Tải bản đầy đủ (.pdf) (41 trang)

Một số vấn đề lý luận về Hình sự phần chung

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (787.58 KB, 41 trang )

Chương 1: Khái niệm, nhiệm vụ và các nguyên tắc cơ bản của
Luật Hình sự Việt Nam
I. Khái niệm Luật Hình sự Việt Nam
Là một ngành luật trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luật
hình sự được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội, xác định những hành vi nguy
hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, quy định hình phạt đối với những tội phạm
ấy và những vấn đề khác có liên quan đến việc xác định tội phạm và hình phạt.
1. Đối tượng điều chỉnh của luật hình sư
Quan hệ xã hội giữa nhà nước và người phạm tội phát sinh khi có sự kiện
phạm tội xảy ra
2. Phương pháp điều chỉnh của luật hình sự
Phương pháp quyền uy (mệnh lệnh - phục tùng)
Ngoại lệ: khởi tố theo yêu cầu của người bị hại
II. Chức năng của Luật Hình sự Việt Nam
1. Chức năng phịng ngừa và chống tội phạm
- Phòng ngừa tội phạm bao gồm nhiều hoạt động khác nhau nhằm ngăn
ngừa không cho tội phạm xảy ra, hạn chế đến mức thấp nhất những nguyên
nhân, điều kiện có thể làm phát sinh tội phạm
- Việc chống tội phạm (gắn liền với trừng phạt) là biện pháp bắt buộc phải
áp dụng trong trường hợp việc phịng ngừa tội phạm khơng đạt được hiệu quả
mong muốn
2. Chức năng bảo vệ
Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm bằng những cách thức, phương
pháp riêng biệt.
3. Chức năng giáo dục
- Răn đe, giáo dục, cảm hoá, cải tạo họ trở thành người lương thiện, để họ
ăn năn, hối cải, tích cực cải tạo trở thành người cơng dân tốt, có ích cho xã hội
- Răn đe, giáo dục những người khác ý thức tuân thủ pháp luật, không thực
hiện các hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm


III. Các nguyên tắc của Luật Hình sự Việt Nam
1. Nguyên tắc pháp chế
Pháp chế là sự tuân thủ triệt để pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá
nhân.
2. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Điểm b khoản 1 Điều 3 Luật hình sự 2015
3. Nguyên tắc nhân đạo
1


- Khơng có những hình phạt tàn nhẫn, vơ nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm
của người khác
- Hình phạt được quy định và áp dụng chỉ trong phạm vi cần thiết thấp nhất
đủ để đạt được mục đích của hình phạt
- Có các biện pháp khác có tính chất khoan hồng như miễn trách nhiệm
hình sự, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt
- Đối với người chưa thành niên phạm tội, trách nhiệm hình sự được giảm
nhẹ hơn so với người thành niên phạm tội. Trách nhiệm giảm nhẹ đối với phụ nữ
có thai, phụ nữ đang ni con nhỏ, người già,..
4. Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi
Không ai có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã
hội của mình nếu người thực hiện hành vi đó khơng có lỗi (cố ý hoặc vơ ý)
5. Ngun tắc phân hố trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự phải được phân hố phù hợp với tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội.
IV. Khoa học luật hình sự
Khoa học luật hình sự là một ngành khoa học nghiên cứu những vấn đề của
ngành luật hình sự: vấn đề về lý luận, thực tiễn áp dụng luật, pháp luật hình sự
thế giới.


Chương 2: Nguồn của Luật Hình sự Việt Nam
I. Khái niệm nguồn của Luật hình sự
Nguồn của Luật hình sự Việt Nam là những văn bản chứa đựng những quy
phạm pháp luật hình sự do Quốc hội ban hành.
Hiện nay Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đã có hiệu lực từ
1/1/2018.
II. Hiệu lực, cấu tạo Bộ luật hình sự và vấn đề giải thích luật hình sự Việt
Nam
1. Hiệu lực của Bộ luật hình sự Việt Nam
Hiệu lực thi hành của đạo luật đó đối với hành vi phạm tội về thời gian (hiệu
lực về thời gian) và đối với hành vi phạm tội xảy ra trong không gian nhất định
(hiệu lực về không gian).
a) Hiệu lực về khơng gian (Đ5, 6)
• Hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Việt Nam
Trên lãnh thổ VN: tội phạm được bắt đầu và kết thúc trên lãnh thổ VN,
bắt đầu trên VN nhưng kết thúc ngoài VN, bắt đầu ngoài nhưng kết thúc trên
VN, bắt đầu ngoài diễn ra trên và kết thúc ngoài VN

2


- BLHS có hiệu lực với mọi HVPT trên lãnh thổ nước VN; trên tàu bay,
tàu biển VN; vùng đặc quyền KT, thềm lục địa VN
- Ngoại lệ: đối tượng được miễn trừ ngoại giao
• Hành vi phạm tội ngồi lãnh thổ nước Việt Nam
- Công dân VN, pháp nhân thương mại VN, người khơng có quốc tịch
thường trú VN phạm tội ngồi VN có thể bị truy cứu;
- Người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngồi
VN có thể bị truy cứu khi HVPT xâm hại quyền, lợi ích cơng dân VN hoặc nước
CHXHCNVN hoặc theo điều ước quốc tế

- Tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch VN đang ở ngồi VN có thể bị
truy cứu trong trường hợp điều ước quốc tế mà VN là thành viên
b) Hiệu lực về thời gian (Đ7)
- Điều luật đang có hiệu lực thi hành áp dụng với hành vi phạm tội được
thực hiện tại thời điểm đó
- Quy định khơng có lợi cho người phạm tội thì khơng được áp dụng đối
với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành
- Quy định có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với hành vi
phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành
2. Cấu tạo của Bộ luật hình sự Việt Nam
• Phần chung: 12 chương
• Phần các tội phạm: 14 chương
- Phần quy định: có thể dưới dạng quy định giản đơn, quy định mô tả, quy
định viện dẫn
- Phần hình phạt: loại hình phạt, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, mức
tối thiểu tối đa của hình phạt
• Phần điều khoản thi hành
3. Vấn đề giải thích luật hình sự Việt Nam
• Giải thích chính thức: Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị
quyết của Hội đồng thẩm phán Tồ án nhân dân tối cao
• Giải thích khơng chính thức: Các cơ quan khác như VKSNDTC, Bộ Tư
pháp

Chương 3: Tội phạm
I. Khái niệm tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam
1. Định nghĩa
K1 Đ8 LHS2015
- Hành vi nguy hiểm cho xã hội
- Được quy định trong BLHS
3



- Do người có NLTNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện
- Một cách cố ý hoặc vô ý
- Xâm phạm độc lập, chủ quyền...
- Mà theo quy định của BL này phải xử lý hình sự
2. Các dấu hiệu (đặc điểm) của tội phạm
a) Tính nguy hiểm cho xã hội
• Gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đáng kể cho những quan hệ xã hội
được luật hình sự bảo vệ (thiệt hại về thể chất, vật chất, thiệt hại khác)
• Có tính khách quan
• Đánh giá hành vi nguy hiểm đến mức coi là tội phạm:
- Tính chất, tầm quan trọng của các quan hệ xã hội bị hành vi xâm hại
- Tính chất, mức độ thực hiện hành vi
- Thiệt hại do hành vi gây ra hoặc đe doạ gây ra
- Phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm, hồn cảnh thực hiện hành vi
- Tính chất và mức độ lỗi
- Động cơ, mục đích thực hiện hành vi
- Nhân thân người thực hiện hành vi
- Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TN,...
• Căn cứ để phân biệt hành vi phạm tội với hành vi VPPL khác, phân hố
trách nhiệm hình sự, cá thể hố trách nhiệm hình sự khi áp dụng
b) Tính có lỗi
Hành vi nguy hiểm cho xã hội do người khơng có lỗi thực hiện khơng thể bị
coi là tội phạm.
c) Tính trái pháp luật hình sự
Điều 2: Chỉ người phạm tội, pháp nhân thương mại phạm một tội được quy
định mới phải chịu TNHS
d) Tính phải chịu hình phạt
- Khơng có tội phạm thì khơng có hình phạt

- Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là cơ sở để phân
hố hình phạt khi nhà làm luật quy định các điều khoản về tội phạm và là cơ sở
để cá thể hố hình phạt khi áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp cụ
thể
3. Ý nghĩa của khái niệm tội phạm
- Là khái niệm cơ bản nhất trong luật hình sự
- Trên cơ sở khái niệm tội phạm, xây dựng các khải niệm khác, quy định
các điều luật về các tội phạm cụ thể
II. Phân loại tội phạm (Đ9)

4


Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, cụ thể
hoá bằng mức cao nhất của khung hình phạt đối với từng tội:
- Tội phạm ít nghiêm trọng: phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc
phạt tù đến 03 năm
- Tội phạm nghiêm trọng: từ trên 3 năm đến 7 năm tù
- Tội phạm rất nghiêm trọng: từ trên 7 năm tù đến 15 năm tù
- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù
chung thân hoặc tử hình
III. Phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác
1. Về nội dung chính trị - xã hội
Tội phạm với các vi phạm pháp luật khác đều nguy hiểm cho xã hội, song
tội phạm phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội đáng kể, được đưa vào luật hình
sự để quy định là tội phạm
2. Về hình thức pháp lý
Tội phạm là hành vi được quy định bởi luật hình sự, vi phạm pháp luật khác
được quy định bởi các ngành luật khác
3. Về hậu quả pháp lý

Hậu quả pháp lý của tội phạm là trách nhiệm hình sự (nghiêm khắc nhất, thể
hiện ở bản án kết tội và hình phạt mà Tồ án quyết định); của vi phạm khác là
các dạng trách nhiệm pháp lý khác
IV. Vấn đề nguồn gốc và bản chất giai cấp của tội phạm
Tội phạm là hiện tượng xã hội có tính lịch sử. Tội phạm chỉ xuất hiện khi xã
hội phân chia thành giai cấp và xuất hiện nhà nước.

Chương 4: Cấu thành tội phạm
I. Khái niệm các yếu tố của tội phạm
• Các yếu tố của tội phạm: khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ
quan
• Các yếu tố đều thể hiện bởi những dấu hiệu pháp lý nhất định. Các dấu
hiệu có ở tất cả các tội phạm:
- Dấu hiệu quan hệ xã hội cụ thể bị hành vi phạm tội xâm hại trong khách
thể của tội phạm
- Dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội trong mặt khác quan của tội phạm
- Dấu hiệu độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và năng lực trách nhiệm hình
sự của chủ thể của tội phạm
- Dấu hiệu lỗi trong mặt chủ quan của tội phạm
II. Khái niệm, đặc điểm cấu thành tội phạm
1. Khái niệm
5


Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của từng tội
phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự.
2. Đặc điểm
a) Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đều do luật hình sự quy định
Ở cả phần chung và phần riêng
b) Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm trong sự kết hợp với nhau có tính đặc

trưng
Tính đặc trưng cho từng loại tội phạm cụ thể
c) Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm có tính bắt buộc
Nếu hành vi đã thực hiện thoả mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm
cụ thể được quy định trong luật hình sự thì mới có thể xác định hành vi đó là
hành vi phạm tội.
III. Phân loại cấu thành tội phạm
1. Phân loại theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
a) Cấu thành tội phạm cơ bản
Là cấu thành tội phạm mà trong đó có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng,
phản ánh đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, là căn cứ để phân
biệt tội phạm đó với những tội phạm khác.
Cịn gọi là dấu hiệu định tội/ tình tiết là yếu tố định tội
b) Cấu thành tội phạm tăng nặng
Là cấu thành tội phạm mà trong đó ngồi những dấu hiệu của cấu thành
tội phạm cơ bản cịn có thêm dấu hiệu khác làm tăng lên tính chất, mức độ nguy
hiểm cho xã hội của tội phạm so với những trường hợp phạm tội thơng thường
khác.
Cịn gọi là dấu hiệu định khung/ tình tiết là yếu tố định khung
c) Cấu thành tội phạm giảm nhẹ
Là cấu thành tội phạm mà trong đó ngồi những dấu hiệu của cấu thành
tội phạm cơ bản cịn có thêm dấu hiệu khác làm giảm đi tính chất, mức độ nguy
hiểm cho xã hội của tội phạm so với những trường hợp phạm tội thông thường
khác.
Cịn gọi là dấu hiệu định khung/ tình tiết là yếu tố định khung
➔ Một tình tiết đã là dấu hiệu (yếu tố) định tội hoặc định khung thì
khơng được coi là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự
2. Phân loại theo đặc điểm cấu trúc của mặt khách quan của tội phạm
a) Cấu thành tội phạm vật chất
Là cấu thành tội phạm trong đó mặt khách quan của tội phạm có các dấu

hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, quan hệ nhân
quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội với hậu quả nguy hiểm cho xã hội do
hành vi đó gây ra.
6


b) Cấu thành tội phạm hình thức
Là cấu thành tội phạm trong đó chỉ có dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã
hội trong mặt khách quan của tội phạm.
➔ Người áp dụng pháp luật phải xem trong CTTP đó có chứa đựng
dấu hiệu hậu quả của tội phạm hay không chứ không phải là trên thực tế hành vi
phạm tội có gây hậu quả hay khơng
3. Phân loại theo các tiêu chí khác
• CTTP của tội phạm hồn thành và CTTP của tội phạm chưa hồn thành
• CTTP thơng thường và CTTP của hành vi đồng phạm (CTTP của hành vi
tổ chức, xúi giục và giúp sức)
IV. Ý nghĩa của cấu thành tội phạm
1. Cấu thành tội phạm là căn cứ pháp lý để định tội
Xem xét, đánh giá, tìm ra sự phù hợp giữa hành vi khách quan với các dấu
hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS
2. Cấu thành tội phạm là căn cứ pháp lý của trách nhiệm hình sự
Điều 2 BLHS

Chương 5: Khách thể của tội phạm
I. Khái niệm
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ khỏi sự
xâm hại của tội phạm và bị tội phạm xâm hại đến.
Điều 8 quy định phạm vi khách thể gồm: độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hố, quốc
phịng, an ninh, trật tự, an tồn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,

quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, lĩnh vực khác của trật
tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
II. Ý nghĩa của khách thể của tội phạm
- Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi nguy hiểm
đáng kể hay không đáng kể khi xác định hành vi thực tế đã thực hiện có phạm
tội hay khơng
- Phân biệt tội phạm này với tội phạm khác để định tội danh được chính xác
- Tầm quan trọng của khách thể có ý nghĩa khi quyết định hình phạt đối với
người phạm tội
III. Các loại khách thể của tội phạm
Căn cứ cách thức quy định của LHS về khách thể tội phạm:
1. Khách thể chung của tội phạm
- Là tổng thể các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại
của tội phạm.
7


- Điều 8 quy định khải quát khách thể chung của tội phạm
- Xác định khách thể chung của tội phạm cho phép xác định phạm vi hiệu
lực của luật hình sự, phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác
2. Khách thể loại của tội phạm
- Là nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất được nhóm các quy phạm pháp
luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của nhóm tội phạm nhất định
- Xác định khách thể loại của tội phạm là cơ sở để phân các tội phạm thành
các chương tương ứng Phần các tội phạm
3. Khách thể trực tiếp của tội phạm
- Là quan hệ xã hội cụ thể, thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội
của tội phạm, được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm cụ thể trực tiếp xâm hại
đến
- Mỗi tội phạm cụ thể đều có khách thể trực tiếp, có thể là một khách thể

trực tiếp hoặc nhiều khách thể trực tiếp
- Có ý nghĩa định tội
IV. Đối tượng tác động của tội phạm
1. Khái niệm
- Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm
mà khi tác động tới nó người phạm tội gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại
cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
- Trong cấu thành tội phạm cụ thể, luật hình sự quy định cụ thể hoặc không
cụ thể đối tượng tác động
2. Một số loại đối tượng tác động của tội phạm
a) Đối tượng tác động là con người
Thông qua sự tác động đến con người, làm biến đổi tình trạng bình thường
của con người
b) Đối tượng tác động là những dạng vật chất cụ thể
Sự biến đổi tình trạng bình thường của giá trị tài sản, của tài sản (sự chuyển
dịch tài sản từ người quản lý sang người phạm tội)
c) Đối tượng tác động là hoạt động bình thường của chủ thể
➔ Ý nghĩa của xác định đối tượng tác động: định tội, phân biệt giữa
tội phạm này với tội phạm khác, định khung hình phạt và quyết định hình phạt

Chương 6: Mặt khách quan của tội phạm
I. Khái niệm
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc
tồn tại bên ngoài thế giới khác quan.

8


Ý nghĩa xác định: định tội, định khung hình phạt, đánh giá mức độ giảm nhẹ
tăng nặng trách nhiệm hình sự

II. Hành vi khách quan của tội phạm
1. Khái niệm
• Hành vi khách quan của tội phạm là xử sự của người phạm tội thể hiện ra
bên ngoài thế giới khách qua dưới những hình thức nhất định, gây thiệt hại hoặc
đe doạ gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ.
• Đặc điểm:
- Có tính nguy hiểm cho xã hội đáng kể
- Trái pháp luật hình sự
- Do người có khả năng nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành
vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy thực hiện
2. Các hình thức biểu hiện
• Hành động phạm tội: hình thức biểu hiện của hành vi phạm tội thể hiện ở
chỗ người phạm tội làm một việc bị luật hình sự cấm
- Biểu hiện: lời nói/việc làm; trong thời gian ngắn/ dài; tác động trực tiếp
vào đối tượng tác động/ thơng qua cơng cụ, phương tiện
• Khơng hành động phạm tội là hình thức biểu hiện của hành vi phạm tội
thể hiện ở chỗ người phạm tội khơng làm một việc mà người đó có nghĩa vụ
phải làm và có điều kiện để làm
Dấu hiệu: người khơng hành động phải có nghĩa vụ pháp lý làm một việc cụ
thể; phải có điều kiện thực hiện nghĩa vụ pháp lý
➔ Một số loại tội phạm: hành vi khách quan chỉ thực hiện bằng hành
động, không hành động, vừa hành động vừa không hành động
3. Các dạng cấu trúc đặc biệt của hành vi khách quan
• Tội ghép: là tội phạm mà hành vi khách quan được tạo bởi nhiều hành vi
khác nhau xảy ra đồng thời, xâm phạm đến những khách thể khác nhau được
luật hình sự bảo vệ (VD: Tội cướp tài sản) -> định tội
• Tội kéo dài: là tội phạm mà hành vi khách quan có khả năng diễn ra
trong một khoảng thời gian dài không gián đoạn (VD: tội tàng trữ) -> xác định
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự - từ ngày kết thúc việc phạm tội
• Tội liên tục: là tội phạm mà hành vi khách quan bao gồm nhiều hành vi

cùng loại xảy ra kế tiếp nhau về thời gian, xâm hại cùng một khách thể và cùng
nhằm một mục đích (VD: tội đầu cơ) -> xác định hành vi là tội phạm hay không
III. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội
• Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do tội phạm gây ra cho quan hệ xã hội là
khách thể bảo vệ của luật hình sự
9


• Biểu hiện ở sự biến đổi tình trạng bình thường của các đối tượng tác động
của tội phạm
• Hậu quả về thể chất, vật chất, hậu quả khác
• Ý nghĩa xác định hậu quả tội phạm:
- Xác định tội trong các trường hợp hành vi nguy hiểm cho xã hội có lỗi vơ
ý hoặc cố ý gián tiếp
- Xác định khung hình phạt tăng nặng
- Xác định thời điểm hồn thành của tội phạm trong các tội phạm có CTTP
vật chất, làm căn cứ quyết định hình phạt
- Đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, làm căn cứ
quyết định hình phạt
IV. Vấn đề quan hệ nhân quả trong luật hình sự
• Mối quan hệ nhân quả có các dấu hiệu sau:
- Hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là nguyên nhân phải xảy ra trước
hậu quả nguy hiểm cho xã hội về mặt thời gian
- Hành vi nguy hiểm cho xã hội phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát
sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội phải là hậu quả phát sinh từ chính hành vi
nguy hiểm cho xã hội trước đó gây ra
• Mối quan hệ tồn tại chủ yếu dưới các dạng sau:
- Quan hệ nhân quả trong đó chỉ có một hành vi nguy hiểm cho xã hội là
nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả

- Quan hệ nhân quả trong đó có từ hai hành vi nguy hiểm cho xã hội đồng
thời cùng trực tiếp gây nên hậu quả nguy hiểm cho xã hội
- Quan hệ nhân quả trong đó có một hoặc một số hành vi nguy hiểm cho xã
hội trực tiếp làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội, còn những hành vi
khác không trực tiếp gây nên hậu quả mà thông qua hành vi của người khác trực
tiếp gây nên hậu quả nguy hiểm cho xã hội
➔ Định tội và quyết định hình phạt
V. Những nội dung biểu hiện khác của mặt khách quan của tội phạm
- Công cụ, phương tiện (những vật được sử dụng để tác động đối tượng)
- Phương pháp, thủ đoạn (cách thức)
- Thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội

Chương 7: Chủ thể của tội phạm
I. Khái niệm chủ thể của tội phạm

10


Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi
đã đạt độ tuổi nhất định do luật hình sự quy định (đạt độ tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự) và có năng lực trách nhiệm hình sự.
Ngồi ra cịn dấu hiệu chủ thể đặc biệt: chức vụ, quyền hạn, người mẹ,...
II. Các điều kiện chủ thể của tội phạm
1. Đối với cá nhân
a) Đủ tuổi theo quy định của BLHS
• Điều 12 BLHS 2015:
- 16 tuổi trở lên: mọi tội, trừ tội có quy định khác
- Đủ 14 đến chưa đủ 16 tuổi: tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng
trong một số điều
- Ngoại lệ: tuổi từ 18 tuổi trở lên với một số tội

• Xác định độ tuổi
- Tính tuổi “đủ” là tính đủ cả ngày, tháng, năm sinh đối chiếu với ngày,
tháng, năm thực hiện tội phạm
- Phương pháp: giấy tờ, hoạt động xác minh, lấy ngày cuối cùng (tháng
cuối năm), giám định (xương, lơng tóc)
b) Khơng thuộc tình trạng khơng có năng lực TNHS quy định tại Điều 21
- Khơng mắc các bệnh tâm thần
- Có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi
2. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội
PNTM phạm tội phải chịu TNHS khi hành vi của người đại diện của PNTM
có đủ các điều kiện:
- Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại
- Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại
- Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp
thuận của pháp nhân thương mại
- Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
➔ PNTM chịu TNHS khơng loại trừ TNHS của cá nhân
III. Vấn đề năng lực trách nhiệm hình sự trong tình trạng say do dùng rượu
hoặc chất kích thích mạnh khác
Điều 13: vẫn phải chịu TNHS
- Say rượu bệnh lý (rối loạn ý thức phát triển đột ngột, không phụ thuộc
lượng rượu đã uống): không phải chịu TNHS
- Tự quyết định đưa mình vào tình trạng say: phải chịu TNHS
IV. Chủ thể đặc biệt của tội phạm
- Chủ thể đặc biệt của tội phạm là chủ thể mà ngồi các dấu hiệu của chủ
thể thơng thường (dấu hiệu độ tuổi chịu TNHS và dấu hiệu có năng lực TNHS)
thì cịn có thêm dấu hiệu riêng biệt khác trong cấu thành tội phạm.
11



- Các dấu hiệu: dấu hiệu liên quan đến chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp,
tính chất cơng việc, quan hệ gia đình,...
V. Vấn đề nhân thân người phạm tội trong luật hình sự
Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm mang tính xã hội của
người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm
hình sự của người phạm tội.
- Đặc điểm nhân thân là dấu hiệu CTTP cơ bản: xác định tội danh
- Đặc điểm nhân thân là dấu hiệu CTTP tăng nặng: xác định khung hình
phạt tăng nặng
- Đặc điểm nhân thân không là dấu hiệu CTTP cơ bản, tăng nặng, giảm
nhẹ: quyết định hình phạt

Chương 8: Mặt chủ quan của tội phạm
I. Khái niệm mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là trạng thái tâm
lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do người đó thực
hiện và đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi ấy, thể hiện ở dấu
hiệu lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội.
II. Lỗi
*Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội
do người đó thực hiện và đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó
được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vơ ý.
*Thể hiện 2 mặt: lý trí (khả năng nhận thức) và ý chí (khả năng điều khiển
hành vi)
*Dựa trên sự biểu hiện khác nhau về lý trí và ý chí:
Lỗi cố ý trực Lỗi cố ý gián Lỗi vơ ý vì Lỗi vô ý do cẩu thả
tiếp
tiếp
quá tự tin
Lý Hành Nhận thức rõ Nhận thức rõ Nhận thức

trí vi
tính
nguy được tính chất được
tính
hiểm cho xã nguy
hiểm chất
nguy
hội của hành cho xã hội của hiểm cho xã
vi của mình
hành vi của hội của hành
mình
vi của mình
Hậu Thấy
trước Thấy
trước Thấy trước Khơng thấy trước
quả
hậu quả nguy hậu quả nguy hậu
quả hậu quả nguy hiểm
hiểm cho xã hiểm cho xã nguy hại cho cho xã hội của hành
hội của hành hội của hành xã hội mà vi của mình nhưng
vi của mình
vi của mình hành vi của có nghĩa vụ và đủ
có thể xảy ra mình có thể điều kiện để thấy
xảy ra
trước hậu quả
12


Ý chí


Mong muốn
cho hậu quả
nguy
hiểm
cho xã hội của
hành vi của
mình xảy ra

Khơng mong
muốn mà có ý
thức để mặc
cho hậu quả
xảy ra

Cho
rằng
hậu
quả
nguy hiểm
cho xã hội sẽ
khơng xảy
ra hoặc có
thể
ngăn
ngừa được
*Trường hợp hỗn hợp lỗi là trường hợp trong một cấu thành tội phạm có hai
loại lỗi, lỗi cố ý và lỗi vơ ý đối với những tình tiết khác nhau. (Chỉ xảy ra ở
những cấu thành tội phạm tăng nặng của các tội phạm cố ý)
*Sự kiện bất ngờ: Đ20 -> khơng có điều kiện để lựa chọn, quyết định thực
hiện hành vi không gây thiệt hại

- Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại không thể thấy trước và
không buộc phải thấy trước
- Người thực hiện hành vi gây nguy hại có thể thấy trước nhưng khơng buộc
phải thấy trước hậu quả
III. Động cơ và mục đích phạm tội
1. Động cơ phạm tội
- Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực
hiện tội phạm.
- Chỉ có trong các CTTP do lỗi cố ý trực tiếp
- Động cơ trong CTTP cơ bản (Tội giết người do phịng vệ chính đáng),
CTTP tăng nặng (động cơ đê hèn - tội giết người), một số tình tiết tăng nặng
giảm nhẹ thuộc về động cơ phạm tội
2. Mục đích phạm tội
- Mục đích phạm tội là kết quả cuối cùng mà người phạm tội mong muốn
đạt được khi thực hiện tội phạm.
- Là dấu hiệu trong cấu thành tội phạm trong một số trường hợp (mục đích
chiếm đoạt tài sản)
IV. Sai lầm và ảnh hưởng của sai lầm đối với trách nhiệm hình sự
1. Sai lầm về pháp luật
- Cho rằng hành vi của mình là phạm tội nhưng trên thực tế hành vi đó
khơng phải tội phạm
- Cho rằng hành vi của mình khơng phải là tội phạm nhưng hành vi đó lại là
tội phạm
2. Sai lầm về sự việc
- Sai lầm về khách thể
- Sai lầm về đối tượng
- Sai lầm về mối quan hệ nhân quả
13



- Sai lầm về công cụ, phương tiện

Chương 9: Các giai đoạn thực hiện tội phạm
I. Khái niệm các giai đoạn thực hiện tội phạm
• Các giai đoạn thực hiện tội phạm là những bước trong quá trình thực hiện
một tội phạm cố ý, bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm
hồn thành
• Đặc điểm:
- Chia làm 3 giai đoạn
- Có ở các tội có lỗi cố ý trực tiếp. Đối với các tội cố ý gián tiếp, vơ ý
khơng có giai đoạn chuẩn bị và phạm tội chưa đạt
- CBPT và PTCĐ là những trường hợp phạm tội chưa hoàn thành những
vẫn phải chịu TNHS
II. Chuẩn bị phạm tội (Đ14)
1. Các dấu hiệu (đặc điểm) của giai đoạn chuẩn bị phạm tội
• Người phạm tội mới chuẩn bị thực hiện tội phạm bằng một trong ba hành
vi sau (trừ một số trường hợp)
- Tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội
- Tạo ra những điều kiện thuận lợi khác để thực hiện tội phạm
- Thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm để thực hiện các tội phạm cụ thể
• Người phạm tội dù đã chuẩn bị nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm
Hành vi chuẩn bị chấm dứt, chưa bắt tay thực hiện hành vi được quy định
• Hành vi phạm tội phải dừng lại do nguyên nhân khách quan, ngồi ý
muốn của người phạm tội
Về chủ quan thì vẫn mong muốn thực hiện đến cùng những dừng lại do
nguyên nhân khách quan.
2. Trách nhiệm hình sự trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên: phải chịu TNHS đối với 25 tội (khoản 1 Điều
14)
- Người từ đủ 14 đến dưới 16: Đ 123, 168

- Trong trường hợp việc chuẩn bị phạm tội các tội trên mà lại cấu thành các
tội phạm độc lập khác, ngồi việc phải chịu TNHS cho q trình CBPT, cịn
phải chịu trách nhiệm hình sự cho tội độc lập kia
III. Phạm tội chưa đạt (Điều 15 BLHS)
1. Khái niệm phạm tội chưa đạt
Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được
đến cùng vì những ngun nhân ngồi ý muốn của người phạm tội.
• Các dấu hiệu:
14


- Người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội phạm: đã thực hiện những hành
vi khách quan trong cấu thành tội phạm hoặc hành vi đi liền trước hành vi khách
quan đó
- Người phạm tội khơng thực hiện được tội phạm đến cùng
Hành vi phạm tội không thoả mãn hết các dấu hiệu thuộc mặt khách quan
của CTTP
(hành vi phạm tội chưa gây hậu quả nguy hiểm, chưa thoả mãn hết dấu hiệu
hành vi trong mặt khách quan của tội phạm đó)
- Bị dừng lại do những nguyên nhân khách quan ngồi ý muốn của người
phạm tội
• Các dạng
- NPT chưa thực hiện được hành vi khách quan mà mới thực hiện được
hành vi đi liền trước
- NPT đã thực hiện hành vi khách quan nhưng chưa thực hiện được đầy đủ
(chỉ thực hiện được một/một số hành vi trong một chuỗi hành vi)
- NPT đã thực hiện được hết hành vi khách quan nhưng hậu quả chưa xảy
ra
- NPT đã thực hiện hết hành vi khách quan, hậu quả đã xảy ra nhưng chưa
phù hợp với hậu quả được quy định trong CTTP

2. Các loại phạm tội chưa đạt
• Căn cứ vào mục đích thực hiện của hành vi
- Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành: NPT chưa thể thực hiện được hết
những hành vi mà người đó cho là cần thiết để hoàn thành tội phạm do những
ngun nhân khách quan ngồi ý muốn của người đó
- Phạm tội chưa đạt hoàn thành: NPT cho rằng đã thực hiện được hết hành
vi mà người đó cho là cần thiết để hoàn thành tội phạm nhưng tội phạm chưa
hoàn thành được là do những nguyên nhân khách quan ngồi ý muốn của người
đó
• Căn cứ vào ngun nhân khách quan đặc biệt ngoài ý muốn của người
phạm tội dẫn đến việc chưa đạt
- Phạm tội chưa đạt thông thường
- Phạm tội chưa đạt vô hiệu: do sai lầm trong đánh giá về đối tượng tác
động; công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm của NPT nên tôi phạm khơng
thực hiện được đến cùng
IV. Tội phạm hồn thành
1. Khái niệm

15


Tội phạm hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội thoả mãn hết các dấu
hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể được quy định tại điều luật Phần các tội
phạm của Bộ luật Hình sự.
2. Cách xác định thời điểm hồn thành tội phạm
• Đối với CTTP vật chất: khi NPT thực hiện hành vi phạm tội đã gây ra hậu
quả tội phạm phù hợp với hậu quả được nêu trong CTTP
• Đối với CTTP hình thức: từ thời điểm NPT đã thực hiện hành vi phạm tội
thoả mãn dấu hiệu hành vi phạm tội được quy định tại điều luật Phần các tội
phạm của BLHS

• Đối với CTTP cắt xén: khi có hoạt động hướng tới hành vi trong CTTP
3. Phân biệt tội phạm hoàn thành và tội phạm kết thúc
Tội phạm hoàn thành
Tội phạm kết thúc
Căn cứ xác Các dấu hiệu pháp lý trong Việc thực hiện tội phạm thực
định
CTTP
sự đã kết thúc trên thực tế
Thời điểm
Khi thoả mãn hết các dấu Kết thúc trước khi TPHT,
hiệu được mô tả trong CTTP trùng với thời điểm TPHT,
kéo dài tiếp tục sau khi TPHT
Ý nghĩa
Xác định tội phạm hoàn Giải quyết các vấn đề liên
thành hay chưa hồn thành
quan đến quyền phịng vệ
chính đáng, đồng phạm, truy
cứu TNHS
V. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Đ16)
1. Khái niệm
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình khơng thực hiện tội
phạm đến cùng, tuy khơng có gì ngăn cản.
2. Các dấu hiệu
• Việc chấm dứt phạm tội phải xảy ra trước khi tội phạm hồn thành có 3
trường hợp
- Mới chuẩn bị tội phạm
- Đã bắt đầu thực hiện tội phạm nhưng chưa thực hiện hết những hành vi
mà người đó cho là cần thiết để thực hiện tội phạm và tội phạm chưa hồn thành
thì tự nguyện dừng lại
- Nếu đã thực hiện hết những hành vi mà người đó cho là cần thiết để thực

hiện tội phạm nhưng hậu quả chưa xảy ra, trong thời gian đó lại tích cực ngăn
chặn do đó hậu quả khơng xảy ra, tội phạm chưa hồn thành
• Ngun nhân việc chấm dứt phạm tội là do tự nguyện và dứt khoát
- Tự nguyện: tự ăn năn, hối hận
- Dứt khoát: từ bỏ hẳn ý định phạm tội
16


3. Trách nhiệm hình sự trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội
- Miễn TNHS về tội phạm
- Nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác
thì người đó phải chịu TNHS về tội này

Chương 10: Đồng phạm
I. Khái niệm (Điều 17)
Trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
Các dấu hiệu:
1. Những dấu hiệu về mặt khách quan
a) Dấu hiệu thứ nhất
- Phải có sự tham gia của hai người trở lên, có điều kiện chủ thể
- Mỗi người đều tham gia thực hiện, hành vi phải có tính chất nguy hiểm
đáng kể
b) Dấu hiệu thứ hai
- Những người đồng phạm phải cùng thực hiện một tội phạm (mỗi người đều
thực hiện hành vi được quy định trong CTTP/ chỉ thực hiện một phần trong
chuỗi hành vi để tạo thành một hành vi phạm tội)
- Hành vi của mỗi người đồng phạm đều có mối quan hệ nhân quả với hậu
quả phạm tội chung. Hành vi của người thực hành là nguyên nhân trực tiếp gây
ra hậu quả, của những người khác thì thơng qua hành vi của người thực hành mà

gây ra hậu quả.
2. Những dấu hiệu về mặt chủ quan
a) Về lý trí
- Mỗi người đồng phạm nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho
xã hội, nhận thức được có người khác cùng với mình thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội
- Mỗi người đồng phạm đều thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của
hành vi của mình và đều thấy trước hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia
thực hiện
b) Về ý chí
- Những người đồng phạm đều mong muốn hoạt động chung với nhau
- Mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
3. Vấn đề mục đích phạm tội và động cơ phạm tội trong đồng phạm
Khi dấu hiệu mục đích và động cơ là dấu hiệu của tội phạm cụ thể thì:
- Xác định được tất cả những người đồng phạm đều có chung mục đích,
động cơ
17


- Hoặc những người tham gia khơng có cùng mục đích, động cơ nhưng đã
biết và tiếp nhận mục đích, động cơ của nhau
II. Các loại người đồng phạm
1. Người thực hành
Trực tiếp thực hiện tội phạm:
• Trường hợp thứ nhất: trực tiếp thực hiện hành vi thoả mãn dấu hiệu hành
vi trong mặt khách quan của tội phạm được quy định tại điều luật cụ thể
- Những người cùng thực hiện hành vi: những người đồng thực hành; mỗi
người chỉ thực hiện một hoạt động, một phần thuộc hành vi khách quan của tội
phạm
• Trường hợp thứ hai: có hành động tác động đến người khác để người đó

thực hiện hành vi trực tiếp tác động đến đối tượng của tội phạm
Những người có thể bị tác động:
- Người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự
- Người khơng có năng lực trách nhiệm hình sự
- Người khơng nhận thức được hành vi nguy hiểm cho xã hội của hành vi
của mình (khơng có lỗi) hoặc có lỗi vơ ý do nhận thức sai lầm hành vi của mình
- Người bị cưỡng bức tinh thần, khơng có khả năng lựa chọn quyết định
hành vi của mình
2. Người tổ chức
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm;
là người nguy hiểm nhất trong số những người đồng phạm
- Người chủ mưu là người đề ra âm mưu, phương hướng, kế hoạch hoạt
động của cả nhóm đồng phạm. Người chủ mưu có thể trực tiếp cầm đầu, chỉ huy
nhóm hoặc điều khiển từ xa
- Người cầm đầu là người đứng đầu nhóm đồng phạm, có thể thành lập
nhóm đồng phạm, tham gia soạn thảo phương hướng, kế hoạch phạm tội, phân
công, giao trách nhiệm, đôn đốc, kiểm tra và điều khiển hoạt động của những
người đồng phạm
- Người chỉ huy là người điều khiển trực tiếp nhóm đồng phạm (thường là
đối với các vụ có vũ trang hoặc bán vũ trang) như các hoạt động phỉ, các vụ
cướp tài sản, buôn bán ma tuý có trang bị vũ khí...
3. Người xúi giục
• Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện
tội phạm
• Tác động đến ý thức, tư tưởng làm cho người bị xúi giục thực hiện tội
phạm/ Kích động, thúc đẩy người vốn có ý định phạm tội nhưng chưa thực hiện
để họ đưa ra quyết định thực hiện tội phạm trên thực tế
18



• Đặc điểm:
- Hành vi xúi giục phải trực tiếp tác động vào một hoặc một số người nhất
định nhằm gây ra một tội phạm nhất định
- Hành vi xúi giục phải cụ thể, hướng tới việc thực hiện một tội phạm nhất
định
- Lỗi của người xúi giục là lỗi cố ý trực tiếp
4. Người giúp sức
Người giúp sức là người tạo ra điều kiện tinh thần hay vật chất cho việc thực
hiện tội phạm.
• Giúp sức về vật chất: những hành vi cụ thể (cung cấp công cụ, khắc phục
khó khăn...)
• Giúp sức về tinh thần: đưa ra những chỉ dẫn, góp ý kiến, cung cấp sơ đồ
nơi gây án, quy luật hoạt động của nhân viên bảo vệ,..
- Thừa nhận hành vi hứa hẹn trước sẽ che giấu người phạm tội như một
dạng giúp sức tinh thần
- Người giúp sức có thể thực hiện hoặc khơng thực hiện lời hứa hẹn trước
- Trường hợp không thực hiện lời hứa thì vẫn phải chịu TNHS những được
xem xét giảm nhẹ TNHS
III. Phân loại đồng phạm
1. Theo dấu hiệu khách quan
- Đồng phạm giản đơn: những người đồng phạm đều có vai trị là người
thực hành
- Đồng phạm phức tạp: giữa những người đồng phạm có sự phân cơng vai
trị
2. Theo dấu hiệu chủ quan
- Đồng phạm khơng có thơng mưu trước: khơng có sự bàn bạc, thoả thuận
trước hoặc có nhưng khơng đáng kể
- Đồng phạm có thơng mưu trước: có sự bàn bạc, thoả thuận trước
3. Phạm tội có tổ chức và các hình thức phạm tội thơng thường khác
• Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa

những người cùng thực hiện tội phạm
• Sự câu kết biểu hiện dưới dạng:
- Những người đồng phạm tham gia một tổ chức phạm tội
- Những người đồng phạm cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế
hoạch đã thống nhất trước
- Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần, nhưng theo một
kế hoạch đã được tính tốn kỹ càng, chu đáo, có chuẩn bị phương tiện hoạt động
và có khi cả kế hoạch che giấu tội phạm
19


IV. Vấn đề trách nhiệm hình sự trong đồng phạm
1. Một số vấn đề liên quan xác định tội phạm
a) Vấn đề chủ thể đặc biệt trong đồng phạm
Phải xác định người thực hành là người có dấu hiệu chủ thể đặc biệt và
những người đồng phạm khác phải nhận biết được người thực hành là người có
dấu hiệu chủ thể đặc biệt
b) Vấn đề xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm
- Người thực hành thực hiện đến giai đoạn nào thì những người đồng phạm
được xác định thực hiện tội phạm ở giai đoạn đó
- Người có hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức người khác phạm tội nhưng
khơng kết quả thì có thể phải chịu TNHS về tội mà họ đã tổ chức, xúi giục, giúp
sức ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội
c) Vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm
• Người thực hành tự ý nửa chừng chấm dứt thì riêng họ được miễn TNHS,
những người đồng phạm khác vẫn có thể phải chịu TNHS ở giai đoạn chuẩn bị
phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt tuỳ thuộc vào thời điểm người thực hành tự ý
nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
• Người xúi giục, tổ chức, giúp sức
- Người xúi giục, người tổ chức

+ Thuyết phục, đe doạ để người thực hành không thực hiện tội phạm
+ Hoặc báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nạn nhân để có biện
pháp ngăn chặn tội phạm
- Người giúp sức: phải chấm dứt việc tạo những điều kiện tinh thần, vật
chất cho việc thực hiện tội phạm

Họ được miễn TNHS khi ngăn chặn được và hậu quả tội phạm
không xảy ra. Nếu hậu quả xảy ra thì chỉ có thể được miễn khi trước khi hành vi
phạm tội bị phát giác, họ tự thú, khai rõ việc, góp phần hiệu quả phát hiện điều
tra tội phạm...
2. Các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng
phạm
a) Tất cả những người đồng phạm đều phải chịu trách nhiệm hình sự chung
về tồn bộ tội phạm
- Tất cả những người đồng phạm đều chịu TN về cùng một tội danh, theo
cùng một điều luật và trong phạm vi chế tài mà điều luật đó quy định
- Những tình tiết định khung hình phạt giảm nhẹ, tăng nặng và tình tiết giảm
nhẹ, tăng nặng liên quan đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội
phạm mà những người đồng phạm nhận thức được đều được áp dụng cho những
người đó
20


- Các nguyên tắc chung về truy cứu trách nhiệm hình sự, về quyết định hình
phạt, về áp dụng thời hiệu đối với loại tội mà những người đồng phạm thực hiện
đều được áp dụng chung cho tất cả những người đồng phạm
b) Mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc đã tham gia
thực hiện tội phạm
- Những người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi
vượt quá của người khác (vượt ra ngoài ý định của những người đồng phạm

khác)
- Những tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng liên quan đến riêng người
đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối với người đó
- Những tình tiết loại trừ TNHS hoặc miễn hình phạt đối với người đồng
phạm nào thì chỉ áp dụng đối với người đó
- Hành vi của người tổ chức, xúi giục, giúp sức dù chưa dẫn đến việc thực
hiện tội phạm của người thực hành vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự
c) Nguyên tắc cá thể hố trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm
Xét đến tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm
(Đ58) (Điểm c, d khoản 1 Điều 3)
- Tính chất tham gia được xác định bởi vai trò của họ trong vụ đồng phạm
(người tổ chức nguy hiểm nhất, người giúp sức ít nguy hiểm nhất)
- Mức độ tham gia được xác định bởi ảnh hưởng thực tế của người đó đối
với những người đồng phạm khác trong suốt quá trình chuẩn bị và thực hiện tội
phạm cũng như đóng góp thực tế trong việc gây ra tội phạm và hậu quả tội
phạm
V. Những hành vi liên quan đến tội phạm cấu thành tội độc lập
1. Che giấu tội phạm Đ18
Đặc điểm:
- Khơng có sự bàn bạc thoả thuận, hứa hẹn trước
- Hành vi che giấu được thực hiện sau khi tội phạm đã kết thúc
- Lỗi của người che giấu là lỗi cố ý trực tiếp
2. Không tố giác tội phạm Đ19
Đặc điểm:
- Hành vi khơng tố giác có thể xảy ra ở giai đoạn tội phạm đang được chuẩn
bị, đang được thực hiện hoặc tội phạm đã kết thúc
- Hành vi phạm tội ln thực hiện dưới hình thức khơng hành động
- Lỗi của người không tố giác tội phạm là lỗi cố ý trực tiếp

Chương 11: Những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã

hội của hành vi
21


I. Sự kiện bất ngờ
II. Tình trạng khơng có năng lực trách nhiệm hình sự
III. Phịng vệ chính đáng (Đ22)
1. Điều kiện của phịng vệ chính đáng
a) Điều kiện thuộc về hành vi xâm hại (hành vi tấn cơng)
- Có thật – có hành vi xâm hại của người khác đến các lợi ích của Nhà
nước, của tổ chức, quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân
- Có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội
- Đang gây thiệt hại hoặc đang đe doạ thực tế gây thiệt hại ngay tức khắc
b) Điều kiện thuộc về hành vi phòng vệ
• Chống trả lại chính người xâm hại
Trường hợp người tấn công là người chưa đến tuổi TNHS hoặc không có
năng lực TNHS thì hành vi chống trả chỉ là phịng vệ chính đáng nếu đó là biện
pháp duy nhất để ngăn chặn sự tấn cơng
• Chống trả một cách cần thiết, phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi xâm hại
Xác định hành vi chống trả là cần thiết dựa vào:
- Khách thể cần bảo vệ
- Công cụ, phương tiện
- Tương quan lực lượng
- Nhân thân của người xâm hại
- Thời gian, địa điểm
- Trạng thái tâm lý của người phải phòng vệ
2. Vượt q phịng vệ chính đáng
- Hành vi chống trả một cách quá mức cần thiết
- Không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi

xâm hại
IV. Phòng vệ tưởng tượng
1. Khái niệm
Phòng vệ tưởng tượng là trường hợp một người do nhận thức sai lầm nên
lầm tưởng là có sự tấn cơng của người khác nên đã thực hiện hành vi chống trả,
gây thiệt hại cho người đó.
2. Các trường hợp
• Người phịng vệ tưởng tượng khơng biết và khơng thể biết có sự sai lầm
trong đánh giá: khơng có sự tấn cơng của người khác thì người phịng vệ khơng
bị coi là có lỗi và khơng phải chịu TNHS

22


• Người phịng vệ tưởng tượng có khả năng nhận biết sự sai lầm của mình
nếu có sự chú ý, quan tâm cần thiết đến những lợi ích hợp pháp thì người phịng
vệ tưởng tượng sẽ bị coi là có lỗi, phải chịu trách nhiệm hình sự
V. Tình thế cấp thiết
Điều kiện:
• Tính chất của nguồn nguy hiểm
- Có thật
- Đang gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại ngay tức khắc
- Phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau:do hành vi con người, sự tấn công
của động vật, hiện tượng thiên nhiên
• Tính chất của hành vi khắc phục nguồn nguy hiểm
- Là biện pháp duy nhất để ngăn ngừa sự gây thiệt hại
- Thiệt hại gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại của nguồn nguy hiểm
VI. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội
VII. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ
thuật và công nghệ

VIII. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên

Chương 12: Trách nhiệm hình sự và hình phạt
I. Trách nhiệm hình sự
1. Khái niệm, đặc điểm, cơ sở của trách nhiệm hình sự
a) Khái niệm
Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý
bất lợi mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện
tội phạm và là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được
thể hiện ở bản án kết tội của Tồ án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số
biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định.
- Người được miễn TNHS là người đã thực hiện tội phạm nhưng vì có
những căn cứ để được miễn TNHS theo quy định của LHS nên được miễn
TNHS
- Một số biện pháp ngăn chặn – các biện pháp cưỡng chế có tính chất tố
tụng hình sự - có thể chuyển thành bộ phận cấu thành của việc thực hiện TNHS
nếu người đã bị áp dụng các biện pháp đó bị Toà kết án bằng bản án kết tội kèm
quyết định hình phạt
- Các biện pháp tư pháp (có thể áp dụng với người khơng có NLTNHS) có
thể được chuyển thành một bộ phận của việc thực hiện TNHS

23


- TNHS được phận thành hai loại: có hình phạt (TNHS: bản án kết tội kèm
quyết định hình phạt) và khơng có hình phạt (TNHS: bản án kết tội mà khơng có
quyết định hình phạt)
b) Đặc điểm
• TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là
tội phạm

• TNHS là trách nhiệm của cá nhân người phạm tội hoặc của bản thân pháp
nhân thương mại phạm tội
TNHS phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của
tội phạm do người phạm tội thực hiện
• TNHS thể hiện ở bản án kết tội của Tồ án có hiệu lực pháp luật và một
số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định
Các biện pháp cưỡng chế là các biện pháp ngăn chặn (tạm giữ, tạm giam)
hoặc các biện pháp tư pháp (bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị
trấn, đưa vào trường giáo dưỡng)
• TNHS là trách nhiệm trước Nhà nước, kết quả của việc áp dụng các quy
phạm pháp luật hình sự, được xác định và thực hiện theo một trình tự, thủ tục
đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định
- Có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố vụ án, xác định một người thực hiện tội
phạm thì khởi tố bị can; xác định điều kiện để truy tố người phạm tội và buộc tội
trước Toà; xét xử, kết tội; có đủ cơ sở kết án, ra bản án kết tội
- Việc thực hiện TNHS từ phía Nhà nước và việc phải chịu TNHS từ phía
người phạm tội chỉ bắt đầu khi bản án kết tội của Tồ án đối với bị cáo có hiệu
lực pháp luật
- Người bị kết án sẽ phải chấp hành hình phạt khi có quyết định thi hành án
của cơ quan có thẩm quyền
- Bản án kết tội là hình thức thể hiện nội dung của TNHS
- TNHS của một người chỉ kết thúc khi án tích đối với người ấy được xoá
c) Cơ sở
- Cơ sở triết học
- Cơ sở pháp lý: việc thực hiện hành vi thoả mãn các dấu hiệu của cấu
thành tội phạm được quy định trong luật hình sự
2. Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt
a) Miễn trách nhiệm hình sự (Đ29)
• Khái niệm: Miễn TNHS là miễn hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm
tội, thể hiện ở chỗ người phạm tội không phải chịu sự kết tội của Tồ án, khơng

bị coi là có tội, khơng phải chịu hình phạt và khơng mang án tích.
• Điều kiện:
24


- Được miễn: hành vi phạm tội khơng cịn nguy hiểm; có quyết định đại xá;
tự ý nửa chừng chấm dứt phạm tội; nhận nhưng không làm gián điệp và tự thú
(Khoản 4 Điều 110); do hết thời hiệu truy cứu TNHS
- Có thể miễn: người phạm tội khơng cịn nguy hiểm cho xã hội; Mắc bệnh
hiểm nghèo; Tự thú, lập cơng lớn; Ít nghiêm trọng, nghiêm trọng do vơ ý được
người bị hại tự nguyện hoà giải và đề nghị miễn TNHS; Người chưa thành niên
(khoản 2 Đ91); Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng chủ động khai báo
trước khi bị phát giác (đoạn 2 khoản 7 Điều 364); Người không tố giác tội phạm
nhưng can ngăn hoặc hạn chế tác hại tội phạm (khoản 2 Điều 390)
b) Miễn hình phạt
• Khái niệm: Miễn hình phạt là người phạm tội khơng phải chịu hình phạt
thể hiện ở việc vẫn bị Toà án xét xử, vẫn bị kết tội bằng bản án, bản án tuyên
miễn hình phạt và đương nhiên được xố án tích.
• Điều kiện: có thể được miễn HP nếu
- Thuộc trường hợp tại khoản 1 Điều 54 BLHS
- Thuộc trường hợp tại khoản 2 Điều 54 BLHS
- Đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức miễn TNHS
3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Đ27)
a) Khái niệm
Là thời hạn do BLHS quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội
khơng bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa.
b) Điều kiện áp dụng
• Kể từ ngày tội phạm đươc thực hiện đã trải qua một thời hạn nhất định do
Bộ luật hình sự quy định (5-10-15-20)
• Trong thời hạn truy cứu TNHS, người phạm tội không phạm tội mới mà

Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên
một năm tù
• Trong thời hạn truy cứu TNHS, người phạm tội khơng cố tình trốn tránh
hoặc đã trốn tránh nhưng khơng có lệnh truy nã của cơ quan có thẩm quyền
c) Những trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự
- Các tội xâm phạm an ninh quốc gia tại chương XII
- Các tội phá hoại hồ bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh tại
chương XXVI
- Tội tham ô tài sản theo quy định tại khoản 3, 4 Điều 354 BLHS
II. Khái niệm và mục đích của hình phạt
1. Khái niệm
a) Khái niệm
25


×