1
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng Khoa học Sáng kiến Phịng GD&ĐT huyện .
Tên sáng kiến:“Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp Một dễ hòa nhập và
hứng thú hơn trong học tập”.
1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục và Đào tạo
2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Năm học 2020-2021
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
Luật Giáo dục nước ta quy định: “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh
hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học
trung học cơ sở”. Vì vậy, với mục tiêu đào tạo con người phát triển tồn diện có
đầy đủ phẩm chất, năng lực, năng động, sáng tạo…. Thì việc cần thiết phải quan
tâm đến giáo dục và bậc Tiểu học là nền móng quan trọng nhất mà đặc biệt là
học sinh lớp Một.
Một đứa trẻ khi bắt đầu chập chững bước vào ngưỡng cửa trường học với
bao điều thơ ngây, lạ lẫm,.... Ở trường Mầm non, các em được cô giáo yêu
chiều, cưng nựng, dạy dỗ,...Hoạt động chính của các em là vui chơi còn khi các
em bước sang lớp Một thì lại chuyển sang một mơi trường hồn tồn khác. Ở
trường Tiểu học, hoạt động chính của các em là học tập và tiếp thu kiến thức
mới và điều đó quả là mới mẻ với các em. Lúc này đòi hỏi các em phải tham gia
vào việc học, các hoạt động học tập,... sẽ làm các em hoang mang và sợ hãi, có
em tiếp tục được việc học và cũng có em cảm thấy lạ lẫm, bỡ ngỡ,...Chưa thể
hịa nhập được với môi trường học tập mới, các em phản kháng lại bằng cách
khóc lóc, chán nản,...và sẽ khơng đi học. Đó chính là nỗi vất vả, khó khăn nhất
2
của người giáo viên dạy lớp Một. Nếu người giáo viên khơng có tính nhẫn nại,
sự bền bỉ, kĩ năng sư phạm tốt thì sẽ khó mà tiếp nhận lớp Một.
Với kinh nghiệm nhiều năm dạy lớp Một, tôi cũng đã “thấu hiểu” nỗi vất
vả này. Tôi luôn suy nghĩ, trăn trở làm sao để vừa giúp các em dễ hịa nhập
nhanh mơi trường học tập, hứng thú hơn trong mỗi tiết học và đặc biệt là các em
cảm thấy hứng thú, vui vẻ hơn mỗi sáng đến trường. Từ những yếu tố trên tôi
mạnh dạn chọn đề tài:“Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp Một dễ hòa
nhập và hứng thú hơn trong học tập”.
3.1. Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết
a) Thuận lợi
- Trường Tiểu học Nguyễn Duy Hiệu nằm ngay tại trung tâm thị trấn Phú
Thịnh.
- Đường sá, phương tiện giao thông thuận lợi.
- Được sự quan tâm sâu sát của các cấp lãnh đạo của huyện, ngành giáo
dục, địa phương.
- Được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của chi bộ, Ban giám hiệu nhà
trường.
- Sự đồng thuận và hỗ trợ nhiệt tình của hội cha mẹ học sinh, của các đoàn
thể trong nhà trường và địa phương.
- Trong thực tế nhiều năm học qua, với yêu cầu sử dụng công nghệ thông
tin, đổi mới hình thức phương pháp dạy học của nhà trường, bản thân mỗi giáo
viên đã thường xuyên ứng dụng công nghệ thông tin trong các tiết học, đã cung
cấp cho các em các kênh hình rất gần gũi và sinh động giúp các em hứng thú
hơn trong việc học.
- Phần lớn học sinh ngoan, có ý thức tự giác học tập, rèn luyện.
- Nhà trường có nhiều năm đạt danh hiệu “Tập thể lao động tiên tiến”.
- Đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ đạt chuẩn.
- Đa số giáo viên nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao.
3
- Đội ngũ giáo viên khối Một trẻ, khỏe, nhiệt tình, thân thiện, đồn kết, có
tinh thần học hỏi lẫn nhau, luôn quan tâm đến từng đối tượng học sinh.
- Đội ngũ giáo viên lớp Một được tập huấn, tiếp cận chương trình GDPT
2018 với nhiều hình thức trực tiếp, trực tuyến rất bổ ích và hiệu quả.
b) Khó khăn
* Học sinh:
- Do đặc điểm tình hình lớp tơi chủ nhiệm nói riêng, học sinh khối Một nói
chung, đa số các em cịn q nhỏ. Do đó ý thức học tập của các em chưa cao.
- Đa số các em còn quá rụt rè, nhút nhát khi đến trường.
- Một số em cịn khóc, khơng thích đi học vì khơng muốn rời xa ba mẹ.
- Học sinh mới bắt đầu làm quen với việc học tập nên còn rất bỡ ngỡ.
- Các em chưa hiểu được tầm quan trọng của việc học.
- Tâm lý các em chưa ổn định, chưa chuẩn bị cũng như sẵn sàng đón nhận
việc học như các anh chị lớp lớn được.
- Ngơn ngữ nói của một vài em cịn hạn chế (cịn nói ngọng, nói đớt) gây
khơng ít khó khăn trong việc giao tiếp cũng như học tập.
- Ở trường Mầm non các em chưa được học chữ nên rất khó khăn khi các
em lên lớp Một.
- Do dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp nên việc học của các em bị
gián đoạn vì phải nghỉ dịch.
- Một số gia đình phụ huynh hồn cảnh cịn gặp nhiều khó khăn ít có điều
kiện để quan tâm nhiều đến các em (ba mẹ ly hôn) các em ở với ông bà.
* Giáo viên:
- Do địa bàn rộng, giáo viên phải dạy học cả ngày nên chưa nắm hết hoàn
cảnh cũng như đặc điểm của một vài học sinh nên cũng gặp khơng ít khó khăn
trong việc dạy dỗ, giáo dục cho các em.
* Giới hạn nghiên cứu
Học sinh lớp 1A trường Tiểu học Nguyễn Duy Hiệu năm học 2020-2021.
4
Thời điểm: Tháng 9 năm 2020.
Mạnh
TS
dạn giao
tiếp
SL TL
32
5
15,
Rụt rè
Tự phục
Chưa tự
giao tiếp
vụ
phục vụ
SL
SL
7
TL
21,
4
TL
12,
SL TL
6
Kĩ năng
Chưa có kĩ
học cơ
năng học
bản
SL TL
cơ bản
SL TL
18,8 4
12,
6
8
5
5
Từ số liệu thực tế trên, tôi đã rút ra được các nguyên nhân sau:
6
18,8
- Do các em thay đổi môi trường học tập.
- Các em quen việc vui chơi là chính.
- Chương trình học tập nhiều.
- Một vài em còn chưa quen phải xa ba mẹ.
- Chưa có bạn bè thân quen nhiều.
- Thầy cơ, bạn bè, môi trường học tập lạ lẫm với các em.
Từ thực tế trên đã thôi thúc bản thân tôi nghiên cứu đề tài: “Một số kinh
nghiệm giúp học sinh lớp Một dễ hòa nhập và hứng thú hơn trong học tập”.
3.2. Nêu nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược
điểm của giải pháp đã biết
- Căn cứ kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2020-2021 của trường Tiểu
học Nguyễn Duy Hiệu.
- Dựa vào Nghị quyết hội nghị CB - GV - NV đầu năm học 2020-2021 nên
bản thân tôi đã lập kế hoạch ngay từ đầu năm học.
- Để giúp học sinh mạnh dạn, tự tin, hòa nhập và hứng thú hơn cũng như
cảm thấy phấn khởi, vui vẻ được đến trường mỗi ngày, trước hết người giáo viên
phải thật sự sâu sắc hiểu và cảm nhận được các em muốn gì và cần gì. Vì vậy để
các em hòa nhập và hứng thú hơn trong học tập tôi đã phân ra theo từng giai
đoạn cụ thể như sau:
3.2.1. Giai đoạn làm quen.
Từ buổi ðầu tiên ðến lớp, trýớc mắt các em là một thế giới rộng lớn và xa
lạ, khác hẳn với môi trýờng học tập ở Mẫu giáo. Ở ðây, các em ðýợc ðón tiếp
với rất nhiều thầy cơ, có nhiều anh chị lớp lớn trong trýờng học, sách vở, dụng
5
cụ học tập nhiều,...tất cả những vấn ðề ðó ðều hoàn toàn mới mẻ và lạ lẫm. Ngay
từ những ngày ðầu các em phải biết tên lớp của mình học, phòng học, phải biết
cách xếp hàng ra vào lớp nhanh, nghiêm túc, biết ngồi ðúng vị trí của mình,
khơng chọc ghẹo bạn bên cạnh, biết xin phép thầy, cô khi ði ra ngồi, biết tên
thầy, cơ và các bạn trong lớp,ði vệ sinh ðúng nõi quy ðịnh, tự ði ðến nhà ãn
trong mỗi bữa ãn, thực hiện ði học ðều, ðúng giờ, tự lấy ðồ dùng học tập và ðặc
biệt biết giúp ðỡ lẫn nhau trong học tập cũng nhý trong vui chõi... Trong giờ học
khơng ðýợc nói chuyện riêng, không ði học trễ, mang ðầy ðủ ðồ dùng học tập,
khơng nói leo, khơng chạy ra khỏi chỗ trong giờ học hay lấy ðồ dùng của bạn…
Chính những ðiều này làm cho các em cảm giác sợ hãi, ðánh mất hết mọi niềm
vui hay sự hào hứng mỗi khi ðến lớp. Ở giai ðoạn này tơi ðã có những kế hoạch
giúp cho các em dễ hịa nhập với mơi trýờng mới tôi ðýa ra các býớc:
a) Xây dựng nội quy lớp học
Nội quy lớp học chính là bước đệm đầu tiên đưa các em vào một môi
trường học tập khoa học, có tổ chức.
Sau khi nhận lớp tơi dành nhiều thời gian thăm hỏi, nắm bắt hoàn cảnh,
điều kiện gia đình của từng em. Sau đó tơi sẽ triển khai nội quy lớp học cho các
em nghe như sau:
- Tác phong gọn gàng, mặc đồng phục theo quy định.
- Đi học đúng giờ.
- Vắng học phải xin phép thầy cô.
- Xếp hàng ra vào lớp đúng quy định.
- Khôngđược mangtiền và quà vặt khi đến lớp.
- Chào thầy giáo, cô giáo lễ phép.
- Khơng nói tục, nói trống khơng với mọi người.
- Trong giờ học phải đưa tay phát biểu, có ý kiến phải đưa tay xin phép.
- Khơng nói chuyện riêng trong giờ học.
- Bảo vệ tài sản lớp học và sử dụng tiết kiệm điện, nước của nhà trường.
- Đồn kết, hịa nhã, vui vẻ và giúp đỡ bạn bè trong lớp.
6
Sau khi triển khai nội quy, tôi in ra dán vào từng bông hoa (bạn nam màu
đỏ, bạn nữ màu vàng)và dán vào vở của các em.
Cứ đầu buổi học, tôi cho các em đọc nội quy một lần để ghi nhớ.
Hình 1: Bơng hoa nội quy
b) Xây dựng cõ cấu, sõ ðồ lớp học
- Khi ðã có nội quy lớp học rồi, tôi tiến hành cho các em bầu chọn ban cán
sự lớp gồm lớp trýởng, lớp phó và 4 tổ trýởng.
- Phân công, giao nhiệm vụ cho từng em nhý lớp trýởng, lớp phó, các tổ
trýởng ðể nhắc nhở, giúp ðỡ các bạn trong lớp.
- Bố trí, sắp xếp chỗ ngồi cho các em, ngồi xen kẽ một bạn nam một bạn
nữ, bạn bé hõn ngồi bàn trên, bạn cao hõn ngồi ở bàn dýới. Ðặc biệt tôi chú ý tới
những bạn hay nghịch ngợm, quậy phá thì tơi xếp với các bạn ngoan hiền và ít
nói chuyện (chỉ sắp xếp chỗ ngồi trong những tuần ðầu và có thể thay ðổi ln
phiên trong q trình học).
c) Xây dựng nề nếp lớp học
Ðặc ðiểm của học sinh lớp Một,ða số các em chýa có ý thức về nề nếp
trong học tập. Việc học tập ðối với các em hoàn toàn mới lạ. Khác hẳn với ở lớp
Mẫu giáo. Nên hõn ai hết, ngýời giáo viên cần rèn cho các em có một thói quen
về nề nếp. Chẳng hạn, khi hýớng dẫn các em cách xếp hàng vào lớp, giáo viên
xếp theo thứ tự em thấp ðứng trýớc rồi lần lýợt ðến em cao hõn ðứng sau theo
từng tổ. Lớp trýởng hô ðiều khiển cả lớp. Tổ nào xếp hàng thẳng thì cho vào lớp
trýớc. Tổ nào chýa thẳng hàng thì tự ðiều chỉnh lại hàng cho thẳng mới ðýợc vào
7
lớp. Tâm lý các em chýa hiểu ðýợc khi xếp hàng phải nghiêm túc nên với tính
cách hay nghịch ngợm của các em sẽ chen lấn và xô ðẩy,lúc này giáo viên sẽ
phối hợp với các bạn tổ trýởng, lớp trýởng hýớng dẫn, nhắc nhở các em cần phải
xếp hàng nhanh chóng và thẳng hàng ðể ðảm bảo khơng mất nhiều thời gian.
Khi sinh hoạt ðầu giờ, tôi luôn tạo cho các em khơng khí tự quản, giao
nhiệm vụ các em trong một bàn tự kiểm tra lẫn nhau và báo cáo kết quả với cơ
giáo nếu có bạn nào khơng ðọc ðýợc hay khơng hồn thành bài tập.
Mỗi lần nhý vậy tôi luôn nhắc nhở các em với thái ðộ nhẹ nhàng và thật sự
gần gũi ðể các em có sự thân thiện với cơ giáo mà hợp tác.
8
d)Xây dựng giáo dục kĩ nãng sống
- Giáo dục kĩ nãng sống cho các em là một trong những nội dung khơng
kém phần quan trọng trong q trình giảng dạy. Chính vì vậy, tơi kết hợp với
nhiều tổ chức, ðồn thể trong nhà trýờng ðể cùng nhau giúp ðỡ các em trong
những ngày ðầu còn bỡ ngỡ.
- Trong giờ chào cở ðầu tuần (tuần chào cờ ðầu tiên) tôi phối hợp với TPT
Ðội, trýởng ban HÐNGLL phân công các em trong ban chỉ huy Liên ðội ðến tại
lớp hýớng dẫn các em vị trí chỗ ngồi chào cờ ðýợc qui ðịnh cũng nhý là lấy ghế
ngồi và sắp xếp ðội hình. Các em ðýợc các anh chị lớp lớn hýớng dẫn cụ thể, rõ
ràng nên các em tập trung và xếp ðội hình ðúng nhý yêu cầu của nhà trýờng một
cách nhanh chóng. Bên cạnh giờ chào cờ, việc ãn của các em cũng rất quan
trọng. Trong những ngày ðầu tiên, bản thân tôi phải phối hợp với các em trong
ban chỉ huy liên ðội các cô nhân viên cấp dýỡng phân lớp, phân bàn ãn và chỗ
ngồi cố ðịnh (gắn tên lớp lên bàn ãn và xếp bàn ãn vào một nhóm liền kề nhau)
cho các em ðể dễ dàng ngồi ðúng vị trí của mình và nhanh chóng ổn ðịnh giúp
các em hòa nhập nhanh vào việc ãn tại trýờng. Khi ngủ, tôi cũng phải phối hợp
với các em trong ban chỉ huy Liên ðội sắp xếp bàn ghế cũng nhý kê bàn sao cho
thật chắc chắn. Tôi cho các bạn nam lớn hõn trong lớp quan sát cách sắp xếp bàn
ghế ðể sau này các em phải tự kê bàn ghế khi ngủ (giáo viên phải giám sát thật
kĩ và giúp ðỡ khi các em thực hiện chýa ðảm bảo).
- Việc ði vệ sinh của các em cũng rất phức tạp. Không giống nhý ở Mầm
non, mỗi khi ði vệ sinh ðều có cơ giáo hýớng dẫn và ði cùng. Còn bây giờ khi
lên lớp Một rồi thì những việc ðó bắt buộc các em phải tự lập nên việc hýớng
dẫn cho các em ði ở ðâu và ði ở nhà vệ sinh nào là hết sức cần thiết. Khi ổn ðịnh
xong tôi chia lớp ra thành các nhóm nhỏ (nhóm nam và nhóm nữ) tơi ðýa lần
lýợt từng nhóm tới nhà vệ sinh nam và vệ sinh nữ giới thiệu cho các em biết ðể
sau này ði vệ sinh không bị nhầm lẫn và hýớng dẫn các em khi ði xong phải xả
nýớc sạch sẽ và rửa tay bằng xà phòng trýớc khi vào lớp.
9
Hình 2: Hýớng dẫn sử dụng nhà vệ sinh nam
Hình 3: Giới thiệu nhà vệ sinh nữ
- Cùng với mong muốn tạo cho các em thói quen vui chõi lành mạnh (tránh
tình trạng các em ðánh nhau hay xơ ðẩy) trong giờ ra chõi, tôi cùng với các em
10
trong ban chỉ huy liên ðội hýớng dẫn cho các em tham gia chõi các trị chõi dân
gian nhý ơ ãn quan, nhảy lò cò, trồng hoa trồng nụ,...trong sân trýờng.
Hình 4: Học sinh chõi trị chõi
Hình 5: Học sinh chõi trị chõi dân gian
Với những việc làm này, hình thành cho các em kĩ nãng sống tự lập và tự
hịa nhập vào mơi trýờng mới thật dễ dàng.
Ðể giúp các em dễ dàng hịa nhập vào mơi trýờng mới một cách nhanh
chóng. Trýớc hết, ngýời giáo viên phải thật sự bền bỉ, kiên trì hýớng dẫn cho các
em từ cái nhỏ nhặt nhất, giáo viên kết hợp chặt chẽ giữa gia ðình, nhà trýờng và
các ðồn thể thì mới tạo ra một môi trýờng giáo dục thân thiện, tạo ra bầu khơng
khí vui týõi, phấn khởi xung quanh các em, ðể hình thành và phát triển khả nãng
tự lập và tiếp tục việc học của mình một cách hiệu quả nhất.
11
3.2.2. Giai đoạn tạo hứng thú trong học tập
- Ngoài việc giúp các em hịa nhập vào mơi trường học tập thì việc tạo cho
các em niềm vui, sự hứng thú trong học tập là điều quan trọng và tất yếu. Đây là
điều mà thầy cô giáo nào cũng mong muốn để giúp cho học sinh thuận lợi và đạt
hiệu quả cao trong học tập.
- Hứng thú là một thuộc tính tâm lí có vai trị rất quan trọng trong học tập
và làm việc. M.Gorki từng nói: “Thiên tài nảy nở từ tình u đối với cơng việc”.
Cùng với tự giác học tập thì hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp học
sinh học tập đạt kết quả cao. Khơi gợi hứng thú học tập chính là xây dựng động
lực học tập cho học sinh.Hứng thú không tự nhiên nảy sinh mà phải được khơi
gợi trong các hoạt động.Người làm được điều này để giúp đỡ các em khơng ai
khác chính là người giáo viên.
- Đặc thù học sinh của lớp tôi hơn 50% các em chưa tự tin, cịn rụt rè, chưa
có kĩ năng học tập, chưa ý thức được mục đích của việc học. Điều đó dẫn tới các
em tiếp thu kiến thức một cách thụ động, nhàm chán. Làm thế nào để các em
hứng thú hơn, biết tự học và tự rèn luyện kỹ năng học tập một cách chủ động tích
cực. Vì vậy, việc hình thành và tạo ra hứng thú học tập cho học sinh lớp Một là
mục đích chính của người giáo viên. Bản thân tôi đưa ra những biện pháp sau:
a) Xây dựng hình ảnh người mẹ thứ hai của các em
Ngay từ đầu, giáo viên phải tạo được niềm tin, sự thân thiện, gần gũi và
tình cảm thực sự với các em qua cách giao tiếp, trang phục, lời nói đúng chuẩn
mực đạo đức nhà giáo. Khi vào lớp giáo viên phải tạo được bầu khơng khí tươi
vui, thoải mái bằng những câu nói, tiếng cười, nét mặt vui vẻ,… phải luôn tôn
trọng ý kiến trả lời của các em, khơng gị ép câu trả lời vào khn phép cứng
nhắc, ln đối xử cơng bằng. Khuyến khích, động viên các em một cách tế nhị,
hợp lí.Gần gũi, tìm hiểu, tâm sự và giải quyết nhẹ nhàng khi các em mắc lỗi. Từ
đó sẽ tạo cho học sinh có được niềm tin, chia sẻ với “người mẹ thứ hai” trong
mọi vấn đề.
12
b) Sử dụng các phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học tích cực
Hứng thú của học sinh được phát triển nhờ các phương pháp dạy học phù hợp
với sở thích của các em. Tơi thường sử dụng các phương pháp dạy học như sau:
- Phương pháp hỏi- đáp, kể chuyện, đóng vai.
- Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề.
- Vận dụng dạy học theo tình huống.
Sử dụng phương pháp dạy học tích cực vào trong từng hoạt động bài học
phù hợp với mục đích theo chương trình GDPT 2018 sẽ mang lại những hiệu
quả đáng kể.
Ví dụ: Khi dạy bài 4 mục nhận biết “Bé kể mẹ nghe về bạn bè”, tôi cho
các em khai thác kể theo nội dung bức tranh. Sau đó tơi cho các em kể cho cô
và các bạn nghe về các bạn lớp mình. Hay bài 13,phần luyện nói “Giới thiệu”
tơi cho các em tập hợp lại thành một nhóm nhỏ đóng vai cô giáo và các bạn tự
giới thiệu về bản thân cho cơ và các bạn nghe.Ngồi sử dụng các phương pháp
dạy học tích cực, tơi thường sử dụng các kĩ thuật dạy học như kĩ thuật động não,
kĩ thuật ổ bi, kĩ thuật “Chia sẻ nhóm đơi”,…Việc dạy và học theo truyền thống
sẽ làm cho các em nhàm chán, khô khan. Nên tôi thường áp dụng các kĩ thuật
dạy học vào trong các hoạt động học. Khi các em làm bài tốn có dạng như là
tìm đường đi cho lực sĩ hái táo vàng (Bài tập 5 trang 2 VBT Tốn) hay tìm
đường cho kị sĩ gặp cơng chúa ( BT 5/50/ VBT Tốn),…thì tơi thường sử dụng
kĩ thuật “Chia sẻ nhóm đơi” để 2 em trong một bàn thảo luận tìm ra kết quả. Với
kĩ thuật này các em sẽ hỗ trợ cho nhau trong việc học tập nhưng giáo viên cần
quan sát và quán triệt kịp thời tránh tình trạng các em nói chuyện riêng hay làm
việc riêng trong khi thảo luận.
13
Hình 6: Thảo luận“chia sẻ nhóm đơi”
c) Liên hệ thực tế trong cuộc sống
Với học sinh lớp Một, các em tâm lý chưa sẳn sàng cho việc học. Bên cạnh
đó, còn một số em học còn chậm chưa tiếp thu kịp kiến thức cùng với các bạn
dẫn đến các em thường hay lười biếng và chán nản trong việc học. Để giúp các
em bắt nhịp cùng với các bạn, tôi thường gắn nội dung học với thực tế cuộc sống
gần gũi xung quanh các em như khi dạy cho phần âm như âm b, v, c, d,..tôi
thường gắn các âm với tên con vật.
Ví dụ: âm b - bị; v - ve; c - cò; d- dê, …Đối với những âm như là nh, kh,
ph, ch, tr, tôi thường lựa chọn với những đối tượng gần gũi quen thuộc và dễ
nhớ như kh-khỉ; nh-nhà; ph-phố; ch- chó; tr- tre,…Hoặc khi các em học mơn
Tốn về số như các bài từ 0 đến 10. Khi học đến số nào tôi cho các em liên hệ
đếm các số với việc đếm số bạn trong tổ, số bạn trong gia đình mình hoặc số bạn
mình cảm thấy thích nhất tương ứng với số mình đã học. Với những đối tượng
gần gũi xung quanh các em được đưa vào trong những tiết học như thế, tơi thấy
các em phấn khởi và thích thú hơn trong mỗi tiết học.
d) Tìm tên của mình và bạn
Trong chương trình GDPT 2018, phần vần các em học nhiều hơn trong một
tiết học so với chương trình hiện hành. Có bài được dạy 3 vần, 4 vần trong một
14
bài học gây khó khăn cho các em. Vì trong một bài có nhiều vần, được dạy cùng
một lúc nên nhiều em còn lúng túng vàlẫn lộn giữa vần này với vần khác nên tôi
đã cho các em vận dụng tự tìm tên của mình hoặc của bạn mình, hay tên của
người thân của mình có vần các em vừa học.
Ví dụ: Vần ao tên của bạn Thảo, Bảo; vần ân - Trân, Hân; vần ôc - Lộc, vần
uc –Trúc; vần ăn – Văn,…
Với cách tìm tên gắn với vần vừa học, tơi thấy các em rất thích thú thi nhau
tìm tên và mỗi khi các em tìm được tên gắn với vần vừa học, các em thường reo
lên và thi nhau nói: Cơ ơi con tìm được rồi,…
e) Dùng khẩu ngữ và hành động
Việc tạo hứng thú cho học sinh trong học tập rất quan trọng, khi học sinh
vui và phấn khởi sẽ giúp các em học tốt hơn.
- Trong các giờ học tôi thường nhờ các em đọc giúp và nói:
+ Vần này khó quá nhờ em đọc giúp cơ nào.
+ Từ này khó q các em cứu trợ giúp cơ với.
+ Cơ chưa cộng được phép tính này bạn nào cộng giúp cơ với.
+ Bài tốn này khó q cơ khơng biết làm như thế nào bạn nhỏ nào của lớp
mình có thể giúp cho cơ khơng?
Khi các em được cô giáo nhờ, được cần giúp đỡ các em sẽ cảm thấy được
tôn trọng, được làm những việc rất quan trọng, tự nhiên các em sẽ có được cảm
giác là đã giúp đỡ được cô giáo, được làm tốt trước mặt các bạn.Chắc chắn các
em sẽ cảm thấy vui hơn. Khi học sinh làm được theo yêu cầu của cơ thì tơi lại
khơng tiếc với các em nhiều lời khen: “Các con giỏi quá, các con đúng là siêu
nhân,….Vậy là các em rất thích thú trong vai học sinh giỏi, học sinh ngoan.
Ngoài những câu động viên khen ngợi tơi ln thay đổi khơng khí học bằng
cách sử dụng kí hiệu động tác như khi cho học sinh ghép.
Ví dụ: Từ tiếng nha ta có thể ghép thành các tiếng khác bằng cách thêm
các dấu thanh. Tôi sử dụng bàn tay để tạo thành dấu thanh như:
15
-
Nghiêng bàn tay sang trái: dấu huyền.
Nghiêng bàn tay sang phải: dấu sắc.
Cong lòng bàn tay: dấu hỏi.
Thu bàn tay lại: dấu nặng.
Từ ký hiệu bàn tay của cô giúp các em nhanh nhẹn hơn và đọc được nhiều
tiếng mới hơn. Đặc biệt với kinh nghiệm nhiều năm dạy lớp Một tôi thấy đa số
các em thường không phân biệt được 2 âm đó là âm s/x. Để giúp các em nhận
diện và sử dụng âm s/x đúng thì tơi qui định như sau: Khi tôi đặt 2 bàn tay chéo
lại với nhau thì các em đọc là x . Khi tơi cong một bàn tay lại giống hình con ốc
thì các em đọc là s. Nhờ cách ghi nhớ bằng bàn tay này mà các em khắc phục
lẫn lộn giữa âm s và x nhiều hơn.
Với tâm lý các em thích được khen, được nhận phần thưởng từ cơ giáo và
các bạn, tôi thường tặng những cái mặt cười, bông hoa học tốt, những tràng pháo
tay, cờ thi đua,… cho các em vào cuối tuần.Tôi chuẩn bị sẵn cho mỗi em 1 tờ
giấy A4 có kẻ theo từng cột ứng với mỗi tuần. Trong một tiết học, buổi học nếu
các em đọc tốt hay làm tốn tốt tơi tặng 1 cái mặt cười vào tuần đó. Đến cuối
tuần các em tổng kết lại được bao nhiêu mặt cười (đủ hoặc hơn số lượng cô quy
định) sẽ được nhận cờ thi đua hoặc những cây kẹo mút,…
Khi được nhận những phần quà nhỏ từ cô giáo các em rất vui mừng. Tuy
những món q khơng lớn nhưng là động lực cho các em cố gắng thi đua trong
học tập.
16
Hình 7: Tổng kết số lượng mặt cười và tặng cờ thi đua trong tuần
Hình 8:: Tặng mặt cười vào vở học tăng cường
17
Hình 9: Tặng mặt cười vào vở học tăng cường
Hình 10: Tặng cờ thi đua cuối tuần
18
Hình 11: Tặng bơng hoa học tốt
Hình 12: Thưởng kẹo cuối tuần.
f) Ứng dụng công nghệ thông tin trong giờ học
Chương trình GDPT 2018 được áp dụng hồn tồn mới mẻ về kiến thức
cũng như nội dung. Cụ thể, khi học mơn Tốn, đa số các bài tập câu lệnh dài khá
phức tạp với các em (chưa đọc thanh thạo) nên giáo viên cần sử dụng intenet để
truy cập vào “Hành trang số” hướng dẫn các em thực hiện làm bài tập. Nên rất
cần sử dụng công nghệ thông tin trong mỗi giờ học.
g) Vận dụng trò chơi vào trong giờ học.
Nhà tâm lí học Kun Ken người Anh nói: “Trò chơi học tập là một phương
pháp dạy học giúp các em vui vẻ hẳn lên, thích hoạt động hơn… Khi bị khép
vào luật chơi, các em dần dần có trật tự, kỉ luật hơn…”.
Muốn các em học tốt thì người giáo viên không phải chỉ truyền đạt, giảng
giải theo các tài liệu đó có sẵn. Nếu chỉ dạy học như vậy thì việc học tập của học
sinh sẽ diễn ra thật đơn điệu, tẻ nhạt. Đó là một trong những nguyên nhân gây ra
cản trở việc đào tạo các em thành những con người năng động, tự tin, sáng tạo
sẵn sàng thích ứng với những đổi mới diễn ra hàng. Trị chơi học tập có tác dụng
làm thay đổi hình thức hoạt động học tập trên lớp, làm khơng khí học tập thỏa
mái, dễ chịu, giúp q trình học tập trở nên hấp dẫn, nhẹ nhàng, tự nhiên phù
hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp Một.
19
Mơn Tốn
Ví dụ: Bài Bảng cộng trong phạm vi 10.
Tơi cho các em chơi vào thời gian cuối tiết để ôn lại kiến thức cộng .
* Trò chơi : “ Ai nhanh ai khéo”
* Mục đích :
- Giúp HS ghi nhớ các bảng tínhðã học.
- Rèn luyện sự khéo léo cho HS.
* Chuẩn bị:
- GV chuẩn bị 3 tấm bìa khổ A3, mỗi tờ bìa có vẽ 1 vịng trịn có ghi số 10
nằmở giữa và 8 vịng trịn khơng số nằm xung quanh (nhý hình vẽ dýới) 9 mảnh
bìa trịn có ghi các số từ 1 ðến 9.
Mỗi tấm bìa có hình vẽ nhý sau:
Mỗi nhóm có 9 tấm bìa hình trịn nhỏ nhý sau:
1
2
3
4
5
6
7
8
9
* Cách chõi:
- Số ngýời chõi: 3nhóm, mỗi nhóm 3 em.
- Thời gian chõi: 3 phút.
- Luật chõi: GV chia lớp thành 3 nhóm, mỗi nhóm 3 em. Các em trong
nhóm sẽ chuyền tay nhau hình vẽ và các tấm bìa. Mỗi em khi nhậnðýợc hình vẽ
20
phải chọn hai tấm bìa dán vào hai hình trịn sao cho hai hình trịnðối diện nhau
qua hình trịn giữa tạo thành phép cộng có kết quả là10 (nhý mẫu)
- Cách ðánh giá:
+ Ghép ðúng
+ Ghép nhanh
- GV có thể áp dụng trò chõi này cho các tiết học cộng, trừ các số trong phạm
vi 10, các số tròn chục (Phải thay ðổi số liệu cho phù hợp với nội dung bài học).
Mơn Tiếng Việt
Ví dụ: Bài 23: th-ia
*Trị chơi: Ai nhanh, ai đúng?
- Mục tiêu: Giúp học sinh tìm và viết nhanh các từ có chứa (vần) đã học.
Có thể sử dụng trò chơi này để dạy củng cố cuối tiết 2.
Giáo viên chia lớp thành 4 đội, rồi phát mỗi em một thẻ từ, bút lông. Giáo
viên cũng gắn 4 nhụy hoa có ghi vần “ia” lên bảng lớp.Trong thời gian ba phút,
các em tìm và ghi từ có tiếng chứa vần “ia” rồi lên đính xung quanh nhụy hoa của
tổ mình trên bảng. Hết thời gian, đại diện các tổ lên đọc lại từ mới vừa tìm được.
Minh họa cho bài làm của học sinh:
Thông qua các trò chơi các em sẽ lĩnh hội kiến thức một cách dễ dàng. Vui
chơi không những giúp cho các em hướng đến sự mở rộng, chính xác hóa, hệ
thống hóa kiến thức triển các năng lực trí tuệ, giáo dục lòng ham hiểu biết của
học sinh đồng thời, giúp các em được rèn luyện thể lực, rèn luyện các giác quan
và tạo cơ hội cho các em được giao lưu với nhau, được hợp tác với bạn bè, đồng
đội trong nhóm, trong tổ….Đặc biệt các em học cịn chậm, cịn rụt rè đã tiến bộ
nhiều, đã hịa mình vào hoạt động của lớp, có tinh thần thi đua cá nhân với cá
21
nhân, nhóm với nhóm được diễn ra liên tục tạo ra khơng khí lớp học sơi nổi. Các
em đến lớp với lịng say mê thật sự. Mỗi em đều có sự háo hức chờ đợi được
tham gia các trò chơi.
3.3. Nêu các điều kiện, phương tiện cần thiết để thực hiện và áp dụng
giải pháp
-Trình độ chun mơn:
+ Giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo.
+ Có tinh thần trách nhiệm cao trong cơng tác, tích cực học hỏi để nâng cao
năng lực chuyên môn.
- Cơ sở vật chất:
+ Áp dụng tại lớp 1A trường Tiểu học Nguyễn Duy Hiệu.
+ Có cở sở vật chất đảm bảo cho việc giảng dạy, học tập tại trường như:
máy vi tính, ti vi, các trò chơi dân gian được vẽ trên sân trường, tranh, bài
tập trong sách giáo khoa, bông hoa học tập, mặt cười, đồ dùng dạy học,...
3.4. Nêu các bước thực hiện giải pháp, cách thức thực hiện giải pháp
* Các bước thực hiện giải pháp
- Xác định vấn đề nghiên cứu.
- Tìm giải pháp để cải tiến vấn đề cần nghiên cứu.
- Vận dụng vào thực tế với học sinh lớp mình.
- Thu nhận kết quả.
* Cách thức thực hiện:
- Nghiên cứu văn bản, các loại sách dạy tâm lý.
- Trao đổi, phối hợp với bạn bè đồng nghiệp.
- Phối hợp với cá nhân, đoàn thể, tổ chức trong nhà trường.
- Liên hệ thực tế trong nhà trường, áp dụng đúc kết rút kinh nghiệm qua
quá trình thực hiện.
3.5. Khả năng áp dụng sáng kiến:
22
Đề tài này được áp dụng với 100% học sinh khối Một ở tất cả các trường
Tiểu học.
Đề tài này đã được áp dụng ở trường Tiểu học nơi tôi công tác. Trường sẽ
tiếp tục thực hiện đề tài này trong nhiều năm tới.Đề tài này có thể áp dụng cho
các trường Tiểu học trên địa bàn huyện.
4. Những thông tin cần được bảo mật: Khơng có.
5. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tác giả
Qua thời gian thực hiện những vấn ðề nhý ðã nêu trên tôi nhận thấy học
sinh lớp 1A do tôi chủ nhiệm ðã có chuyển biến rõ rệt. Từ những em thiếu tự tin,
sợ hãi, rụt rè,… mỗi khi ðến lớp cũng nhý những em chýa có ý thức học tập, học
cịn lõ là, khơng chú ý ðến việc học,…thì bây giờ ðã thay ðổi rất nhiều. Trong
giờ học, các em rất hứng thú, tích cực học tập hõn. Tất cả các em ðều thực hiện
tốt nề nếp nhý:
- Ði vệ sinh ðúng nõi quy ðịnh, biết giữ vệ sinh chung trong lớp học cũng
nhý ở sân trýờng.
- Biết bảo quản tài sản của lớp cũng nhý ở trýờng;
- Biết xin phép cô khi ra vào lớp, biết giúp ðỡ bạn trong học tập, biết ðýa
tay khi muốn phát biểu, không nói leo, nhặt của rõi trả lại cho ngýời bị mất…
- Biết mạnh dạn và thực hiện theo yêu cầu của cô giáo trong vấn ðề học tập
một cách hứng thú, vui vẻ.
- Chất lýợng học tập ðýợc nâng lên rõ rệt qua từng tháng, từng học kỳ. Khả
nãng tự học của các em cao, mạnh dạn xung phong ðọc bài. Ðọc to, rõ ràng.
Khơng có học sinh nào khơng biết ðọc, biết viết. Cộng, trừ thành thạo.
23
Nhý vậy býớc ðầu xây dựng kĩ nãng hòa nhập và tạo hứng thú cho các em
giúp hình thành khả nãng chủ ðộng, tự lập, sáng tạo, hứng thú hõn trong học tập
có kết quả khả quan.
Kết quả cụ thể như sau:
Tháng 4 năm 2021
Mạnh
TS
dạn giao
tiếp
32
SL
TL
37,
Rụt rè
Tự phục
Chưa tự
giao tiếp
vụ
phục vụ
SL
SL
TL
TL
Kĩ năng
Chưa có kĩ
học cơ
năng học cơ
bản
bản
SL TL
SL TL
SL TL
31,2
12
0
0
10 31,25 0 0
10
0
0
5
5
So với kết quả ban đầu cho thấy số học sinh chưa tự tin được tăng lên rõ
rệt. Điều này chứng tỏ rằng khi áp dụng các biện pháp mà tôi đưa ra và được áp
dụng trong các tiết học một cách có khoa học thì kết quả học tập của học sinh có
nhiều chuyển biến tích cực. Là người trực tiếp nghiên cứu đề tài với kết quả như
trên bản thân tơi sẽ tiếp tục tìm cách nghiên cứu, vận dụng có hiệu quả hơn nữa
để sáng kiến này đi vào thực tiễn.
6. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến
lần đầu, kể cả áp dụng thử
Tổ chức cho học sinh lớp Mộtdễ dàng hịa nhập nhanh mơi trýờng học tập
mới, tạo sự hứng thú trong học tậplà một trong những nhiệm vụ hàng ðầu của
mỗi giáo viên dạy lớp Một. Nhýng ðể thực thiện ðýợc nhý thế thì mỗi giáo viên
lại có những phýõng pháp sý phạm khác nhau. Với tôi,những giải pháp vừa trình
bày ở trên, tơi ðã nghiên cứu rất kỹ trýớc khi tiến hành thực hiện. Kết quả thu
ðýợc là lớp học ðã có nề nếp học tập thực sự, chất lýợng học tập ðýợc nâng
cao,học sinh hứng thú với bài học. Ðiều hết sức quan trọng ðó là chất lýợng học
tập của các em có tiến bộ rõ rệt, các em ðoàn kết và thýõng yêu biết giúp ðỡ lẫn
24
nhau, lớp học có tính ðồng ðội, tính kỷ luật cao. Các em ðã có thói quen tốt, có ý
thức cao và chắc chắn rằng ðây sẽ là cõ sở, là nền tảng ðể các em học tốt ở
những lớp tiếp theo.
Với kết quả ðã ðạt ðýợc ở trên, tôi cảm thấy rất phấn khởi vì ðã ðóng góp
một chút công sức cho sự nghiệp trồng ngýời. Tôi mong rằng những ðóng góp
nhỏ của tơi sẽ ðýợc nhân rộng ðến các trýờng khác trên ðịa bàn huyện.