HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn: Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải quyết các vụ việc
dân sự
Mã hồ sơ: LS.DS 07/ B4.TH4-DA1/HNGĐ
Diễn án lần:
Ngày diễn:
Giảng viên hướng dẫn:
Họ và tên học viên:
Lớp:
Số báo danh:
Vai diễn:
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
MỤC LỤC
Bài thu hoạch – Hồ sơ 07
Page 2
BÀI THU HOẠCH HỒ SƠ DÂN SỰ SỐ 07
“TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN”
Bài thu hoạch được viết trên quan điểm là Luật sư tham gia bảo vệ cho phía
Ngun đơn là bà Hồng Thị Hảo trong vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài
sản”.
Nguyên đơn :
Bà HỒNG THỊ HẢO
Bị đơn
Ơng NGUYỄN VĂN NGUYỆT
:
I. TĨM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Các vấn đề pháp lý cơ bản
a. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp
Quan hệ pháp luật tranh chấp trong hồ sơ này là: ly hôn, tranh chấp về nuôi con,
chia tài sản khi ly hôn.
Căn cứ pháp lý: khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (sau đây gọi tắt là
“BLTTDS 2015”).
b. Thời hiệu khởi kiện
Vụ án này thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Căn cứ pháp lý: Chương IV về Chấm dứt hôn nhân của Luật Hơn nhân và Gia đình
2014 (sau đây gọi tắt là “Luật HNGĐ 2014”) và BLTTDS 2015 không quy định về thời hiệu
khởi kiện đối với tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản.
c. Thẩm quyền của Tòa án
- Xét thấy vụ án này thuộc thẩm quyền xử lý của Tòa án theo quy định tại Khoản 1
Điều 28 BLTTDS 2015 vì quan hệ pháp luật tranh chấp trong hồ sơ là ly hôn, tranh chấp về
nuôi con, chia tài sản khi ly hơn.
- Tịa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp
về hơn nhân gia đình (điểm a Khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015)
- Tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, Bị đơn Nguyễn Văn Nguyệt hiện đang trú tại địa chỉ:
Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương. Căn cứ quy định tại Điểm a
Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 về thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ thì Tồ án nơi bị
đơn cư trú là Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên.
Vậy, Tòa án nhân dân Thành phố Hải Dương có thẩm quyền giải quyết tranh
chấp này theo quy định của pháp luật.
d. Xác định tư cách đương sự
Căn cứ pháp lý: khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 68 BLTTDS 2015.
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Hảo, sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn Nam Giàng, xã
Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương (Trên giấy tờ là Nguyễn Thị Hảo)
Bị đơn:Ông Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm 1976, địa chỉ: Thôn Thượng Triệt I,
Bài thu hoạch – Hồ sơ 07
Page 3
xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Thoa và Ông Nguyễn Văn Cang – bố mẹ ruột của anh Nguyễn
Văn Nguyệt. Cùng trú tại: Khu dân cư số 02, Thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt,
Thành phố Hải Dương.
e. Tiền tố tụng
Vụ án này chưa được thụ lý hoặc đang được giải quyết bởi một Tòa án nào trước
khi Tòa án nhân dân TP. Hải Dương thụ lý. Theo Điều 52 Luật HNGĐ 2014 thì trường
hợp này chỉ khuyến khích chứ khơng bắt buộc tiến hành hịa giải trước khi khởi kiện.
f. Văn bản pháp luật áp dụng
−
−
−
−
Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội (“Luật Hơn nhân và
Gia đình năm 2014”) và các văn bản hướng dẫn thi hành;
Luật hơn nhân và gia đình số 21-LCT/HDDNN7 của Quốc hội ngày 29/12/1986
(“Luật Hơn nhân và Gia đình 1986”);
Bộ luật Dân sự số 92/2015/QH13 của Quốc hội ngày 25/11/2015 (“Bộ luật Dân sự
năm 2015”);
Luật phòng, chống bạo lực gia đình số 02/2007/QH12 của Quốc hội ngày
21/11/2007 (“Luật Phịng, chống bạo lực gia đình 2007”);
2. Tóm tắt nội dung vụ việc
Ngày 26/3/1999 bà Hồng Thị Hảo kết hơn với ơng Nguyễn Văn Nguyệt. Ông
Nguyệt và bà Hảo có 02 người con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi sinh năm
04/01/2000 và cháu Nguyễn Đức Anh sinh năm ngày 16/03/2007.
Giữa ông Nguyệt và bà Hảo có phát sinh nhiều mâu thuẫn trong quá trình chung
sống với nhau. Theo chị Hảo thì lý do mâu thuẫn là vì cả hai khơng hợp nhau, anh
Nguyệt hay chơi bời sau đó về nhà đánh đập vợ con. Còn anh Nguyệt lại cho rằng mâu
thuẫn bắt nguồn từ việc chị Hảo hay ghen tuông rồi bỏ về nhà mẹ đẻ ở. Chị Hảo đã
chuyển hẳn về nhà mẹ đẻ ở từ năm 2014 và cả hai đã ly thân từ thời điểm này, khơng
cịn chung sống với nhau nữa. Về phần các con, cháu Nhi hiện ở với mẹ còn cháu Đức
Anh đang ở với bố.
Ngày 02/01/2016 chị Hảo đã nộp Đơn khởi kiện lên TAND TP. Hải Dương.
Ngày 10/01/2016 Tòa án nhân dân TP Hải Dương ban hành thông báo thụ lý vụ
án số 02/TB-TLVA.
Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn - bà Hoàng Thị Hảo:
- Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt.
- Về con chung: yêu cầu được nuôi cả hai con và không yêu cầu cấp dưỡng.
- Về quan hệ tài sản: yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà đất tại Thửa đất 496,
tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m 2 tại xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương và xin
được lấy một nửa phần diện tích đất khơng có tài sản. Đối với mảnh đất có diện tích
1965 m2 đất ruộng, ao khốn mà gia đình th trước đây của UBND xã, chị Hảo có
yêu cầu thuê lại một nửa (Tuy nhiên trong q trình hịa giải, hai bên đã tự thỏa thuận
Bài thu hoạch – Hồ sơ 07
Page 4
được vấn đề này)
- Về khoản nợ chung của cả hai tại Ngân hàng NN&PTNT, tuy anh Nguyệt nhận
trả hết nhưng nếu anh Nguyệt không muốn trả nữa chị yêu cầu chia đôi nghĩa vụ trả nợ
(Tuy nhiên trong quá trình hịa giải, hai bên đã tự thỏa thuận được vấn đề này).
Ý kiến của Bị đơn đối với yêu cầu của Nguyên đơn: Nguyễn Văn Nguyệt
- Về quan hệ hơn nhân: đồng ý ly hơn với chị Hồng Thị Hảo.
- Về con chung: ban đầu đề nghị được nuôi cả hai con, sau đó anh Nguyệt muốn
nuôi bé Đức Anh, cịn bé Nhi để cho chị Hảo ni và không yêu cầu cấp dưỡng;
- Về quan hệ tài sản: không chấp nhận chia đôi nhà đất tại Thửa đất 496, tờ bản
đồ số 01, diện tích 216 m 2 tại xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương vì cho rằng đây
không phải là tài sản chung mà là đất của bà Nguyễn Thị Thoa – mẹ anh Nguyệt. Anh
Nguyệt chỉ đồng ý chia đôi tài sản trên đất. Đối với mảnh đất có diện tích 1965 m 2 đất
ruộng, ao khốn thì ban đầu anh Nguyệt khơng đồng ý chia cho chị Hảo vì cho rằng
trước đây chỉ có anh đứng ra thuê, trả tiền thuê và chỉ có anh bỏ công sản xuất, xây
dựng, chăn nuôi; sau đó hai bên đã tự thỏa thuận với nhau về vấn đề này ổn thỏa.
- Về khoản nợ chung của cả hai tại Ngân hàng NN&PTNT, anh Nguyệt nhận trả
hết, không yêu cầu chị Hảo trả nợ cùng.
a.
Những nội dung đã thống nhất:
−
Về ly hôn: thống nhất ly hôn
−
Về tài sản chung:
+ Các tài sản gắn liền với đất gồm: nhà cấp 4, bể nước, giếng, tường bao, 03 bụi
chuối. Đồng thời thống nhất giá trị tài sản như sau: giá đất ở là 3,000,000
đồng/m2, giá đất trồng cây lâu năm là 300,000 đồng/m2, tài sản trên đất có giá trị
4,100,000 đồng.
+ Thống nhất khơng giải quyết đối với diện tích 1,950m2 đất thuê khoán tại
UBND xã Thượng Đạt tại Bãi Nam.
b.
−
−
Những nội dung chưa thống nhất:
Về con chung: Bà Hảo u cầu ni cả hai con chung. Ơng Nguyệt u cầu ni
dưỡng cháu Đức Anh, cịn cháu Nhi thì giao cho bà Hảo nuôi dưỡng.
Về tài sản chung:
+ Đối với những tài sản gắn liền với đất: Không thống nhất cách chia tài sản trên
đất; Bà Hảo không yêu cầu chia tài sản, trong khi đó ông Nguyệt muốn được
nhận hiện vật và trả giá trị phần của bà Hảo bằng tiền.
+ Về quyền sử dụng đất: Bà Hảo cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng
nhưng ông Nguyệt khơng đồng ý vì đây là tài sản của bố mẹ ông Nguyệt và các
anh em ông Nguyệt đóng góp mua, yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất mang tên ông Nguyệt bà Hảo.
Bài thu hoạch – Hồ sơ 07
Page 5
II. CHỨNG CỨ CHỨNG MINH CHO YÊU CẦU KHỞI KIỆN LÀ CÓ CĂN
CỨ
−
Chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị Hảo;
−
Giấy chứng nhận kết hơn của Ơng Nguyễn Văn Nguyệt và Nguyễn Thị Hảo;
−
Sổ hộ khẩu gia đình;
−
Giấy khai sinh cháu Nguyễn Đức Anh và cháu Nguyễn Thị Nhi;
−
Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng số H.497 cấp ngày 31/12/2005;
−
Đơn đề nghị của cháu Nguyễn Thị Nhi ngày 20/01/2016 và của cháu Nguyễn Đức
Anh 22/01/2016 và 05/7/2016;
−
Biên bản lấy lời khai ông Nguyệt ngày: 18/01/2016, 23/02/2016, 11/5/2016;
−
Biên bản lấy lời khai bà Hảo các ngày: 18/01/2016, 23/02/2016, 16/5/2016;
−
Biên bản lấy lời khai ngày 29/02/2016 đối với anh Hiếu – Đại diện Ngân hàng
Agribank chi nhánh TP. Hải Dương; Sổ vay vốn của anh Nguyệt với Ngân hàng
Agribank chi nhánh TP. Hải Dương;
−
Biên bản lấy lời khai ngày 09/3/2016 đối với ông Giới, ông Tỏ, ông Tạo;
−
Biên bản lấy lời khai ngày 21/03/2016 đối với ông Quyết, Cương, Chuyển;
−
Biên bản xác minh ngày 09/3/2016 của Tịa án đối với ơng Tự;
−
Biên bản lấy lời khai ngày 06/5/2016 đối với bà Thoa; ngày 31/5/2016 của Tịa án
đối với ơng Cang;
−
Cơng văn trả lời số 214/UBND-TNMT ngày 17/5/2016 của UBND huyện Nam
Sách gửi Tòa án nhân dân TP. Hải Dương;
−
Biên bản hòa giải ngày 19/5/2016, 17/6/2016, 12/7/2016;
−
Biên bản xem xét, thẩm định tại chổ ngày 31/5/2016;
−
Công văn trả lời ngày 10/6/2016 của UBND TP. Hải Dương gửi Tòa án Nhân dân
TP. Hải Dương;
−
Biên bản số 24/BB-UBND ngày 08/6/2016 xét duyệt nguồn gốc sử dụng đất của
ông Nguyệt và bà Hảo lập bởi UBND xã Thượng Đạt;
−
Biên bản xác minh ngày 15/6/2016 và 23/6/2016 của Tịa án đối với ơng Bích
III. KẾ HOẠCH XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM
1. Hỏi nguyên đơn – Hoàng Thị Hảo:
− Chị cho biết nguyên nhân Chị muốn ly hơn với anh Nguyệt là gì?
− Cơng việc của bà là gì? bà có ký hợp đồng lao động không?
− Tại sao bà lại muốn nuôi cả hai cháu?
− Các con có chứng kiến cảnh ông bà tranh cãi hay không? Bà có thường xuyên bỏ về
nhà mẹ đẻ khi có tranh cãi hay không? Có đem theo các con hay khơng?
− Nguồn tài chính để sử dụng cho sinh hoạt chi tiêu hằng ngày trong gia đình lấy từ
Bài thu hoạch – Hồ sơ 07
Page 6
nguồn nào?
− Vì sao ơng bà quyết định xây nhà ra ở riêng? Trước khi khởi công xây dựng căn nhà
thì có trao đổi gì giữa anh chị và bố mẹ về việc nhà đất không? Các anh chị em của
ơng Nguyệt có ai có ý kiến gì khơng?
− Có ai có khiếu nại với UBND việc vợ chồng bà có tên trên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất chứ không phải của bố mẹ ông Nguyệt không?
− Việc vợ chồng ông bà sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đi vay tiền có ai
biết không? Có ai phản đối gì khơng?
2. Hỏi Ngun đơn – Nguyễn Văn Nguyệt:
−
−
−
−
−
−
−
Những lần bà Nguyệt về thăm cháu Anh, ông có phản đối hay khơng?
Ơng đang làm cơng việc gì, thu nhập bao nhiêu, có ổn định hay không?
Hiện nay ông có đang sống chung với bố mẹ hay không?
Khi ông đi làm, ai sẽ chăm sóc cháu Anh?
Ông có thay đổi ý kiến về việc chia tài sản hay không?
Khi biết UBND đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cả hai vợ chồng,
ông có ý kiến phản đối gì khơng?
Về diện tích đất 216 m2, trong quá trình sử dụng và xây dựng tài sản đất, bà Hảo
có cơng sức tạo lập gì khơng? Có đóng góp gì khơng? Hai ơng bà có thực hiện nghĩa
vụ thuế cho nhà nước khơng?
3. Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Thoa:
− Bà cho biết, vợ chồng ông Nguyệt có thường xuyên xảy ra mâu thuẫn hay
không? Những lần mâu thuẫn đó, ông bà có đứng ra hịa giải cho hai vợ chồng
khơng?
− Bà cho vợ chồng ông Nguyệt và bà Hảo ở và xây dựng nhà trên đất từ thời gian
nào? Viêc vợ chồng anh Nguyệt xây dựng nhà ở trên thửa đất số 496, ông bà có
biết không, có phản đối không?
− Bà có biết việc UBND cấp GCN QSDĐ cho Ông Nguyệt và Bà Hảo không?
Nếu biết tại sao lại không có ý kiến về việc cấp giấy đó với chính quyền?
− Từ năm 1999 đến nay, bà có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với thửa đất số
496 không?
− Bà có biết vợ chồng ông Nguyệt vay vốn Ngân hàng và đã thế chấp GCN
QSDĐ chưa?
Đại diện UBND thành phố Hải Dương:
− Ơng/bà có ý kiến gì đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ đứng tên ông
Nguyễn Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo?
IV. BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN
Kính thưa Hội đồng xét xử.
Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát và Quý Luật sư đồng nghiệp,
Bài thu hoạch – Hồ sơ 07
Page 7
Tơi là Luật sư
, từ Cơng ty Luật TNHH
thuộc Đồn luật sư thành phố Hồ
Chí Minh. Hơm nay, tơi tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho nguyên đơn là bà Hồng Thị Hảo (Nguyễn Thị Hảo) trong vụ án “Ly
hơn, tranh chấp con chung và tài sản chung”.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các chứng cứ mà các bên cung cấp theo đúng quy
định của pháp luật, qua phiên xét hỏi cơng khai tại phiên tịa ngày hơm nay, tơi xin
trình bày một số quan điểm pháp lý như sau:
1. Về u cầu ly hơn
Xét thấy tình trạng hơn nhân của ông Nguyệt và bà Hảo không thể kéo dài, mục
đích hơn nhân khơng đạt được theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và
Gia đình năm 2014. Đồng thời cả hai ơng bà cũng đã thống nhất với nhau về việc ly
hơn. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử công nhận việc ly hơn của bà Hồng Thị Hảo và
ơng Nguyễn Văn Nguyệt.
2. Về yêu cầu nuôi con
Bà Hảo yêu cầu được nuôi cả 02 con và không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng.
Xét thấy bà hồn tồn có điều kiện để ni các cháu, tôi đề nghị HĐXX xem xét để
thân chủ tôi được quyền nuôi dưỡng cả cháu Nhi và cháu Đức Anh để bảo đảm quyền
lợi tốt nhất cho các cháu bởi các lẽ sau:
Thứ nhất,
Việc thân chủ của tôi muốn được nuôi cả hai con là yêu cầu vô cùng dễ hiểu, xuất
phát từ tình cảm của một người mẹ, khơng muốn của các con mình bị chia rẽ, xa cách.
Theo Điều 58 và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì vợ chồng tự thỏa thuận
về việc nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên khi ly hơn, nếu khơng thỏa thuận
được thì tịa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng căn cứ vào
quyền lợi mọi mặt của con, nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải căn cứ vào nguyện
vọng của con.
Xét việc nuôi dưỡng cháu Nhi đã được ơng Nguyệt đồng ý theo như lời trình bày
tại các biên bản hòa giải ngày 19/5/2016, ngày 17/6/2016 và ngày 12/7/2016. Đồng
thời, cháu Nhi cũng có Đơn đề nghị ngày 20/01/ 2016 là muốn được ở với mẹ nếu bố
mẹ cháu ly hôn.
Về việc nuôi dưỡng cháu Đức Anh, vì cháu đã trên 07 tuổi nên cũng cần xem xét
đến nguyện vọng của cháu. Đơn đề nghị ngày 22/01/2016 của cháu Đức Anh đã trình
bày như sau: “Nếu bố mẹ cháu không ở với nhau nữa cháu xin được ở với mẹ là
Nguyễn Thị Hảo”. Ngoài ra, tại Biên bản lấy lời khai của cháu Đức Anh ngày
05/7/2016 cháu có nguyện vọng rằng: “Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu xin được ở với
mẹ cháu”, văn bản này có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thoa là bà nội của cháu.
Có thể thấy rằng đến thời điểm hiện tại, cháu Đức Anh vẫn mong muốn được ở với mẹ
của cháu là bà Nguyễn Thị Hảo. Cháu Đức Anh đang tuổi ăn – tuổi lớn, đây là lứa tuổi
có nhiều biến động về mặt tâm sinh lý, nên việc cho hai chị em sống cùng với nhau sẽ
giúp bảo đảm sự phát triển tốt nhất về thể chất cũng như tinh thần của cháu Đức Anh.
Bài thu hoạch – Hồ sơ 07
Page 8
Thứ hai,
Về vấn đề kinh tế và khả năng nuôi dưỡng, bà Hảo có mức thu nhập hàng tháng
từ 4.000.000 – 6.000.000 đồng/tháng với công việc ổn định tại công ty Trấn An, thời
gian làm việc từ 8-12 giờ/ ngày. Bà Hảo có thể dùng khoản tiền lương trên để chăm lo
cho các cháu ăn học và chi trả các khoản phí sinh hoạt hằng ngày. Cháu Nhi hiện nay
đã lớn và cháu có thể phần nào tự lo cho bản thân cũng như phụ giúp bà Hảo hướng
dẫn và trơng nom em của mình.
Bên cạnh đó, hiện tại thân chủ tơi đang sống chung với mẹ của mình nên bà Hảo
sẽ có sự phụ giúp trong việc trông nom hai cháu, chăm sóc, đưa đón các cháu đi học.
Nói cách khác, bà Hảo hoàn toàn có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng hai con mà
không cần đến nguồn cấp dưỡng của anh Nguyệt.
Thứ ba,
Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn trong q trình cịn chung sống với nhau là do
anh Nguyệt thường xuyên chửi bới, đánh đập vợ con mỗi khi đi chơi về. Trước một
người có tính vũ phu và hay dùng bạo lực như thế, e rằng ông Nguyệt sẽ có nguy cơ
làm cháu Đức Anh bị tổn hại về mặt tinh thần và ảnh hưởng ít nhiều đến sự phát triển
nhân cách trong tương lai nếu để cháu tiếp tục sống với bố. Bị đơn cịn có hành vi cấm
cản, khơng để bà Hảo thăm nom cháu Đức Anh và có hành vi đánh cháu nếu hai mẹ
con gặp nhau. Việc ơng Nguyệt cấm đốn cháu Đức Anh, khơng cho cháu gặp mẹ
được chính quyền và bà con hàng xóm láng giềng đều biết. Cụ thể là ông Đỗ Văn Tư –
cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt cũng đã xác nhận thực tế này thông qua Biên bản xác
minh ngày 09/3/2016 tại Bút lục số 73-74. Như vậy, nếu giao cháu Đức Anh cho ông
Nguyệt thì sau khi ly hôn quyền được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu
Đức Anh của thân chủ tôi theo khoản 2 Điều 83 Luật HNGĐ 2014 khơng được bảo
đảm.
Từ những phân tích trên, có thể thấy thân chủ tơi là người thích hợp để ni dạy
hai cháu bởi bà Hảo hoàn toàn có đủ điều kiện về kinh tế, chỗ ở và có đầy đủ sự quan
tâm chăm sóc về thể chất, tinh thần cho cả hai cháu. Tơi kính đề nghị HĐXX chấp
thuận u cầu của thân chủ tôi để thân chủ tôi được nuôi dưỡng cháu Nhi và cháu Đức
Anh.
3. Về tài sản chung của vợ chồng
Về thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 mét vng:
Tơi cho rằng phần đất này là tài sản chung của bà Hảo và ông Nguyệt trong thời
kỳ hôn nhân bởi những lý do sau:
Thứ nhất, căn cứ vào biên bản xác minh nguồn gốc đất của cán bộ địa chính xã
Phượng Đạt, lời khai của các bên liên quan và Công văn của Phịng Tài ngun và Mơi
trường TP. Hải Dương ngày 10/6/2016 khẳng định về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là “GCNQSDĐ”) cho hộ gia đình ơng Nguyệt
và bà Hảo là đúng theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và Nghị định
181/2004/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành luật đất đai. Như vậy GCNQSDĐ được Ủy
ban nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005 mang tên ông
Bài thu hoạch – Hồ sơ 07
Page 9
Nguyệt và bà Hảo là đúng thẩm quyền và đúng căn cứ, nguồn gốc sử dụng đất theo
quy định của pháp luật. Theo GCNQSDĐ trên, tên người sử dụng đất bao gồm ông
Nguyệt Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo. Theo đó, tài sản này được tạo lập trong
thời kỳ hôn nhân của chị Hảo và anh Nguyệt. Đây là cơ sở quan trọng để chứng minh
rằng miếng đất này là tài sản chung của vợ chồng.
Thứ hai, trong quá trình xây dựng nhà ở và các tài sản trên thửa đất trên, bố mẹ
và những người anh em của anh Nguyệt khơng có ý kiến phản đối gì. Anh Nguyệt đã
thừa nhận rằng đây là mảnh đất do bố mẹ anh cho hai vợ chồng xây dựng nhà và cơng
trình phụ trên đất để ra ở riêng (theo Biên bản lấy lời khai của anh Nguyễn Văn
Nguyệt vào ngày 18 /01/ 2016).
Thửa đất này đã được cấp GCNQSDĐ cho hai vợ chồng từ năm 2005 một cách
hợp pháp và trong suốt thời gian đó đến này không hề phát sinh bất kỳ tranh chấp nào.
Tính từ thời điểm anh Nguyệt chị Hảo có GCN đến nay đã hơn 10 năm, chính anh
Nguyệt và ơng Cang, bà Thoa – ba mẹ đẻ của anh, cũng như các thành viên trong gia
đình anh đã biết nhưng khơng có ý kiến phản đối gì. Cụ thể là khi ơng Nguyệt và bà
Hảo đã được cấp GCNQSDĐ, và khi hai vợ chồng mang GCNQSDĐ thế chấp ngân
hàng thì bà Thoa, ơng Cang và tất cả các thành viên khác trong gia đình ơng Nguyệt
đều biết nhưng không phản đối, thắc mắc hay tranh chấp (Biên bản hòa giải ngày
19/5/2016 tại Bút lục số 115-120). Hơn nữa, theo Biên bản xác minh của Tòa án với
ơng Bích – cán bộ địa chính xã Thượng Đạt ngày 23/6/2016 tại bút lục số 163-164 đã
xác nhận rằng kể từ khi được cấp GCNQSDĐ đến nay ông Nguyệt và bà Hảo sử dụng
đất ổn định không có trông chấp với các hộ xung quanh cũng như với ông Cang, bà
Thoa và các thành viên khác trong gia đình ơng Nguyệt. Đều này cho thấy rằng suốt
thời gian qua bị đơn và gia đình của mình đã đồng ý đây là tài sản chung của hai vợ
chồng, thế nhưng vì bà Hảo đề nghị tồ án giải quyết ly hơn nên phía bị đơn mới
khẳng định đây là tài sản riêng, tôi cho rằng ý kiến của bị đơn là không có cơ sở pháp
lý, không hợp cả về lý lẫn về tình.
Thứ ba, việc anh Nguyệt cho rằng mình khơng đứng ra kê khai để làm
GCNQSDĐ mà là do UBND tự cấp giấy cho gia đình anh là không có cơ sở pháp lý.
Tại Bản Xác minh ngày 6/5/2016, cơng chức địa chính xã là ơng Nguyễn Văn Bích đã
khẳng định thủ tục cấp GCNQSDĐ cho Nguyệt và Hảo là đúng theo quy định của
pháp luật. Theo Cơng văn ngày 12/6/2016 của Phịng Tài ngun và Mơi trường –
UBND thành phố Hải Dương, UBND đã cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng dất cho
những hộ gia đình có đơn đề nghị, Phịng Tài ngun và mơi trường khẳng định trình
tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyệt và chị Hảo là đúng
theo quy định pháp luật đất đai. Bên cạnh đó, Cơng văn ngày 20/6/2018 Phịng Tài
ngun và Mơi trường TP. Hải Dương gửi TAND TP. Hải Dương đã thể hiện rằng:
“Không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 496,
tờ bản đồ số 01 của anh Nguyệt, bà Thoa, ông Cang”. Ý kiến của UBND Thành phố
Hải Dương tại Biên bản hòa giải ngày 17/06/2016 cũng một lần nữa khẳng định việc
cấp GCN này là hợp pháp và bác yêu cầu hủy GCN của anh Nguyệt và gia đình anh.
Bài thu hoạch – Hồ sơ 07
Page 10
Thứ tư, căn cứ vào Án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tịa án
nhân tối cao thơng qua ngày 06/4/2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐCA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có nội dung như sau:
“Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người
con đã xây dựng, nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người
con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình khơng có ý kiến
phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và
đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp GCNQSDĐ thì phải xác định vợ chồng người
con đã được tặng cho quyền sử dụng đất”.
Từ năm 1999, sau khi kết hơn thì bà Hảo và ơng Nguyệt đã được gia đình ơng
Nguyệt cho vợ chồng bà ra làm nhà trên thửa 496. Sau đó, gia đình bà Hảo và ơng
Nguyệt đã xây dựng nhà cửa và sinh sống lâu dài trên mảnh đất đó trước sự chứng
kiến và thừa nhận của hàng xóm láng giềng. Hơn nữa trong thời gian sinh sống thì hai
vợ chòng có đứng ra thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho thứa 496 và thực hiện tôn tạo
thửa đất này.Vậy có thể thấy gia đình ơng Nguyệt bà Hảo đã sử dụng nhà, đất liên tục,
công khai, ổn định, tiến hành kê khai đất năm 2001 và được cấp GCNQSDĐ ngày
31/12/2005. Như vậy, trong vụ án ly hôn này, gia đình thân chủ tơi đã được tặng cho
quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên. Với những tình tiết tương đồng, tơi đề
nghị HĐXX áp dụng Án lệ số 03/2016/AL để công nhận quyền sử dụng đất đối thửa
đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 theo GCNQSDĐ cấp ngày 31/12/2005 là
tài sản chung của vợ chồng thân chủ tôi.
Thứ năm, từ những tình tiết là Luật sư đã trình bày, có thể thấy anh Nguyệt
không cung cấp được chứng cứ nào để chứng minh đây là tài sản riêng của gia đình
anh. Theo quy định tại khoản 3 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình thì khi khơng có căn
cứ để chứng minh rằng tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của
mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung, tức là thửa đất 496 vẫn đang là tài sản
chung của hai vợ chồng. Căn cứ khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ 2014, yêu cầu của thân
chủ chúng tôi về việc chia đôi diện tích đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích
216 m2 là có cơ sở.
Vì các lý do trên, tôi yêu cầu công nhận thửa đất số thửa 496, tờ bản đồ số 01,
diện tích 216 m2 đất tại xã Thượng Đạt, Tp. Hải Dương là tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân của anh Nguyệt và chị Hảo; yêu cầu chia đôi tài sản bằng hiện vật. Chị Hảo
với thiện chí khơng cần chia tài sản trên đất mà tình nguyện nhận phần đất khơng có
tài sản.
Về Hợp đồng thuê khoán 1965 m2 đất ruộng:
Theo Biên bản hòa giải ngày 17/06/2016, hai bên thống nhất tự thỏa thuận đối
với phần tài sản này trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó tơi xin bỏ qua phần này.
4. Về nợ chung
Về phần nợ chung của gia đình bà Hảo và ơng Nguyệt với Ngân hàng phát triển
Nông thôn Việt Nam ông Nguyệt đã chấp nhận trả hết số nợ một mình nên kính mon
HĐXX chấp nhận, không buộc thân chủ tôi phải chịu trách nhiệm liên đới thanh toán
Bài thu hoạch – Hồ sơ 07
Page 11
khoản nợ này.
Từ những phân tích, lập luận nêu trên, kính đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu
của thân chủ tôi như sau:
1. Công nhận vấn đề ly hôn giữa chị Hảo và anh Nguyệt;
2. Về con chung: Yêu cầu được nuôi hai con chung là Nguyễn Thị Nhi sinh ngày
4/1/2000 và Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/6/2007; không yêu cầu anh Nguyệt cấp
dưỡng.
3. Về tài sản chung: Yêu cầu chia đôi bằng hiện vật thửa đất số 496, tờ bản đồ
số 01, diện tích 216m2 có địa chỉ tại xã Thượng Đạt huyện Nam Sách tỉnh
Hải Dương đã được bởi UBND Huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/12/2005.
4. Về nợ chung: bà Hảo khơng phải liên đới thanh tốn vì anh Nguyệt đã chấp nhận trả
hết số nợ.
Trên đây là phần trình bày bản luận cứ của tơi, kính mong Hội đồng xét xử xem
xét và giải quyết theo quy định pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho thân
chủ tơi là hồn tồn chính đáng.
Xin chân thành cảm ơn sự lắng nghe của Hội đồng xét xử./.
Bài thu hoạch – Hồ sơ 07
Page 12