1
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến cấp cơ sở huyện
Tên sáng kiến: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ 4-5 tuổi.
1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chăm sóc- giáo dục tại lớp Mẫu giáo 4-5
tuổi Trường Mẫu giáo Anh Thơ.
2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
Năm học: 2020-2021
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1. Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết:
*Ưu điểm:
- Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương đã đầu
tư trang thiết bị, đồ dùng dạy học cho trẻ đầy đủ, đảm bảo tính an tồn cho trẻ.
- Được sự quan tâm của Ban Giám Hiệu, chị em đồng nghiệp đã luôn tạo
điều kiện cho bản thân tham gia các lớp tập huấn về chuyên ngành mầm non,
được dự giờ các chuyên đề về rèn luyện và phát triển kỹ năng sống cho trẻ cũng
như là các môn học khác.
- Nhờ có sự chia sẻ, phối hợp giữa bạn bè, đồng nghiệp, phụ huynh học
sinh và kinh nghiệm sống của trẻ hằng ngày nên bản thân đã tìm tịi, sưu tầm các
tình huống, trị chơi gắn liền với cuộc sống hằng ngày của trẻ và luôn sáng tạo
hơn nữa trong công tác tự làm đồ dùng, đồ chơi mới mẻ, đẹp mắt, hấp dẫn để thu
hút sự tham gia hứng thú của trẻ.
- Một số phụ huynh đã có nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của việc rèn
luyện, hướng dẫn cũng như là dạy cho trẻ nhận biết những kỹ năng sống trong
cuộc sống hằng ngày tốt hơn, góp phần tạo nền tảng vững chắc cho trẻ khi tiếp
xúc với mọi tình huống trong cuộc sống.
* Nhược điểm:
- Trẻ được sống trong môi trường quá bao bọc, mọi việc đều được ông, bà
2
bố, mẹ làm cho, khiến trẻ quen vói thói quen dựa dẫm, khơng có tính tự lập.
- Phần đơng ba, mẹ các cháu đều làm nông nghiệp và công nhân nên ít có
thời gian chăm sóc, giáo dục cũng như rèn luyện các kỹ năng sống cho trẻ còn
rất hạn chế. Vì vậy giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức các
hoạt động tại trường.
- Khả năng giao tiếp ở trẻ còn thiếu tự tin.
3.2. Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm
của giải pháp đã biết:
Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là vấn đề cấp thiết, quan trọng với ngành
giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng. Giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ mầm non sẽ giúp trẻ thích nghi nhanh với cuộc sống. Tự làm chủ cuộc sống,
phòng tránh được những hiểm nguy, sống tự lập, có trách nhiệm với bản thân và
xã hội. Chính vì vậy việc rèn kỹ năng sống cho trẻ mầm non góp phần quan
trọng trong sự nghiệp đào tạo thế hệ con người tương lai của đất nước, trong đó
trẻ 4-5 tuổi là một lứa tuổi có vai trị đặc biệt quan trọng.
Việc rèn kỹ năng sống tốt cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi là xây dựng và củng
cố nền tảng và những gì mà theo trẻ đến suốt cuộc đời, làm cơ sở tiền đề cho
cuộc sống sau này của trẻ. Giúp cho trẻ phát triển tâm sinh lý lứa tuổi, có sức
khoẻ tốt, tự tin mạnh dạn để học tập và sống tích cực, phát huy tốt khả năng và
sở trường của mình. Giúp trẻ có ý thức và khả năng thích nghi với cuộc sống, trẻ
có thể làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến lối sống lành mạnh. Giáo
dục kỹ năng sống cho trẻ 4 - 5 tuổi có ý nghĩa trong việc hình thành và phát triển
toàn diện nhân cách cho trẻ.
Cho nên việc rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi lúc trẻ ở lứa tuổi mầm
non là rất cần thiết, việc rèn kỹ năng sống cho trẻ như thế nào, định hướng ra sao,
để đạt được hiệu quả cao nhất, đó là vấn đề quan trọng mà bất cứ ai làm công tác
giáo dục trẻ đều phải chú ý. Để thực hiện tốt điều đó thì bản thân tơi phải kiên trì,
quyết tâm đề ra các nội dung, biện pháp tốt nhất và thực hiện từng bước, liên tục
trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ.
3.3. Các điều kiện, phương tiện cần thiết để thực hiện
và áp dụng giải pháp.
3
* Máy tính, ti vi, đồ dùng, đồ chơi, trị chơi…
* Tài liệu tham khảo:
- Mạng Internet, các tài liệu liên quan đến công tác giáo dục, rèn luyện kỹ
năng sống cho trẻ.
- Sách hướng dẫn, tổ chức một số hoạt động nhằm rèn luyện kỹ năng
sống cho trẻ.
- Tài liệu hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non
mẫu giáo 4-5 tuổi theo thông tư 28/2016/TT-BGDĐT sửa đổi bổ sung một số nội
dung của chương trình giáo dục mầm non.
- Tài liệu giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo (Bộ kĩ năng toàn tập
dành cho sinh viên và giáo viên mầm non) Lê Bích Ngọc (2013). Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non.
3.4. Các bước thực hiện giải pháp, cách thức thực hiện giải pháp:
Qua nghiên cứu tìm hiểu tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ. Tôi đã đưa ra một số giải pháp cụ thể như sau:
Biện pháp 1. Nâng cao nhận thức tự học, tự bồi dưỡng về việc dạy tre
kỹ năng sống
Là một giáo viên được nhà trường phân công giảng dạy lớp 4-5 tuổi nhằm
thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, tôi không ngừng tự học tự bồi dưỡng bản thân
để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ của
mình. Đặc biệt tơi đi sâu vào nghiên cứu những kỹ năng sống cơ bản dạy trẻ 4-5
tuổi ở trường mầm non, nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 4-5 tuổi bằng
nhiều hình thức như tự học qua sách báo, chuyên san, tạp chí, học hỏi bạn bè
đồng nghiệp, khai thác qua mạng…Thực tế cho thấy, việc xác định các kỹ năng
cơ bản phù hợp với lứa tuổi sẽ giúp giáo viên lựa chọn đúng nội dung trọng tâm
để dạy trẻ. Để có thể thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục đã đề ra thì trước tiên
mỗi giáo viên phải trang bị cho mình hệ thống kiến thức phong phú chính xác,
và trải nghiệm các kỹ năng giáo dục thực tế.
Trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi có đặc thù tâm lý tính cách riêng nên để thấu hiểu
và tiếp cận với trẻ tôi đã dành nhiều thời gian đọc các tài liệu về tâm lý học trẻ
4
em, đặc biệt là tâm lý lứa tuổi của nhà xuất bản đại học sư phạm, và tìm hiểu
nhiều nguồn tư liệu trên các kênh giáo dục khác, trên mạng Internet.
Thông qua việc tự học tự bồi dưỡng tôi hiểu rằng:
Để dạy trẻ các kỹ năng thì cơ giáo phải luôn luôn lắng nghe và thấu hiểu
trẻ, cô cần:
+ Tạo cơ hội cho trẻ chia sẻ đồ chơi hay món ăn mà trẻ ưa thích với bạn bè.
+ Lắng nghe trẻ, giúp trẻ bày tỏ thái độ.
+ Dạy trẻ cách giải quyết vấn đề.
+ Dạy trẻ ở mọi lúc mọi lúc mọi nơi, tận dụng mọi tình huống và hoạt
động có thể tích hợp.
Biện pháp 2: Giáo dục kỹ năng sống cho tre thông qua hoạt động học
* Giáo dục kỹ năng sớng thơng qua hoạt động học
- Mục đích:
Trẻ ở lứa tuổi này, học mà chơi, chơi mà học. Trẻ dễ nhớ nhưng cũng rất
nhanh quên nên việc lồng nội dung giáo dục kỹ năng sống vào hoạt động học có
nhiều ưu thế nhằm hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi có văn hố.
Giáo viên cần tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến
khích sự chuyên cần, tích cực của trẻ, giáo viên cần phải biết khai thác phát huy
năng khiếu, tiềm năng sáng tạo ở mỗi trẻ. Vì mỗi đứa trẻ là một nhân vật đặc biệt,
phải giáo dục trẻ như thế nào để trẻ cảm thấy thoải mái trong mọi tình huống của
cuộc sống.
Giáo viên cần thường xuyên tổ chức các họat động giáo dục chăm sóc giáo
dục trẻ một cách thích hợp tuân theo một số quan điểm: Giúp trẻ phát triển đồng
đều các lĩnh vực: thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ.
Phát huy tính tích cực của trẻ, giúp trẻ hứng thú, chủ động khám phá tim tòi, biết
vận dụng vốn kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết các tinh huống khác nhau.
- Cách thực hiện:
Thơng qua hoạt động học, trẻ có cơ hội chia sẻ với các bạn thơng qua hoạt
động nhóm. Mặt khác, trẻ cũng tự tin, mạnh dạn khi thể hiện khả năng của mình
cũng như giới thiệu về bản thân, gia đình mình... trước cơ giáo và các bạn trong lớp.
Ví dụ: Hoạt động khám phá: Các con vật sống trong rừng:
5
Khi cô đưa ra bộ tranh về con voi và u cầu 1 nhóm tìm hiểu con voi
qua bộ tranh, ngay lập tức trẻ đã biết ngồi gần nhau hơn và cùng nhau xem tranh
rồi trao đổi với nhau về những gì mình thấy trong bức tranh được xem. Như vậy
ta thấy, trẻ đã biết cách hoạt động nhóm, có tinh thần hợp tác với nhau và cùng
nhau chia sẻ những cảm nhận về con voi thông qua bộ tranh đó. Cũng với tiết
học này, khi cơ u cầu trẻ của 1 nhóm khác quan sát con voi thơng qua xem
video clip. Sau khi xem xong trẻ đã gắn được lô tô những đặc điểm đặc trưng
của con voi và cử 1 bạn lên trình bày. Qua đây, chúng ta thấy chỉ qua 1 hoạt
động khám phá con voi, nhưng chúng ta thấy trẻ vừa được hoạt động nhóm, vừa
có thể lên thuyết trình trước cả lớp.
* Trong mọi tình h́ng và cách xử lý tình h́ng
Tình h́ng giúp tre biết cách phịng và chớng bị lạm dụng, xâm hại
Cho trẻ xem video “Nguyên tắc 5 ngón tay”.
Hiện nay trên các phương tiện truyền thông liên tục đưa những câu
chuyện về trẻ bị xâm hại, đặc biệt là có cả những trẻ ở lứa tuổi mầm non. Bản
thân là một giáo viên mầm non tôi nhận thấy việc đưa kỹ năng phòng và chống
bị lạm dụng, xâm hại vào dạy trẻ ở lứa tuổi này là rất cần thiết.
Để đưa kỹ năng này vào dạy trẻ tôi đã làm như sau: Tôi đã sưu tầm và cho
trẻ xem video “Nguyên tắc 5 ngón tay”.
Cơ giáo phải giải thích cho trẻ hiểu “vùng đồ bơi” của các bạn trai và các
bạn gái và đưa ra hệ thống các câu hỏi tương tác để trẻ trả lời:
+ Những ai có thể ơm hôn, ngủ chung, tắm và làm vệ sinh cho bạn nhỏ
khi bạn còn nhỏ? Tại sao? ( Bố, mẹ, anh, chị em ruột, và ông, bà nội ngoại)
+ Những ai có thể nắm tay, khốc vai và chơi đùa cùng với bạn nhỏ? (Cơ
giáo, bạn bè, cơ, dì, chú, bác họ hàng)
+ Bạn nhỏ khơng nói chuyện và khơng cho những ai đến gần mình?
(Những người lạ)
+ Nếu những người lạ đó đến gần và chạm vào “vùng đồ bơi” của bạn nhỏ
thì bạn nhỏ sẽ làm gì? Tại sao? (Hét to và bỏ chạy)
+ Khi đi khám bệnh bạn nhỏ chỉ cho phép bác sĩ khám “vùng đồ bơi” của
bạn khi nào? (Khi mẹ cho phép)
6
+ Những lúc đi chơi khơng có mẹ bên cạnh bạn nhỏ có làm theo ngun
tắc “5 ngón tay” khơng? Tại sao?
+ Bạn có nhận q từ người lạ khơng? Tại sao?
+ Bạn nhỏ có tự ý bỏ đi chỗ khác khơng? Bạn có cho người lạ chụp hình
của mình không? Tại sao?
Việc cho trẻ xem video và đặt hệ thống câu hỏi như trên cho trẻ sẽ giúp
trẻ tư duy, suy nghĩ và tìm ra phương án trả lời của mình. Điều đó giúp giáo dục
trẻ kỹ năng phịng và chống bị lạm dụng, xâm hại như: Không cho ai chạm hay
sờ vào “vùng đồ bơi” của mình.
* Tình huống giúp tre biết không đi theo và nhận quà từ người lạ
“Nếu có người khơng quen biết cho con quà, con nên làm như thế nào?”
Ở tình huống này, với lứa tuổi của trẻ trên thực tế trẻ rất thích khi được
cho q. Khi trẻ thảo luận, tơi đưa ra những giả thiết, những tình huống xấu
“Nếu đó là kẻ xấu thì sẽ rất nguy hiểm cho con”. Giải thích cho trẻ và giúp trẻ
có phương án giải quyết đó là: Tuyệt đối khơng nhận q, ăn bánh kẹo của
người lạ vì có thể bị người lạ tẩm thuốc mê và dẫn đến việc bị bắt cóc. Khi gặp
trường hợp này bé nên nói “Cháu cám ơn, nhưng bố mẹ cháu dặn cháu khơng
được nhận q của người lạ”.
Ví dụ: Đề tài: Bé bỏ rác đúng nơi quy định
* Mục đích, yêu cầu
- Kiến thức
+ Trẻ biết bỏ rác đúng nơi quy định
+ Trẻ biết giữ gìn vệ sinh môi trường sạch sẽ
+ Biết được tác hại của việc vứt rác bừa bãi
- Kỹ năng
+ Rèn kỹ năng biết tuân theo quy định nề nếp ở nơi công cộng
- Thái độ
+ Giáo dục trẻ biết giữ gìn bảo vệ mơi trường bằng cách bỏ rác đúng nơi
quy định
+ Tích cực đồn kết tham gia trị chơi
* Phương pháp, hình thức tổ chức:
7
- Xây dựng hệ thớng các tình h́ng và đặt câu hỏi:
- Vận động theo nhạc bài hát “ Siêu nhân xanh vì mơi trường xanh”
- Siêu nhân xanh trong bài hát làm gì các con?
- Các siêu nhân xanh trong bài hát chuyên đi gom rác bừa bãi bỏ vào đúng
nơi quy định, làm việc có ích đề bảo vệ môi trường.
- Cho trẻ xem đoạn video Bạn An vứt rác bừa bãi. Cô hỏi trẻ:
- Trong đoạn video các con vừa xem có những ai?
- Ăn chuối xong bạn An đã vứt vỏ chuối đi đâu?
- Chuyện gì đã xảy ra?
- Mẹ bạn đã nói gì?
- Thế cịn các con khi uống sữa hay là ăn quà có rác các con bỏ ở đâu?
- Giáo dục trẻ không được vứt rác bừa bãi gây mất vệ sinh, có thể gây tai
nạn cho mình và người khác
- Cho trẻ xem tiếp đoạn video 2.
- Một hôm An đi chơi về đã gặp điều gì?
- Lúc đó thái độ An như thế nào?
- Sau khi nghe An kể chuyện thì mẹ đã nói gì với bạn An?
- Sau khi nghe mẹ nói An cảm thấy như thế nào?
- Ngay sau đó An đã đi đâu?
- Vứt rác bừa bãi có hại gì cho chúng ta?
- Cho trẻ xem 1 số hình ảnh tác hại của việc vứt rác bừa bãi
- Chúng ta bỏ rác đúng nơi quy định ở những đâu?
- Các con nhớ nhé chúng ta nên bỏ rác đúng nơi quy định vì như vậy sẽ
tránh được bệnh ngoài da và một số bệnh truyền nhiễm nữa đấy, chúng ta hãy
cùng nhau chung tay vì mơi trường xanh sạch đẹp.
* Tình h́ng: Tre bị lạc người thân
- Hỏi trẻ: Nếu là các con trong tình huống khi bị lạc thì các con sẽ xử lý
như thế nào?
- Khi bị lạc nếu các con nhớ số điện thoại của bố mẹ thì chúng mình hãy
nhờ người lớn gọi điện về cho bố mẹ chúng mình, cịn khi mà chúng mình
khơng nhớ số điện thoại của bố mẹ thì chúng mình tìm đến những người mặc
8
đồng phục như: Bác bảo vệ, chú công an, hoặc cơ bán hàng để mọi người giúp
đỡ chúng mình. Tuyệt đối chúng mình khơng được đi theo người lạ và không
nhận quà hay đồ ăn đến từ người lạ các con đã nhớ chưa nào?
- Những nơi đông người chúng mình khơng cẩn thận nếu bị lạc sẽ rất khó
để tìm thấy người thân đấy! Vì vậy khi đi chơi, hay đi thăm, đi khám ở đâu đó
cùng với người thân của chúng mình thì các con hãy ln chú ý quan sát người
thân đi bên cạnh mình, và chúng mình khơng được tự ý chạy đi lung tung khi
chưa được sự đồng ý của người thân các con đã nhớ chưa?
- Cách xử lý tình h́ng
- Bây giờ lớp mình hãy cùng cơ tìm hiểu về cách xử lý khi bị lạc ở một số
nơi khi các con không nhớ số điện thoại của người thân và địa chỉ của gia đình nhé!
- Nếu các con bị lạc ở chợ gần nhà hoặc siêu thị thì các con sẽ xử lý như
thế nào?
(Nếu ở chợ thì các con nên tìm đến các bác bán hàng ngồi chợ và nói tên
của bố mẹ chúng mình để các bác giúp đỡ, cịn ở siêu thị thì các con sẽ tìm gặp đến
bác bảo vệ hoặc các cô bán hàng để mọi người đưa thông tin con bị lạc trên loa)
- Nếu các con bị lạc ở bệnh viện thì các con sẽ xử lý như thế nào?(Tìm
đến bác bảo vệ hoặc các bác sĩ, y tá có đồng phục blouse trắng để nhờ giúp đỡ)
- Nếu con bị lạc ở công viên thì các con sẽ xử lý như thế nào? (Tìm đến
chốt bảo vệ của cơng viên để nhờ sự giúp đỡ)
- Giáo dục: Dù bị lạc ở đâu công viên hay bệnh viện, hay một trung tâm
thương mại lớn thì việc đầu tiên các con phải làm đó là phải giữ bình tĩnh, để
nhờ người giúp đỡ. Chúng mình khơng được đi theo người lạ, khi có người lạ
tiếp cận hoặc lơi kéo thì chúng mình phải hét thật to để cầu cứu từ mọi người
xung quanh. Và chúng mình hãy cùng nhau học thuộc số điện thoại của bố mẹ,
địa chỉ của gia đình mình và nhớ những địa điểm nổi bật ở gần ngơi nhà của
chúng mình các con nhớ chưa nào?
- Hoạt động phát triển thể chất: Cô dạy trẻ biết các kỹ năng vận động, biết
siêng năng rèn luyện để cơ thể khỏe mạnh, trẻ biết trong khi tập không chen lấn
xô đẩy nhau, biết giúp đỡ bạn khi bạn bị ngã hoặc khi bạn khơng biết cách chơi,
khơng biết cách tập thì trẻ biết bảo ban, dạy bạn cùng chơi, cùng tập...Trẻ biết cổ
9
động, khích lệ trẻ trong khi chơi, khi tập, hình thành ở trẻ tinh thần đồng đội,
biết làm việc theo nhóm.
- Đối với hoạt động tạo hình: Vẽ những người thân yêu của bé.
Tôi giáo dục trẻ biết yêu quý ngơi nhà mình ở, biết qt dọn nhà cửa sạch
sẽ, sắp xếp đồ dùng trong gia đình ngăn nắp gọn gàng...Trẻ biết tái tạo lại về
ngôi nhà hạnh phúc của mình, thậm chí một số trẻ cịn có sự sáng tạo về mơ ước
ngơi nhà của mình, những mong muốn về gia đình như: Cả nhà cùng nhau đi
tắm biển, cả nhà cùng đi chơi công viên hay cả nhà cùng nhau đi siêu thị.
Tôi tiến hành cùng trẻ tự tay làm một số đồ dùng, đồ chơi. Qua đó, cung
cấp cho trẻ một số kỹ năng về tạo hình và cũng qua đó trẻ cảm thấy vui sướng
khi được cùng cô làm ra sản phẩm đồ chơi theo ý thích của trẻ. Cũng qua đó, tơi
giáo dục trẻ biết yêu quý, trân trọng, giữ gìn đồ dùng, đồ chơi của lớp.
Thơng qua giờ học tạo hình, tơi nhận thấy được khả năng cảm nhận cái
đẹp và tái tạo lại cái đẹp theo sự hiểu biết của trẻ, theo mong muốn, sở thích của
trẻ...Và đây cũng là cơ hội để giáo viên quan sát, nắm bắt tâm lý trẻ một cách dễ
dàng, hiệu quả.
- Hoạt động làm quen văn học: Trong câu chuyện “Bó hoa tươi thắm”:
Tơi muốn giúp cháu của tôi biết quan tâm đến người thân yêu của mình,
biết khi đưa vật gì cho người lớn phải biết đưa bằng hai tay. Đó là những kỹ
năng sống trong giao tiếp.
Biện pháp 3: Giáo dục kỹ năng sống cho tre ở mọi lúc mọi nơi
Để giáo dục trẻ ở mọi lúc mọi nơi, luôn làm gương cho trẻ noi theo. Khi trẻ
vào lớp tôi nhắc trẻ chào cô, chào bố mẹ, tôi luôn chủ động chào hỏi trao đổi với
các bậc phụ huynh giúp cho trẻ nhận thấy sự gần gũi, quan tâm của cô giáo với
phụ huynh giúp trẻ mạnh dạn tự tin hơn. Vì đặc điểm của trẻ mầm non là ln có
tính bắt chước nên người lớn, giáo viên phải là tấm gương sáng, yêu thương, tôn
trọng, đối xử công bằng với trẻ và đặc biệt phải đảm bảo an tồn cho trẻ.
Ví dụ: Thời gian đầu nhiều trẻ chưa có kỹ năng chào hỏi và giao tiếp với
cô cùng bạn bè, tôi chủ động chào trẻ trước “ cơ chào bạn Minh Anh” thì lúc đó
trẻ sẽ biết đáp lại câu “ Con chào cơ ạ’ và tôi nhắc trẻ con chào bố, mẹ đi để vào
lớp với cô nào. Hoặc khi trẻ đang chơi mà có khách đến lớp tơi nhắc trẻ “ các
10
con chào bác, cô, chú ..… đi nào” cứ như vậy dần dần trẻ có thói quen chào cơ,
chào bố mẹ và chào khách, khi đến lớp, khi ra về. Cịn với trẻ chưa có kỹ năng
giao tiếp nhiều với cô, với bạn tôi thường xuyên gần gũi trẻ hơn, trò chuyện với
trẻ nhiều hơn về những người thân của trẻ, về thế giới xung quanh từ đó trẻ sẽ
mạnh dạn hơn khi tiếp xúc và giao tiếp với cô, với bạn bè và người khác.
- Giờ hoạt động ngoài trời: Cô luôn nhắc nhở trẻ khi ra sân trường chơi
phải đi theo hàng, bạn nọ nối đuôi theo bạn kia, khơng đẩy bạn để bạn
ngã…..Nếu trẻ làm gì sai với bạn, với cơ thì phải biết xin lỗi cơ, xin lỗi bạn. Khi
đi chơi gặp các bác , các cô làm việc trong trường phải biết chào hỏi lễ phép.
- Giờ hoạt động góc: Cơ giáo ln là người bạn chơi cùng trẻ để hướng dẫn
trẻ giao lưu với nhau trong từng góc, từng nhóm. Cơ giáo gợi ý, hướng dẫn trẻ
cách chơi, cách xưng hô khi chơi. Cô chơi với trẻ như người bạn thật sự của trẻ để
cho trẻ học cách ứng xử với nhau khi chơi, biết đối đáp trong q trình chơi.
Ví dụ: Qua góc chơi nấu ăn - gia đình: Trẻ được làm quen với những đồ
dùng, vật dụng khác nhau, (bộ đồ bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ uống). Sự sạch sẽ, gọn
gàng, một thói quen nề nếp, sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ dùng,
vật dụng, thái độ, ăn uống từ tốn, khơng vội vã, khơng khí cởi mở, thoải mái và
đầm ấm, những cuộc trao đổi nhẹ nhàng, dễ chịu… tất cả những yếu tố trên sẽ
giúp trẻ có thói quen tốt để hình thành kỹ năng tự phục vụ và ý nghĩa hơn là kỹ
năng sống tự lập sau này như: Kỹ năng biết quan tâm và chia sẻ với nhau để tổ
chức các sự kiện trong khi chơi.
Ví dụ: Qua góc chơi “bán hàng” thơng qua trị chơi này ngồi việc trẻ hiểu
được cơng việc của người bán hàng và mua hàng trẻ còn phải biết thưa gửi lễ
phép. Giai đoạn đầu trẻ còn chưa mạnh dạn trong khi chơi, tôi nhập vai làm
người bán hàng khi cháu mua hàng tôi chủ động hỏi trẻ “ Bác ơi bác mua thứ gì
nào? Trẻ nói mua rau - trả tiền nè. Tôi phải sửa ngay cho trẻ. Khi mua hàng con
phải hỏi bác ơi bao nhiêu tiền một mớ rau, bán cho tôi một mớ ạ, nếu trẻ đã biết
thưa gửi lễ phép tôi sẽ thưởng cho trẻ một bông hoa và cuối ngày nhận xét trước
lớp. Với hình thức này các cháu rất thích.
- Giờ ăn cơm: Ở trường mầm non giáo viên cần dạy trẻ nghi thức văn hóa
trong ăn uống qua đó dạy trẻ kỹ năng lao động tự phục vụ, rèn tính tự lập như:
11
Biết tự rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, chỉ ăn uống tại bàn ăn, biết cách sử dụng
những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng,
không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn,
biết mời trước khi ăn, cảm ơn sau khi ăn, biết tự dọn, cất đúng chỗ bát, chén,
thìa … hoặc biết giúp cô giáo dọn dẹp, ngồi ngay ngắn, ăn hết suất, không làm
ảnh hưởng đến người xung quanh.
- Giờ hoạt động chiều: Tăng cường kể cho trẻ nghe các câu chuyện cổ tích
qua đó rèn luyện đạo đức cho trẻ, giúp trẻ hồn thiện mình, biết đọc sách, dạy
trẻ u thương bạn bè, yêu thương con người. Tạo hứng thú cho trẻ nhỏ qua các
truyện bằng tranh, gợi mở tính tị mò, ham học hỏi, phát triển khả năng thấu hiểu
ở trẻ.
Ví dụ: Khi kể chuyện “ Ba cơ gái” giáo viên đặt những câu hỏi gợi mở
như: Nếu là con khi hay tin mẹ bị ốm, con sẽ làm gì? gợi mở tính tị mị thay đổi
đoạn kết của truyện có hậu hơn, đặt tên khác cho câu chuyện v,v….
Biện pháp 4: Phối hợp với phụ huynh, giáo viên và ban giám hiệu nhà
trường trong công tác giáo dục kỹ năng sống cho tre
Trong mỗi lớp học đều tồn tại mối quan hệ giữa: Cô giáo - học sinh - phụ
huynh. Xây dựng mối quan hệ gần gũi mật thiết giữa lớp học chính là việc xây
dựng mối liên hệ hai chiều hài hòa giữa phụ huynh và giáo viên.
Trong lớp tơi, tơi ln lỗ lực để tạo dựng tình cảm hai chiều mở rộng, gần
gũi, yêu thương gắn bó giữa cô và trẻ. Cô là người bạn cùng trẻ chia sẻ cảm xúc
vui buồn, cùng trẻ vui chơi, học tập, lắng nghe và thấu hiểu những suy nghĩ tình
cảm của trẻ. Cơ khuyến ln khích trẻ tạo cơ hội và niềm tin để trẻ sẵn sàng bày
tỏ, trò chuyện bộc lộ khả năng, năng lực cảm xúc của mình. Ở bên trẻ khơng có
một áp lực nào, trẻ mạnh dạn hồn nhiên và sống đúng với những suy nghĩ của
mình. Đó là điều kiện khơng thể thiếu để trẻ phát triển kỹ năng chủ động tích cực
sáng tạo, là môi trường để trẻ được bộc lộ và để sống cuộc sống của chính mình.
Mối liên kết tình cảm, tình bạn thân thiết trong sáng giữa trẻ với trẻ trong
lớp cũng luôn được tôi dày công vun đắp và nâng niu. Trong mọi hoạt động
tôi
luôn tạo cơ hội để trẻ gần gũi quan tâm đến nhau và kết hợp với nhau để cùng
12
học,cùng chơi, cùng hoạt động. Biểu dương khuyến khích những nhóm bạn biết
cùng nhau tiến bộ và biết thể hiện sự quan tâm, yêu thương, gắn bó lẫn nhau.
“Học thầy không tày học bạn”
Đối với phụ huynh để việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ có hiệu quả nhất
thì giáo viên cần phải thật sự thắt chặt mối dây liên hệ giữa hai bên.
Ngay từ đầu năm học thông qua các buổi họp phụ huynh tơi đã chân tình
cởi mở trao đổi nội dung kế hoạch giáo dục hình thành kỹ năng sống cho trẻ để
phụ huynh hiểu và thống nhất biện pháp phối hợp cùng tôi thực hiện. Tôi đã nhấn
mạnh để phụ huynh hiểu rằng đây là một q trình lâu dài và địi hỏi việc giáo dục
rèn luyện phải được thực hiện ở cả nhà trường và gia đình thì mới có hiệu quả
cao. Chính vì vậy tôi cũng mạnh dạn đề nghị phụ huynh thường xuyên trao đổi với
cô, đọc bảng tin phụ huynh và gần gũi với trẻ để tìm hiểu các nội dung giáo dục
kỹ năng sống trên lớp. Đồng thời phối hợp giáo dục rèn luyện cho trẻ ở nhà và
phản ánh kết quả qua lại kể cả hai phía đều biết được tình cảm của trẻ.
Ví dụ: Ba mẹ cho phép trẻ vui chơi bày biện đồ chơi theo ý thích của trẻ,
đừng bao giờ cấm đoán hay la mắng. Điều quan trọng là hãy để trẻ tự thu dọn đồ
chơi sau khi chơi xong. Ba mẹ cứ thế cùng con thu dọn nhưng tuyệt đối không
bao giờ được làm thay trẻ. Hay khi dạy trẻ kỹ năng tự phục vụ ở lớp như: Tự đi
và tháo dày dép, gập quần áo, giáo viên cũng trao đổi để phụ huynh rèn trẻ làm
tự các công việc lao động phục vụ bản thân ở nhà mình như: tự đánh răng, rửa
mặt, lấy quần áo mặc, đi giầy dép,đi tất, tự xúc ăn…
Trong các dịp lễ tết cha mẹ nên tạo cơ hội khuyến khích trẻ tham gia dọn
dẹp trang hồng nhà cửa, phụ ơng bà lau lá để gói bánh chưng, trang trí cây đào,
cây quất, đi chợ tết mua sắm cùng mẹ…Ngồi ra, bố mẹ hãy lựa chọn những
chương trình trên truyền hình phù hợp và bổ ích với bé để cả nhà cùng xem, khi
xem khuyến khích các bé nói lên suy nghĩ cảm xúc của mình về những điều mà
bé vừa được xem.
Khi dạy trẻ cách ứng xử văn hóa cơ cũng nhẹ nhàng trao đổi để phụ huynh
rèn trẻ các hành vi văn hóa ở nhà như: gõ cửa trước khi vào, mời trước khi ăn,
cảm ơn, xin lỗi đúng lúc…
Tuyên truyền để phụ huynh hiểu rằng mỗi người trong gia đình đều có
13
trách nhiệm trong việc giáo dục hình thành kỹ năng sống cho trẻ và đều phải làm
tấm gương để trẻ noi theo.
Những kỹ năng sống tốt đẹp chỉ được hình thành trên nền tảng là tình yêu
thương, sự quan tâm, và tin tưởng lẫn nhau của cả phụ huynh, học sinh và cơ
giáo. Chính vì vậy với sự quyết tâm tơi đã xây dựng cho lớp mình mối quan hệ
gắn kết mật thiết giữa cô - trẻ và phụ huynh học sinh.
Kết hợp với các giáo viên trong lớp: Để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
một cách tốt nhất, các giáo viên trong lớp cần có sự phối kết hợp chặt chẽ để
cùng nhau giáo dục trẻ. Kỹ năng sống của giáo viên cũng là một trong những
điều rất quan trọng trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, là tấm gương cho
trẻ noi theo.
Phối hợp với nhà trường: Tham mưu với Ban Giám Hiệu nhà trường
thường xuyên tổ chức các chuyên đề về rèn luyện và phát triển kỹ năng sống cho trẻ.
3.5. Chứng minh khả năng áp dụng của sáng kiến:
Sau khi thực các biện pháp trên thì kết quả như sau:
+ Đối với giáo viên:
- Bản thân được trau dồi những kỹ năng sống.
- Có thêm nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong công tác giáo dục hình
thành kỹ năng sống cho trẻ.
- Được phụ huynh tin yêu, quý mến, yên tâm gửi gắm con em cho mình.
+ Đối với trẻ:
- Hình thành được các kỹ năng tự phục vụ, trẻ mạnh dạn tự tin phục vụ
bản thân mình, khơng có tính ỷ lại., tự biết giải quyết những khó khăn khi gặp
phải, thực hiện cơng việc được giao đến cùng
- Phát huy được tính tự lập tự tin, nhanh nhẹn trong các hoạt động.
- Biết rửa tay bằng xà phòng, biết bỏ rác vào thùng, biết chào hỏi khi có
khách đến thăm lớp và biết lễ phép với người lớn tuổi....
- Biết nói những lời hay ý đẹp, biết cảm ơn, khi lỗi trong những trường
hợp cụ thể.
+ Đối với phụ huynh:
14
- Các bậc cha mẹ đã có thói quen liên kết phối hợp chặt chẽ với cô giáo
trong việc dạy trẻ các kỹ năng sống.
- Cha mẹ luôn coi trọng trẻ và tích cực tham gia vào các hoạt động giáo
dục trẻ ở nhà trường.
- Cha mẹ cảm thấy mản nguyện với thành công của trẻ, tin tưởng vào kết
quả giáo dục của giáo viên, nhà trường.
* So sánh đối chiếu kết quả trước khi thực hiện sáng kiến:
Số
Trước khi áp
lượng
dụng biện
tre
pháp
- Mạnh dạn tự tin
30
35%
90%( Tăng 55%)
- Kỹ năng hợp tác
30
40%
97% ( Tăng 57%)
- Kỹ năng giao tiếp
30
40%
94% ( Tăng 54%)
- Tự lập, tự phục vụ
30
35%
95%( Tăng 60%)
- Kỹ năng thích khám phá học hỏi
30
40%
95%( Tăng 45%)
Các tiêu chí đánh giá
Sau khi áp dụng
biện pháp
- Kỹ năng tự kiểm soát bản thân
30
45%
97%( Tăng 52%)
* Khả năng áp dụng và nhân rộng của sáng kiến:
Ngay sau khi kết thúc năm học trước tơi đã nghiên cứu những vấn đề gì nổi
cộm cần khắc phục để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ trong
nhà trường và tơi đã đăng ký xây dựng đề tài “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ 4-5 tuổi”.
Đề ra các giải pháp nghiên cứu để nâng cao chất lượng rèn luyện kỹ năng
sống cho trẻ trong trường cho phù hợp.
Sáng kiến “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi”. Được
áp dụng thực tế đội ngũ giáo viên và trẻ tại trường mẫu giáo Anh Thơ- Tam
Phước- nói chung và cho các trường mẫu giáo trên địa bàn Huyện nói riêng.
4. Những thơng tin cần được bảo mật: Khơng có
5. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
a) Hiệu quả kinh tế
15
Để đảm bảo các điều kiện để trẻ có thể tham gia vào các hoạt động giáo
dục rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ. Là một người giáo viên tôi luôn đề ra những
biện pháp phù hợp, lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp để trẻ có thể lĩnh hội và
tiếp thu kiến thức một cách trọn vẹn.
Tiết kiệm được rất nhiều kinh phí qua việc tận dụng những nguyên vật
liệu phế thải như: Chai nhựa, vỏ bình sữa, ống nước, thùng catton, ống hút…đã
được vệ sinh sạch sẽ thay cho việc mua những đồ dùng, đồ chơi làm sẵn. Chính
từ việc vận dụng các nguyên vật liệu phế thải này giáo viên đã tạo ra những món
đồ dùng, đồ chơi cho trẻ tạo điều kiện giúp trẻ hoạt động tích cực, tư duy và
sáng tạo hơn khi tham gia hoạt động.
Sáng kiến góp phần cải thiện phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ .
b) Hiệu quả về mặt xã hội
- Trẻ tự tin trong giao tiếp, có kỹ năng giải quyết các vấn đề, biết tự phục
vụ và hợp tác với bạn bè, mọi người xung quanh, tâm lý thoải mái, thích đi học,
thích đến trường, thích hoạt động, thích giao tiếp.
- Giáo viên được nắm chắc nội dung, phương pháp, giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ, nhận thức được tầm quan trọng của rèn kỹ năng sống cho trẻ.
- Tính tự lập, mạnh dạn, hợp tác, chia sẻ và biết kiên trì hồn thành các
cơng việc được giao của trẻ có hiệu quả hơn.
- Tính tị mị, trí tưởng tượng, năng động, thói quen lao động, tự phục vụ,
kỹ năng tự lập của trẻ tốt hơn.
- Các hành vi, hành động, ngơn ngữ có văn hố theo chuẩn mực đạo đức
xã hội của trẻ tiến bộ hơn.
- Phụ huynh đã nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng sống
cho trẻ 4-5 tuổi.
- Phụ huynh ngày càng tin tưởng giáo viên, luôn quan tâm chăm lo đến
việc học tập, các hoạt động, lời nói, hành vi của con em trên lớp cũng như lúc ở
nhà. Một số phụ huynh đã mạnh dạn trao đổi những vấn đề cần thiết nhờ giáo
viên quan tâm giúp đỡ. Nhờ vậy mà mối quan hệ giữa cô, trẻ và phụ huynh ngày
càng gần gũi hơn.
16
c) Giá trị làm lợi khác
Với sáng kiến giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4-5 tuổi, được thực hiện
thông qua các hoạt động ở mọi lúc mọi nơi và đặc biệt là trẻ được thực hành, trải
nghiệm và thế hiện được tính tư duy, sáng tạo, tự lập và mạnh dạn ở trẻ. Chính
trẻ là người sẽ tích hợp được các kỹ năng đã học để giải quyết các vấn đề trong
cuộc sống thực tiễn.
Trẻ yêu mến cô, bạn bè, trường, lớp, yêu các hoạt động, chủ động, tự tin
trong cuộc sống.
Thể hiện được tính tự lập, mạnh dạn, hợp tác, ứng xử trong cuộc sống, chia
sẻ và biết kiên trì hồn thành các cơng việc được giao của trẻ có hiệu quả hơn.
Có các hành vi, hành động, ngơn ngữ có văn hố theo chuẩn mực đạo đức
xã hội của trẻ tiến bộ hơn.
Sáng kiến góp phần cải thiện phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ .
Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà truờng.
Kích thích tính sáng tạo của mỗi giáo viên và làm cho các hoạt động trở
nên phong phú, nhiều màu sắc hơn.
6. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến
lần đầu, kể cả áp dụng thử:
Qua một năm thực hiện đề tài: “Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống
cho trẻ 4-5 tuổi” chất lượng giáo dục về kỹ năng sống cho trẻ được tăng lên rõ rệt.
Trẻ ngoan hơn, lễ phép hơn, trẻ được hình thành những thói quen vệ sinh văn
minh, giao tiếp mạnh dạn với mọi người, biết chào hỏi khi có khách đến, biết trao
nhận bằng hai tay, biết quan tâm giúp đỡ bạn bè, cô giáo, ba mẹ…
Phụ huynh tin tưởng nhà trường hơn, vì thấy trẻ trở nên thơng minh nhanh
nhẹn, tự tin hơn.
Bản thân tơi được trau dồi kiến thức và có thêm những kinh nghiệm trong
việc giáo dục trẻ.