BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN MẠNH HƯNG
BÁO CHÍ THAM GIA ĐẤU TRANH CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”,
“TỰ CHUYỂN HĨA” TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG LỰC
LƯỢNG THANH NIÊN TRÍ THỨC THỦ ĐƠ HIỆN NAY
(Khảo sát các báo: Tuổi trẻ Thủ đơ, Tiền Phong, Thanh Niên)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI – 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN MẠNH HƯNG
BÁO CHÍ THAM GIA ĐẤU TRANH CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”,
“TỰ CHUYỂN HĨA” TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG LỰC
LƯỢNG THANH NIÊN TRÍ THỨC THỦ ĐƠ HIỆN NAY
(Khảo sát các báo: Tuổi trẻ Thủ đơ, Tiền Phong, Thanh Niên)
Chun ngành: Chính trị phát triển
Mã số:
8 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHÍNH TRỊ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Xuân Phong
HÀ NỘI – 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực và
chính xác. Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn chưa
từng được ai công bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Mạnh Hưng
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
CNTB
Chủ nghĩa tư bản
DBHB
Diễn biến hịa nình
ĐTNCS
Đồn thanh niên cộng sản
TƯ
Trung ương
TBCN
Tư bản chủ nghĩa
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
Mở đầu
Chương 1
1.1.
1.2.
1.3.
Chương 2
2.1.
2.2.
2.3.
Chương 3
Trang
1
LÝ LUẬN VỀ BÁO CHÍ THAM GIA ĐẤU TRANH
11
CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA” TƯ
TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG LỰC LƯỢNG THANH
NIÊN TRÍ THỨC
Một số khái niệm cơ bản
11
Báo chí và vai trị của báo chí trong tham gia đấu tranh
23
chống “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng
chính trị trong lực lượng thanh niên trí thức
Những yếu tố ảnh hưởng đến báo chí tham gia đấu tranh
37
chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính
trị trong lực lượng thanh niên trí thức
BÁO CHÍ THAM GIA ĐẤU TRANH CHỐNG “TỰ
41
DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HĨA” TƯ TƯỞNG
CHÍNH TRỊ TRONG LỰC LƯỢNG THANH NIÊN
TRÍ THỨC- THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Khái quát về các báo chí khảo sát và tình hình tư tưởng
41
chính trị của lực lượng thanh niên trí thức Thủ đơ giai
đoạn hiện nay
Thực trạng các báo chí tham gia đấu tranh chống “tự
48
diễn biến”, “tự chuyển hóa” tư tưởng chính trị trong lực
lượng thanh niên trí thức Thủ đơ
Một số vấn đề đặt ra của báo chí tham gia đấu tranh
67
chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tư tưởng chính trị
trong lực lượng thanh niên trí thức Thủ đơ
U CẦU, GIẢI PHÁP BÁO CHÍ THAM GIA ĐẤU
70
TRANH CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN
HĨA” TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG LƯỢNG
THANH NIÊN TRÍ THỨC THỦ ĐƠ THỜI GIAN TỚI
3.1. u cầu đối với báo chí đấu tranh chống “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” tư tưởng chính trị trong lực lượng thanh
niên trí thức Thủ đô thời gian tới
3.2. Một số giải pháp báo chí tham gia đấu tranh chống “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” tư tưởng chính trị trong lực
lượng thanh niên trí thức Thủ đơ thời gian tới
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
70
72
87
91
96
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Báo chí phản ánh sự vân động của xã hội, là một thành tố văn hóa của mỗi
cộng đồng, quốc gia, dân tộc và nhân loại. Ngay từ khi ra đời, báo chí đã khẳng
định vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, là một phương tiện truyền thông
không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Trên mặt trận đấu tranh với các
quan điểm sai trái, thù địch, báo chí thực sự là lực lượng xung kích, cơng cụ sắc
bén trong cơng tác đấu tranh phịng, chổng “diễn biến hịa bình” (DBHB), “tự
diễn biến”, “tư chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng hiện nay.
Báo Thanh Niên, Tuổi trẻ Thủ đô, Tiền Phong với đối tượng độc giả
hướng tới là đội ngũ thanh niên. Ngay từ khi mới ra đời, các báo đã bám sát yêu
cầu, nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ cách mạng. Nhất là, yêu cầu, nhiệm
vụ của cơng tác Đồn, cơng tác vận động thanh niên; gần gũi, nắm bắt và phản
ảnh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của tuổi trẻ; tập hợp, cổ vũ, thúc đẩy các
phong trào Đoàn, động viên thanh niên tin tưởng, trung thành, gắn bó với Đảng,
cống hiến hết mình cho Tổ quốc. Cùng với phát hiện, biểu dương, cổ vũ các nhân
tố mới, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt trong các lĩnh vực, Báo
Thanh Niên, Tuổi trẻ Thủ đơ và báo Tiền Phong đã tích cực tuyên truyền giá trị
cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vạch rõ
âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính
trị..... Điều đó, đã góp phần quan trọng vào cơng tác đấu tranh phòng, chống “tự
diễn biến ” “tự chuyển hóa” trong lực lượng thanh niên, trong đó có thanh niên
trí thức Thủ đơ Hà Nơi.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điển trên trong thời gian qua công tác đấu
tranh phịng chống DBHB, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các báo trên đối
với lực lượng thanh niên, trong đó có thanh niên trí thức Thủ đơ vẫn cịn bộc lộ
những hạn chế nhất định. Nội dung một số bài viết cịn phiến diện chưa sâu, tính
thuyết phục của bài viết chưa cao. Tần xuất các bài viết về phòng chống “tự diễn
1
biến”, “tự chuyển hóa” chưa thường xuyên, chưa tạo được hiệu ứng tích cực.
Hình thức đấu tranh chưa phong phú, sinh động, chưa tạo được sự lôi cuốn đối
với bạn đọc thanh niên trí thức. Nhận thức của một số cơ quan chức năng, cấp
uỷ, tổ chức đảng trong các cơ quan các báo, của phóng viên chưa thực sự đề cao
về công tác dấu tranh chống "tự diễn biến”, “tự chuyển hóa", thậm chí có biểu
hiện xem nhẹ, chưa thấy đây thực sự là nguy cơ đối với cách mạng nước ta.
Thanh niên trí thức Thủ đơ sống và làm việc ở vị trí địa - chính trị và địa kinh tế quan trọng, là “trái tim” của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cũng
chính vì thế mà, từ xưa đến nay Thủ đô Hà Nội luôn là nơi các thế lực thù địch
thường xuyên sử dụng thơng tin xun tạc, bịa đặt để kích động, phá hoại. Đặc
biệt, đối tượng chúng thường hướng tới là thanh niên trí thức. Đây là lực lượng
thường xuyên được tiếp cận các phương tiện báo chí, truyền thơng, tâm lý lứa
tuổi lại nhạy cảm, dễ tiếp cận cái mới, thích tự do, tự khẳng định mình, nhưng
chưa có nhiều kinh nghiệm, nhận thức các vấn đề chính trị - xã hội. Từ đó, làm
cho thanh niên bị lung lay, chuyển hóa về lập trường chính trị, tư tưởng, dẫn tới
q trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Với những lý do trên, học viên quyết định chọn đề tài “Báo chí tham gia
đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tư tưởng chính trị trong lực
lượng thanh niên trí thức Thủ đô hiện nay” làm đề tài nghiên cứu Luận văn tốt
nghiệp Thạc sỹ, ngành Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ nhiều góc độ tiếp cận, quy mơ và mục đích nghiên cứu khác nhau đã
có rất nhiều các cơng trình khoa học và bài viết đi vào nghiên cứu vấn đề đấu
tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị trên thế giới
nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Một trong số ít những cơng trình nghiên cứu
có thể kể đến đó là:
2.1. Một số sách giáo trình và sách chun khảo có liên quan
- Tơ Huy Rứa (2011): “Một số vấn đề về công tác lý luận, tư tưởng và tổ
chức của Đảng trong thời kỳ đổi mới”, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả
đã nêu lên một số yếu kém trong công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới.
2
Đó là tình trạng lạc hậu của lý luận trên một số mặt, khơng ít vấn đề thực tiễn
đặt ra mà lý luận chưa giải quyết một cách thấu đáo. Tính chiến đấu, thuyết phục
và hiệu quả của cơng tác tư tưởng còn một số hạn chế, thiếu sắc bén trong chống
âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hịa bình” (DBHB) của các thế lực thù địch. Công
tác xây dựng Đảng cịn nhiều yếu kém, chậm được khắc phục. Tình trạng suy
thối về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán
bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ
nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn diễn biến phức tạp. Việc học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa thực sự đi vào chiều sâu,
một số nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao...
- Cuốn sách “Nhận diện về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và giải pháp
đấu tranh ngăn chặn” – Nxb. Chính trị quốc gia, là tập hợp các bài viết của các
đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà quản lý, các nhà khoa học đăng trên
các tạp chí trong những năm qua, nhất là từ khi Đảng ta ban hành Nghị quyết
TƯ 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Cuốn sách
đã giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân có điều kiện nhận diện, hiểu rõ, sâu
sắc về các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ
đảng viên, các âm mưu, thủ đoạn thực hiện DBHB của các thế lực thù địch
nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, hoạt động chống
phá, chia rẽ nội bộ Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân
dân, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng.
- Cuốn sách “Phịng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán
bộ, Đảng viên” do Vũ Văn Phúc chủ biên bao gồm tham luận của các nhà khoa
học, các đồng chí lãnh đạo, quản lý các cấp, các nhà hoạt động thực tiễn trên các
lĩnh vực, các địa bàn; các tướng lĩnh, từ các địa bàn trọng điểm rất nhạy cảm về
tôn giáo, dân tộc tới các cơ quan quản lý người Việt Nam sinh sống và học tập
tại nước ngồi. Nhìn tổng thể, các tham luận đã tập trung vào nhiều nội dung,
dưới nhiều góc độ, từ nhiều cách tiếp cận, đã kiến giải vấn đề một cách tương
đối đa diện, khá phong phú, gợi mở, có đóng góp nhất định về lý luận cũng như
3
thực tiễn về vấn đề phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong đó,
một số bài viết đã phân tích một số vấn đề thuộc về nội hàm của khái niệm “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” đến những yếu tố tác động làm gia tăng nguy cơ nói
trên. Trên cơ sở đó, một số bài viết đã làm rõ bản chất, biểu hiện của “tự diễn
biến” “tự chuyển hóa” trong cán bộ đảng viên hiện nay và đưa ra một số giải
pháp chủ yếu phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
- Cuốn sách “Những giải pháp và điều kiện thực hiện phịng, chống suy
thối tư tưởng đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên” được biên soạn với
một tập thể các nhà nghiên cứu, lãnh đạo, quản lý dày dạn kinh nghiệp do Vũ
Văn Phúc và Ngô Văn Thạo đồng chủ biên. Cuốn sách làm sáng rõ cơ sở lý luận
của việc phịng, chống suy thối tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán
bộ, đảng viên, nêu lên kinh nghiệm thực tiễn giải quyết vấn đề này của một số
nước trên thế giới; làm rõ thực trạng, ngun nhân của cơng tác phịng, chống;
dự báo những tác động của tình hình quốc tế và trong nước đến tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên cũng như dự báo xu hướng diễn biến
của tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong những năm tới; trên cơ sở đó đề
xuất các mục tiêu, giải pháp mang tính tồn diện, đồng bộ, khả thi và điều kiện
cần thiết để thực hiện hiệu quả cuộc đấu tranh khó khăn, lâu dài này. Những giải
pháp được các tác giả đưa ra là những nhóm giải pháp trong các lĩnh vực, công
tác khác nhau, như: giải pháp trong công tác xây dựng Đảng; giải pháp trong
lĩnh vực quản lý Nhà nước, giải pháp nhằm phát huy vai trò của nhân dân và xã
hội; giải pháp nhằm hạn chế các tác động bên ngoài đến tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống trong cán bộ đảng viên.
- Cuốn sách “Sự thật vấn đề dân chủ và nhân quyền trong chiến lược
“diễn biến hịa bình” do tác giả Trương Thành Trung chủ biên, Nxb Chính trị
quốc gia - sự thật. Cuốn sách đã cung cấp những thông tin thiết thực về vấn đề
“dân chủ và nhân quyền”, kịp thời phục vụ cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng
lý luận; phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, DBHB bảo vệ sự nghiệp
4
đổi mới vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; vì dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh ở nước ta hiện nay.
2.2. Các đề tài nghiên cứu khoa học, hội thảo khoa học, luận văn, luận án
- Luận văn Thạc sĩ “Cách mạng sắc màu” ở một số nước và gợi mở đối
với Việt Nam trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay”
của tác giả Đặng Thùy Vân, chuyên ngành Chính trị học - Học viện Báo chí và
Tuyên truyền, 2014. Đề tài này làm rõ một số vấn đề lý luận về “cách mạng sắc
màu” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Luận văn làm rõ q trình tiến hành
(bối cảnh, diễn biến, kết quả) của các cuộc “cách mạng sắc màu” tiêu biểu trên
thế giới, đưa ra những nhận xét về các cuộc “cách mạng” này. Tác giả đã đưa ra
những gợi mở đối với Việt Nam trong phịng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” hiện nay.
- Luận văn Thạc sĩ “Báo chí Cơng an nhân dân với vấn đề đấu tranh
phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tư tưởng cán bộ, đảng viên
ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Thanh Hùng, chuyên ngành Báo chí –
Học viện Báo chí và Tuyên truyền, năm 2015. Luận văn nghiên cứu thực trạng
vai trò của báo chí trong cuộc đấu tranh phịng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong tư tưởng cán bộ, Đảng viên ở nước ta hiện nay; đề xuất các giải pháp,
kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến” “tự
chuyển hóa” trong tư tưởng cán bộ, Đảng viên của báo chí ở nước ta hiện nay.
- Luận văn Thạc sĩ “Đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong cán bộ, đảng viên huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh hiện
nay” của tác giả Lê Nguyễn Thanh Bình, chun ngành Cơng tác tư tưởng - Học
viện Báo chí và Tuyên truyền, 2014. Trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá
thực trạng về vấn đề đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” của
một bộ phận cán bộ, đảng viên ở huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh,
luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí
Minh hiện nay.
5
- Hội thảo khoa học “Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong tình hình hiện nay”, do Bộ Cơng an tổ chức ngày 28/8/2012, tại Hà Nội.
Thượng tướng, GS.TS Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Đảng ủy
Công an TƯ (TƯ), Bộ trưởng Bộ công an và Trung tướng, PGS.TS Tô Lâm, Ủy
viên TƯ Đảng, Thứ trưởng Bộ cơng an chủ trì hội thảo khoa học. Hội thảo chỉ
ra, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là do âm mưu chống phá của thế lực
thù địch, nội bộ một số sơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể quần chúng đã xuất
hiện một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên suy thối về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống với các biểu hiện khác nhau. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI và gần đây nhất là Nghị quyết TƯ 4 (Khóa XI) Đảng chỉ rõ
phải chủ động phịng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ ta...
- Hội thảo khoa học “Phịng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong cán bộ, đảng viên hiện nay”, do Tạp chí Cộng sản tổ chức ngày
27/12/2012, tại Hà Nội. Hội thảo đã làm rõ nội hàm và hình thức biểu hiện của
“tự diễn biến” “tự chuyển hóa”; mối quan hệ giữa “tự diễn biến” và “tự chuyển
hóa” cũng như mối quan hệ giữa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với DBHB và
ngược lại...Phân tích bước đầu tình hình thực trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” trong cán bộ đảng viên hiện nay; phân tích “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”
trên các lĩnh vực; nguyên nhân của thực trạng “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”,
kiến nghị một số giải pháp phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một
cách chủ động, tích cực.
2.3. Các bài báo, tạp chí khoa học
- Nghiên cứu về vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Viết Thông, Tổng Thư ký
Hội đồng Lý luận TƯ đã có bài “Ngăn chặn, đẩy lùi suy thối về tư tưởng chính
trị” đăng tải trên báo Nhân dân điện tử, ngày 1/12/2016. Bài viết tập trung phân
tích những nhận thức mới nổi bật về ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thối về tư tưởng
chính trị. Nhận diện rõ suy thối về tư tưởng chính trị, chỉ ra điểm mới trong
Nghị quyết TƯ 4, Khóa XII, chín biểu hiện suy thối về tư tưởng chính trị. Có
6
thể nêu lên một số biểu hiện như: phai nhạt lý tưởng cách mạng; nhận thức sai
lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; khơng
chấp hành nghiêm các ngun tắc tổ chức của Đảng....Để nghị quyết đi vào cuộc
sống, các tổ chức đảng, cấp ủy cần tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ 29 nhiệm
vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết. Liên quan đến ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng
suy thối về tư tưởng chính trị tác giả đã chỉ ra 8 giải pháp cần thực hiện.
- Đoàn Thế Hanh (Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 17/5/2012): “Tìm
ngun nhân, tình trạng suy thối tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong bộ
phận cán bộ, đảng viên hiện nay”. Trên cơ sở những nguyên nhân cơ bản mà
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành TƯ Đảng (khóa XI) chỉ ra, tác
giả bàn về nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan dẫn đến sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ đảng viên. Trong hai
nhóm nguyên nhân trên, nhóm nguyên nhân chủ quan là vấn đề hàng đầu cần có
giải pháp khắc phục hiệu quả.
- Nguyễn Hữu Chính (Báo quân đội Nhân dân ngày 8/5/2012) đã có bài:
“Nhận diện đúng tính chất, mức độ của sự suy thối để kết hợp tốt giữa “Xây”
và “Chống”” đã nêu lên một trong những nguy cơ lớn nhất của đảng cầm quyền
là sự suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên,
nhất là cán bộ đảng viên có chức quyền. Đặc biệt, tác giả đã nhận diện về các
biểu hiện suy thối tư tưởng, chính trị của cán bộ, đảng viên, chỉ ra nguyên nhân
và hậu quả của nó. Từ đó, tác giả nêu lên biện pháp cơ bản để khắc phục là kết
hợp giữa “Xây” và “Chống”.
Như vậy, qua tìm hiểu, khảo sát của học viên đối với các cơng trình, các
nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài, có thể thấy rằng việc nghiên cứu
thực trạng và đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” trên báo chí Việt Nam thời gian qua hầu hết mới chỉ
dừng lại ở các bài phân tích, trao đổi trên báo chí và một số cuộc khảo sát xã hội
hay hội thảo khoa học. Chưa có nghiên cứu chun sâu và tồn diện nào về vấn
đề phịng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tư tưởng chính trị trong
7
lực lượng thanh niên trí thức Thủ đơ và đặc biệt là đưa ra các giải pháp nâng cao
vai trò của báo chí về vấn đề này ở Việt Nam hiện nay.
Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã nêu, tác giả tiếp
tục làm rõ hơn những vấn đề về “Báo chí tham gia đấu tranh chống “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị trong lực lượng thanh niên trí thức
Thủ đơ hiện nay”.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về chủ thể, nội dung, hình thức, phương
pháp của báo chí trong tham gia đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư
tưởng chính trị trong lực lượng thanh niên trí thức, đề tài phân tích, đánh giá thực trạng
và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của các bảo được khảo
sát trong đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trong lực
lượng thanh niên trí thức Thủ đơ.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về báo chí trong tham gia đấu tranh chống
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tư tưởng chính trị của lực lượng thanh niên trí thức.
Thứ hai, phân tích, đánh giá đúng thực trạng của báo chí trong tham gia
đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tư tưởng chính trị của lực lượng
thanh niên trí thức giai đoạn hiện nay (qua khảo sát tại báo Tuổi trẻ Thủ đô, Tiền
Phong, Thanh Niên), từ đó khái quát những vấn đề đặt ra.
Thứ ba, đề xuất yêu cầu và giải pháp phát huy vai trò của báo chí trong
tham gia đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị
trong lực lượng thanh niên trí thức Thủ đơ thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động của báo chí trong tham gia đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” tư tưởng chính trị.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Tư tưởng chính trị của lực lượng thanh niên trí thức Thủ đơ
8
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian
Khảo sát đối tượng và khách thể tại 3 tờ báo: Tuổi trẻ Thủ đô, Tiền
Phong, Thanh Niên.
Lý do chọn địa điểm khảo sát: Đây là 3 tờ báo tiêu biểu của lực lượng
thanh niên, có đối tượng độc giả thanh niên lớn, tơn chỉ mục đích hướng tới
phục vụ đối tượng bạn đọc là thanh niên. Đồng thời cũng là những cơ quan ngôn
luận đại diện cho đầy đủ các tầng lớp trong xã hội, nội dung khai thác trên các tờ
báo này xoay quanh những vấn đề trọng tâm của đời sống xã hội như: đời sống
giới trẻ, tin tức an ninh – chính trị, tin tức thời sự, đời sống xã hội.....
- Về thời gian
Khảo sát đề tài trong giai đoạn 2016 – 2020 (nhiệm kỳ Đại hội Đảng khóa XII)
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm của học thuyết Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí; đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng, Nhà nước về vai trị, tính chất và nhiệm vụ của báo chí nói chung và
trong đấu tranh phịng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính
trị ở Việt Nam. Trong đó, đáng lưu ý có Nghị quyết TW 4 (Khóa XII) về tăng
cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thối về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ; Nghị quyết 35 (Khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình
hình mới”. Các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật báo chí sửa đổi.
5.2. Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:
Thứ nhất, phương pháp cụ thể: Phương pháp lịch sử và lơgíc; phương
pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê, điều
tra, khảo sát thực tế, quy nạp...để giải quyết những nhiệm vụ mà đề tài đã đặt ra.
9
Thứ hai, phương pháp điều tra xã hội học: Tác giả sử dụng phát phiếu thăm
dò lực lượng thanh niên trí thức thủ đơ ở các trường: Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại
học Kinh tế quốc dân; Đại học Ngoại thương; Ủy ban nhân dân quận Cầu Giấy và
quận Ba Đình về vai trị của 3 tờ báo: Tuổi trẻ Thủ đô, Tiền Phong, Thanh Niên,
trong tham gia đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tư tưởng chính trị
trong lực lượng thanh niên trí thức Thủ đơ giai đoạn hiện nay nhằm đưa ra kết quả
định lượng đánh giá về thực trạng và hiệu quả của công tác đấu tranh này.
Thứ ba, phương pháp phỏng vấn sâu cán bộ tổng biên tập, các trưởng ban
chuyên môn các báo Tuổi trẻ Thủ đô, Tiền Phong, Thanh Niên, cán bộ chủ chốt,
cán bộ làm công tác thanh niên ở một số cơ quan trên địa bàn Thủ Đơ.
6. Đóng góp của luận văn
- Qua kết quả nghiên cứu dưới góc độ Chính trị học, đề tài góp phần khái
qt về thực trạng và những vấn đề đang đặt ra đối với vai trị của báo chí trong
tham gia đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tư tưởng chính trị
trong lực lượng thanh niên trí thức Thủ đơ giai đoạn hiện nay.
- Đề tài góp phần đề xuất yêu cầu và giải pháp giúp các cơ quan báo chí
tham khảo trong việc xây dựng chiến lược đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” tư tưởng chính trị trong lực lượng thanh niên trí thức Thủ đơ trong
giai đoạn mới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải phát huy vai
trò của báo chí tham gia đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tư
tưởng chính trị trong lực lượng thanh niên trí thức Thủ đơ hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ
quan báo chí cách mạng ở Việt Nam, cơ quan báo chí Thủ đơ trong việc lãnh đạo
và xây dựng chiến lược tham gia đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
tư tưởng chính trị trong lực lượng thanh niên, trí thức hiện nay.
- Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên
các trường khối chính trị, nhân văn, báo chí...trong q trình nghiên cứu, học tập
và tự hồn thiện kiến thức chun mơn nghiệp vụ của mình.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 8 tiết.
10
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ BÁO CHÍ THAM GIA ĐẤU TRANH CHỐNG “TỰ DIỄN
BIẾN, TỰ CHUYỂN HĨA” TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG LỰC
LƯỢNG THANH NIÊN TRÍ THỨC
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Báo chí
Theo Luật Báo chí năm 2016, thì “Báo chí là sản phẩm thơng tin về các sự
kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được
sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo cơng chúng thơng
qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử” [41, tr.5].
Báo chí ra đời từ rất sớm, ban đầu mang tính sơ khai là các bản tin, những
ký hiệu, hình vẽ khắc lên vỏ, thân cây, trên da thú..., sau này mới có giấy in và
các bản tin, thông báo được in trên giấy. Đến khoảng thế kỷ XII, xu hướng phát
triển mới thì các bản tin, truyền tin ngày càng phát triển và đóng vai trị khơng
thể thiếu trong đời sống xã hội. Đến nay, báo chí trở thành loại hình truyền
thơng rất phổ biến. Ảnh hưởng của nó với đời sống xã hội là hết sức rộng lớn và
sâu sắc. Thậm chí khả năng và điều kiện thụ hưởng các sản phẩm báo chí cịn
được coi là một chỉ số quan trọng để đánh giá tính chất văn minh của một xã hội
hiện đại.
Tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng báo chí có đặc điểm chung: “là hoạt
động thơng tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn nhất, là phương tiện và
phương thức kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là phương tiện và phương thức can
thiệp xã hội hiệu quả nhất thông qua mối quan hệ với công chúng và dư luận xã
hội, với nhân dân và với các nhóm xã hội và cộng đồng quốc tế” [25, tr.150].
Lịch sử phát triển của báo chí chính là sự gia tăng các tiện ích của q trình
thu thập, xử lý và tiếp nhận thông tin dành cho số đông trong xã hội. Tính chất
cơng khai, rộng rãi và nhanh chóng đã khiến báo chí trở thành một nguồn năng
lượng có sức mạnh độc tơn. Việc bày tỏ quan điểm, chính kiến trên mặt báo,
định hướng dư luận xã hội đã khiến báo chí vượt xa khả năng của một phương
11
tiện truyền tin thơng thường. Nó thực sự là vũ khí có sức cơng phá lớn, thực sự
là một thứ quyền lực: quyền lực của trí tuệ, nhận thức, của khả năng thức tỉnh lý
trí, cổ vũ dư luận. Sức mạnh của phương tiện truyền thông lan tỏa nhanh nhất,
rộng khắp trong thời đại thông tin tri thức, là sức mạnh trực tiếp thúc đẩy sự
phát triển xã hội, tạo nguồn lực và cơ hội cho mỗi cá nhân phát triển.
Theo quan niệm từ trước đến nay, báo chí là phương tiện truyền thông đại
chúng, truyền tải những những thông tin thời sự có tính định kỳ đến với đơng
đảo cơng chúng. Đặc điểm nổi bật của báo chí chính là tính cơng khai và sự lan
tỏa nhanh chóng, rộng khắp.
Tác giả Đỗ Chí Nghĩa, khái niệm về báo chí: “Báo chí là loại hình các
phương tiện truyền thơng đại chúng được cơ quan thẩm quyền cấp phép hoạt
động, có nhiệm vụ chuyển tải thông tin nhanh nhất, mới mẻ nhất đến cho đơng
đảo cơng chúng, nhằm tích cực hóa đời sống thực tiễn” [42, tr.17].
Báo chí được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: báo, tạp chí in, báo phát
thanh, báo truyền hình, báo mạng điện tử. Nếu tiếp cận theo thiết chế truyền
thơng, báo chí là những kênh truyền thông đại chúng, xuất bản định kỳ.
Tiếp cận theo báo chí hiện đại, với báo mạng điện tử, mạng xã hội cơng dân
(facebook, zalo…) thì tính định kỳ của báo chí truyền thống cũng đã bị phá vỡ.
Thơng tin giờ đây được đẩy lên mạng không phải hằng ngày mà hằng giờ. Thậm
chí, những sự kiện trọng đại, thu hút sự chú ý của đơng đảo cơng chúng thì thời
gian cập nhật tính bằng phút. Cơng nghệ hiện đại, cộng với những tiện ích của nó
đã khiến người ta có thể “xuất bản” báo nhanh chóng, giảm bớt nhiều quy trình
xử lý quá phức tạp do rào cản của các yếu tố kỹ thuật.
Theo cách tiếp cận từ góc nhìn của cơng chúng, thì báo chí là phương tiện
để đáp ứng được các nhu cầu được tiếp nhận, biết thông tin của cơng chúng.
Cơng chúng tìm đến các phương tiện báo chí trước hết là để tìm kiếm thơng tin
và trong những thơng tin đó thì thơng tin thời sự đóng vai trị quan trọng. Những
sự kiện mới nhất, nóng bỏng nhất luôn được công chúng kỳ vọng, chờ đợi.
12
Từ cách nhìn nhận này, tác giả đưa ra khái niệm về báo chí như sau: Báo chí
là các loại hình truyền thơng đại chúng (gồm báo in, phát thanh, truyền hình, báo
mạng điện tử…) được cơ quan thẩm quyền cấp phép hoạt động, có tính định kỳ,
phát hành rộng rãi, chuyển tải thông tin mới một cách nhanh nhất đến cơng
chúng, có ảnh hưởng rộng lớn trong xã hội.
1.1.2. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
Trước Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI, vấn đề “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập, trao đổi, thảo luận và
cảnh báo ở nhiều phạm vi khác nhau, nhất là trên các phương tiện thông tin đại
chúng và hệ thống tạp chí khoa học của các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Tháng 3/2011, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng CSVN được
tổ chức và ra Nghị quyết, trong đó nhận định: “Nước ta đứng trước nhiều thách
thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi
thường thách thức nào. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước
trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Tình trạng suy thối về chính trị, tư
tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với
tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng, làm giảm sút niềm tin của
nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm
mưu DBHB, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân
quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Trong nội bộ, những biểu
hiện xa rời mục tiêu của CNXH, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”có những diễn
biến phức tạp. Đây là lần đầu tiên, cụm từ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xuất
hiện trong một văn kiện cao nhất của Đảng và được đánh giá là một nguy cơ đe
dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ XHCN ở nước ta” [26, tr 319].
Sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và Hội nghị Ban Chấp
hành TƯ lần thứ 4, thuật ngữ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trở nên phổ biến
và trở thành chủ đề được nghiên cứu, thảo luận, công bố công khai trên nhiều
tạp chí và hội thảo khác nhau. Để thống nhất nhận thức và hành động, Bộ Công
an đã tổ chức hội thảo “Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tình
13
hình hiện nay” và sau đó, Tạp chí Cộng sản phối hợp với Tổng cục Chính trị
Quân đội nhân dân Việt Nam và Đảng ủy khối các cơ quan TƯ tổ chức hội thảo
“Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện
nay” để tập hợp ý kiến và đi đến tạo một sự thống nhất chung.
Hiện nay, nhận thức về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”được hiểu là: sự vận
động tự thân của mọi sự vật, hiện tượng hướng tới sự biến đổi chính mình từ
một hình thái này, dạng này sang một hình thái khác, dạng khác.
Tiếp cận dưới góc độ hình thái kinh tế xã hội, “tự diễn biến” “tự chuyển
hóa” là thuật ngữ chính trị dùng để chỉ q trình vận động, biến đổi tự thân của
một hình thái kinh tế - xã hội thành một hình thái kinh tế - xã hội có bản chất,
hình thức và tổ chức hoạt động khác hẳn với hình thái kinh tế - xã hội cũ. Ở cách
tiếp cận này, “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” chỉ sự thay đổi mang tính bước
ngoặt trong sự vận động, phát triển tự thân của một hình thái kinh tế - xã hội cụ
thể để chuyển sang một hình thái kinh tế - xã hội có bản chất khác so với hình
thái kinh tế - xã hội cũ. Sự vận động, biến đổi này phản ánh và tuân theo quy
luật về mối quan hệ biện chứng khách quan giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong một hình thái kinh tế
- xã hội cụ thể, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và cơ sở
hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Nếu xu hướng vận động, biến đổi của
hình thái kinh tế - xã hội theo chiều hướng tiến bộ, phát triển, đi lên, “tự diễn
biến” “tự chuyển hóa” mang tính cách mạng, ngược lại, theo chiều hướng phản
tiến bộ, phản phát triển, thụt lùi, “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”mang tính phản
cách mạng.
Tiếp cận với góc độ của khoa học lý luận chính trị và quan điểm của Đảng
ta hiện nay, “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” là thuật ngữ chính trị - an ninh có
hàm nghĩa tiêu cực, dùng để chỉ quá trình vận động, biến đổi chế độ chính trị xã
hội XHCN thành chế độ chính trị xã hội TBCN trong thời kỳ quá độ đi lên
CNXH ở nước ta. Với cách hiểu này, “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” thực chất
là q trình chế độ chính trị xã hội XHCN phát triển chệch hướng dẫn đến sự tan
14
rã, tiêu vong của XHCN hiện thực ở nước ta để phát triển đi theo con đường
TBCN - một hiện tượng chính trị xã hội đã từng xảy ra trong thực tiễn xây dựng
CNXH ở Liên Xô và Đông Âu trước đây, dẫn đến sự sụp đổ, tan rã của hệ thống
chính trị XHCN hiện thực trong những thập niên cuối của thế kỷ XX. Q trình
này thường có nhiều biểu hiện khác nhau, nhưng tập trung chủ yếu ở sự suy yếu
đi đến mất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền đối với
Nhà nước và xã hội, hình thành thể chế đa ngun chính trị, đa đảng đối lập ở
các nước đi theo con đường phát triển XHCN. Một điểm đáng chú ý nữa là “tự
diễn biến” “tự chuyển hóa” thường chỉ xảy ra trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH
ở những nước đi theo con đường phát triển XHCN nhưng chưa trải qua giai
đoạn phát triển TBCN, thường là chế độ tiền tư bản, bỏ qua giai đoạn phát triển
TBCN để tiến thẳng lên CNXH. Một điểm đặc biệt khác là “tự diễn biến” “tự
chuyển hóa” cịn mang ý nghĩa “tự thân”, nghĩa là do chính những yếu tố nội tại
trong Hệ thống chính trị xã hội XHCN thực hiện, quyết định, chi phối mà hầu
như không cần đến sự tác động của những yếu tố bên ngồi. Nói cách khác, đó
là q trình hệ thống chính trị xã hội XHCN “tự tha hóa” để chuyển đổi thành
mặt đối lập với chính mình - hệ thống chính trị xã hội tư bản chủ nghĩa với thiết
chế chính trị xã hội đa nguyên, đa đảng, trong đó Đảng Cộng sản Việt Nam mất
địa vị cầm quyền, trở thành đảng đối lập, thậm chí bị cấm hoạt động, đặt ra
ngồi vịng pháp luật… Những yếu tố nội tại dẫn đến “tự diễn biến” “tự chuyển
hóa” bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, chủ yếu là những yếu tố XHCN và
TBCN. Hai yếu tố này mang tính đối lập với nhau nên mâu thuẫn và đấu tranh
với nhau gay gắt, quyết liệt, lâu dài, trong đó các yếu tố TBCN lên và ngày càng
lấn át các yếu tố XHCN đang suy yếu, phai nhạt dần. Đến một thời điểm, khi hội
tụ đủ các điều kiện cần thiết, yếu tố XHCN bị đánh bại, yếu tố TBCN hồn tồn
thắng thế sẽ diễn ra q trình “tự chuyển hóa” từ chế độ chính trị xã hội XHCN
sang chế độ chính trị xã hội TBCN.
"Tự diễn biến", "tự chuyển hóa" có cùng nguồn gốc và cùng dẫn tới làm
suy yếu, rối loạn, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. "Tự diễn biến", "tự
15
chuyển hóa" đều xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan bên trong, về tổ
chức, đó là: sai lầm trong đường lối chính trị, vai trị lãnh đạo của Đảng, hiệu
lực quản lý của Nhà nước không được phát huy, kinh tế trì trệ, tụt hậu, xã hội
bất ổn, văn hóa, đạo đức xã hội xuống cấp; đồng thời "tự diễn biến”, "tự chuyển
hóa” cịn do tác động khách quan của "diễn biến hịa bình". Từ đó dẫn tới sự
thay đổi trong nội bộ ta, theo chiều hướng xấu, chiều hướng tiêu cực và sẽ tạo ra
sự suy thoái, xuống cấp của chế độ, dẫn đến chuyển hóa về bản chất thể chế chính
trị XHCN. Về cá nhân, đó là: "lập trường tư tưởng khơng vững vàng, thiếu bản
lĩnh chính trị, hoang mang, dao động trước các tác động của các yếu tố bên
ngoài; thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân thường xuyên; không chủ động học
tập, nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh.
Như vậy, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" có cùng nguồn gốc, có quan hệ
tương hỗ, tác động qua lại với nhau là hệ quả nảy sinh từ phương thức, thủ đoạn
giống nhau và đều hướng tới làm suy yếu, rối loạn dẫn tới sụp đổ chế độ xã hội
chủ nghĩa.
"Tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là hai giai đoạn kế tiếp và có quan hệ tương
hỗ với nhau. Về thực chất, "tự diễn biến" là sự thay đổi theo chiều hướng tiêu
cực bên trong mỗi cá nhân và tổ chức, trong hệ thống chính trị và trong xã hội;
diễn ra từ những thay đổi dần dần các quan niệm giá trị, từng bước xa rời chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng
Cộng sản Việt Nam, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Những biểu
hiện "tự diễn biến" đó nếu khơng được kịp thời và kiên quyết ngăn chặn sẽ dẫn
đến "tự chuyển hóa" - sự thay đổi bản chất, rời bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa
và những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, ngả về chủ nghĩa tư
bản (CNTB). "Tự chuyển hóa" là q trình đấu tranh giữa các mặt tích cực và
tiêu cực trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và trong mỗi con người. Trong
đó, yếu tố tiêu cực và tư tưởng tư bản chủ nghĩa (TBCN) dần dần tăng lên; yếu
tố tích cực, XHCN suy thối dần, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn
16
hóa, đạo đức xã hội, quốc phịng, an ninh, đối ngoại... Đây là quá trình biến đổi
từ bên trong chủ thể, đến một thời điểm nhất định, sự biến đổi này sẽ làm cho
đất nước chuyển sang thể chế chính trị khác, khơng cịn là CNXH. "Tự chuyển
hóa" là kết quả của quá trình biến đổi từ bên trong chủ thể theo chiều hưởng từ
đúng sang sai, từ tốt sang xấu, từ tích cực sang tiêu cực, từ tiến bộ sang phản
tiến bộ, từ XHCN sang TBCN. Về cá nhân cũng diễn biến theo chiều hướng từ
đúng sang sai, từ tốt sang xấu, từ tích cực sang tiêu cực, từ tiến bộ sang phản
tiến bộ, từ lập trường tư tưởng chính trị XHCN sang lập trường TBCN, thậm chí
có trường hợp chống đối lại chế độ XHCN.
Như vây, "tự diễn biến" và "tự chuyển hóa" là hai q trình khác nhau
nhưng lại gắn kết với nhau trong một quá trình vận động, biến đổi của đất nước
cũng như trong các tổ chức và mỗi con người. Quá trình diễn ra "tự diễn biến”
cũng là quá trình diễn ra "tự chuyển hóa" nhưng ở trong những giới hạn nhất
định. Đến một lúc nào đó thì từ "tự diễn biến" sẽ dẫn tới "tự chuyển hóa" tồn
bộ; lúc đó đất nước, tổ chức, con người sẽ thay đổi hoàn toàn về bản chất chính
trị. Q trình diễn ra "tự diễn biến" làm cho q trình "tự chuyển hóa" diễn ra
nhanh hơn. Và ngược lại, mỗi bước "tự chuyển hóa" cũng thúc đẩy quá trình "tự
diễn biến" mạnh mẽ thêm.
1.1.3. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị
Thuật ngữ “tư tưởng” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: Idéa (hình tượng).
Tiếng Anh “ tư tưởng” là Ideology (danh từ). Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn
ngữ học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 2010, cho rằng, “Tư tưởng là sự suy
nghĩ hoặc ý nghĩ. Tập trung tư tưởng...Quan điểm và ý nghĩ chung của con
người đối với hiện thực khách quan và đối với xã hội (nói tổng quát) [61,
tr.1370]. Mọi tư tưởng đều được rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn hoạt động sống
của con người, phản ánh đúng đắn hay phản ánh không đúng hiện thực khách
quan...
Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2011 viết: tư tưởng là suy nghĩ hoặc ý
nghĩ của con người. Hay chính là những quan điểm và ý nghĩ chung của con
17
người đối với hiện thực khách quan và đối với xã hội [61, tr. 1663]. Theo nghĩa
rộng, (nghĩa chung nhất), tư tưởng là một hình thái của ý thức xã hội được hình
thành một cách bền vững, sâu sắc trong tâm trí con người, có tác dụng lơi cuốn
mạnh mẽ, hướng dẫn hành động của con người trong một thời gian tương đối
dài. Tư tưởng thường hướng hành động tới mục đích đã có trong ý thức của con
người. Theo nghĩa hẹp, tư tưởng là một hình thái cụ thể của ý thức xã hội loài
người, ý thức cá nhân con người cụ thể, phản ánh thế giới khách quan trong ý
thức và định hướng hành động của con người cụ thể. Chủ thể của tư tưởng có
thể là tư tưởng cá nhân con người có ý thức, của một cộng đồng người…
Như vậy, có thể thấy sự đa dạng, đa diện của tư tưởng, nhưng cái chung
nhất là sự phản ánh khái quát hiện thực khách quan được phản ánh trong ý thức
của con người cụ thể, được biểu hiện những lợi ích của con người, của giai cấp
và của xã hội. Đó là ý thức phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng khái quát, phản
ánh lợi ích riêng của một cá nhân, của một tập đoàn, một giai cấp, một dân tộc,
một thời gian, hay một thời đại nhất định. Sự phản ánh đó có thể đúng và chưa
đúng, thậm chí có thể “lệch chuẩn”, hoặc sai. Vì vậy, trong xã hội sẽ có tư tưởng
tiến bộ thúc đẩy sự phát triển xã hội; có tư tưởng lạc hậu và cả tư tưởng phản
động, kìm hãm sự phát triển của xã hội... Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin thì tư tưởng là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng
nhằm xây dựng và xác lập, phát triển hoàn thiện hệ tư tưởng với mục đích phổ
biến, tuyên truyền hệ tư tưởng của giai cấp, chính đảng giác ngộ quần chúng
nhân dân, làm cho nhân dân hiểu và hành động vì lợi ích, mục tiêu của chính
đảng lãnh đạo và đông đảo cơng chúng.
Chính trị, theo Từ điển tiếng Việt, xuất bản năm 2011, là danh từ chỉ những
vấn đề về tổ chức và điều khiển bộ máy nhà nước, hoặc những hoạt động của
một giai cấp, một chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy
nhà nước [61, tr. 268]. Thuật ngữ “chính trị” có nguồn gốc từ Hy Lạp là Politic,
từ Politic có liên quan với hai từ Politi (sự suy nghĩ) và Politica (hành động khởi
đi từ suy nghĩ). Nguyên ngữ Politic của Hy Lạp có nghĩa là kết quả của một
18
hành động khởi đi bắt đầu từ sự suy nghĩ. Theo tiếng Anh “chính trị” là Politics
(danh từ số nhiều). Từ Politics là danh từ số nhiều của từ Politic. Politic trong
ngơn ngữ Anh là tính từ có nghĩa là thận trọng, khôn ngoan, khôn khéo; sáng
suốt, tinh tường, sắc bén (về chính trị). Như vậy, chính trị là quá trình được hình
thành từ sự suy nghĩ chín chắn, thận trọng, khơn khéo, quang minh chính đại,
hướng con người đến hành động để đạt mục đích với kết quả tốt đẹp. Nhìn nhận
từ góc độ quốc gia, dân tộc cho thấy, chính trị là tất cả những hoạt động, những
vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay
quanh vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước một cách “nghệ thuật”
để lãnh đạo củng cố xây dựng và phát triển đất nước.
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin thì chính trị là biểu hiện tập
trung của kinh tế; chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng, lệ thuộc, phản ánh cơ sở
hạ tầng; chính trị là ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội; là thái độ của giai cấp,
tầng lớp này với giai cấp, tầng lớp khác...Dưới góc nhìn xã hội thì chính trị được
biểu hiện ở tư tưởng chính trị, học thuyết chính trị, thể chế chính trị, tổ chức
chính trị, thiết chế chính trị... Về nhận thức tư tưởng của con người thì chính trị
gồm: Nhận thức chính trị, tình cảm chính trị, tư duy chính trị, ý thức chính trị,
bản lĩnh chính trị, lập trường chính trị, niềm tin chính trị, xu hướng chính trị,
hành động thực tiễn (cách mạng) chính trị… Chính trị được hiểu theo nghĩa rộng
là mục đích, đường lối, nhiệm vụ đấu tranh của một giai cấp, một chính đảng
nhằm giành hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy Nhà nước; hay chính là
những chủ trương, chính sách của Đảng cầm quyền. Các chủ trương, chính sách
này sẽ được cụ thể hóa thành pháp luật của Nhà nước... Theo quan điểm của
V.I. Lênin, chính trị của báo chí cách mạng là phải quan tâm thật cụ thể đời
sống, đời thường của nhân dân. Người kịch liệt phê phán cách viết tô hồng, hay
kém sắc sảo trong đấu tranh các hiện tượng tiêu cực... Người chỉ dẫn tờ báo tập
trung tuyên truyền về chủ đề xây dựng cuộc sống mới. Đó là chính trị quan
trọng nhất hiện nay. “Hãy bớt làm rùm beng về chính trị đi. Hãy bớt những
nghị luận kiểu trí thức đi. Hãy gần gũi đời sống hơn nữa. Hãy chú ý nhiều hơn
19
nữa xem trong công việc thường ngày của họ, quần chúng công nông đang
thực tế sáng tạo cái mới như thế nào. Hãy kiểm nghiệm kỹ hơn xem cái mới đó
có tính chất cộng sản đến mức độ nào” [47, tr. 109].
Tư tưởng chính trị là khái niệm phản ánh trình độ nhận thức, quan điểm,
suy nghĩ, thái độ, ý chí của một giai cấp, một nhóm xã hội, của cá nhân đối với
các vấn đề liên quan đến lập trường, lợi ích của giai cấp các đảng phái chính
trị, của dân tộc, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, trong xã hội có giai
cấp. Nó là cái phản ánh và cũng là kết quả của thực tiễn đấu tranh giai cấp trên
lĩnh vực ý thức xã hội và có tác động chi phối, định hướng các chủ thể đang
tham gia vào cuộc đấu tranh ấy.
Ở nước ta, thuật ngữ “tư tưởng chính trị” được sử dụng khá phổ biến
trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các tài liệu giáo dục chính trị và được
hiểu chung là những vấn đề về chủ trương, chính sách, đường lối liên quan đến
quyền lực nhà nước cũng như nhận thức quan điểm của mỗi cá nhân trước các
vấn đề xã hội.
Từ những phân tích trên ta có thể quan niệm "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"
về tư tưởng chính trị ở nước ta hiện nay được hiểu là quá trình tự thay đổi tư
duy, nhận thức theo chiều hướng tiêu cực, từ đúng thành sai, từ tin tưởng đến
hồi nghi, phủ định tính khoa học, tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước để
chuyển sang sùng bái, tin theo các luận điểm tư sản, sai trái, phản động. “Tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị ở nước ta hiện nay, nó được
biểu hiện ở những mức độ sau:
- Phai nhạt lý tưởng, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đây
là mức độ biểu hiện đầu tiên với dấu hiệu đặc trưng là sự phai nhạt niềm tin, lý
tưởng của cán bộ, đảng viên và người dân. "Tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ở
mức độ này là phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường
XHCN, dao động, thiếu niềm tin, sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo
20