưởng, chuẩn mực đạo
đức, ứng xử, phong tục, tập quán, sáng tạo văn học nghệ thuật... được cộng
đồng thừa nhận và bảo tồn, gìn giữ từ đời này sang đời khác… Những giá trị
đó khơng phải nhất thành bất biến, trái lại, cùng với dòng chảy thời gian, nó
ln được bổ sung, bồi đắp những giá trị mới, thích ứng với sự biến đổi của
cuộc sống, như nền tảng vững chắc để một dân tộc đi xa, hành trình cùng
nhân loại. Giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, được sáng tạo và kết
tinh trong quá trình lịch sử của dân tộc và nhân loại. Giá trị văn hóa là một
hệ thống các giá trị có ý nghĩa khách quan được qui định bởi thực tiễn lịch sử
bởi tính thơng tin rộng rãi. Các giá trị văn hóa đều chứa đựng những điều tốt
đẹp (chân, thiện, mỹ) và luôn tạo ra các định hướng làm phát huy cái đúng,
cái tốt, cái đẹp của con người.
1.1.2. Các giá trị văn hóa tiêu biểu của dân tộc Mường
1.1.2.1 Văn hóa vật thể
Văn hóa vật thể là những biểu hiện văn hóa bằng những động sản và
bất động sản có kết cấu vật chất khơng gian 3 chiều. Trong đời sống văn hóa


9

tộc người là tồn bộ những cơng trình kiến trúc như: nhà cửa, cầu cống, các
cơng trình dân dụng, kiến trúc tôn giáo nghệ thuật hay như công cụ sản xuất,
đồ dùng dân dụng, trang phục ăn uống. Người Mường có những giá trị văn
hóa vật thể tiêu biểu sau:

* Nhà sàn
Nhà người Mường có những đặc điểm riêng: nhà thường ba gian hai
chái. Bộ khung với vì kèo kết cấu đơn giản. Đặc trưng ở cái kèo có pà wặc
(cái cựa) đè lên cây đòn tay cái để đỡ kèo khỏi bị tụt. Nhà có chái nhưng
khơng có vì kèo chái như nhà người Việt. Chỗ dựa của bộ xương mái là nhờ
vào hai cây pắp cal và một cây léo hè, đầu gác lên thanh giằng hai kèo gần
chỏm kèo. Mặt bằng sinh hoạt có điểm giống nhà người Việt: nhà cũng có qui
định có tính ước lệ: Nếu chia nhà theo chiều ngang: phần nhà dành cho
sinh hoạt của nữ gọi là "bên trong". Phần dành cho sinh hoạt của nam giới
gọi là "bên ngoài". Và, nếu chia nhà theo chiều dọc, nửa nhà phía sau (nơi
đặt bàn thờ tổ tiên) gọi là "bên trên". Còn nửa kia gọi là "bên dưới". Một đặc
trưng nữa là hình thức cấu tạo của bếp: bếp được đặt trong một cái khung gỗ
hình chữ nhật. Bốn góc của cái khung này dựng bốn cột làm giá đỡ các dàn
(dựa) bếp. một trong hai cột giáp vách bao giờ cũng buộc một cái chum nhỏ
để đựng mẻ (người Mường rất ưa các món ăn có vị chua). Ghế đặt xung
quanh nhà bếp là ghế dài thấp chân. Trong khuôn viên thường có một miếu
thổ thần, quy mơ nhỏ như một cái lều.
* Trang phục
Mỗi dân tộc đều có đặc trưng riêng trang phục về tạo hình và phong
cách thẩm mỹ trên trang phục. Trang phục của người Mường cũng có những
nét độc đáo riêng của nó.
+ Trang phục nam: Nam mặc áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, cúc sừng vai,
hai túi dưới hoặc thêm túi trên ngực trái. Đây là loại áo cánh ngắn phủ kín
mơng. Đầu cắt tóc ngắn hoặc quấn khăn trắng. Quần lá tọa ống rộng


10

dùng khăn thắt giữa bụng còn gọi là "khăn quần". Xưa có tục để tóc dài, búi
tóc. Trong lễ hội dùng áo lụa tím hoặc tơ vàng, khăn màu tím than, ngồi

khốc đơi áo chùng đen dài tới gối, cái cúc nách và sườn phải.
+ Trang phục nữ áo mặc thường ngày có tên là áo pắn (áo ngắn). Đây là
loại áo cánh ngắn, xẻ ngực, thân ngắn hơn so với áo cánh người Kinh, ống tay
dài, áo màu nâu hoặc trắng (về sau có thêm các màu khác khơng phải loại vải
cổ truyền). Đầu váy nổi lên giữa hai vạt áo ngắn. Đầu thường đội khăn trắng,
xanh với phong cách không cầu kỳ như một số tộc người khác. Váy là loại váy
kín màu đen. Tồn bộ phận được trang trí là đầu váy và cạp váy, khi mặc mảng
hoa văn nổi lên giữa trung tâm cơ thể. Đây là một phong cách trang trí và thể
hiện ít gặp ở các tộc khác trong nhóm ngơn ngữ và khu vực láng giềng.
* Ăn uống
Món ăn của người Mường được chế biến từ các nguyên liệu dựa vào
trồng trọt chăn nuôi, săn bắt và hái lượm làm nguồn cung cấp thức ăn chính:
Trên nương dưới ruộng người Mường ít trồng cây ăn quả mà chủ yếu là lúa
ngô, khoai, sắn, vừng, đậu… Họ tận dụng mọi yếu tố của tự nhiên để làm
ruộng. Bất kể ở đâu có đất mà có thể đưa nước vào là họ ở đó canh tác.
Những con suối tự nhiên được lợi dụng trở thành nương dẫn nước, những
mảnh đất màu mỡ tốt được biến thành ruộng nương tra hạt trồng cây.
Bên cạnh công việc trồng cây lương thực chính người Mường cịn chăn
ni gia súc để làm nguồn thực phẩm cung cấp cho các bữa ăn.
Rau hàng ngày được hái từ trong rừng và vườn nhà. Bằng kinh nghiệm
tích lũy bao đời nay họ biết được hàng chục loại rau, rau ngon nhất là rau
sắng cùng với các loại măng. Rừng cho người Mường rau quả quanh năm.
Sông suối không chỉ cung cấp nguồn nước tưới tiêu, sinh hoạt mà còn là
nguồn cung cấp thủy sản cho bản Mường. Không giống với người Kinh,
người Mường thường ăn cơm nếp hàng ngày và thường ăn nguội. Bữa sáng


11

thường ăn khi đi làm nương rẫy. Bữa trưa ăn sau khi đi làm về, bữa tối thường

ăn muộn hơn. Bữa trưa và tối thường có thêm rau và thức ăn.
Người Mường có các món ăn tiêu biểu đặc trưng là: món cá chua, đĩa quéch,
ngách lưỡi, lọang, pưng năng, pẹng giọng.
Đồ uống của người Mường đặc sản là rượu cần. Tục uống rượu cần của
người Mường có từ xa xưa. Cần được làm từ cây trúc hoặc bằng mảnh tre
thơng. Hình dáng của chiếc cần tùy theo độ cong lượn của bình rượu. Bình
đựng rượu cần được coi là vật gia bảo càng lâu càng trở nên quý hiếm và là
của hồi mơn. Để có được một chén rượu cần ngon thì từ cách làm đến cách
uống phải thật cơng phu và mang tính nghệ thuật cao.
Để chế biến loại rượu cần này: Lấy một nắm lá quế đem giã nhỏ trộn
với bột gạo, sau đó thứ bột này được nhào kỹ và nắm lại thành từng viên bằng
quả trứng gà. Các nắm này được đựng vào mủng, mặt bên dưới lót lá chuối
khơ và đem ra hong chỗ thống khơng có ánh nắng mặt trời để làm nên những
bánh men. Sau đó chùi sạch cám ở men, ngâm gạo nếp rồi trộn một gạo hai
cám đem đồ không đậy vung, dỡ ra để nguội rồi rắc bột men vào cơm nguội,
đắp lá chuối lên, phơi khô, cho vào phủ một lần lá chuối lên bình rượu, lấy tro
nhào nước bịt kín lại. Sau 3 đến 5 ngày mở hé miệng, đổ nước suối sạch gần
đến miệng mà ở đó có nan nứa cài rồi lấy lá rừng vào bình rượu và cắm cần
tre vào miệng bình cùng uống.
Tục uống rượu cần thường có các cặp chẵn đi với chẵn, lẻ đi với lẻ,
dùng 2 hoặc 3 lần cùng một lúc. Rượu uống đến đâu nước lại được cho thêm
vào miệng sao cho mặt nước lúc nào cũng mấp mé trực tràn miệng. Cũng có
lúc theo tục lệ uống rượu cần chia làm 2 phe, phe nào uống kém sẽ bị phe kia
đổ nước lên đầu.
Tục uống rượu cần khơng chỉ thể hiện nét đẹp trong văn hóa ẩm thực mà
nó cịn là nét đẹp trong văn hóa ứng xử, thể hiện sự tinh tế và tính cộng đồng
cao độ. Rượu cần là cái không thể thiếu trong mỗi bữa tiếp khách, trong mỗi
dịp tết nó trở thành nếp sinh hoạt thường xuyên của người dân tộc Mường.



12

1.1.2.2. Văn hóa phi vật thể
Văn hóa phi vật thể là tồn bộ những giá trị văn hóa biểu hiện các hoạt
động về tơn giáo, tín ngưỡng phong tục tập quán trong đời sống các cộng
đồng tộc người. Đó là toàn bộ những biểu hiện tâm linh của đời sống văn hóa
những định hướng văn hóa thiên về những cái không cụ thể hay không cân đo
đong đếm được.
* Tôn giáo, tín ngưỡng
Trong cuộc cuộc sống phải nương tựa vào rừng núi để tồn tại, con
người luôn bị thiên nhiên chi phối. Trước vũ trụ bao la và muôn vàn hiện
tượng tự nhiên, cũng như nhiều dân tộc khác, người Mường khơng thể giải
thích thế giới bằng tư duy khoa học. Vì thế, con người trước sự bí ẩn của
thiên nhiên đa dạng, dữ dằn trở nên nhỏ bé. Tín ngưỡng, tơn giáo có vị trí đặc
biệt trong đời sống tinh thần người Mường.
Một số người vì muốn thốt khỏi ảnh hưởng của lang đạo nên đã dựa
vào thế lực của cha cố. Tùy theo Cơng giáo, song lịng tin của họ chưa sâu sắc
lắm, vẫn mời thầy mo về cúng ma, vẫn thờ cúng tổ tiên. Vùng Mường trước
kia cũng có chùa thờ Phật (cịn gọi là thờ Bụt) nhưng khơng có sư sãi, khơng
cầu kinh, niệm phật, việc cúng bái đều do ơng Từ đảm nhiệm. Có nơi cũng
gọi là chùa, song lại thờ bà chúa rừng.
Trong các gia đình người Mường đều có thờ cúng tổ tiên, họ tin rằng
người chết sang thế giới bên kia vẫn có một cuộc sống tương tự ở trần gian.
Các làng xóm phần lớn có đình, thờ thành hồng. Thành hồng làng
thường được coi là người có cơng khai phá ruộng nương, lập làng lập xóm.
Nhiều vùng thành hồng lại là tổ tiên nhà lang.
Trong dân gian, người ta tin rằng một số người có ma chài, ma ếm, có
thể dùng phương thuật, thần chú để hãm hại người khác. Đây là biểu hiện của
loại ma thuật làm hại.



13

Ngồi ra, trước đây đồng bào tin có rất nhiều loại ma như ma rừng, ma
núi, ma sông, ma suối..., những thứ này đều tác động, ảnh hưởng đến con
người, nên mỗi khi trong nhà không yên ổn, phải cầu cúng chúng.
* Lễ hội
Lễ hội là của một cộng đồng, một bản làng hay một địa phương do
nhân dân cùng đứng ra tổ chức. Từ quy mơ nhỏ hẹp, có thể mở rộng tới hội
của một vùng, hội của cả một đất nước.
Các lễ hội của người Mường thường diễn ra vào các dịp bắt đầu vụ thu
hoạch, sau khi thu hoạch hay vào thời điểm giao thời chuyển mùa như năm
mới, chuyển mùa hoặc có hạn hay bệnh tật… của cư dân trong làng bản
Đồng bào Mường có nhiều ngày hội quanh năm: Hội xuống đồng,
(Khung mùa) hội cầu mưa (tháng 4), lễ rửa lá lúa (tháng 7, 8 âm lịch) lễ cơm
mới... hội xéc bùa, lễ hội cầu mùa. Kho tàng văn nghệ dân gian của người
Mường khá phong phú, có các thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví
đúm, tục ngữ.
Người Mường cịn có hát ru em, đồng giao, hát đập hoa, hát đố, hát trẻ
con chơi... cồng là nhạc cụ đặc sắc của đồng bào Mường, ngồi ra cịn nhị,
sáo trống, khèn lù.
1.1.3. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Mường
trước làn sóng hội nhập và giao lưu văn hóa
* Khái niệm bảo tồn
Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Bảo tồn là sự giữ lại không thể
mất đi”. Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật, hiện tượng theo
dạng thức vốn có của nó, nghĩa là khơng để mai một. Bảo tồn là hoạt động giữ
gìn một cách an tồn khỏi sự xuống cấp hoặc phá hoại hay nói cách khác là
bảo tồn có ý nghĩa bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng hãm sự xuống
cấp của kết cấu đó. Như vậy, bảo tồn là tất cả những sự nỗ lực nhằm hiểu biết



14

về lịch sử hình thành, ý nghĩa của giá trị văn hóa nhằm đảm bảo sự an tồn,
phát triển lâu dài về vật chất cho giá trị văn hóa đó và khi cần đến phải được
giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác khả năng phục vụ
cho hoạt động tiến bộ của xã hội.
Bảo tồn khơng gian văn hóa cần được nghiên cứu thật kỹ, chọn lựa
phương án thích hợp với từng địa phương, từng đặc thù riêng của nó để đảm
bảo cho hoạt động của cộng đồng và các thế hệ mai sau cái chúng ta đang
trình bày là xác thực chứ khơng phải đồ giả, là lịch sử chứ không phải là
tuyên truyền, là sự uyên bác chứ không phải là định kiến, là thơng tin chứ
khơng phải sự kích động, là sự cảm ứng chứ không phải là những lời sáo
rỗng. Bảo tồn là hoạt động giữ gìn một cách an tồn khỏi sự tồn hại, sự xuống
cấp hoặc sự phá hoại. Cơng tác bảo tồn văn hóa có thể chia làm hai loại: bảo
tồn nguyên trạng và bảo tồn phát triển. Biện pháp để bảo tồn các giá trị văn
hóa vật thể và phi vật thể cần có những biện pháp riêng:
Đối với văn hóa vật thể: Thực hiện cơng tác trùng tu, tơn tạo, bảo quản
các di tích lịch sử và các văn hóa vật thể. Tu bổ các giá trị văn hóa khơng chỉ
đơn giản là khơi phục lại như mới một cơng trình, kiến trúc hoặc hình dáng,
mẫu mã, kiểu cách như cổ truyền, mà là sự tổng hợp của nhiều mặt hoạt động
phức tạp có quan hệ chặt chẽ. Công tác tu bổ các giá trị văn hóa vật thể phải
đáp ứng được các nhu cầu như giữ lại tối đa những yếu tố nguyên gốc và khôi
phục lại các yếu tố đã bị mai một, mất mát trong quá trình tồn tại, trả lại hình
dáng vốn có của nó, làm cho các giá trị văn hóa đó có độ bền vững về mặt kết
cấu để tồn tại lâu dài trước tác động của điều kiện khí hậu và thời tiết khắc
nghiệt, cũng như thử thách của thời gian.
Đối với văn hóa phi vật thể bảo tồn bằng hai phương pháp cơ bản: một
là, phương pháp bảo tồn tĩnh: Quay phim, chụp ảnh, ghi chép để tư liệu hóa

thật chi tiết (khi có nhu cầu thì căn cứ vào đó để khơi phục lại); hai là, bảo tồn


15

động - nghĩa là đưa các giá trị văn hóa đó về với cộng đồng. Vì, cộng đồng
chính là chủ nhân của các giá trị văn hóa phi vật thể khơng ai có thể thay thế
họ. Tuy nhiên, trong q trình bảo tồn trong cộng đồng có thể dẫn tới sự biến
đổi, nhưng cải bản chất, cái hồn của các giá trị văn hóa vẫn được người dân
lưu truyền. Cịn cố lưu giữ cái cũ mà người dân không chấp nhận, thì cũng
khơng thể được. Có thể trong q trình tồn tại nó sẽ phát triển ở mức độ cao
hơn hoặc một tầm thức khác. Vấn đề là phải chủ động tạo điều kiện cho nó kế
thừa và nhập vào một xã hội mới.
* Khái niệm phát huy
Phát huy là “làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy
nở thêm”. Phát huy được hiểu là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái
tốt lan tỏa tác dụng và tiếp tục này nở từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp
đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Phát huy các giá trị văn hóa bằng cách kế
thừa có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của đời trước để lại, làm cho các giá
trị văn hóa thấm sâu, lan tỏa vào đời sống cộng đồng xã hội; mặt khác phát huy
các giá trị văn hóa thơng qua việc mở rộng giao lưu văn hóa để làm giàu thêm
bản sắc văn hóa và làm thăng hoa giá trị văn hóa trong bối cảnh tồn cầu hóa.
* Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy
Bảo tồn và phát huy luôn gắn liền với nhau như một cặp phạm trù trong
việc xây dựng và phát triển văn hóa. Bởi lẽ văn hóa là cái thể hiện sâu sắc của
dân tộc, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu chỉ bảo tồn mà
khơng tồn tại, khơng đem ra sử dụng thì sẽ không phát huy được giá trị tiềm
ẩn trong không gian, rồi thời gian sẽ làm phai mờ đi các giá trị văn hóa và
nhanh chóng bị chìm vào qn lãng, chỉ khi các giá trị đó được phát huy thì
mới có cơ sở, căn cứ và làm điều kiện để bảo tồn giá trị văn hóa. Do vậy, phát

huy sẽ tạo ra hướng tiếp nhận, ảnh hưởng mới làm cho giá trị văn hóa khơng
bị lăng qn mà cịn lan rộng và giữ vững được bản sắc của mình. Bảo tồn


16

làm căn bản, làm cơ sở cho sáng tạo, phục vụ phát huy và ngược lại phát huy
giúp cho bảo tồn được tốt hơn, tỏa sáng hơn. Vì vậy phải xử lý hài hòa mối
quan hệ giữa bảo tồn và phát huy, để bảo tồn không cản trở sự phát triển, trái
lại còn tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững.
1.2. Phương tiện tuyên truyền trong bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa của dân tộc Mường
1.2.1. Phương tiện tuyên truyền - khái niệm và phân loại
1.2.1.1. Một số khái niệm
* Khái niệm tuyên truyền
Theo tiếng la tinh thì tuyên truyền là truyền bá, truyền đạt một quan
niệm nào đó. Thuật ngữ tuyên truyền được sử dụng để biểu đạt các hoạt động
nhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của người khác và định
hướng hành động của họ theo khuynh hướng nhất định.
Theo các nhà khoa học Mácxít, thuật ngữ tun truyền có hai nghĩa.
Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là sự truyền bá những quan niệm, tư tưởng
chính trị, triết học, khoa học nghệ thuật… nhằm biến những quan điểm, tư
tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của quần chúng. Theo
nghĩa hẹp, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm lý luận nhằm xây
dựng cho quần chúng thế giới quan nhất định phù hợp với thế giới quan ấy.
Với quan điểm này, tuyên truyền nghĩa hẹp chính là tuyên truyền chính trị,
tuyên truyền tư tưởng mà mục đích của nó là hình thành ở đối tượng tun
truyền một thế giới quan nhất định, một kiểu ý thức xã hội nhất định và cổ vũ
tính tích cực xã hội của con người.
Trong tác phẩm “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”, Hồ Chí

Minh cho rằng tuyên truyền là đem lại một việc gì đó nói cho dân hiểu, dân
nhớ, dân theo, dân làm.
Theo các nhà khoa học về công tác tư tưởng thì cơng tác tun truyền
là hoạt động có mục đích của chủ thể tun truyền, nhằm truyền bá chủ nghĩa


17

Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật nhà nước đến đối tượng tuyên truyền, từ đó tạo cho đối tượng
tuyên truyền có niềm tin vững chắc vào sự nghiệp cách mạng và tự giác, sáng
tạo trong hoạt động thực tiễn, nhằm đóng góp vào sự nghiệp cơng nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Giáo trình Nguyên lý công tác tư tưởng, tập 2 của Học viện Báo chí và
tuyên truyền định nghĩa:
Tuyên truyền là hoạt động nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước và những tinh hoa của văn hóa dân tộc và
nhân loại… làm cho chúng trở thành những nhân tố chi phối, thống
trị, trong đời sống tinh thần của xã hội; động viên, cổ vũ tính tích
cực, tự giác sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [9, tr.32].
Hoạt động tuyên truyền xuất hiện khi xã hội lồi người được hình
thành. Tun truyền gắn liền với hình thái kinh tế - xã hội khác nhau. Ngơn
ngữ chính là phương tiện truyền đạt thơng tin sơ khai nhưng quan trọng bậc
nhất của con người. Qua tín hiệu âm thanh đơn giản, con người có sự trao đổi
tình cảm, tạo sự giao tiếp sinh hoạt, lao động sản xuất. Hoạt động tuyên
truyền chính là hoạt động của con người tác động đến con người, vì vậy nó là
hoạt động xã hội đặc biệt, bởi chủ thể tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền
đều là con người.

Từ những khái niệm trên đây ta có thể hiểu khái niệm về tuyên truyền
như sau: Tuyên truyền là hoạt động có mục đích của một hay nhiều chủ thể
nhằm truyền bá, luận giải về một nội dung nào đó cho đối tượng; qua đó tạo
niềm tin và biến nó thành tri thức chung để cổ vũ đối tượng tích cực hành
động theo mục tiêu của chủ thể tuyên truyền đặt ra.


18

*Khái niệm phương tiện
Phương tiện là cái dùng để làm một việc gì để đạt một mục đích nào
đó”. Phương tiện (media) trong tiếng Anh có gốc la tinh medium có nghĩa là
“ở giữa”, “trung gian”.
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo, phương tiện dạy học là tập hợp
những đối tượng vật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là những
phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh và đối với
học sinh, đó là phương tiện để tiến hành hoạt động nhận thức của mình, thơng
qua đó mà thực hiện nhiệm vụ dạy học.
Tổng hợp các quan niệm trên đây về phương tiện có thể đưa ra khái
niệm về phương tiện như sau: phương tiện là cơng cụ mà nhờ nó con người
có thể thực hiện được mục đích của mình trong hoạt động thực tiễn.
* Khái niệm phương tiện tuyên truyền
Phương tiện tuyên truyền là toàn bộ các yếu tố sử dụng trong quá trình
tuyên truyền nhằm tác động đến sự truyền bá nội dung nhằm đạt được mục
tiêu tuyên truyền trước đó. Phương tiện tuyên truyền bao gồm mọi thiết bị kỹ
thuật từ đơn giản đến phức tạp dùng trong quá trình tuyên truyền làm cho sự
truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo.
1.2.1.2. Các phương tiện tuyên truyền thường dùng trong công tác tư
tưởng ở Việt Nam
Trên thực tế ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta thường sử dụng các

phương tiện tuyên truyền chính sau:
* Hệ thống tuyên tuyên truyền miệng và hoạt động của đội ngũ báo cáo viên
Theo giáo trình “Ngun lý cơng tác tư tưởng tập 2” của Học viện Báo
chí và Tuyên truyền định nghĩa “Tuyên truyền miệng là một phương thức tuyên
truyền được tiến hành bằng lời nói trực tiếp nhằm mục đích nâng cao nhận thức
củng cố niềm tin và cổ vũ tính tích cực hành động của người nghe” [9].


19

Báo cáo viên, tuyên truyền viên là chức danh để chỉ đội ngũ những
người tuyên truyền trực tiếp bằng lời nói đối với các đối tượng.
Để tiến hành tuyên truyền một vấn đề nào đó trong thực tế cuộc sống
Đảng và nhà nước có thể sử dụng nhiều kênh, nhiều công cụ như hệ thống
trường học, lớp học, các phương tiện đại chúng. Trong số các kênh đó, tuyên
truyền miệng và hoạt động báo cáo viên tuyên truyền viên được coi là công cụ
quan trọng nhất trong việc truyền bá, giáo dục về đường lối, chính sách,
truyền bá những quan điểm của Đảng nói chung và các vấn đề về văn hóa dân
tộc nói riêng.
Tuyên truyền miệng và hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên
truyền viên là loại hình tuyên truyền trực tiếp mà phương tiện chủ yếu để
chuyển tải thơng tin là lời nói và các yếu tố trợ giúp như cử chi, điệu bộ…
Hệ thống báo cáo viên được tổ chức chặt chẽ ở tất cả các cấp từ trung
ương đến tỉnh, thành phố, huyện, quận, xã, phường thị trấn, Đảng bộ cơ sở. Báo
cáo viên được coi như người phát ngơn, thơng tin chính thống của Đảng và Nhà
nước. Tuyên truyền viên là những người làm công tác tuyên truyền cổ động ở
cấp cơ sở, chỉ tổ chức ở cơ sở có nhiệm vụ tuyên truyền vận động, thuyết phục
quần chúng thực hiện chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước.
Hoạt động của báo cáo viên và tuyên truyền viên là loại hình tuyên
truyền đặc thù có nhiều ưu thế so với các kênh tuyên truyền khác. Trong hoạt

động, công tác của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên có thể sử dụng kết
hợp yếu tố ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và giao tiếp được trực tiếp tới đối tượng
nghe nhờ đó sẽ vận dụng sử dụng linh hoạt, có hiệu quả các yếu tố diễn đạt,
biểu thị thông tin khác nhau thông qua cách tổng hợp từ, cách đặt câu, ngữ
điệu, trường độ, cao độ, thanh, sắc, cử chỉ, điệu bộ, đặc biệt được giao tiếp
trực tiếp với người nghe nên biết rõ nhu cầu tâm trạng người nghe trên cơ sở
đó xác định được nội dung cần nói, phải nói như thế nào cho phù hợp, đúng


×