Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (529.02 KB, 71 trang )
<span class='text_page_counter'>(1)</span>LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo Nguyễn Thị Thu Hoàn, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này. Mặc dù rất bận rộn với lịch trình công tác, cô luôn dành thời gian định hướng, hướng dẫn cũng như chia sẻ những tài liệu hữu ích để giúp đỡ em trong suốt quá trình tìm hiểu và nghiên cứu. Không chỉ đứng trên cương vị là một người thầy hướng dẫn khóa luận, cô còn chia sẻ với chúng em những kinh nghiệm học tập, phỏng vấn của bản thân và những cơ hội thực tập, cơ hội việc làm quý báu. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Kinh tế quốc tế nói riêng và toàn thể các thầy cô giáo trong Học viện Ngoại giao nói chung, bằng tri thức và tâm huyết của mình, các thầy cô đã truyền đạt những vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường. Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Học viện Ngoại giao, các thầy cô công tác tại thư viện Ngoại Giao đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận này. Và cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè thân yêu của em đã luôn ủng hộ, giúp đỡ và động viên em trong những lúc khó khăn và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong quá trình học tập và đặc biệt là trong thời gian thực hiện bài khóa luận. Em xin kính chúc các thầy cô luôn dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong sự nghiệp trồng người. Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 2015 Sinh viên thực hiện Nguyễn Thu Huyền.
<span class='text_page_counter'>(2)</span> MỤC LỤC DANH MỤC VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG, BIỂU Đ MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN........................................................................1 1.1. Khái quát về ODA........................................................................................1 1.1.1. Khái niệm ODA...........................................................................................1 1.1.2. Phân loại ODA............................................................................................1 1.1.2.1. Theo mục đích sử dụng............................................................................1 1.1.2.2. Theo tính chất nguồn vốn.........................................................................2 1.1.2.3. Theo điều kiện..........................................................................................4 1.1.2.4. Theo nguồn cung cấp...............................................................................4 1.1.3. Các nước viện trợ và nước nhận viện trợ lớn trên thế giới..........................5 1.1.3.1. Nhà tài trợ chính:......................................................................................5 1.1.3.2. Nước nhận viện trợ chính.........................................................................8 1.1.4. Động cơ của viện trợ.................................................................................10 1.1.5. Vai trò chung của ODA.............................................................................12 1.1.5.1. Đối với nước nhận viện trợ....................................................................12 1.1.5.2. Đối với nước viện trợ.............................................................................14 1.2. TỔNG QUAN VỀ ĐÀI LOAN..................................................................14 1.2.1. Trình độ phát triển kinh tế:........................................................................14 1.2.2. Đặc điểm về mặt chính trị.........................................................................16 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC ODA CỦA ĐÀI LOAN TỪ NĂM 1996 ĐẾN NAY........................................20 2.1. Sự ra đời của Quỹ Phát triển Hợp tác Quốc tế Đài Loan.......................20.
<span class='text_page_counter'>(3)</span> 2.1.1. Lịch sử ra đời.............................................................................................20 2.1.2. Mục tiêu.....................................................................................................21 2.2. Chính sách viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Đài Loan...........22 2.2.1. Lý do Đài Loan cung cấp viện trợ.............................................................22 2.2.2. Nước tiếp nhận viện trợ chính của Đài Loan.............................................25 2.2.3. Cách thức cung cấp viện trợ của Đài Loan................................................26 2.2.4. Các loại viện trợ........................................................................................29 2.2.5. Số lượng và chất lượng ODA....................................................................32 2.3. Triển vọng...................................................................................................34 2.4. Các vấn đề tồn đọng...................................................................................36 2.5. Quá trình viện trợ ODA của Đài Loan cho Vương quốc Swaziland.....38 2.5.1. Tổng quan về Vương quốc Swaziland......................................................38 2.5.2. Mối quan hệ giữa Đài Loan và Swaziland................................................39 2.5.3. Viện trợ ODA Đài Loan cung cấp cho Swaziland....................................39 2.5.4. Hiệu quả từ những dự án viện trợ..............................................................40 CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA .............................................................................................................................44 3.1. Thực trạng thu hút nguồn vốn ODA vào Việt Nam................................44 3.1.1. Tình hình chung.........................................................................................44 3.1.2. Thực trạng thu hút ODA của Đài Loan vào Việt Nam..............................47 3.2. Bài học kinh nghiệm từ Swaziland trong việc thu hút ODA Đài Loan vào Việt Nam......................................................................................................48 3.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA tại Việt Nam.............................................................................................51 3.3.1. Cơ chế chính sách......................................................................................52 3.3.2. Bộ máy quản lý:.........................................................................................53.
<span class='text_page_counter'>(4)</span> 3.3.3. Sử dụng ODA............................................................................................54 3.3.4. Cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn..................................55 KẾT LUẬN PHỤ LỤC DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
<span class='text_page_counter'>(5)</span> DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt ADB DAC GDP GNI MOFA ODA OECD TaiwanICDF UN WB. Nghĩa đầy đủ Ngân hàng phát triển châu Á Ủy ban Hỗ trợ Phát triển Tổng sản phẩm quốc nội Tổng sản phẩm quốc dân Bộ Ngoại giao Viện trợ phát triển chính thức Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế Quỹ Phát triển Hợp tác Quốc tế Đài Loan Liên Hợp Quốc Ngân hàng thế giới.
<span class='text_page_counter'>(6)</span> DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ BẢNG Bảng 1.1 - 10 nước tiếp nhận ODA lớn nhất thế giới năm 2013..........................9 Bảng 1.2 – Các nước nhận viện trợ trên đầu người lớn nhất năm 2013................9 Bảng 2.1 - Số liệu thống kê viện trợ phát triển chính thức ODA của Đài Loan giai đoạn 2008-2013............................................................................................32 Bảng 3.1-34 quốc gia được tài trợ bởi chương trình Hội cựu sinh viên của TaiwanICDF........................................................................................................48. BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1 – Viện trợ phát triển chính thức ròng năm 2014................................6 Biểu đồ 2.1 - Tổng kinh phí viện trợ theo dự án năm 2013................................30 Biểu đồ 2.2 – Tổng khối lượng ODA của các thành viên DAC/OECD năm 2013...33 Biểu đồ 2.3 – Tỷ lệ ODA/GNI của các thành viên DAC/OECD năm 2013.......34 Biểu đồ 3.1: Cam kết, ký kết, giải ngân vốn ODA thời kỳ 1993 – 2012............45.
<span class='text_page_counter'>(7)</span> MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) được đánh giá là một nguồn ngoại lực quan trọng đối với các nước đang phát triển trong việc thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mình. Những cải cách đúng đắn trong nước cùng với sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế, chủ yếu thông qua việc cung cấp ODA đã góp phần chuyển đổi Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất thế giới cách đây 25 năm trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình thấp (thu nhập bình quân đầu người năm 2011 là 1.260 USD). Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đã bước vào ngưỡng của một quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp, các nhà tài trợ sẽ điều chỉnh giảm dần nguồn viện trợ, nhường nguồn vốn này cho các nước nghèo hơn. Việt Nam vẫn rất cần ODA do các lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo của nước ta cần lượng vốn lớn, lại khó thu hút vốn từ tư nhân vì thời gian thu hồi vốn dài và chậm, trong khi đó, vốn ODA đáp ứng đủ các yêu cầu trên. Một giải pháp để Việt Nam có thể chủ động ứng phó với những thay đổi đó là thu hút và sử dụng hiệu quả vốn ODA từ nhiều nguồn cung cấp khác nhau, đa dạng các nhà tài trợ. Bên cạnh các quốc gia cung cấp ODA truyền thống trên thế giới, Đài Loan đang được chú ý tới như một nhà tài trợ mới nổi. Nghiên cứu quá trình viện trợ nước ngoài của vùng lãnh thổ này từ đó có giải pháp thu hút nhiều hơn nữa những viện trợ từ Đài Bắc là một hướng đi hợp lý trong tình hình Việt Nam hiện nay. Hơn nữa, quá trình chuyển đổi từ một nước tiếp nhận viện trợ sang một nhà tài trợ ODA của Đài Loan là một ví dụ mà Việt Nam nên học hỏi, rút kinh nghiệm khi mà trong thời gian tới nước ta sẽ buộc phải chuyển từ một nước tiếp nhận sang cung cấp ODA. Vì những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Thực trạng viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Đài Loan giai đoạn 1996 2014” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp..
<span class='text_page_counter'>(8)</span> 2. Lịch sử nghiên cứu Vấn đề viện trợ nước ngoài của Đài loan từ lâu đã là một chủ đề gây tranh cãi. Người ta luôn hoài nghi về mục đích thực sự của Đài Bắc đằng sau việc cung cấp những khoản viện trợ ODA không hề nhỏ cho các nước đang phát triển ở khắp châu Phi, châu Mỹ Latinh, châu Á – Thái Bình Dương hay ở vùng biển Caribe. Do đó, đã có không ít học giả quan tâm và tiến hành nghiên cứu về vấn đề này. Trước hết, phải kể đến hai cuốn sách “Taiwan as an Emerging Foreign Aid Donor: Developments, Problems, and Prospects” (Đài Loan - một nhà tài trợ mới nổi: Thực trạng, vấn đề, và triển vọng) của tác giả Gerald Chan được xuất bản bởi nhà xuất bản Pacific Affairs năm 1997 và cuốn “Dollars and Diplomacy: Instrumentality of Foreign Aid –Taiwan and Korea” (Đồng đô la và Ngoại giao: Phương tiện của Viện trợ nước ngoài - Đài Loan và Hàn Quốc) của các tác giả Mandy, Hsiao-chuan Liao Eun Jeong Soh, được xuất bản vào năm 2009 bởi Trường Đại học Nam Carolina. Hai cuốn sách đã cung cấp cho độc giả cái nhìn tổng quát về nguyên nhân, đối tượng, chính sách viện trợ ODA của Đài Loan, đồng thời cũng phân tích những điểm tích cực, triển vọng cũng như những mặt hạn chế trong quá trình Đài Bắc cung cấp các khoản viện nước ngoài. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1.. Đối tượng nghiên cứu Bên cạnh những nhà tài trợ ODA lớn truyền thống trên thế giới như Hoa. Kỳ hay Nhật Bản, Đài Loan đang nổi lên với vai trò là một nhà tài trợ ODA mới nổi trong bối cảnh nguồn vốn toàn cầu eo hẹp do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Nguyên nhân, quá trình cung cấp các khoản viện trợ phát triển chính thức, triển vọng và hạn chế của chính sách viện trợ nước ngoài của Đài Loan sẽ là đối tượng nghiên cứu chính trong bài để từ đó liên hệ với trường hợp của Việt Nam. 3.2.. Phạm vi nghiên cứu Về mặt nội dung, phạm vi nghiên cứu tập trung về phân tích các động cơ. viện trợ, thực tế viện trợ và triển vọng viện trợ ODA của Đài Loan để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp cho Việt Nam..
<span class='text_page_counter'>(9)</span> Về mặt không gian, phạm vi nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề liên quan đến viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Đài Loan. Về mặt thời gian, các vấn đề được nghiên cứu sau thời điểm thành lập Quỹ Phát triển Hợp tác Quốc tế Đài Loan năm 1996 đến nay. 4.. Mục đích nghiên cứu của đề tài Đề tài đã hệ thống lại những kiến thức cơ bản về viện trợ phát triển chính. thức (ODA), đưa ra cái nhìn tổng quát nhất về cơ sở lý luận nghiên cứu đồng thời đi sâu phân tích quá trình viện trợ ODA của Đài Loan cho các nước nhỏ đang phát triển, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp giúp Việt Nam thu hút và sử dụng hiệu quả hơn nguồn vốn ODA. 5.. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu bao gồm: phương. pháp thu thập dữ liệu, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích thông tin, đối chiếu – so sánh. Thêm vào đó, khóa luận kết hợp biểu đồ, bảng biểu… để trình bày thông tin và phân tích nhằm làm rõ hơn diễn biến tình hình nhằm tìm ra nguyên nhân, xu hướng của hiện tượng. Nguồn tài liệu đã sử dụng gồm một số cuốn sách tham khảo về viện trợ nước ngoài của Đài Loan, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, các báo cáo thường niên của Quỹ Phát triển Hợp tác Quốc tế Đài Loan, của Bộ Ngoại giao Đài Loan, Vụ Kinh tế đối ngoại – Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng dữ liệu từ các trang web chính thức của Bộ Ngoại giao Đài Loan, Taiwan ICDF… các tạp chí và tài liệu tham khảo khác. 6.. Đóng góp dự kiến của khóa luận Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu quá trình viện trợ ODA của Đài Loan. trong giai đoạn từ năm 1996 đến nay, có thể thấy rằng Đài Bắc luôn ưu tiên cung cấp viện trợ nước ngoài cho các nước thể hiện thái độ thân thiện và tinh thần hợp tác hữu nghị với vùng lãnh thổ này. Ngoài ra, những lĩnh vực mà Đài Loan có thế mạnh như kỹ thuật nông nghiệp là lĩnh vực dễ thu hút được nguồn vốn ODA từ nhà tài trợ này. Từ đó, ta có thể đề xuất một số các giải pháp để thu hút nhiều hơn nữa viện trợ phát triển chính thức từ Đài Loan, bên cạnh những.
<span class='text_page_counter'>(10)</span> nước cung cấp ODA truyền thống là thành viên của Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC) như Nhật Bản hay Hoa Kỳ. Đây là những đóng góp dự kiến, tác giả hy vọng sẽ giúp các độc giả, các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề viện trợ ODA với vai trò vừa là công cụ kinh tế, vừa là công cụ ngoại giao, có thêm tài liệu tham khảo và góp phần giúp các cơ quan nhà nước, các nhà hoạch định chính sách có thể tham khảo những bài học kinh nghiệm và giải pháp để có thể thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn viện trợ tiềm năng này. 7.. Bố cục của khóa luận Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục kèm theo, bài khóa luận được. chia thành 3 chương chính: Chương 1: Cơ sở lý luận Đây là chương mở đầu đưa ra khái niệm, các đặc trưng cơ bản, và các cách phân loại ODA, đồng thời cung cấp những hiểu biết chung nhất về Đài Loan để giúp người đọc có thể hiểu được những lý thuyết cơ bản về viện trợ phát triển chính thức, đồng thời nắm được các đặc điểm cơ bản của quốc gia đang nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng viện trợ phát triển chính thức ODA của Đài Loan từ năm 1996 đến nay Từ việc nghiên cứu thực tiễn tình hình cung cấp viện trợ phát triển chính thức ODA của Đài Loan, chương 2 đưa ra các động cơ viện trợ ODA của Đài Loan, cách thức cung cấp viện trợ, cũng như đánh giá triển vọng và các vấn đề còn tồn đọng trong chính sách cung cấp ODA của Đài Bắc. Cuối chương 2, tác giả nghiên cứu case study quá trình viện trợ ODA của Đài Loan cho một quốc gia châu Phi là Vương quốc Swaziland. Chương 3: Bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp cho Việt Nam trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA Chương cuối cùng này sẽ tìm hiểu về tình hình thực tế thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Việt Nam từ tất cả các nhà tài trợ nói chung và từ Đài Loan nói riêng đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm từ trường hợp của Swaziland, đề xuất các giải pháp nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả ODA tại Việt Nam. Trong đó, chương 2 và chương 3 là phần chính của bài, thể hiện đúng mục tiêu hướng tới của khóa luận..
<span class='text_page_counter'>(11)</span> CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Khái quát về ODA 1.1.1. Khái niệm ODA Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) là một tổ chức quốc tế với thành viên là chính phủ 30 quốc gia công nghiệp, bao gồm gần như toàn bộ các nhà tài trợ ODA chính trên thế giới. Ủy ban này vào năm 1969 đã lần đầu tiên đưa ra định nghĩa vốn ODA, sau đó thắt chặt hơn định nghĩa này vào năm 1972, cụ thể như sau: ODA là những luồng vốn chảy vào các quốc gia và vùng lãnh thổ trong danh sách những nước nhận viện trợ ODA của DAC và vào các tổ chức đa phương mà: Được cung cấp bởi các cơ quan chính thức bao gồm các chính quyền trung ương, chính quyền địa phương hay bởi các cơ quan điều hành của chúng, và mỗi một nguồn vốn chuyển giao phải đáp ứng được hai tiêu chí sau: (1) Sự trợ giúp phải được thiết kế để đẩy mạnh phát triển kinh tế và phúc lợi như một mục tiêu chính (như vậy ODA không bao hàm viện trợ vì mục tiêu quân sự hay các mục tiêu phi phát triển khác). (2) Yếu tố không hoàn lại trong khoản cho vay ưu đãi chiếm ít nhất là 25% trong tổng vốn viện trợ. 1.1.2. Phân loại ODA Người ta có thể phân chia ODA thành nhiều loại khác nhau tùy theo tiêu chí phân loại. Dưới đây là một số cách phân loại ODA phổ biến: 1.1.2.1. Theo mục đích sử dụng Hỗ trợ cán cân thanh toán: Gồm các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ ngân sách Chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng sau: Hỗ trợ tài chính trực tiếp cho nước nhận ODA, (tuy nhiên loại này rất ít); Hỗ trợ nhập khẩu thông qua hình thức viện trợ hàng hóa, trong đó: Chính phủ các nước nhận viện trợ ODA tiếp nhận một lượng hàng hóa có giá trị tương đương với các khoản cam kết sau đó bán hàng hóa tại thị trường nội địa để thu nội tệ đưa vào ngân sách của Chính phủ..
<span class='text_page_counter'>(12)</span> Tín dụng thương nghiệp: Là hình thức hỗ trợ tín dụng thương nghiệp với các điều kiện ưu đãi như là lãi suất thấp, thời gian đáo hạn dài. Trên thực tế ODA tín dụng thương nghiệp là một dạng viện trợ có ràng buộc. Hỗ trợ dự án: Đây là một hình thức chủ yếu của viện trợ phát triển chính thức. Hỗ trợ dự án thông thường liên quan đến hỗ trợ cơ bản hay hỗ trợ kỹ thuật mà trên thực tế thường bao gồm cả hai yếu tố này, trong đó: Hỗ trợ cơ bản thường chủ yếu về xây dựng như đường xá, cầu cống, trường học, bệnh viện, hệ thống viễn thông …Thường các dự án này có kèm theo một bộ phận của viện trợ kỹ thuật, dưới dạng thuê chuyên gia nước ngoài để kiểm tra những hoạt động nhất định nào đó, hoặc để soạn thảo, xác nhận các báo cáo cho các đối tác tham gia nhận viện trợ; Hỗ trợ kỹ thuật thường chủ yếu chỉ tập trung vào chuyển giao tri thức hoặc tăng cường lập cơ sở kế hoạch, cố vấn, nghiên cứu tình hình cơ bản, nghiên cứu trước khi đầu tư: Quy hoạch, lập các luận chứng kinh tế, kỹ thuật… Chuyển giao tri thức có thể là chuyển giao công nghệ thông thường, nhưng quan trọng hơn là đào tạo về kỹ thuật phân tích kinh tế, quản lý, thống kê, thương mại, hành chính nhà nước, các vấn đề xã hội … Viện trợ chương trình (Hỗ trợ phi dự án): Là hình thức viện trợ khi đạt được một hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA cho mục đích tổng quát với thời hạn nhất định, mà không phải xác định chính xác nó sẽ phải được sử dụng như thế nào. 1.1.2.2. Theo tính chất nguồn vốn Viện trợ không hoàn lại: Là hình thức cung cấp ODA mà nước tiếp nhận không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ. Các khoản viện trợ mà trong đó nước viện trợ cung cấp cho nước nhận viện trợ để thực hiện các chương trình, dự án theo sự thỏa thuận giữa các bên. Bên nhận tài trợ sử dụng cấp phát lại hoặc cho doanh nghiệp vay lại theo nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước mình. Hình thức viện trợ này thường chiếm khoảng 25% tổng số lượng ODA toàn cầu và thông thường sẽ ưu tiên cho các dự án, chương trình thuộc các lĩnh vực: y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục, đào tạo hay các vấn đề xã hội bao gồm xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn và miền núi, cấp thoát nước sinh hoạt,.
<span class='text_page_counter'>(13)</span> nghiên cứu các chương trình – dự án phát triển và tăng cường thể chế bảo vệ môi trường, quản lý đô thị, nghiên cứu phát triển khoa học và công nghệ, hỗ trợ ngân sách, thực hiện các chương trình nghiên cứu tổng hợp nhằm hỗ trợ Chính phủ nước nhận viện trợ hoạch định các chính sách hoặc cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư bằng hoạt động điều tra, giám sát, đánh giá tài nguyên, hiện trạng kinh tế kỹ thuật xã hội các ngành, vùng, lãnh thổ. Bên cạnh đó, ODA viện trợ không hoàn lại còn hỗ trợ các hoạt động sản xuất trong một số trường hợp đặc biệt còn góp phần tạo việc làm, giải quyết các vấn đề xã hội ở nước tiếp nhận viện trợ và ODA loại này phụ thuộc rất nhiều vào quan hệ giữa nước cung cấp và nước tiếp nhận viện trợ. Viện trợ có hoàn lại (hoặc tín dụng ưu đãi): Nhà tài trợ sẽ cung cấp cho nước có nhu cầu vay vốn một khoản tiền hoặc là hàng hóa (bao gồm cả vật tư, nguyên nhiên liệu) tùy theo quy mô và mục đích đầu tư với mức lãi suất ưu đãi (thường được áp dụng từ 0 đến 2%/năm) và thời gian trả nợ thích hợp (thông thường từ 15 năm đến 40 năm), trong đó yếu tố không hoàn lại của khoản vay phải chiếm tối thiểu là 25%. Tín dụng ưu đãi chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn ODA toàn cầu và sử dụng dưới hình thức tín dụng đầu tư cho những mục đích có khả năng thu hồi vốn gián tiếp, bảo đảm khả năng hoàn trả nợ nước ngoài. ODA có hoàn lại được sử dụng ưu tiên đầu tư vào thực hiện các chương trình quốc gia, đặc biệt là các chương trình và dự án xây dựng hoặc cải tạo cơ sở hạ tầng kỹ thuật kinh tế xã hội thuộc các lĩnh vực như năng lượng, giao thông vận tải, nông nghiệp, thủy lợi, thông tin liên lạc …nhằm xây dựng nền tảng vững chắc cho việc ổn định và tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy đầu tư của các thành phần kinh tế tư nhân trong nước và quốc tế hoặc để bù đắp thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế giúp Chính phủ các nước tiếp nhận ODA có thể quản lý tốt hơn ngân sách trong giai đoạn cải cách hệ thống tài chính, chuyển đổi hệ thống kinh tế hoặc để xóa đói giảm nghèo tạo điều kiện thuận lợi cho các nước đang phát triển tiếp nhận ODA có thể phát triển mạnh hơn trong sản xuất và nâng cao đời sống kinh tế xã hội với nguyên tắc không trực tiếp làm tăng trưởng nền kinh tế nước nhận viện trợ..
<span class='text_page_counter'>(14)</span> ODA cho vay hỗn hợp: Là các khoản ODA có kết hợp giữa một phần không hoàn lại và có hoàn lại theo các điều kiện mà OECD đưa ra, nhưng trong đó yếu tố không hoàn lại phải đạt thấp nhất là 25% tổng giá trị các khoản vốn vay; hoặc có thể kết hợp một phần không hoàn lại, một phần ưu đãi và một phần tín dụng thương mại. 1.1.2.3. Theo điều kiện ODA không ràng buộc: Là các khoản ODA không kèm theo những điều khoản ràng buộc liên quan đến cung cấp, mua sắm hàng hóa dịch vụ từ một số nhà cung cấp hoặc quốc gia nhất định theo quy định của nhà tài trợ ODA. Việc sử dụng các khoản vay ODA không ràng buộc sẽ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng. ODA có ràng buộc: Là khoản ODA có kèm theo những điều khoản ràng buộc liên quan tới cung cấp, mua sắm hàng hóa và dịch vụ từ một số nhà cung cấp nhất định hoặc là quốc gia nhất định theo như quy định của nhà tài trợ. Nói cách khác ODA có ràng buộc là loại ODA mà việc sử dụng nó bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hoặc là mục đích sử dụng, trong đó: Ràng buộc bởi nguồn sử dụng nghĩa là việc mua sắm hàng hóa, trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn ODA chỉ được giới hạn cho một số công ty do nhà tài trợ vốn sở hữu hay kiểm soát đối với viện trợ song phương, hoặc là do công ty của các nước thành viên đối với viện trợ ODA đa phương. Ràng buộc bởi mục đích sử dụng nghĩa là nước tiếp nhận vốn ODA chỉ được sử dụng nó trong một lĩnh vực hay dự án nhất định. ODA có ràng buộc một phần: Nước nhận viện trợ phải dành một phần vốn ODA sử dụng vào những lĩnh vực, dự án theo điều kiện đặt ra của nước cung cấp ODA còn lại một phần có thể sử dụng không chịu sự ràng buộc bởi các điều kiện của nhà tài trợ. 1.1.2.4. Theo nguồn cung cấp ODA song phương: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước cung cấp sang nước tiếp nhận thông qua các hiệp định ký kết giữa chính phủ hai nước. Viện trợ ODA song phương hiện đang chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 70% tổng số lượng.
<span class='text_page_counter'>(15)</span> vốn ODA trên toàn thế giới, lớn hơn rất nhiều nếu so sánh với phần viện trợ đa phương.1 ODA song phương, vì là nguồn vốn được chuyển trực tiếp giữa hai chính phủ cho nên thủ tục tiến hành cung cấp và tiếp nhận đơn giản hơn cũng như thời gian ký kết viện trợ cũng nhanh hơn so với ODA đa phương. Viện trợ song phương thông thường sẽ có các điều kiện ràng buộc khi cho vay, ví dụ như bên viện trợ sẽ đảm nhận việc đào tạo chuyên gia, cố vấn các vấn đề liên quan đến việc tiếp nhận và sử dụng vốn vay cho các nước tiếp nhận, ngược lại thì nước tiếp nhận viện trợ sẽ buộc phải mua máy móc, hàng hóa của nước cung cấp. ODA đa phương: Là viện trợ phát triển chính thức của các tổ chức quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) hay Ngân hàng Thế giới (WB)… hoặc là các tổ chức khu vực hay của một chính phủ dành cho một chính phủ khác thông qua các tổ chức đa phương như Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP). 1.1.3. Các nước viện trợ và nước nhận viện trợ lớn trên thế giới 1.1.3.1. Nhà tài trợ chính: Xét về mặt lịch sử, phần lớn viện trợ được cung cấp là viện trợ song phương trực tiếp từ một nước này sang một nước khác. Một số cơ quan viện trợ song phương lớn ngày nay bao gồm: Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USDIA), Cơ quan Phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID), Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật (JICA), Quỹ phát triển quốc tế Saudi và các cơ quan phát triển quốc tế của Canada (CIDA) và Thụy Điển (SIDA).2 Viện trợ phát triển chính thức khi tính theo giá trị bằng đồng đô la Mỹ, Hoa Kỳ liên tục là nhà tài trợ ODA lớn nhất trên thế giới, ngoại trừ một vài năm giữa thập niên 90 khi Nhật Bản vươn lên trở thành nhà cung cấp những khoản viện trợ lớn nhất. Cụ thể trong năm 2014, Hoa Kỳ cung cấp 32,73 tỷ USD viện trợ cho các nước đang phát triển, Vương quốc Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản là những nhà tài trợ ODA lớn tiếp theo3. 1 Kamiljon T. Akramov, “Foreign Aid Allocation, Governance, and Economic Growth”, International Food Policy Research Institute, (29), November 2012 2 Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright niên khóa 2011-2013 3
<span class='text_page_counter'>(16)</span> Biểu đồ 1.1 – Viện trợ phát triển chính thức ròng năm 2014 (đơn vị: tỷ USD). Nguồn: OECD Các tổ chức đa phương cung cấp viện trợ ODA chính bao gồm Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế, các ngân hàng phát triển châu Phi, châu Á và Liên Mỹ, Liên Hiệp Quốc và Ủy ban châu Âu, trong đó: Tổ chức đa phương lớn nhất là Ngân hàng Thế giới mà bộ phận trực tiếp cung cấp viện trợ nước ngoài là Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA). Chính phủ các nước cung cấp viện trợ đóng góp tiền vào IDA sau đó cơ quan này sử dụng tiền đó để cung cấp các khoản vay ưu đãi và trợ cấp cho các nước thu nhập thấp. IDA là một trong những nguồn vốn viện trợ lớn nhất, hỗ trợ 77 nước nghèo nhất thế giới, trong số đó có 39 quốc gia châu Phi. Các hoạt động viện trợ của IDA mang đến những thay đổi tích cực cho khoảng 2,8 tỷ người, phần lớn trong số họ đang sống dưới mức 2 USD một ngày.4 Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): Khoảng 10% các khoản cho vay hiện tại của IMF được xếp loại như viện trợ phát triển chính thức ODA, tất cả đều là dành 4 truy cập ngày 15/04/2015.
<span class='text_page_counter'>(17)</span> cho các nước thu nhập thấp thông qua các phương tiện giảm nghèo và tăng trưởng. Giá trị giải ngân ODA gộp của IMF năm 2012 là 1,438 tỷ USD.5 Ngân hàng phát triển châu Phi, Ngân hàng phát triển châu Á và Ngân hàng Phát triển Mỹ Latinh: Mỗi ngân hàng khu vực tài trợ theo các điều khoản ưu đãi cũng như không ưu đãi tùy thuộc vào mức thu nhập của nước vay vốn. Ngoài ra, các tổ chức viện trợ đa phương khác bao gồm Liên minh châu Âu EU, Quỹ của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và Ngân hàng phát triển Hồi giáo (Islamic Development Bank). Các chương trình viện trợ nước ngoài của Liên hiệp quốc chiếm khoảng 3,8 tỷ USD vào năm 2012, tất cả đều được cung cấp dưới hình thức viện trợ phát triển chính thức. Hầu hết các khoản viện trợ này được đều cung cấp dưới hình thức hợp tác kỹ thuật bao gồm tư vấn, cố vấn và các khả năng chuyên môn khác, chủ yếu từ Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Các cơ quan Liên hiệp quốc khác cung cấp trợ cấp cho các dự án phát triển và viện trợ nhân đạo, bao gồm Chương trình lương thực thế giới (WFP), Quỹ trẻ em Liên hiệp quốc (UNICEF), Cao ủy Liên hiệp quốc về người tị nạn (UNHCR) và Cơ quan Công tác và Cứu trợ Liên Hơp Quốc (UNRWA)6 Chính phủ các nước không phải là những nhà tài trợ ODA duy nhất. Các quỹ tài trợ tư nhân như Quỹ Aga Khan, Quỹ Bill và Melinda Gates, các tổ chức từ thiện như Catholic Relief Services, tổ chức Thầy thuốc không biên giới (MSF), và các Hội chữ thập đỏ và Lưỡi liềm đỏ cũng là những nhà tài trợ ODA đáng kể cho các nước thu nhập thấp. Tuy nhiên, đa phần các quỹ tư nhân chỉ tập trung vào một số vấn đề cụ thể. Ví dụ tổ chức Rotary Internationalcung ứng những nguồn viện trợ đáng kể nhằm xoá bỏ bệnh bại liệt và đã đạt được những thành công đáng kể. Các trường học và bệnh viện với “sứ mệnh” dựa vào tôn giáo hoạt động tại các nước thu nhập thấp trên toàn thế giới, trong nhiều trường hợp cung cấp những dịch vụ thiết yếu cho người nghèo. Nhiều cơ quan hoạt 5Aid (ODA) by sector and donor [DAC5], truy cập ngày 20/04/2015 6 Xem Phụ lục 1: Viện trợ phát triển chính thức của các cơ quan thuộc Liên Hiệp Quốc giai đoạn 20022012.
<span class='text_page_counter'>(18)</span> động trên tinh thần hợp tác nhà nước và tư nhân, ví dụ như Quỹ toàn cầu phòng chống AIDS, bệnh lao và sốt rét, một quỹ tài trợ của Thụy Sĩ nhận tài trợ từ chính phủ các nước và cả các nguồn tài trợ tư nhân. Ngoài ra, một số công ty đa quốc gia cũng thực hiện các hoạt động viện trợ nhân đạo tại lãnh thổ những nước mà họ hoạt động kinh doanh. Căn cứ theo số liệu thống kê của DAC, tổng viện trợ từ các nguồn tư nhân lên đến 29,8 tỷ USD vào năm 2012.7 1.1.3.2. Nước nhận viện trợ chính Chỉ xét riêng trong năm 2012, có 197 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới nhận viện trợ ODA8. Danh sách các nước tiếp nhận viện trợ ODA do DAC công bố bao gồm các quốc gia và vùng lãnh thổ đủ điều kiện để nhận viện trợ phát triển chính thức: tất cả các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình dựa trên tổng thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người được Ngân hàng Thế giới công bố. Danh sách này còn bao gồm những quốc gia kém phát triển nhất (LDCs) theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc (UN). Theo số liệu thống kê của DAC, 10 quốc gia sau đây là những nước tiếp nhận ODA lớn nhất trên thế giới, nếu tính theo giá trị đồng đô la Mỹ:. 7 OECD International Development Statistics (database) 8 THE DAC LIST OF ODA RECIPIENTS www.oecd.org/dac/stats/daclist.
<span class='text_page_counter'>(19)</span> Bảng 1.1-10 nước tiếp nhận ODA lớn nhất thế giới năm 2013 (đơn vị: nghìn USD) Thứ hạng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10. Quốc gia Afghanistan Myanmar Việt Nam India Indonesia Kenya Tanzania Coote d’Ivoire Ethiopia Pakistan. Tổng viện trợ 5.030 3.417 3.005 2.846 2.063 2.059 1.959 1.920 1.874 1750 Nguồn: OECD. Như vậy, tính theo giá trị danh nghĩa, những nước có mức thu nhập thấp và thu nhập trung bình ở khu vực châu Á và một số ở châu Phi là những đối tượng tiếp nhận viện trợ chủ yếu trong tổng số vốn ODA được cung cấp toàn cầu. Tuy nhiên, khi tính toán ODA trên đầu người, nghĩa là có xét đến quy mô dân số của các nước tiếp nhận viện trợ thì thứ tự xếp hạng có sự thay đổi, cụ thể như bảng dưới dây: Bảng 1.2–Các nước nhận viện trợ trên đầu người lớn nhất năm 2013 (đơn vị USD) 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10. Tuvalu Đảo quốc Marshall Palau Micronesia, Fed. Sts. Tonga Kiribati Bờ Tây và dải Gaza Samoa St. Kitts and Nevis Quốc đảo Solomon. 2.703 1.782 1.686 1.381 763 630 626 620 541 514 Nguồn: Ngân hàng Thế giới. Qua bảng phía trên có thể thấy, nếu chỉ đơn thuần xét tổng vốn ODA nhận được thì đa phần các quốc gia châu Á như Afghanistan, Myanmar hay Việt Nam là những nước tiếp nhận viện trợ phát triển chính thức lớn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, đây là những quốc gia có quy mô dân số lớn nên ODA bình quân đầu.
<span class='text_page_counter'>(20)</span> người lại nhỏ hơn nhiều so với con số này tại các nước có diện tích nhỏ và dân số ít như Tuvalu hay quốc đảo Marshall. 1.1.4. Động cơ của viện trợ Các nhà tài trợ có nhiều động cơ khi cung cấp các khoản viện trợ phát triển chính thức, những động cơ này sẽ quyết định xem họ cung cấp ODA cho ai và cung cấp với khối lượng bao nhiêu. Có thể nhóm các động cơ viện trợ thành 5 nhóm động cơ chủ yếu như sau: Động cơ viện trợ liên quan đến các mục tiêu chính sách nước ngoài và các liên minh chính trị: Đây từ lâu đã được coi là một yếu tố chủ chốt xác định các dòng viện trợ. Trong Chiến tranh lạnh, đặc biệt là trong ba thập niên 60, 70 và 80, Liên bang Xô viết và Hoa Kỳ đều đã sử dụng viện trợ nhằm tranh giành sự ủng hộ từ các nước đang phát triển trên thế giới. Cụ thể, Hoa Kỳ cung cấp các khoản viện trợ lớn cho những nước chống lại sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản mà không quan tâm liệu các khoản viện trợ có được sử dụng vào mục đích phát triển hay không. Các nước tiếp nhận viện trợ chính từ Hoa Kỳ trong Chiến tranh lạnh bao gồm miền Nam Việt Nam trong thập niên 60 và Indonesia, Philippines, Zaire trong giai đoạn 1970-1990, ngoài ra còn có một số nước ở Trung Mỹ trong thập niên 809. Liên bang Xô viết giai đoạn này tranh giành tầm ảnh hưởng bằng cách cung cấp viện trợ cho Bắc Hàn, Cuba và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu10. Hoa Kỳ và Liên Xô đều sử dụng viện trợ nước ngoài nhằm tranh giành sự ủng hộ của các nước mới độc lập ở châu Phi, qua đó giành được sự ủng hộ biểu quyết quan trọng tại Liên hiệp quốc. Lịch sử chứng minh, Liên Xô và Hoa Kỳ không phải là những quốc gia duy nhất từng sử dụng ODA vì động cơ tranh giành ảnh hưởng, Đài Loan và Trung Quốc cũng đã từng sử dụng viện trợ để tranh thủ sự công nhận và ủng hộ đối với chính phủ của họ. Mức thu nhập và đói nghèo: Thu nhập và đói nghèo là những yếu tố quan trọng mà các nhà cung cấp ODA cân nhắc đến khi phân bổ viện trợ. Nhiều người ở các nước có thu nhập cao quan niệm viện trợ là để giúp đỡ những người 9James Meernik, Eric L. Krueger, và Steven C. Poe (1998), Testing Models of U.S. Foreign Policy: Foreign Aid during and after the Cold War, NXB. Đại học Bắc Texas 10Oscar Sanchez-Sibony (2014), Red Globalization: The Political Economy of the Soviet Cold War from Stalin to Khrushchev, NXB. Cambridge: University press.
<span class='text_page_counter'>(21)</span> cần đến viện trợ nhất tại các quốc gia nghèo nhất. Mức thu nhập và đói nghèo là căn cứ để các nhà tài trợ quyết định lượng viện trợ và mức độ ưu đãi của các khoản viện trợ. Nhìn chung, các nước tài trợ ODA cung cấp viện trợ ưu đãi nhiều nhất cho những nước nghèo nhất và dành ít trợ cấp và ít khoản cho vay ưu đãi hơn cho những nước có mức thu nhập cao hơn11. Quy mô đất nước: Do các nước cung cấp viện trợ luôn mong muốn các khoản viện trợ của họ có thể tạo ra sự khác biệt rõ ràng và dễ nhận thấy tại các nước tiếp nhận viện trợ, họ thường cung cấp nhiều viện trợ hơn (tính theo tỷ lệ phần trăm GDP hay tính theo giá trị bình quân đầu người) cho những nước nhỏ hơn. Một khoản viện trợ trị giá vài chục triệu đô la Mỹ có thể tạo ra những thay đổi to lớn ở một quốc gia châu Phi nhỏ bé như Gambia nhưng con số này nếu được cung cấp cho Ấn Độ hay Indonesia thì lại chẳng thấm vào đâu. Vì những lý do chính trị, các nhà tài trợ ODA thường muốn ảnh hưởng đến càng nhiều quốc gia càng tốt, tuy nhiên chính điều này có xu hướng dẫn đến một số lượng viện trợ mất cân xứng dành cho các nước nhỏ. Một lá phiếu ở Đại hội đồng Liên hiệp quốc có giá trị như nhau cho dù xuất phát từ một nước nhỏ hay từ một nước lớn nên các nhà tài trợ ODA có xu hướng cố gắng ảnh hưởng đến càng nhiều nước nhỏ càng tốt. Các ràng buộc thương mại: ODA song phương thường được thiết kế với ít nhất một phần nhằm hỗ trợ lợi ích kinh tế của những doanh nghiệp nhất định hay những khu vực cụ thể ở nước cung cấp viện trợ. Ràng buộc thương mại là một yếu tố quan trọng xác định viện trợ của Nhật Bản trong khi viện trợ lương thực góp phần hỗ trợ những nhà nông ở Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu. Nhiều nước viện trợ đưa ra điều kiện ràng buộc một tỷ lệ phần viện trợ của họ phải dành để mua hàng hóa ở nước cung cấp viện trợ12. Dân chủ: Trong quá khứ các nhà tài trợ ODA ít quan tâm đến việc chính phủ nước tiếp nhận viện trợ là chuyên quyền hay dân chủ, đặc biệt là trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, sau khi Liên bang Xô viết tan rã, các nước cung 11Dwight H. Perkins, “Viện trợ nước ngoài”, Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright niên khóa 2011-2013 12 Dwight H. Perkins, “Viện trợ nước ngoài”, Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright niên khóa 2011-2013.
<span class='text_page_counter'>(22)</span> cấp viện trợ lại có xu hướng cung cấp viện trợ nhiều hơn cho những nước đã trở thành những nền dân chủ. Nhiều khoản ODA được cung cấp nhằm mục đích củng cố các nền dân chủ mong manh, hỗ trợ quá trình chuyển đổi từ phi dân chủ sang dân chủ hay là xây dựng các thể chế dân chủ. Cụ thể là tài trợ cho quốc hội, các hệ thống giám sát bầu cử và các nhóm ủng hộ dân quyền và tự do ngôn luận. Alberto Alesina và David Dollar, trong một nghiên cứu cho giai đoạn từ năm 1970 đến 1994, nhận thấy rằng viện trợ dành cho một quốc gia điển hình tăng lên 50 phần trăm sau khi chuyển đổi thành một đất nước dân chủ13. 1.1.5. Vai trò chung của ODA 1.1.5.1. Đối với nước nhận viện trợ Tác động tích cực: ODA là một nguồn vốn có vai trò rất quan trọng đối với các nước đang và kém phát triển, cụ thể là: Thứ nhất, các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình hầu hết đều đang trong tình trạng thiếu vốn trầm trọng để phát triển đất nước, ODA là nguồn vốn cần thiết để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nguồn vốn này nếu sử dụng hiệu quả có thể là động lực phát triển đất nước. Thứ hai, theo các nhà kinh tế học việc sử dụng viện trợ ở các nước đang phát triển nhằm loại bỏ sự thiếu nguồn vốn và ngoại tệ, tăng đầu tư vốn đến các điểm mà ở đó sự tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cho các nước này đạt được đến quá trình tự duy trì và phát triển. Thứ ba, thông qua nước tài trợ ODA, các nước tiếp nhận viện trợ có thêm nhiều cơ hội mới để được tham gia vào các tổ chức tài chính thế giới, từ đó đạt được những sự giúp đỡ về vốn lớn hơn từ các tổ chức này. Thứ tư, ODA còn có khả năng tạo điều kiện giúp các nước đang lâm vào tình trạng phá giá đồng nội tệ có thể phục hồi đồng tiền của nước mình thông qua những khoản hỗ trợ lớn của các tổ chức tài chính quốc tế mang lại. Thứ năm, ODA giúp các nước tiếp nhận viện trợ tạo được những tiền đề đầu tiên và cần thiết, đặt nền móng cho sự phát triển về lâu dài bởi vì lĩnh vực đầu tư ưu tiên hàng đầu của nguồn vốn này là nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế. 13NT.
<span class='text_page_counter'>(23)</span> Thứ sáu, ODA có những tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội ở các địa phương và vùng lãnh thổ, đặc biệt là ở các thành phố lớn do nguồn vốn này trực tiếp giúp cải thiện điều kiện vệ sinh y tế, cung cấp nước sạch và bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, nguồn vốn ODA cũng góp phần tích cực trong phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, phát triển nông nghiệp và xóa đói giảm nghèo. Thứ bảy, ODA giúp đỡ các doanh nghiệp nhỏ trong nước có thêm vốn cũng như tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này nâng cao hiệu quả đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dần dần mở rộng quy mô doanh nghiệp, tăng tính cạnh tranh. Thứ tám, viện trợ phát triển chính thức còn giúp các nước tiếp nhận có cơ hội nhập khẩu máy móc thiết bị từ các quốc gia phát triển phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tác động tiêu cực: Bên cạnh nhiều tác động tích cực mà ODA mang lại cho các nước tiếp nhận viện trợ, nguồn vốn này cũng đã và đang bộc lộ không ít mặt hạn chế: Thứ nhất, các nước đang và chậm phát triển nếu muốn nhận được nguồn viện trợ này thì phải đáp ứng các yêu cầu của bên tài trợ. Muốn được nhận viện trợ càng nhiều thì mức độ đáp ứng phải càng cao. Thứ hai, ngay trong chính nước tiếp nhận viện trợ, tình trạng tập trung ODA và các thành phố trọng điểm có thể tạo nên sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế - xã hội của quốc gia đó, làm cho khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn ngày càng trở nên rõ rệt. Thứ ba, nguồn vốn ODA tiềm ẩn nhiều hệ quả tiêu cực đối với nước tiếp nhận nếu nó không được sử dụng một cách hiệu quả, như làm tăng thêm gánh nặng nợ quốc gia, lệ thuộc chính trị vào các nhà tài trợ14. 1.1.5.2. Đối với nước viện trợ Tác động tích cực: Thứ nhất, viện trợ song phương tạo điều kiện cho các công ty của nhà tài trợ ODA hoạt động thuận lợi hơn tại thị trường các nước tiếp nhận viện trợ một cách gián tiếp. Đi cùng với sự gia tăng của vốn ODA, các dự án đầu tư của 14Nguyễn Hữu Hiểu, “Tìm hiểu nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức – ODA”, Trường Đào tạo và Phát triển Nguồn nhân lực.
<span class='text_page_counter'>(24)</span> những nước viện trợ cũng tăng theo với những điều kiện thuận lợi, buôn bán giữa hai bên theo đó cũng tăng theo. Thứ hai, nước cung cấp viện trợ ODA còn đạt được những mục đích về chính trị, mở rộng ảnh hưởng của họ về mặt kinh tế - văn hóa đối với nước tiếp nhận. Thứ ba, thu được lợi ích kinh tế từ việc bán hàng hóa dịch vụ trong nước, chủ yếu nhờ và các khoản ODA có ràng buộc và ODA ràng buộc một phần. Thứ tư, về lâu dài viện trợ ODA giúp các nước tài trợ tăng khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nhờ cải thiện đời sống người dân ở các nước đang và kém phát triển, hỗ trợ phát triển kinh tế ở các thị trường tiềm năng này, khi mức sống của người dân được cải thiện thì nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của họ sẽ tăng lên đáng kể. Thứ sáu, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, cải thiện tình hình thế giới thông qua giải quyết mâu thuẫn giữa các nước phát triển với các nước đang và kém phát triển do khoảng cách giàu nghèo và trình độ phát triển kinh tế - xã hội là nguyên nhân chính. 1.2. TỔNG QUAN VỀ ĐÀI LOAN 1.2.1. Trình độ phát triển kinh tế: Nền kinh tế Đài Loan trong thập niên 1950, 1960 phải khắc phục những thiệt hại nặng nề do hậu quả của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, nghèo khó và phụ thuộc nặng nề vào viện trợ của Mỹ. Những năm đầu Quốc Dân Đảng dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch, nền kinh tế Đài Loan gặp phải rất nhiều khó khăn như tài nguyên nhiên nhiên khan hiếm, kinh tế kém phát triển, nông nghiệp và công nghiệp đều còn rất lạc hậu, thất nghiệp phổ biến và mức sống của người dân rất thấp. Đã có một thời kỳ Đài Loan phụ thuộc nặng nề vào viện trợ của Mỹ. Các chương trình viện trợ này đã giúp cho việc hiện đại hóa nền công nghiệp Đài Loan. Cụ thể, từ năm 1949 đến năm 1967: Viện trợ của Mỹ cho Đài Loan đã lên tới con số 1,769 triệu USD, tính tại thời điểm ấy con số này là 187 USD trên một người dân Đài loan và tương đương với 40,7% tổng nguồn vốn trong nước giai đoạn 1952 đến 1960 và 12% giai đoạn sau 1961-1967. Đài Loan.
<span class='text_page_counter'>(25)</span> xếp thứ năm trong số các nước tiếp nhận nhiều nhất viện trợ của Hoa Kỳ thời kỳ này. Ngoài ra, một con số ước tính Đài Loan cũng đã nhận 2,384 triệu USD viện trợ quân sự từ Hoa Kỳ trong giai đoạn này. Đài Loan là nơi nhận được nhiều viện trợ tài chính nhất trong số các nền kinh tế nông nghiệp mới Đông Á sau chiến tranh15. Với sự giúp đỡ của viện trợ từ các nước, đặc biệt là Mỹ và các tổ chức quốc tế, chính phủ và dân nhân Đài Loan đã có thể đạt được sự phát triển thần kỳ với những chỉ số phát triển kinh tế ấn tượng. Vùng lãnh thổ Đài Loan trong hơn 7 thập kỷ qua đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế đáng khâm phục, cụ thể: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao 8,4%/năm trong thập kỷ 1950, gần 9,0%/năm thập kỷ 1960 và đạt đỉnh điểm 10,1%/năm trong thập kỷ 1970, sau đó giảm dần xuống mức 7,7%/năm trong thập kỷ 1980 và 6,3%/năm trong thập kỷ 1990, tuy nhiên đã cán mức đáy 3,2% trong giai đoạn 2000-201016. Đài Loan được xếp hạng là nền kinh tế phát triển với quy mô lớn thứ 19 thế giới năm 2011 và là thành viên chính thức của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đồng thời Đài Bắc cũng tham gia tích cực vào quá trình phân công lao động quốc tế và triển khai sâu rộng mạng lưới sản xuất khu vực và chuỗi giá trị toàn cầu. Đài Loan có mối liên kết thương mại (có kim ngạch xuất và nhập khẩu lớn thứ 18 thế giới), quan hệ đầu tư chặt chẽ với Trung Quốc, Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc17. Mặc dù vùng lãnh thổ này cũng chịu những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ công châu Âu (đặc biệt là khu vực đồng tiền chung châu Âu), tốc độ tăng trưởng nền kinh tế Đài Loan đã và đang dần hồi phục, bằng chứng là năm 2011 Đài Bắc đạt tăng trưởng 4%, qua đó giúp gia tăng tổng sản phẩm quốc nội của Đài Loan lên mức 466.483 tỷ USD. 15 Taiwan’s Transformation from Aid Recipient to Aid Donor (2009), Taipei Representative Office in the EU and Belgium 16 Ministry of Economic Affairs,R.O.C. - Statistics of Economic 2012 17Phí Hồng Minh (2014), “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Đài Loan”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, Số 6(218), tr3.
<span class='text_page_counter'>(26)</span> theo giá hiện hành (tương đương khoảng 887,3 tỷ USD theo sức mua tương đương PPP). Không chỉ thuộc nhóm đứng đầu về quy mô nền kinh tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Đài Loan còn đạt được mức GDP bình quân đầu người thuộc hàng cao trong nhóm các nước phát triển có thu nhập cao trên thế giới vào năm 2011. Cụ thể, mức GDP bình quân đầu người của Đài Loan là 20.122 USD/người năm 2011, tương đương 38.200 USD PPP/người, xếp hạng thứ 26 thế giới18. 1.2.2. Đặc điểm về mặt chính trị Quan điểm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Quốc không ngừng tuyên bố chủ quyền đối với Đài Loan kể từ khi kết thúc cuộc nội chiến năm 1949, khi Quốc Dân Đảng bị đánh bại phải rút chạy về Đài Loan và Mao Trạch Đông lên nắm chính quyền. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa luôn kiên trì chính sách một nước Trung Quốc, trong đó khẳng định chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là Chính phủ hợp pháp duy nhất đại diện cho toàn Trung Quốc và Đài Loan là một bộ phận không thể tách rời của Trung Quốc.19. Quan điểm của Trung Hoa Dân Quốc: Trong khi Bắc Kinh luôn tuyên bố rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc, quan điểm của Đài Bắc, đặc biệt là dưới sự lãnh đạo của Đảng Dân chủ Tiến bộ DDP dứt khoát bác bỏ quan điểm này và không ngừng phấn đấu cho nền độc lập của Đài Loan bất chấp nguy cơ can thiệp quân sự tại eo biển20 Quan điểm của các nước và các tổ chức quốc tế khác: Liên Hợp Quốc:. 18 Ministry of Economic Affairs,R.O.C. - Statistics of Economic 2012 19 White Paper -The One-China Principle and the Taiwan Issue (2000), The Taiwan Affairs Office and The Information Office of the State Council 20 Shirley Kan, China/Taiwan: Evolution of the “One China” Policy – Key Statements from Washington, Beijing and Taipei, Congressional Research, 2000.
<span class='text_page_counter'>(27)</span> Vì mục tiêu chống Cộng trong giai đoạn đầu Chiến tranh lạnh, Trung Hoa Dân Quốc ban đầu được Liên hiệp quốc và đa số quốc gia phương Tây công nhận là chính phủ hợp pháp duy nhất của cả Trung Hoa lục địa và Đài Loan. Tuy nhiên, trong thập kỷ 1970 một sự thay đổi lớn trong chính sách ngoại giao khiến mọi quyền lợi chuyển từ tay Trung Hoa Dân Quốc sang Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ngày 25 tháng 10 năm 1971, Nghị quyết 2758 được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua, theo đó trục xuất Trung Hoa Dân Quốc và thay thế ghế của Trung Hoa tại Hội đồng bảo an (và mọi tổ chức Liên hiệp quốc khác) bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nghị quyết tuyên bố rằng “những đại diện của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là những đại diện hợp pháp duy nhất của Trung Quốc tại Liên hiệp quốc."21 Nhiều nỗ lực của Trung Hoa Dân Quốc nhằm tái gia nhập Liên hiệp quốc, không phải với tư cách đại diện cho toàn bộ Trung Quốc nữa, mà chỉ là đại diện cho nhân dân tại các vùng lãnh thổ do họ quản lý vẫn chưa được hội đồng thông qua, chủ yếu vì áp lực ngoại giao của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cho rằng Nghị quyết 2758 đã giải quyết vấn đề này. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ chối giữ quan hệ ngoại giao với bất kỳ quốc gia nào công nhận Trung Hoa Dân Quốc, nhưng không từ chối trong trường hợp quốc gia đó chỉ giữ quan hệ kinh tế, văn hóa và các trao đổi khác không phải là quan hệ ngoại giao. Vì thế, nhiều nước có quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh vẫn giữ các văn phòng kiểu ngoại giao không chính thức tại Đài Bắc. Ví dụ, Hoa Kỳ giữ Viện Mỹ tại Đài Loan. Tương tự, chính phủ Đài Loan thiết lập các văn phòng kiểu ngoại giao tại đa số các quốc gia dưới những tên gọi khác nhau, thông thường nhất là Văn phòng Văn hóa và Kinh tế Đài Bắc. Hoa Kỳ, Canada, Vương Quốc Anh và Nhật Bản: Công nhận một nhà nước Trung Hoa và cho rằng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc. Tuy nhiên, Hoa Kỳ và Nhật Bản thừa nhận chứ không. 21United Nations AssemblyResolution 2758 of October 1971.
<span class='text_page_counter'>(28)</span> phải công nhận lập trường của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc. Đối với Canada và Anh Quốc, văn bản thỏa thuận giữa hai bên ghi rõ rằng hai bên lưu ý lập trường của Bắc Kinh, nhưng từ ủng hộ không được sử dụng. Lập trường của chính phủ Vương quốc Anh đã nhiều lần khẳng định rằng "tương lai của Đài Loan phải được quyết định một cách hòa bình bởi nhân dân ở hai phía eo biển."22 Sự cô lập về mặt ngoại giao Trung Quốc nhấn mạnh rằng các quốc gia không thể có quan hệ chính thức với cả Trung Quốc và Đài Loan, kết quả là Đài Loan hiện tại chỉ có quan hệ ngoại giao với 22 quốc gia (sau khi nước Cộng hòa Gambia ở Tây Phi tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan vào năm 2013) - chủ yếu là các nước nhỏ, đang phát triển ở khu vực Thái Bình Dương, Mỹ Latinh và châu Phi23. Đài Loan không có ghế tại Liên Hợp Quốc. Trên thực tế, Trung Hoa Dân Quốc đã từng là một thành viên của tổ chức quốc tế này nhưng sau đó bị tước mất vị trí (thay thế bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) kể từ năm 1971. Những nỗ lực lặp đi lặp lại của Đài Loan nhằm giành lại quyền đại diện tại Liên Hợp Quốc đều đã bị bác bỏ. Do những áp lực từ phía Bắc Kinh, mặc dù rất nỗ lực, Đài Loan hiện là thành viên của 27 tổ chức liên chính phủ, trong đó đáng chú ý nhất chỉ có Ngân hàng Phát triển châu Á, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong đó Đài Loan gia nhập dưới tên gọi “Lãnh thổ Thuế quan riêng biệt Đài Loan, Bành Hồ, Kim Môn, và Mã Tổ” và Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương dưới tên "Trung Hoa Đài Bắc"24 Liệu rằng Đài Loan có thể tận dụng những thế mạnh về mặt kinh tế của mình để thoát ra khỏi tình trạng cô lập ngoại giao hiện tại được hay không? Theo quan điểm của một số nhà lãnh đạo cấp cao của Đài Loan, có một cách để 22 Tang Shaocheng (2007), EU's Policy towards Taiwan/China and the Issue of Arms Embargo. Prof. Dr. Tang Shaocheng. Institute of International Relations, IIR, Taiwan. 23 Sigrid Winkler, Biding Time:The Challenge of Taiwan’s International Status, Brookings, truy cập ngày 20/04/2015 24 Ministry of Foreign Affair of the Republic of China.
<span class='text_page_counter'>(29)</span> Đài Bắc có thể thực hiện được mục tiêu này, đó là tăng cường viện trợ kinh tế hay còn gọi là viện trợ nước ngoài cho các nước đang phát triển nhằm đổi lại tình hữu nghị và những sự ủng hộ từ các quốc gia này. Trong bối cảnh thiếu thốn nguồn vốn toàn cầu để hỗ trợ cho một số lượng ngày càng tăng các quốc gia cần được giúp đỡ, những sự phát triển trong các chương trình viện trợ của Đài Loan đã bắt đầu thu hút được sự chú ý..
<span class='text_page_counter'>(30)</span> CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC ODA CỦA ĐÀI LOAN TỪ NĂM 1996 ĐẾN NAY 2.1. Sự ra đời của Quỹ Phát triển Hợp tác Quốc tế Đài Loan 2.1.1. Lịch sử ra đời Trung Hoa Dân Quốc đã gửi phái đoàn hỗ trợ nông nghiệp lần đầu tiên sang Sài Gòn, Việt Nam vào năm 1959, với sự ủng hộ về mặt tài chính từ phía chính phủ Mỹ, trong khi thời điểm này chính Đài Loan vẫn đang là một nước đang phát triển. Sự kiện này đánh dấu lần đầu tiên Đài Bắc chính thức gia nhập vào hàng ngũ những nhà tài trợ quốc tế.25 Chương trình viện trợ nước ngoài có tên Operation Vanguard được đưa ra vào năm 1960, theo đó Đài Loan bắt đầu gửi đi những phái đoàn nông nghiệp nhằm hỗ trợ Châu Phi trong việc hiện đại hóa hoạt động sản xuất nông nghiệp, và nhằm tranh thủ sự ủng hộ của những quốc gia châu Phi cho đại diện của Trung Hoa Dân Quốc tại Liên Hợp Quốc. Năm 1962, đặc nhiệm của Operation Vanguard đã được mở rộng thành Ủy ban Hợp tác kỹ thuật Trung-Phi (SATCC) và tiếp đó và năm 1972, SATCC được hợp nhất với Ủy ban Hợp tác kỹ thuật quốc tế (CITC). Tổ chức này được giao trách nhiệm tổ chức và quản lý các chương trình hợp tác kỹ thuật của Đài Loan với nước ngoài và hỗ trợ các quốc gia đối tác phát triển nền nông nghiệp của họ.26 Cũng trong thời gian này, Đài Loan bắt đầu bước vào giai đoạn tăng trưởng kinh tế rất mạnh mẽ. Năm 1989, chính phủ Đài Bắc quyết định thành lập Quỹ Hợp tác phát triển kinh tế quốc tế nhằm viện trợ kinh tế cho các nước đối tác đang phát triển. Những dự án hợp tác phát triển đa dạng và ngày càng được mở rộng, số lượng các phái đoàn hỗ trợ kỹ thuật nước ngoài gia tăng, do đó chính phủ Đài Loan đã giải thể IECDF vào năm 1996 và thành lập một tổ chức độc lập với tên gọi Quỹ Phát triển Hợp tác Quốc tế Đài Loan (TaiwanICDF)27. 25 Summary of Taiwan’s Foreign Aid Policy White Paper, Taipei Representative Office in the EU and Belgium, 2009 26 History of the TaiwanICDF, truy cập ngày 25/04/2015 27 History of the TaiwanICDF, truy cập ngày 25/04/2015.
<span class='text_page_counter'>(31)</span> 2.1.2. Mục tiêu TaiwanICDF được thành lập với định hướng mục tiêu là nhằm cải thiện đời sống nông thôn, nâng cao năng lực cạnh tranh công nghiệp và việc làm, tăng cường các mối quan hệ với các tổ chức quốc tếvà theo đuổi mô hình phát triển kinh tế bền vững về môi trường28. Theo điều 7 Điều lệ thành lập tổ chức, hoạt động của TaiwanICDF sẽ tập trung vào các mục tiêu sau: Một là, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế cho các quốc gia đối tác. Hai là, thúc đẩy hợp tác kinh tế chặt chẽ hơn với các quốc gia đối tác. Ba là, hợp tác với các tổ chức quốc tế, thể chế quốc tế hay chính phủ các nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội ở các nước đối tác. Bốn là, cung cấp viện trợ nhân đạo cho người tị nạn quốc tế hoặc cho các nước chịu ảnh hưởng của thảm họa thiên nhiên. Năm là, cung cấp các khóa huấn luyện kỹ thuật và nguồn nhân lực cho các quốc gia đối tác và cung cấp hỗ trợ kỹ thuật nhằm thúc đẩy năng lực công nghiệp ở các nước này. Sáu là, thực hiện các nhiệm vụ ở nước ngoài nhằm cải thiện và phát triển nền nông nghiệp, kinh tế, y tế và giáo dục tại các quốc gia đối tác. Bảy là, các sáng kiến khác được thiết kế để thúc đẩy hợp tác quốc tế và phát triển hoặc thúc đẩy các mối quan hệ thân thiện với các quốc gia khác. Sự ra đời của TaiwanICDF đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong chính sách viện trợ của Đài Loan: Thực tiễn viện trợ của Đài Loan đã và đang trải qua những thay đổi đáng kể.. 2.2. Chính sách viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Đài Loan 28 Vision and Objectives, TaiwanICDF, truy cập ngày 20/04/2015.
<span class='text_page_counter'>(32)</span> 2.2.1. Lý do Đài Loan cung cấp viện trợ Trong trường hợp của Đài Loan, có những luận cứ về pháp lý và xã hội để giải thích cho việc cung cấp viện trợ. Trong đó, quan chức Đài Bắc thường viện dẫn những luận cứ về mặt pháp lý từ Hiến pháp và những hướng dẫn trong chính sách đối ngoại được đưa ra bởi Hành chính viện của Đài Loan như là những lý do cung cấp viện trợ. Theo điều 14 Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc, Đài Bắc ưu tiên cho việc “thúc đẩy quan hệ hữu nghị với các quốc gia khác”, và trong định hướng chính sách đối ngoại, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc “thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế của Trung Hoa Dân Quốc, chia sẻ trách nhiệm và nghĩa vụ quốc tế, mở rộng hợp tác quốc tế và tăng cường ảnh hưởng trong cộng đồng quốc tế”29. Các luận cứ xã hội là sự kết hợp của những nguyên nhân trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, nhân đạo và đạo đức: Thứ nhất, bởi những niềm tin mang tính nhân đạo, Đài Loan nên và có thể cung cấp các khoản viện trợ cho các nước đang phát triển vì hiện tại hòn đảo này đã khá giàu có. Đài Loan hiểu được sự nghèo khó bởi vì vùng lãnh thổ này cũng đã từng trải qua một giai đoạn phát triển đầy khó khăn trong quá khứ, nhận được những khoản viện trợ cần thiết từ Hoa Kỳ và các tổ chức phát triển quốc tế như WB và ADB. Từ năm 1950 đến năm 1965, Đài Loan tiếp nhận tổng cộng 1,5 tỷ đô la Mỹ trị giá các khoản viện trợ kinh tế và viện trợ kỹ thuật và 2,4 tỷ đô la Mỹ viện trợ quân sự từ Hoa Kỳ. Thông qua việc tăng cường viện trợ phát triển chính thức, Đài Loan có thể chia sẻ những kinh nghiệm phát triển của mình với các nước đang phát triển khác. Thứ hai, xét về khía cạnh kinh tế, việc tăng cường viện trợ giúp quốc tế hóa nền kinh tế Đài Loan và tăng cường giao thương cũng như cơ hội đầu tư, từ đó Đài Loan, với tư cách là một nước cung cấp viện trợ cũng có thể đạt được những lợi ích nhất định.. 29 Article 141 Section 2 Foreign Policy, the Constitution of the Republic of China.
<span class='text_page_counter'>(33)</span> Thứ ba, xét về mặt chính trị, viện trợ nước ngoài góp phần tăng cường hiểu biết chung và cải thiện các mối quan hệ song phương. Và thực tế đã chứng minh Đài Loan gia nhập đội ngũ cung cấp viện trợ toàn cầu góp phần nâng cao hình ảnh trên trường quốc tế.30 Đài Loan nỗ lực tận dụng sức mạnh kinh tế của mình, thông qua việc tăng cường viện trợ ODA nhằm tăng cường lợi ích chính trị và ngoại giao. Năm 2009, Bộ Ngoại Giao Đài Loan công bố Sách trắng về Chính sách viện trợ nước ngoài, trong đó nêu ra 4 lý do của việc cung cấp ODA, bao gồm: Thứ nhất, thúc đẩy quan hệ hữu nghị với các đồng minh ngoại giao. Bởi tình thế ngoại giao đặc biệt, Đài Bắc buộc phải tận dụng các nguồn lực hạn chế của mình một cách có hiệu quả. Trong quá trình xác định mục tiêu viện trợ ưu tiên và phân bổ nguồn lực, Đài Loan đặc biệt chú trọng việc tăng cường quan hệ với các đồng minh ngoại giao. Thông qua các chương trình viện trợ chuyên môn và có hiệu quả, chính phủ Đài Loan giúp các đồng minh ngoại giao của mình phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế cơ bản. Thứ hai, hoàn thành trách nhiệm của Đài Loan với tư cách là một thành viên của cộng đồng quốc tế. "Phát triển quan hệ đối tác toàn cầu vì sự phát triển" là một trong những Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc, nhằm mục đích giải quyết các vấn đề quốc tếvề kinh tế, xã hội, văn hóa và phúc lợi của con người. Tuyên bố Thiên niên kỷ cũng kêu gọi tất cả các quốc gia phát triển hào phóng hơn trong cung cấp viện trợ phát triển. Đài Loan đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 20 thế giới vào năm 2008, do đó Đài Loan có trách nhiệm lớn hơn đối với các thành viên khác trong cộng đồng quốc tế. Thứ ba, bảo vệ an ninh nhân loại. Nạn đói, bệnh tật, buôn lậu, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, xung đột sắc tộc và chủ nghĩa khủng bố đe dọa nghiêm trọng tới an ninh nhân loại. Ngoài những đóng góp đáng kể cho an ninh toàn cầu và hòa bình thế giới, những chương trình viện trợ nước ngoài của Đài Loan còn giúp đảm bảo sự sống còn của con người và phát triển môi trường bền vững. 30 Gerald Chan (1997), Taiwan as an Emerging Foreign Aid Donor: Developments, Problems, and Prospects, NXB. Pacific Affairs, University of British Columbia.
<span class='text_page_counter'>(34)</span> Thứ tư, cống hiến lại cho cộng đồng quốc tế. Từ những năm 1950 tới những năm 1980, những khoản đóng góp và hỗ trợ mà Đài Loan nhận được từ các tổ chức quốc tế và những quốc gia giàu có như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ả Rập Saudi đã giúp Đài Bắc xây dựng được cơ sở hạ tầng kinh tế cốt lõi. Đài Loan đã trải qua lịch sử phát triển từ một nơi tiếp nhận ODA, do đó Đài Bắc có nghĩa vụ chia sẻ kinh nghiệm phát triển của mình và cống hiến lại cho cộng đồng quốc tế. Thứ năm, phát triển chủ nghĩa nhân đạo. Hàng tỷ người trên thế giới đang phải chịu cảnh đói nghèo, bệnh tật và thiên tai. Đài Loan luôn tôn trọng các giá trị cốt lõi của nhân loại, do đó sẵn sàng cung cấp viện trợ kỹ thuật, tài chính, lương thực và vật chất cho các quốc gia phải đối mặt với thiên tai hay đang gặp khó khăn.31 Mặc dù Đài Loan đưa ra các lý do cung cấp viện trợ không theo thứ tự ưu tiên, bao gồm lý do nhân đạo và nguyên do chính trị, ngoại giao. Tuy nhiên, thực tế sự liên quan chặt chẽ giữa viện trợ nước ngoài của Đài Loan với những mục tiêu chính trị, ngoại giao được chứng minh rất rõ qua những con số thống kê: Tổng viện trợ phát triển chính thức của Đài Loan năm 2008 là hơn 430 triệu USD, tương đương 0,11% GNI của nền kinh tế. Trong đó, 92% là viện trợ song phương và chỉ có 8% viện trợ đa phương. Viện trợ phát triển song phương chủ yếu tập trung vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản cho các đồng minh ngoại giao (66%), hỗ trợ kỹ thuật (11%), giáo dục và đào tạo (4%), viện trợ nhân đạo (6%) và các khu vực khác (5%)32. Như vậy, Đài Bắc có nhiều động cơ để cung cấp viện trợ nước ngoài, trong đó các động cơ chính trị và ngoại giao là rõ ràng nhất. 2.2.2. Nước tiếp nhận viện trợ chính của Đài Loan Ngay từ khi mới được thành lập vào năm 1996, Bộ Ngoại giao Đài Loan đã khuyến cáo mạnh mẽ TaiwanICDF rằng viện trợ chỉ nên cung cấp cho những. 31 Goals of Aid Provision, Summary of Taiwan’s Foreign Aid Policy White Paper, Taipei Representative Office in the EU and Belgium 32 Taiwan’s Current Foreign Aid Work, Summary of Taiwan’s Foreign Aid Policy White Paper, Taipei Representative Office in the EU and Belgium.
<span class='text_page_counter'>(35)</span> quốc gia “thân thiện” với Đài Loan, những nước có hồ sơ vay và trả nợ tốt, và có thu nhập quốc gia bình quân đầu người dưới 2.500 đô la Mỹ33. Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Đài Loan lại không đưa ra định nghĩa rõ ràng thế nào là một “quốc gia thân thiện”. Theo một báo cáo của Bộ ngoại giao Đài Loan vào năm 1996, những quốc gia đó bao gồm: Thứ nhất, những quốc gia có quan hệ ngoại giao với Đài Loan. Thứ hai, những quốc gia không có mối quan hệ ngoại giao với Đài Loan nhưng cho phép cơ quan đại điện của Đài Loan hoạt động dưới tên Trung Hoa Dân Quốc tại lãnh thổ nước mình. Thứ ba, những quốc gia có quan hệ thương mại hoặc quan hệ văn hóa với Đài Loan. Thứ tư, những quốc gia đang cố gắng tăng cường mối quan hệ với Đài Loan. Thứ năm, những quốc gia không thù địch với Đài Loan. Như vậy, nhìn vào các văn bản báo cáo chính thức của Đài Bắc, tất cả những nước thu nhập thấp và không thể hiện thái độ thù địch với Đài Loan đều có thể là đối tượng tiếp nhận ODA từ vùng lãnh thổ này. Tuy nhiên, nghiên cứu lịch sử viện trợ của vùng lãnh thổ này trong suốt giai đoạn từ năm 1996 đến nay, các số liệu thống kê cho thấy đối tượng chủ yếu tiếp nhận viện trợ phát triển chính thức của Đài Bắc là các nước nhỏ, đang phát triển và các nước có quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan. Cụ thể, năm 1996 TaiwanICDF cam kết và thông qua các khoản cho vay trị giá 330 triệu đô la Mỹ cho 16 nước, bao gồm Costa Rica (một nước nhỏ ở Trung Mỹ, tại thời điểm này đang là một đồng minh ngoại giao của Đài Loan nhưng sau đó đã cắt đứt quan hệ ngoại giao chính thức vào năm 2007) 34, Cộng hoà Dominica (một quốc gia nhỏ ở vùng Caribbean, chính thức công nhận Trung Hoa Dân Quốc trong suốt giai đoạn 1983-2004)35, các quốc gia đang phát triển ở châu Đại Dương bao gồm Nauru, Papua New Guinea, châu Phi như Malawi, Niger, Nam 33 Ministry of Foreign Affairs, Republic of China (Taiwan) 34Costa Rica breaks relations with Taiwan, NBC news.com 35Mitchell to reveal China details,
<span class='text_page_counter'>(36)</span> Phi, và bên cạnh đó cũng có những nước tiếp nhận viện trợ này dù không có quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan như Việt Nam hay Philippine.36 Trong báo cáo thường niên năm 2013, Quỹ Phát triển Hợp tác Quốc tế Đài Loan (ICDF) công bố Bộ ngoại giao Đài Loan đã ủy quyền cho quỹ này giám sát việc triển khai của 29 phái đoàn kỹ thuật, y tế, kỹ thuật công nghiệp và thương mại tại 29 quốc gia đang phát triển. Trong đó tổng cộng 11 phái đoàn hỗ trợ kỹ thuật đang hoạt động tại các nước thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương và Trung Đông; 3 phái đoàn hỗ trợ kỹ thuật khác và 1 phái đoàn y tế đang hoạt động tại châu Phi; và 14 phái đoàn còn lại hoạt động tại Trung và Nam Mỹ và vùng Caribbean37. Như vậy, có thể thấy đối tượng tiếp nhận viện trợ chủ yếu của Đài Loan là các quốc gia nhỏ bé, đang phát triển, có quan hệ ngoại giao chính thức hoặc thể hiện ý chí thân thiện với vùng lãnh thổ này thuộc các khu vực châu Á-Thái Bình Dương, châu Phi, Trung và Nam Mỹ và vùng Caribbean. 2.2.3. Cách thức cung cấp viện trợ của Đài Loan Viện trợ phát triển ODA của Đài Loan được đẩy mạnh thông qua các kênh sau đây: Kênh thứ nhất: Bộ Ngoại giao (MOFA) Bộ Ngoại giao là cơ quan phụ trách chính sách đối ngoại của Đài Bắc. Viện trợ là một phần quan trọng trong những nỗ lực của Đài Loan để nhận được sự công nhận ngoại giao từ các nước khác trước "Chính sách một Trung Quốc" của Trung Quốc đại lục. Thực tế, các hoạt động viện trợ của ICDF cũng nằm dưới sự chỉ đạo của Bộ Ngoại giao Đài Loan. Thông qua Bộ ngoại giao Đài Loan, các khoản tài trợ và cho vay được cung cấp cho các quốc gia thân thiện đang phát triển. Số lượng viện trợ này được tính vào ngân sách của Bộ ngoại giao với tên gọi là “Các hoạt động đối ngoại quốc tế”. Bộ này cũng quản lý các khoản hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa nhưng được cứu trợ dưới một mục ngân sách riêng biệt với ngân sách hàng năm khoảng 4 triệu đô la mỹ. Đài Loan đã cung cấp 3,3 triệu đô la Mỹ năm 1996; 35,8 triệu năm 1997; 60 triệu năm 1998; 5,7 36 1997 Annual Report of TaiwanICDF 37 Operations, 2013 TaiwanICDF Annual Reports.
<span class='text_page_counter'>(37)</span> triệu năm 1999 và 5,7 triệu năm 2000 cho viện trợ nhân đạo. MOFA Đài Loan đã và đang cung cấp cứu trợ thảm họa tới những nạn nhân của lũ lụt, bão lớn tại 10 quốc gia, ví dụ như Guatemala. Ngoài ra, MOFA Đài Loan cũng cung cấp các khoản viện trợ thông qua Tòa Thánh tới người dân của 10 quốc gia bị ảnh hưởng bởi thiên tai, chiến tranh.38 Cùng với đó, Bộ ngoại giao Đài Loan cũng quản lý một ngân sách hợp tác kỹ thuật quốc tế trị giá khoảng 1,4 tỷ Tân Đài Tệ mỗi năm trong suốt một thập kỷ trở lại đây. Tổng khối lượng viện trợ nước ngoài được điều hành bởi Bộ ngoại giao Đài Loan không dễ dàng kiểm đếm được bằng một số khoản chi tiêu, bởi chẳng hạn các khoản viện trợ cho những quốc gia thân thiện rất nhạy cảm về mặt chính trị và bí mật và có thể không được liệt kê trong các khoản ngân sách công khai.39 Kênh thứ hai: Quỹ phát triển và hợp tác quốc tế Đài Loan TaiwanICDF Đây là kênh cung cấp ODA chủ yếu nhất. TaiwanICDF chịu trách nhiệm về chương trình viện trợ của Đài Loan. Được thành lập năm 1996, Taiwan ICDF có nguồn tài chính riêng dành cho viện trợ ODA, ngoài ra quỹ này cũng thực hiện các dự án viện trợ thay mặt cho các cơ quan khác của Chính phủ, bao gồm MOFA và Bộ Kinh tế Đài Loan. Trong bản tóm tắt Sách trắng về chính sách đối ngoại của Đài Loan, TaiwanICDF chịu trách nhiệm cung cấp các dự án viện trợ thuộc các lĩnh vực chủ yếu sau: Trợ giúp kỹ thuật: Trong năm 2008, 30 phái đoàn hỗ trợ kỹ thuật bao gồm tổng cộng 210 chuyên gia đã được gửi sang 28 quốc gia khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Tây Á, châu Phi và Mỹ Latinh 40. Những phái đoàn này đã trợ giúp 83 dự án hợp tác trong các lĩnh vực nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi, chế biến thực phẩm, công nghệ thông tin và đào tạo nghề. Đối với hợp tác trong lĩnh vực chăm sóc y tế, bên cạnh những phái đoàn hỗ trợ y tế được gửi đi bởi Sở y tế tới Quần đảo Solomon và Quần đảo Marshall, Bộ Ngoại giao Đài Loan cũng đã ủy nhiệm cho TaiwanICDF gửi các phái đoàn viện trợ tới những đồng 38Summary of Taiwan’s Foreign Aid Policy White Paper 39Gerald Chan (1997), Taiwan as an Emerging Foreign Aid Donor: Developments, Problems, and Prospects, NXB. Pacific Affairs, University of British Columbia 40 2009 Annual Report of TaiwanICDF.
<span class='text_page_counter'>(38)</span> minh ngoại giao quan trọng của Đài Bắc ở châu Phi, bao gồm Burkina Faso, São Tomé và Príncipe và Vương quốc Swaziland. TaiwanICDF cũng đã và đang phối hợp với các tổ chức chăm sóc y tế trực thuộc Liên minh chiến lược hợp tác y tế quốc tế (IHCSA) để gửi đi những nhân viên y tế từ Đài Loan với vai trò như những phái đoàn y tế lưu động ngắn hạn (thường là từ 2 đến 3 tuần) để tham gia vào các chương trình hợp tác chăm sóc y tế tại các quốc gia thân thiện với Đài Bắc. Chỉ tính riêng trong năm 2008, 18 phái đoàn y tế lưu động đã được gửi đi nhằm cung cấp các dịch vụ y tế miễn phí tại 13 nước ở Trung Mỹ, châu Á- Thái Bình Dương và vùng Caribbean. Ngoài ra, theo yêu cầu của các đại sứ quán và các văn phòng đại diện nước ngoài của Đài Bắc, TaiwanICDF đã gửi 86 tình nguyện viên cả ngắn hạn và dài hạn với trình độ chuyên môn tốt trong các lĩnh vực khác nhau để cung cấp dịch vụ cho các đồng minh ngoại giao và các quốc gia thân thiện với Đài Loan. Viện trợ dưới hình thức chuyên gia mà các tình nguyện viên Đài Loan cung cấp đã và đang góp phần đáng kể vào việc cải thiện quan hệ đối ngoại của Đài Bắc41 Viện trợ trên lĩnh vực giáo dục – đào tạo: Trong khía cạnh đào tạo tại chỗ hay đào tạo chỉ tay dắt việc, TaiwanICDF phối hợp với MOFA Đài Loan đã tổ chức các khóa học với tổng số 28 chủ đề cho 628 sinh viên đến từ 55 quốc gia. Bên cạnh đó, TaiwanICDF hàng năm cung cấp các suất học bổng giáo dục đại học cho hơn 200 sinh viên đến từ các nước đang phát triển42 Kênh thứ ba: Ngân hàng Xuất nhập khẩu Đài Loan (EXIM) EXIM cung cấp các dịch vụ tiêu chuẩn của một ngân hàng xuất nhập khẩu bao gồm bảo hiểm xuất khẩu, các dịch vụ tín dụng, dịch vụ bảo lãnh. Ngân hàng này hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của Chính phủ Đài Loan. EXIM được liệt kê vào danh sách một trong những kênh cung cấp ODA của Đài Bắc, tuy nhiên chưa có số liệu thống kê chính xác khối lượng các khoản tín dụng xuất khẩu của Đài Loan thỏa mãn định nghĩa ODA của OECD43 Kênh thứ tư: Taiwan International Health Action (Taiwan IHA) 41 Summary of Taiwan’s Foreign Aid Policy White Paper 42 International Higher Education Scholarship Program, TaiwanICDF 43 EXIM “Bank Services”, truy cập ngày 20/04/2015.
<span class='text_page_counter'>(39)</span> Taiwan IHA thành lập năm 2006 là một ví dụ hay về cách thức Đài Loan tìm kiếm hợp tác với các thể chế đa phương và các tổ chức phi chính phủ nhằm vượt qua những khó khăn mà Đài Bắc phải đối mặt khi sử dụng các kênh viện trợ song phương thông thường. Taiwan IHA lôi kéo các nguồn lực tài chính từ cơ quan chính phủ các nước và khu vực tư nhân nhằm tạo nên một cơ quan dành riêng cho "chăm sóc y tế không biên giới" và tăng cường sự công nhận ngoại giao cũng như vị thế quốc tế của Đài Loan. 44Mới đây nhất, Bộ Ngoại Giao Đài Loan đề nghị sẽ gửi một đơn vị cứu trợ y khoa Taiwan International Health Action giúp đỡ Nepal sau trận động đất, tuy nhiên thì đề nghị này đã bị chính Nepal từ chối. Kênh thứ năm: Quỹ Ứng phó Khẩn cấp Vào tháng 2 năm 2006, TaiwanICDF và tổ chức cứu hộ phi chính phủ của Mỹ, Mercy Corps đã thành lập Quỹ Ứng phó Khẩn cấp nhằm giúp Đài Loan nhanh chóng giải ngân viện trợ vì các mục tiêu nhân đạo. Mỗi bên đã đóng góp 5 triệu đô la Mỹ để tạo lập quỹ ban đầu, với những khoản giải ngân đầu tiên vào năm 2006 viện trợ cho những người tị nạn từ cuộc xung đột Sri Lanka. 2.2.4. Các loại viện trợ Theo mục đích sử dụng: Đài Loan cung cấp tương đối ít các khoản ODA hỗ trợ cán cân thanh toán hay hỗ trợ ngân sách. Viện trợ song phương của Đài Bắc chủ yếu là ODA hỗ trợ dự án và hỗ trợ kỹ thuật. Vùng lãnh thổ Đài Loan có một lịch sử lâu dài trong việc cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển. Các văn bản chính thức của TaiwanICDF đều tuyên bố rằng Chính sách hỗ trợ kỹ thuật của Đài Bắc được thiết kế để đáp ứng các nhu cầu của các quốc gia đối tác. Năm 2013, tổng kinh phí cho các dự án ODA của TaiwanICDF lên tới 1,87 tỷ $NT (tương đương khoảng 65 triệu USD), trong đó các khoản giải ngân cho vay và đầu tư chỉ chiếm 432,29 triệu NT$ (khoảng 15 triệu USD), còn lại là hỗ trợ kỹ thuật và trợ cấp, 50 triệu USD.45 44 Taiwan IHA (2006) “Vision and Projections”, www.taiwaniha.org/eaboutus.html truy cập ngày 20/04/2015 45 Operation, 2013 Annual Report of TaiwanICDF, p.37.
<span class='text_page_counter'>(40)</span> Biểu đồ 2.1 - Tổng kinh phí viện trợ theo dự án năm 2013 (đơn vị: %). Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2013 của TaiwanICDF Nhìn vào biểu đồ trên, ta thấy hỗ trợ kỹ thuật chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng kinh phí viện trợ của Đài Loan trong năm 2013 (72,3%), theo sau là các dự án được tài trợ bằng cách cho vay (13,5%), trợ cấp (4,5%) và đầu tư (9,7%). Theo nguồn cung cấp: Theo báo cáo của Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) thuộc OECD, một khối lượng lớn ODA Đài Loan được cung cấp thông qua các kênh song phương.46 Tổng viện trợ phát triển chính thức của Đài Loan trong năm 2013 là khoảng 272 triệu USD, tương đương 0.054% tổng thu nhập quốc dân. Trong số đó, tới 92% là viện trợ song phương và chỉ có 8% viện trợ đa phương.47 Đài Bắc cung cấp ODA song phương trên nhiều lĩnh vực, bao gồm: Hỗ trợ cơ sở hạ tầng cơ sở: Cho đến này có 306 dự án được thực hiện bao gồm 49 dự án cho chính sách tài chính và phát triển, 38 dự án dành cho phát triển chăm sóc y tế, 34 cho phát triển xã hội, 31 cho phát triển kinh tế, 29 cho phát triển giao thông vận tải, 27 cho phát triển giáo dục, 27 cho phát triển nông nghiệp và thủy sản, 26 cho phát triển văn hóa, 21 cho phát triển công nghệ, 17 cho phát triển 46 DAC, 2007, p105 47 Operation, 2013 Annual Report of TaiwanICDF, p.37.
<span class='text_page_counter'>(41)</span> cộng đồng và 7 dự án dành cho bảo vệ môi trường; Hỗ trợ kỹ thuật: Năm 2013, dưới sự chỉ đạo của MOFA, TaiwanICDF đã giám sát hoạt động của 28 nhiệm vụ kỹ thuật, y tế, thương mại và dịch vụ công nghiệp tại 29 quốc gia với tổng cộng 57 dự án hợp tác song phương, 117 kỹ thuật viên. Ngoài ra, viện trợ ODA song phương của Đài Bắc còn được cung cấp dưới hình thức viện trợ nhân đạo và trợ giúp các nước đang phát triển trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo. Viện trợ ODA đa phương: Thực tế Đài Bắc không là quốc gia thành viên của các tổ chức quốc tế lớn, do đó Đài Loan không thể đóng góp ODA chính thức cho các tổ chức này. Đài Loan đã và đang phát triển những cách thức mới nhằm cung cấp viện trợ thông qua hoặc cùng với các tổ chức phi chính phủ và các thể chế đa phương, cụ thể là: Đóng góp cho các tổ chức quốc tế: Đài Loan đã đóng góp những khoản viện trợ cho ABD và giúp đỡ các nước đang phát triển nâng cao năng lực và phát triển cơ sở hạ tầng thông qua các tổ chức như Tổ chức Năng suất Châu Á, Trung tâm công nghệ thực phẩm & phân bón; Tài trợ kinh phí dành riêng cho hợp tác quốc tế: Đài Loan đóng góp tài chính cho Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (EBRD) dành cho Quỹ hợp tác kỹ thuật TaiwanBusiness-EBRD và đóng góp tài chính cho Quỹ ứng phó khẩn cấp; Hợp tác đầu tư và tài trợ thông qua các tổ chức quốc tế: Đài Bắc với vai trò là thành viên của ABD và Ngân hàng Hội nhập kinh tế Trung Mỹ đã phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng phát triển liên Mỹ. Sự hợp tác giữa Đài Loan với những tổ chức đa phương này chủ yếu được thực hiện thông qua các hình thức đầu tư chung và cung cấp tài chính. Ví dụ, Đài Loan thành lập Quỹ Đầu tư trung gian tài chính đặc biệt nhằm cung cấp tài chính và cơ hội đầu tư cho các quốc gia đối tác của EBRD tại EBRD.48 2.2.5. Số lượng và chất lượng ODA Tổng hợp số liệu thống kê viện trợ ODA của Đài Loan từ các báo cáo thường niên của TaiwanICDF từ năm 2008 đến mới đây nhất là báo cáo năm 2013, ta có bảng số lượng viện trợ phát triển chính thức của Đài Bắc như sau:. 48Summary of Taiwan’s Foreign Aid Policy White Paper.
<span class='text_page_counter'>(42)</span> Bảng 2.1 - Số liệu thống kê viện trợ phát triển chính thức ODA của Đài Loan giai đoạn 2008-2013 Năm 2008 2009 2010 2011 2012 2013. ODA (triệu USD) 430 407 380 381 304 272. ODA/GNI (%) 0,110 0,104 0,101 0,093 0,061 0,054 Nguồn: TaiwanICDF. Qua bảng trên, có thể thấy từ năm 2008 đến nay, viện trợ ODA của Đài Loan đang có xu hướng giảm dần, về cả giá trị tuyệt đối và giảm về tỷ lệ so với GNI nền kinh tế. Một lý do Đài Loan có thể giải thích cho hiện tượng trên là Đài Bắc cũng là một nền kinh tế bị ảnh hưởng đáng kể bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, khiến ngân sách dành cho viện trợ nước ngoài suy giảm. Trong năm 2013, tổng viện trợ nước ngoài của Đài Loan trị giá khoảng 272 triệu USD, tương đương 0,054% GNI của nền kinh tế. Tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều nếu so với mục tiêu 0,7% UN đặt ra. Trong mối tương quan so sánh với năm 2012, con số này cũng đã giảm nhẹ từ 304 triệu USD, tương đương tỷ lệ ODA/GDP là O,062%. Những con số này chỉ có ý nghĩa khi được xem xét trong mối quan hệ với khối lượng ODA được cung cấp bởi cộng đồng quốc tế. Tổng khối lượng ODA cung cấp bởi các thành viên DAC đạt 134,8 tỷ USD năm 2013, cao hơn 7% so với con số 125,6 tỷ USD năm 2012. Tỷ lệ ODA/GNI là 0,3%, tăng nhẹ so với tỷ lệ này trong năm 2012 (0,29%). Trong số những thành viên của DAC chỉ có 5 quốc gia đạt được mục tiêu 0,7% của UN bao gồm Na Uy, Thụy Điển, Luxembourg, Đan Mạch và Vương quốc Anh. Xét về trị giá tuyệt đối viện trợ ODA, ta có bảng xếp hạng sau: Biểu đồ 2.2 – Tổng khối lượng ODA của các thành viên DAC/OECD năm 2013 (đơn vị: tỷ USD).
<span class='text_page_counter'>(43)</span> Nguồn: OECD Hoa Kỳ là nhà tài trợ ODA lớn nhất, tiếp theo là Anh, Đức, Nhật và Pháp nếu tính theo giá trị các khoản viện trợ, Đài Loan với 272 triệu USD xếp hạng thứ 25, sau Hy Lạp (310 triệu USD) và đứng trước Cộng hòa Czech (210 triệu USD). Tuy nhiên, nếu xét tỷ lệ ODA/GNI, bảng xếp hạng này có sự thay đổi lớn:.
<span class='text_page_counter'>(44)</span> Biểu đồ 2.3 – Tỷ lệ ODA/GNI của các thành viên DAC/OECD năm 2013 (đơn vị: %). Nguồn: OECD Nhìn vào bảng xếp hạng ta thấy, tỷ lệ ODA/GNI năm 2013 của Đài Loan là 0,054, thấp hơn so với tỷ lệ này của tất cả các quốc gia thành viên OECD. Như vậy, trị giá viện trợ phát triển ODA của Đài Bắc tuy lớn nhưng vẫn chưa tương xứng với quy mô nền kinh tế của vùng lãnh thổ này. Đài Loan là một nhà tài trợ ODA tiềm năng và nếu như Đài Bắc theo đuổi mục tiêu 0,7% mà UN kêu gọi thì khối lượng viện trợ nước ngoài của hòn đảo này sẽ rất đáng kể. 2.3. Triển vọng Để xem xét triển vọng của các chương trình viện trợ của Đài Bắc, cần phải xem xét ba khía cạnh: Thứ nhất, tính hiệu quả của các chương trình viện trợ ngoại giao của Đài Loan. Trong số 47 quốc gia tiếp nhận viện trợ ODA của Đài Loan năm 2013, có tới 22 nước có mối quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Bắc 49. Nhờ các khoản viện trợ này, trong suốt giai đoạn từ năm 2008 đến nay, chỉ có duy nhất trường hợp nước Cộng hòa Gambia ở Tây Phi tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với 49 2013 annual report of TaiwanICDF.
<span class='text_page_counter'>(45)</span> Đài Loan. Tuy việc cung cấp ODA cho các nước đang phát triển không giúp Đài Bắc đạt thêm sự công nhận từ quốc gia nào, nhưng chỉ tính riêng việc các đồng minh ngoại giao cũ không chuyển qua công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dưới áp lực của những khoản đầu tư khổng lồ từ Trung Quốc đại lục đã có thể coi là một hiệu quả của chương trình viện trợ. Những quốc gia này tuy có ít ảnh hưởng trong chính trị quốc tế nhưng việc đo lường những thành quả ngoại giao là rất khó và là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Thứ hai, tiềm năng của viện trợ ODA Đài Loan. Đài Loan có thể trở thành một nhà tài trợ ODA đáng kể bởi tiềm lực kinh tế của vùng lãnh thổ này và Đài Loan chắc chắn sẽ tận dụng những nguồn lực tài chính của mình để tăng cường vị thế chính trị. Thứ ba, thực tế viện trợ ODA của Đài Loan đang thiếu sự cân bằng giữa viện trợ song phương và viện trợ đa phương. Hiệu quả của các khoản viện trợ song phương của Đài Loan là Đài Bắc có thể duy trì một vị thế thương lượng tốt trong việc đòi hỏi những lợi ích chính trị cũng như lợi ích kinh tế cho việc cung cấp viện trợ. Tất cả viện trợ ODA song phương có thể kiểm soát dễ dàng, đặc biệt là trong việc đánh giá những dự án đang diễn ra. Tuy nhiên rủi ro cho Đài Loan là hầu hết các khoản cho vay cung cấp song phương sẽ có thể không dễ dàng được trả lại vì nhiều lý do và bởi vị thế chính trị quốc tế yếu của Đài Bắc, sẽ khó để Đài Loan đòi được các khoản hoàn trả nợ từ các nước tiếp nhận viện trợ. Trong khi đó, viện trợ đa phương có ưu điểm là giải quyết được hầu hết các vấn đề nêu trên và có thể chứng minh được tính hiệu quả đối với Đài Loan. Ví dụ, Đài Loan có thể đóng góp một phần trăm nhất định trong tổng số các khoản cho vay viện trợ cho các nước đang phát triển, ví dụ 25%, dựa trên sự đóng góp này những nước đang phát triển cần vốn viện trợ có thể xin 75% còn lại từ các tổ chức phát triển khác hoặc từ các nhà tài trợ khác để tài trợ cho những dự án của nước mình. Hơn nữa, thông qua viện trợ đa phương, các về đề về tham những hay lạm dụng công quỹ thường gặp phải trong viện trợ song phương sẽ được tối thiểu hóa. Một ưu điểm nữa của viện trợ đa phương đó là thông qua làm việc với các tổ chức phát triển quốc tế, Đài Loan có thể học hỏi kinh.
<span class='text_page_counter'>(46)</span> nghiệm từ các tổ chức này trong việc quản lý viện trợ.Đài Loan có thể tăng cường sự tham gia của mình vào các hoạt động của các tổ chức phát triển quốc tế và phát triển một mạng lưới liên lạc rộng khắp, qua đó cải thiện vị thế quốc tế. Trong bối cảnh viện trợ phát triển chính thức đã và đang trở nên hiếm hoi trên toàn cầu, khả năng tăng cường viện trợ ODA của Đài Loan không nghi ngờ gì có thể đảm bảo viện trợ sẽ là một công cụ ngoại giao hữu ích và một công cụ kinh tế tiềm năng quan trọng. 2.4. Các vấn đề tồn đọng Chương trình viện trợ của Đài Loan đang phải đối mặt với bốn vấn đề lớn: Đầu tiên, Đài Loan bị hạn chế và thường xuyên gặp khó khăn trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao với thế giới bên ngoài đã và đang là nhân tố cản trở chính trong chính sách ngoại giao kinh tế của Đài Bắc. Một ví dụ gần đây nhất, Đài Loan phản hồi lại lời kêu gọi trợ giúp quốc tế từ Nepal sau trận động đất ngày 25/04/2015, tuy nhiên, thiện ý cứu trợ nhân đạo này của Đài Bắc lại bị chính Nepal từ chối. Nepal kêu gọi cộng đồng quốc tế hỗ trợ, đặc biệt là các đội y tế trong khi Đài Loan đã có sẵn những đội được trang bị tốt và hoạt động cực kỳ hiệu quả cho các hoạt động tìm kiếm và cứu hộ trong trường hợp động đất, điều này đã được chứng tỏ trong trận động đất Tứ Xuyên năm 2008 và Haiti năm 2011. Ngoài ra, Đài Loan cũng đã cam kết viện trợ trị giá 300.000 USD và đã phát động các chiến dịch gây quỹ và một số nhóm chính phủ và tổ chức từ thiện Đài Loan có kế hoạch cứu hộ tới Nepal.50Lý do Nepal đưa ralà nước này và Đài Bắc không đủ gần, cả về khoảng cách địa lý và phương diện ngoại giao. Thay vào đó, Nepal sẽ dựa vào hai nước láng giềng Trung Quốc và Ấn Độ của mình, và chỉ thông báo cho Đài Loan khi cần nhiều sự giúp đỡ hơn. Nhiều nhà nghiên cứu thế giới đều chung nhận định rằng, nguyên nhân của sự kiện này là do áp lực từ phía Trung Quốc khi Nepal và Trung Quốc từ lâu có quan hệ ngoại giao gần gũi. TaiwanICDF là một cơ quan phát triển chính thức, do đó sự gia tăng các khoản tiền viện trợ của quỹ cần phải được chấp thuận một các chính thức bởi cả Đài Loan và chính quyền nước tiếp nhận. Các mối quan hệ ngoại 50 Theo tin của Reuters.
<span class='text_page_counter'>(47)</span> giao hạn chế của Đài Loan là một trong những nguyên nhân cản trở chính sách viện trợ ngoại giao của hòn đảo này. Tiền viện trợ không thể được cung cấp do những những vấn đề ngoại giao là một đặc điểm rõ ràng của chương trình viện trợ của Đài Loan. Thứ 2, thiếu triết lý viện trợ rõ ràng và có tính đồng thuận, một triết lý có thể định hướng chính sách viện trợ của Đài Loan. Taiwan ICDF được thành lập một phần là do kết quả của áp lực từ cộng đồng quốc tế khi vùng lãnh thổ này tích lũy thặng dư thương mại ngày càng lớn. Chính quyền Đài Loan thời điểm này lo ngại rằng nếu như không làm gì với khối lượng tài sản quốc gia ngày một tăng lên, thì các nước khác có khả năng sẽ thực thi các chính sách thương mại không thuận lợi đối với Đài Loan. Như vậy rõ ràng là quyết định đầu tiên trong việc thành lập TaiwanICDF được đưa ra một cách vội vàng mà không hề có những công tác chuẩn bị hiệu quả trước đó. Khi TaiwanICDF được thành lập, trong chính nội bộ Đài Loan cũng có những ý kiến phản đối, viện dẫn những lý do như Đài Loan cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng và cải thiện chất lượng cuộc sống của dân cư mình trước khi cung cấp viện trợ nước ngoài. Thứ ba, thiếu tính minh bạch trong chính sách ngoại giao đồng đô la dẫn đến sự bất mãn trong xã hội Đài Loan. Do vị thế chính trị của Đài Loan không được cải thiện nhiều, đã có nhiều ý kiến trong dân chúng cho rằng chính sách viện trợ nước ngoài của Đài Bắc chỉ là một sự lãng phí. Một số còn cho rằng số lượng các quốc gia chính thức công nhận Đài Loan không có ý nghĩa trong việc nâng cao vị thế chính trị của hòn đảo này bằng việc tập trung phát triển sức mạnh kinh tế. Nền kinh tế rơi vào giai đoạn trì trệ do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính 2008 cũng là một nhân tố khiến cho thời gian gần đây chính sách viện trợ nước ngoài của Đài Bắc gặp phải phản đối từ phía người dân. Việc thiếu hệ thống giám sát khiến Đài Loan không kiểm soát tốt tham nhũng trong nội bộ và tại các nước tiếp nhận ODA. Bộ Ngoại giao Đài Loan năm 2009 đã thừa nhận 30 triệu USD vốn dành cho việc phát triển quan hệ chính thức với.
<span class='text_page_counter'>(48)</span> Papua New Guinea đã biến mất. Sự kiện này càng khiến cho xã hội Đài Loan mất dần sự ủng hộ đối với chính sách viện trợ nước ngoài của chính phủ.51 Thứ tư, tranh cãi nội bộ trong vấn đề liệu rằng kinh tế hay chính trị nên là yếu tố quyết định đến phân bổ viện trợ của Đài Loan. Vấn đề này tồn tại trong hầu hết tất cả các quốc gia tài trợ ODA, tuy nhiên trong trường hợp của Đài Bắc, vấn đề này càng có tác động đáng kể hơn bởi tình trạng ngoại giao đặc thù. Những người coi trọng kinh tế hơn chính trị ưu tiên việc cung cấp các khoản viện trợ ràng buộc có kèm theo lợi ích thương mại và đầu tự. Ngược lại, những người coi trọng chính trị hơn kinh tế thì lập luận rằng nguồn tài chính của Đài Loan là có hạn do đó cần ưu tiên theo thứ tự để có thể sử dụng những nguồn lực hạn chế một các hiệu quả nhất. Theo như quan điểm của phe thứ hai thì viện trợ nên được sử dụng nâng cao lợi ích quốc gia của Đài Loan và trong trường hợp vị thế ngoại giao của Đài Loan nghèo nàn như hiện nay thì các khoản viện trợ cần phải được sử dụng để hỗ trợ những nỗ lực ngoại giao. 2.5. Quá trình viện trợ ODA của Đài Loan cho Vương quốc Swaziland 2.5.1. Tổng quan về Vương quốc Swaziland Vương quốc Swaziland là một quốc gia có diện tích tương đối nhỏ và không giáp biển ở châu Phi. Hơn 60% dân số nước này sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp tự cung tự cấp. Tuy nhiên, ở quốc gia này, những sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra cũng được đem bán, chủ yếu là đường mía, bông, ngô, thuốc lá, gạo, dứa, cao lương, đậu phộng và gia súc. Nông dân ở Swaziland phải đối mặt với những vấn đề dai dẳng như chăn thả quá mức, suy thoái đất, hạn hán và lũ lụt thường xuyên. Những lý do nêu trên giải thích một phần tại sao trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm từ 10 đến 12% GDP mặc dù nông nghiệp không chỉ là nền tảng của công nghiệp sản xuất (ngành chiếm tới 40% GDP) mà còn tác động đến khu vực dịch vụ (khu vực đóng góp phần còn lại của GDP).52 Nền kinh tế Swaziland phụ thuộc chủ yếu vào xuất khẩu với. 51Mandy, Hsiao-chuan Liao Eun Jeong Soh, “Dollars and Diplomacy: Instrumentality of Foreign Aid -Taiwan and Korea”, University of South Carolina, (8), 2009 52 Swaziland GDP, composition by sector – CIA World Factbook.
<span class='text_page_counter'>(49)</span> các mặt hàng quan trọng nhất bao gồm nước ngọt đóng chai, đường, bột giấy từ gỗ và sản phẩm nông nghiệp đã qua chế biến. 2.5.2. Mối quan hệ giữa Đài Loan và Swaziland Quan hệ ngoại giao giữa Đài Loan và Swaziland được thiết lập vào năm 1968. Kể từ đó đến nay, mối quan hệ này đã và đang được củng cố, trao đổi thương mại tăng đáng kể, ước tính từ khoảng 7,3 triệu đô la Mỹ vào năm 2011 lên 17,3 triệu vào năm 2012 (như vậy là năm sau bằng 134% năm trước)53. Trong khi hầu hết các quốc gia của châu Phi đều nhanh chóng chuyển sự công nhận từ Đài Loan sang Trung Quốc lục địa bởi tác động của những khoản đầu tư khổng lồ Trung Quốc đang đổ vào châu lục này, Swaziland đã và đang tiếp tục là một đồng minh trung thành với Đài Loan. Thực tế là, Vương quốc Swaziland là một trong số ít các quốc gia châu Phi có quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Bắc (hai quốc gia khác là Gambia và Burkina Faso). Theo như tuyên bố của cựu Bộ trưởng ngoại giao Vương quốc Swaziland, mối quan hệ ngoại giao giữa nước này với Đài Bắc sẽ còn tiếp diễn trong một khoảng thời gian khá dài trong thời gian tới. Bộ trưởng Lutfo Dlamini từng phát biểu trên phương tiện truyền thông khi miêu tả mối quan hệ giữa Swaziland với Đài Loan như sau: "Một cuộc hôn nhân sẽ không kết thúc bởi ly hôn ngay cả khi Trung Quốc lục địa tiếp cận Swaziland"54 2.5.3. Viện trợ ODA Đài Loan cung cấp cho Swaziland Sau khi chính phủ của Vương quốc Swaziland và Đài Loan ký kết những thỏa thuận hợp tác kỹ thuật, Đài Bắc đã gửi hai phái đoàn hỗ trợ kỹ thuật sang quốc gia đối tác châu Phi. Một trong số đó được tiến hành vào tháng 9 năm 1969 và dành cho phát triển nền nông nghiệp, chương trình hỗ trợ kỹ thuật còn lại khởi động vào tháng 02 năm 1973 được dành riêng cho ngành thủ công mỹ nghệ. Hai chương trình hỗ trợ kỹ thuật này sau đó được sáp nhập lại thành một vào tháng 7 năm 1998 nhằm tinh giảm bộ máy quản lý. Những thỏa thuận hợp 53Số liệu lấy từ trang web của Phòng Ngoại thương (Bureau of Foreign Trade) Đài Loan www.trade.gov.tw 54 Mark Mngomezulu, Sticking by a Friend, Swaziland and Taiwan Relations, International Political Forum, truy cập ngày 19/04/2015.
<span class='text_page_counter'>(50)</span> tác kỹ thuật này kể từ khi được ký kết đã và đang liên tục được xem xét, đánh giá lại cũng như điều chỉnh, do đó các chương trình và dự án khác nhau có thể được giới thiệu khi hoàn cảnh thay đổi. Mục tiêu bao trùm của các chương trình này là nhằm hỗ trợ những nỗ lực của chính phủ Swaziland nhằm khuyến khích phát triển nông nghiệp và đào tạo nghề thủ công. Tính đến thời điểm hiện tại, có tổng số 13 nhân viên hỗ trợ kỹ thuật của Đài Loan đang làm việc tại Swaziland. Trong đó bao gồm 10 chuyên gia nông nghiệp đang làm việc cùng với Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, Tisuka Taka Ngwane, Liên minh Hợp tác xã trung ương. Ba chuyên viên cao cấp trong đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ đang hợp tác với Trung tâm đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ quốc gia trực thuộc Bộ Doanh nghiệp và Việc làm của Swaziland. Những chương trình hợp tác kỹ thuật đang được tiến hành tại Swaziland bao gồm Dự án Hợp tác Kỹ thuật Nông nghiệp và Dự án Đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ. Dự án thứ nhất có mục tiêu là cung cấp viện trợ kỹ thuật bao gồm đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật cho canh tác nông nghiệp và các kênh tiếp thị cho Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã Swaziland. Để hoàn thành được mục tiêu này, dự án sẽ thiết lập và vận hành một dự án bền vững nhằm cho phép các hộ sản xuất nhỏ lẻ sản xuất lương thực thiết yếu cho quốc gia, bao gồm ngô và khoai lang với năng suất cao, có chất lượng và khả năng sinh lợi cao. Việc trồng ngô trong dự án ban đầu sẽ được thử nghiệm trên một khu vực đất canh tác nhỏ, trái lại khoai lang được trồng trên một quy mô lớn hơn. 2.5.4. Hiệu quả từ những dự án viện trợ Kết quả những khoản viện trợ ODA Đài Loan dành cho Vương quốc Swaziland bao gồm việc Đài Bắc đã và đang cung cấp những nông dân trồng ngô mới tuyển (ước tính khoảng 420 người mỗi năm) với những đầu vào cần thiết cho một vụ thu hoạch ngô đầu tiên trên diện tích một héc ta, và cung cấp cây giống khoai lang cho chủ của một diện tích canh tác rộng 80 héc ta. Những chương trình viện trợ của Đài Bắc đã cung cấp cho nông dân Vương quốc Swaziland sử dụng miễn phí 130 máy bóc bẹ ngô tự động và hai xe.
<span class='text_page_counter'>(51)</span> tải dùng để vận chuyển ngô thu hoạch và đầu vào sản xuất nông nghiệp cần thiết cho mùa vụ tiếp theo. Đài Bắc đã và đang tài trợ và tham gia vào các cuộc hội thảo của nông dân cấp khu vực trong vấn đề sản xuất ngô và khoai lang. Hiện Swaziland đã và đang đạt được một sự tăng trưởng đáng kể về năng suất sản xuất ngô trung bình (ước tính cao hơn trước khoảng ba lần) và khoai lang (ước tính cao hơn khoảng hai lần) tính từ khi các dự án hỗ trợ được thiết lập. Đến nay, hơn 12.330 người trồng ngô và khoai lang đã và đang được hưởng lợi từ dự án. Ba giống khoai lang khác nhau được giới thiệu có nguồn gốc từ Đài Loan thích nghi tốt với điều kiện khí hậu tại Swaziland cho năng suất cao và hương vị thơm ngon. Trong năm 2002, vườn ươm khoai lang tại Matsapha, Swaziland đã cung cấp cho nông dân cành giâm khoai lang trồng trên diện tích 100 héc ta ở các khu vực khác nhau. Đó là những tác động dễ dàng thống kê được, ngoài ra tác động đáng kể nhất của các chương trình hỗ trợ nông nghiệp của Đài Loan là thúc đẩy mối liên hệ giữa nông dân Swaziland với Liên hiệp Hợp tác xã trung ương và tiếp cận gần hơn tới các dịch vụ khuyến nông và cơ giới của chính phủ nước này. Trong khi đó Dự án hợp tác đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ được bắt đầu tiến hành vào năm 1973 nhằm mục tiêu cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho Bộ Doanh nghiệp và Việc làm của Swaziland trong việc thiết lập và vận hành một chương trình đào tạo bền vững tại Trung tâm đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ quốc gia. Cụ thể hơn, dự án này được thiết kế nhằm cung cấp cho những người trẻ tuổi ở Swaziland những khóa đào tạo kỹ năng thủ công mỹ nghệ và hướng nghiệp giúp trang bị cho họ những sự chuẩn bị cần thiết để gia nhập thị trường việc làm của Swaziland và mở những doanh nghiệp quy mô nhỏ Hợp tác cùng Trung tâm đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ quốc gia, chương trình viện trợ của Đài Bắc đã và đang có những đóng góp sau: Cung cấp cho Trung tâm đào tạo nghề thủ công mỹ nghệ quốc gia Swaziland bốn giáo viên hướng dẫn làm việc cho chương trình đào tạo. Ngoài ra, Đài Bắc còn cung cấp.
<span class='text_page_counter'>(52)</span> hỗ trợ tài chính để trang trải các chi phí điều hành các khóa học và để mua thiết bị và xây dựng cơ sở vật chất cần thiết cho khóa đào tạo. Kết quả là tính từ thời điểm khởi động dự án, đến nay tổng số 2.119 người đã hoàn thành khóa đào tạo nghề với tám môn học khác nhau trong các chương trình. Có sáu giáo viên hướng dẫn người Swaziland nắm giữ vai trò giảng dạy tại Trung tâm Đào tạo nghề Thủ công mỹ nghệ quốc gia, họ đều được tuyển dụng trong số những học viên tốt nghiệp từ khóa đào tạo nói trên. Quá trình nội địa hóa đội ngũ giảng viên đã và đang được khuyến khích bởi điều này giúp hỗ trợ chuyển giao công nghệ. 669 người Swaziland đã hoàn thành Khóa đào tạo cách sử dụng máy may công nghiệp và hầu hết đều có khả năng tìm được việc trong các nhà máy may mặc địa phương. Ngoài ra còn có các khóa thủ công mỹ nghệ khác bao gồm chạm khắc trên gỗ hoặc đá, gốm sứ, đồ da thủ công và chế tạo công cụ. Những thành tựu phát triển của Vương quốc Swaziland đạt được mà trong trường hợp này là thông qua việc tiếp nhận các khoản viện trợ nước ngoài có tầm quan trọng đối với việc tăng trưởng và phát triển kinh tế. Mặc dù mối quan hệ tương quan giữa việc cung cấp viện trợ nước ngoài với phát triển kinh tế là không thực sự rõ ràng, tại châu Phi với nhiều quốc gia đang gặp khó khăn bởi tổng thu nhập quốc dân thấp và chính phủ vẫn còn yếu kém và bất ổn thì bất kỳ một nỗ lực nào giúp tăng năng suất sản xuất nông nghiệp sẽ đều tốt hơn là không có gì cả. Thực tế là, quá trình chuyển đổi kinh tế rất thành công của Đài Loan ban đầu cũng dựa trên phát triển nông nghiệp, do đó những chính sách cải cách ruộng đất và nông nghiệp của hòn đảo này được các quốc gia châu Phi quan tâm. Mặc dù động cơ cung cấp viện trợ ODA của Đài Loan đã và đang gây tranh cãi, những lợi ích mà Swaziland được hưởng từ những chương trình viện trợ phát triển của Đài Loan là không thể chối cãi. Ở trường hợp của Vương quốc Swaziland, quốc gia mà hơn 60 phần trăm dân số đang tham gia vào nền nông nghiệp tự cung tự cấp, những khoản viện trợ ODA từ Đài Loan bao gồm cả trang thiết bị và bí quyết công nghệ là hết sức.
<span class='text_page_counter'>(53)</span> quan trọng đối với nền kinh tế nước này. Thông qua những dự án hợp tác kỹ thuật của mình, Đài Loan đã trang bị cho những người nông dân Swaziland những kỹ năng cần thiết và công nghệ để nuôi sống bản thân và gia đình. Chuyển giao công nghệ tiến hành thông qua quá trình thực hành, hay còn gọi là học thông qua làm. Những nhân viên dự án của Đài Bắc làm việc cùng với nông dân Swaziland trong tất cả các giai đoạn của dự án hỗ trợ. Kết quả là, năng lực canh tác phát triển và trong dài hạn mức sống của những người nông dân Swaziland sẽ được cải thiện. Thành công của những dự án được tiến hành tại Vương quốc Swaziland được đánh giá là kết quả của những nhân tố sau: Trước hết, Đài Loan đã và đang cung cấp những nhu cầu căn bản thông qua các dự án, đã chứng minh được hiệu quả (năng suất trên một đơn vị diện tích canh tác hay một đơn vị lao động đều đã tăng) Thứ hai, các đội ngũ kỹ thuật đến từ Đài Loan rất khuyến khích sự tham gia của dân cư địa phương của Swaziland tạo thuận lợi cho quá trình chuyển giao công nghệ. Thứ ba, các kỹ thuật viên và các cố vấn của Đài Bắc là những người lao động cần cù và họ làm việc với những người họ đang dạy. Thứ tư, để áp dụng các chương trình hỗ trợ của Đài Loan, chính phủ các nước nhận viện trợ chỉ phải chi trả một khoản chi phí nhỏ nhưng lại thu được những hiệu quả đáng kể. Nhiều quốc gia đang rất cần được trợ giúp để phát triển, Đài Loan đã và đang cung cấp những yếu tố đầu vào cần thiết và chuyển giao công nghệ cũng như những kỹ năng cần phải có trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Những dự án hỗ trợ này có thể chỉ thực hiện ở cấp cơ sở, nhưng ở những quốc gia mà một tỷ lệ lớn dân số sống phụ thuộc vào nông nghiệp, những viện trợ này rất được hoan nghênh..
<span class='text_page_counter'>(54)</span> CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA 3.1. Thực trạng thu hút nguồn vốn ODA vào Việt Nam 3.1.1. Tình hình chung Thực hiện công cuộc Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ năm 1986, trong những năm đầu của thập kỷ 90, Việt Nam không những thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, kéo dài mà còn đạt được những bước tiến vượt bậc nhờ việc cải thiện tình hình chính trị đối ngoại, xử lý được các khoản nợ nước ngoài thông qua Câu lạc bộ chủ nợ Pari, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước cao, mức sống của người dân được cải thiện rõ rệt. Đây là bối cảnh dẫn đến cơ hội để Việt Nam và cộng đồng tài trợ quốc tế nối lại quan hệ hợp tác phát triển. Hội nghị bàn tròn về viện trợ dành cho Việt Nam được tổ chức tại Pa-ri dưới sự chủ trì của Ngân hàng Thế giới (WB) vào ngày 08 tháng 11 năm 1993 là sự kiện khởi đầu, đánh dấu quá trình thu hút và sử dụng ODA ở Việt Nam. Sau gần 30 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội vượt bậc, được dư luận trong nước và quốc tế thừa nhận rộng rãi. Nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ bình quân đạt 7,5%/năm, mức đói nghèo giảm từ trên 50% vào đầu những năm 90 xuống còn trên 10% vào năm 200855, hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện đánh dấu bằng việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), được bầu làm Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Việt Nam là thành viên tích cực của các tổ chức khu vực, bao gồm ASEAN, APEC, và nhiều diễn đàn, tổ chức quốc tế khác,... Những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua có một phần đóng góp quan trọng của những khoản viện trợ phát triển ODA được cung cấp bởi các nhà tài trợ trên thế giới.. 55 Tổng cục Thống kê.
<span class='text_page_counter'>(55)</span> Nghiên cứu thực trạng thu hút nguồn vốn ODA từ các nhà cung cấp trên thế giới cho Việt Nam giai đoạn 20 năm, từ năm 1993 đến năm 2013, ODA cam kết nhìn chung tăng qua các năm: Biểu đồ 3.1 – Cam kết, ký kết, giải ngân vốn ODA thời kỳ 1993 – 2012 (đơn vị: Tỷ USD). Nguồn: Vụ Kinh tế đối ngoại – Bộ Kế hoach và Đầu tư Theo báo cáo tổng kết của Vụ Kinh tế đối ngoại thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, khối lượng cam kết vốn ODA của các nhà tài trợ cho Việt Nam trong 20 năm qua nhìn chung có xu hướng tăng, đặc biệt tăng mạnh và liên tục trong giai đoạn 2002-2009, đạt kỷ mức cao kỷ lục 8 tỷ USD vào năm 2009. Tuy nhiên, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cộng với việc Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp, lượng ODA cam kết tài trợ cho Việt Nam những năm trở gần đây có xu hướng giảm nhẹ. Theo tập quán tài trợ quốc tế, hàng năm các nhà tài trợ tổ chức Hội nghị viện trợ quốc tế với mục đích nhằm vận động tài trợ cho các quốc gia đang phát triển. Cụ thể, đối với trường hợp của Việt Nam, sau Hội nghị bàn tròn về viện trợ phát triển diễn ra lần đầu tiên vào năm 1993, các hội nghị viện trợ tiếp theo đã được đổi tên thành Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho Việt Nam (thường được gọi tắt là Hội nghị CG) và Việt Nam từ vị thế là khách mời ban.
<span class='text_page_counter'>(56)</span> đầu đã trở thành Đồng chủ trì Hội nghị CG cùng với Ngân hàng Thế giới. Một thay đổi khác nữa là địa điểm tổ chức các Hội nghị CG cũng thay đổi từ việc tổ chức tại nước nhà cung cấp viện trợ như tại Pháp, Nhật Bản,... sang tổ chức tại Việt Nam. Hội nghị CG thường niên thực sự là diễn đàn đối thoại giữa Chính phủ với cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế về chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, trong đó quan hệ hợp tác phát triển và việc cung cấp, sử dụng viện trợ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo là một nội dung gắn kết chặt chẽ, không thể tách rời. Ngoài Hội nghị CG thường niên, còn tổ chức Hội nghị CG giữa kỳ không chính thức tại các địa phương, tạo điều kiện cho các nhà tài trợ gần với người dân và nắm bắt được nhu cầu phát triển cần được hỗ trợ của họ. Là diễn đàn đối thoại về chính sách và viện trợ, song không khí chung của tất cả các Hội nghị CG cho đến nay là dựa trên tinh thần quan hệ đối tác và mang tính xây dựng, trong đó các nhà tài trợ tôn trọng vai trò làm chủ và lãnh đạo quốc gia của Việt Nam trong quá trình phát triển. Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rất nhiều và hiện có khoảng 51 nhà tài trợ ODA, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa phương đang hoạt động thường xuyên tại Việt Nam. Bên cạnh các nhà tài trợ truyền thống là thành viên của Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) của OECD còn có các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Ấn độ, Hung-ga-ri, Séc,...56 Ngoài nguồn vốn tài trợ ODA, ở Việt nam còn có khoảng 600 các tổ chức phi Chính phủ quốc tế hoạt động với số tiền viện trợ hàng năm lên đến 200 triệu USD trong nhiều lĩnh vực khác nhau, liên quan trực tiếp đến đời sống người dân tại các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. Thông qua 15 Hội nghị CG thường niên, tổng vốn ODA đã được các nhà tài trợ cam kết đạt 42,438 tỷ USD với mức cam kết năm sau cao hơn năm trước,. 56 Vụ Kinh tế đối ngoại - Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
<span class='text_page_counter'>(57)</span> kể cả những năm kinh tế thế giới gặp khó khăn như khủng hoảng tài chính khu vực châu Á vào năm 1997. Số vốn ODA cam kết nói trên được giải ngân dựa trên tình hình thực hiện các chương trình và dự án được ký kết giữa Chính phủ và các nhà tài trợ. Từ năm 1993 đến nay (tính đến hết tháng 10 năm 2008), Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ đã ký các điều ước quốc tế cụ thể về ODA với tổng số vốn đạt 35,217 tỷ USD, chiếm 82,98% tổng vốn ODA cam kết trong thời kỳ này, trong đó vốn ODA vay ưu đãi chiếm khoảng 80%, vốn ODA không hoàn lại chiếm khoảng 20%57 3.1.2. Thực trạng thu hút ODA của Đài Loan vào Việt Nam Vào năm 1959, sự xuất hiện của phái đoàn kỹ thuật nông nghiệp đầu tiên của Đài Loan tại Sài Gòn,Việt Nam với sự ủng hộ tài chính từ chính phủ Mỹ đánh dấu sự gia nhập của Đài Bắc vào hàng ngũ những nhà tài trợ ODA quốc tế. Đài Loan lựa chọn Việt Namlà quốc gia đầu tiên để cung cấp viện trợ phát triển chính thức phần nào chứng tỏ Việt Nam là một trong số những quốc gia tiếp nhận viện trợ được Đài Loan chú ý đến. Những hoạt động viện trợ ODA của Đài Loan cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay được liệt kê trong Báo cáo thường niên của Quỹ Phát triển Hợp tác quốc tế Đài Loan, cụ thể như sau: Năm 2012, Quỹ Phát triển và Hợp tác Quốc tế Đài Loan cung cấp kinh phí hàng năm cho việc thành lập và vận hành của Hội cựu sinh viên Quỹ Phát triển và Hợp tác Quốc tế Đài Loan. Chương trình này hỗ trợ các hoạt động của những cựu thành viên tham gia hội thảo và du học sinh, nhằm tăng cường sự tương tác với các cựu sinh viên và mở rộng vai trò của họ trong các hoạt động hợp tác và phát triển. Chương trình này còn có một mục tiêu nữa là nhằm giúp duy trì mối quan hệ thân mật giữa Đài Loan và các quốc gia đồng minh. Hiện nay, chương trình này được Đài Loan tài trợ tại 34 quốc gia, trong đó có Việt Nam58 Bảng 3.1-34 quốc gia được tài trợ bởi chương trình Hội cựu sinh viên của TaiwanICDF 57 Cổng thông tin ODA Việt Nam – Vụ kinh tế đối ngoại – Bộ Kế hoạch và Đầu tư 58 2012 Annual Report of TaiwanICDF.
<span class='text_page_counter'>(58)</span> Khu vực Châu Phi Châu Á – Thái. Quốc gia Gambia, Bờ Biển Ngà, Nam Phi, Swaziland Fiji, Kiribati, In-đô-nê-xi-a, Quần đảo Solomon, Thái Lan,. Bình Dương Caribe. Tuvalu, Việt Nam (Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) Cộng hoà Dominicana, Haiti, St. Kitts và Nevis, Saint. Trung Mỹ. Vincent và Grenadines Belize, El Salvador, Cộng hoà Guatemala, Honduras,. Đông Âu Trung Đông,. Mexico, Nicaragua, Panama Cộng hòa Séc, Hungary, Latvia, Ba Lan Oman, Nga. Trung Âu và Trung Á Nam Mỹ. Ác-hen-ti-na, Chi-lê, Cô-lôm-bi-a, Ê-cu-a-đo, Paraguay,. Peru Nguồn: Báo cáo thường niên của Quỹ Phát triển và Hợp tác Quốc tế Đài Loan năm 2012 Theo báo cáo thường niên năm 2013 của Quỹ Phát triển Hợp tác Quốc tế Đài Loan (ICDF): Trong số các dự án Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản của Đài Loan vào năm 2013, Đài Bắc đã tổ chức tám cuộc hội thảo chuyên đề và hai khóa đào tạo quốc tế tại Việt Nam, Thái Lan, Đài Loan, Nhật Bản, và Hàn Quốc. Trong các dự án ODA về giáo dục và văn hóa tại châu Á Thái Bình Dương: Đài Loan cung cấp chương trình trao đổi đại sứ trẻ quốc tế với Việt Nam, Kiribati, Palau, Quần đảo Solomon, Úc và Indonesia. 3.2. Bài học kinh nghiệm từ Swaziland trong việc thu hút ODA Đài Loan vào Việt Nam Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức của Đài Bắc là một trong những nguồn ODA tiềm năng mà Việt Nam nên cố gắng thu hút và tận dụng để phát triển đất nước. Nghiên cứu quá trình Đài Loan cung cấp viện trợ phát triển chính thức cho Vương quốc Swaziland, có thể rút ra 3 bài học kinh nghiệm sau:.
<span class='text_page_counter'>(59)</span> Thứ nhất: Giải pháp đầu tiên nhằm thu hút ODA của Đài Bắc đó là Việt Nam cần thực hiện một chính sách ngoại giao mềm mỏng, linh hoạt và hài hòa. Như đã trình bày trong chương hai, thứ tự ưu tiên trong cung cấp các khoản ODA của Đài Loan theo thứ tự ưu tiên giảm dần bao gồm: Những quốc gia có quan hệ ngoại giao với Đài Loan; Những quốc gia không có mối quan hệ ngoại giao với Đài Loan nhưng cho phép cơ quan đại điện của Đài Loan hoạt động dưới tên Cộng hòa Trung Hoa tại lãnh thổ nước mình; Những quốc gia có quan hệ thương mại hoặc mối quan hệ văn hóa với Đài Loan; Những quốc gia đang cố gắng tăng cường mối quan hệ của họ với Đài Loan; Và cuối cùng là những quốc gia không thù địch với Đài Loan. Swaziland sở dĩ được Đài Bắc ưu ái cung cấp nhiều chương trình viện trợ ODA là do vương quốc này thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức và là một đồng minh trung thành của Đài Loan. Vì nhiều lý do khác nhau, chính sách ngoại giao của Việt Nam cần phải được tiến hành thật mềm mỏng và linh hoạt giữa một bên là Trung Quốc lục địa và một bên là Đài Bắc. Cân nhắc giữa được và mất, tại thời điểm hiện tại, Việt Nam dù muốn thu hút ODA của Đài Loan cũng không thể giống như vương quốc Swaziland, thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với hòn đảo này hay là cho phép cơ quan đại diện của Đài Loan hoạt động dưới tên Cộng hòa Trung Hoa tại lãnh thổ nước mình. Việt Nam đã và đang khẳng định kiên trì chính sách một nước Trung Quốc, ủng hộ quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc, kiên quyết phản đối hành động chia rẽ Đài Loan độc lập dưới mọi hình thức. Việt Nam không phát triển bất cứ quan hệ chính thức nào với Đài Loan. 59 Như vậy, muốn Đài Loan cung cấp ngày càng nhiều hơn nữa các khoản viện trợ ODA cho Việt Nam, phương án tốt nhất đó là tăng cường hơn nữa mối quan hệ thương mại và mối quan hệ văn hóa với hòn đảo này, nỗ lực cho Đài Bắc thấy cố gắng của Việt Nam nhằm tăng cường mối quan hệ đối với Đài Loan. Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư Đài Loan hoạt động trên lãnh. 59 Thông cáo chung Việt Nam - Trung Quốc, Vụ ASEAN Bộ Ngoại giao Việt Nam.
<span class='text_page_counter'>(60)</span> thổ Việt Nam và tăng cường các chuyến viếng thăm song phương, giao lưu văn hóa là một trong những cách Việt Nam nên áp dụng. Thứ hai: Giải pháp thứ hai có thể áp dụng để thu hút nhiều hơn ODA từ Đài Loan đó là tập trung vào các dự án phát triển nông nghiệp. Tương tự như Vương quốc Swaziland, căn cứ theo kết quả của cuộc “Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2012” của Tổng cục Thống kê, tính đến hết năm 2011, có gần 70% dân số Việt Nam sống ở khu vực nông thôn và 50% số lao động nông thôn là lao động nông nghiệp (bao gồm nông, lâm và thủy sản); số lượng các hộ hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm đến 44,8% tổng số hộ của cả nước60. Tuy nhiên, cũng tương tự như trường hợp ở quốc gia châu Phi Swaziland, khu vực nông nghiệp chỉ chiếm 22% trong cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam và đóng góp 0,66 điểm phần trăm vào mức tăng 5,89% của GDP năm 2011. Đặc biệt, trình độ chuyên môn của lao động trong khu vực nông nghiệp mặc dù đã có sự cải thiện so với thời kỳ trước, nhưng tính đến năm 2011, thống kê vẫn có đến gần 93% lao động chưa được qua đào tạo nghề và chưa có chứng chỉ chuyên môn. Nhìn vào những kết quả phát triển nông nghiệp mà Swaziland đã đạt được nhờ có sự hỗ trợ từ Đài Loan, chính phủ Việt Nam cần cố gắng ký kết những thỏa thuận hỗ trợ kỹ thuật nông nghiệp với Đài Bắc và tận dụng những sự viện trợ này để phát triển nền nông nghiệp nội địa, cải thiện mức sống cho người nông dân. Thứ ba: Giải pháp thứ ba là giải pháp cuối cùng được đề cập đến nhưng không kém phần quan trọng, Việt Nam nếu muốn thu hút được nguồn vốn viện trợ phát triển của Đài Loan nói riêng và từ tất cả các nhà tài trợ ODA khác thì cần phải xây dựng kế hoạch sử dụng ODA một cách có hiệu quả. Để có thể sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả, trước hết Việt Nam cần phải xây dựng được một hệ thống quản lý ODA phù hợp, quản lý tập trung đồng thời phải phân cấp trách nhiệm và không ngừng hoàn thiện cơ sở khung thể chế pháp lý về ODA. Bên cạnh đó, cần có biện pháp đánh giá thường xuyên hiệu quả sử dụng nguồn 60 Tổng cục Thống kê Việt Nam.
<span class='text_page_counter'>(61)</span> vốn ODA và báo cáo định kỳ tình hình hoạt động của những dự án có sử dụng vốn viện trợ phát triển chính thức. Theo như nhận định của Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam khi đánh giá vai trò của nguồn vốn ODA đối với Việt Nam đã cho biết ngay cả khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình, các dự án cho vay ưu đãi để hỗ trợ Việt Nam trong các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục, nhất là giáo dục đại học và cải thiện cơ sở hạ tầng vẫn rất cần thiết và nguồn vốn ODA cho nhiều lĩnh vực trọng điểm là một trong các nhân tố góp phần đảm bảo phát triển bền vững. Do vậy, trong thời điểm hiện tại thu hút được các khoản viện trợ phát triển chính thức từ Đài Loan và sử dụng những hỗ trợ này một cách hiệu quả để phát triển cơ sở hạ tầng, nông nghiệp, nông thôn là một hướng đi đúng đắn mà Việt Nam nên cố gắng tận dụng. 3.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA tại Việt Nam Theo ông Bùi Đức Thụ, Thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, GDP năm 2015 của Việt Nam ước tính khoảng 185 tỷ USD, thu ngân sách từ phí, lệ phí và các khoản khác tương đương chưa đến 20% GDP. Với số tiền thu được phải dành 71-72% cho các khoản chi tiêu thường xuyên, số tiền ngân sách dành cho đầu tư phát triển còn lại rất ít.61 Trong thời gian tới, Việt Nam nếu muốn phát triển kinh tế, vốn là yếu tố sống còn. Nguồn vốn trong nước có hạn, nên ưu tiên cho khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng, các dự án có quy mô vốn lớn cần phải huy động nguồn vốn nước ngoài. Huy động nguồn vốn nước ngoài ở đây phải hiểu đi kèm là cải thiện môi trường kinh doanh, nâng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài; khai thông thị trường tài chính để huy động nguồn vốn gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán còn phải tận dụng, khai thác tối đa nguồn vốn ODA, đồng thời cũng phải tận dụng cả những khoản vay ưu đãi của các tổ chức tài chính quốc tế khác nữa. Tuy nhiên, để vừa giải quyết được vấn đề thiếu vốn, vừa 61 Mạnh Bôn (2014). “Đẩy mạnh vay ODA, tại sao không?”, Báo Đầu tư, truy cập ngày 25/4/2015.
<span class='text_page_counter'>(62)</span> không tạo gánh nặng nợ nước ngoài, điều cần thiết là phải thu hút và sử dụng một cách có hiệu quả nhiều vốn ưu đãi này. Một số giải pháp đề xuất: 3.3.1. Cơ chế chính sách Tương tự như các nước tiếp nhận vốn ODA khác trên thế giới, để thu hút được các nhà tài trợ và nâng cao hiệu quả sử dụng viện trợ, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Chính phủ Việt Nam cũng đã không ngừng hoàn thiện khung pháp lý về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức. Kể từ khi nối lại quan hệ với cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế vào năm 1993 đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành 5 Nghị định về quản lý ODA, cụ thể là: Nghị định 20/CP (15/3/1994), Nghị định 87/CP (5/8/1997), Nghị định 17/2001/NĐ-CP (4/5/2001), Nghị định 131/2006/NĐ-CP (09/11/2006) và mới nhất là Nghị định 38/2013/NĐ-CP (23/04/2013). Các Nghị định được ban hành sau hoàn thiện dần trên cơ sở thực tiễn áp dụng nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của quan hệ hợp tác phát triển. Thực tiễn áp dụng Nghị định 38/2013/NĐ-CP (23/04/2013) về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ đã bộc lộ một số hạn chế như sau: Thứ nhất, thời gian xem xét và phê duyệt danh mục tài trợ của các cơ quan trước khi trình Thủ tướng Chính phủ kéo dài. Thứ hai, thời gian chuẩn bị chương trình, dự án ODA, bao gồm từ khâu đề xuất ý tưởng dự án cho đến khi ký kết điều ước cụ thể về ODA thường mất khoảng 2 - 3 năm. Thứ ba, chất lượng văn kiện dự án chưa đáp ứng được yêu cầu, vẫn còn những vướng mắc liên quan đến quy định quản lý rút vốn hay liên quan đến việc sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi đối với các hạng mục chi tiêu thường xuyên vì mục đích sự nghiệp phát triển; liên quan đến cơ chế tài chính trong nước đối với các khoản vay ODA và vốn vay ưu đãi. Thứ tư, những xung đột về quy trình, thủ tục giữa Việt Nam và nhà tài trợ..
<span class='text_page_counter'>(63)</span> Do vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi trong thời gian tới, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cần thực hiện một số giải pháp quan trọng như: Thứ nhất, xây dựng đề án định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và các khoản vay ưu đãi khác của các nhà tài trợ thời kỳ 2016 – 2020 Thứ hai, thay thế Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23/4/2013 của Chính phủ về quản lý và sử dụng nguồn ODA và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và Luật Đầu tư công. Thứ ba, nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế năm 2005 phù hợp với Hiến pháp năm 2013, trong đó cho phép áp dụng quy trình rút gọn đối với việc ký kết các điều ước quốc tế về ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ. 3.3.2. Bộ máy quản lý: Cùng với nỗ lực hoàn hiện thể chế, công tác quản lý nhà nước về ODA cũng cần được không ngừng được cải tiến và hoàn thiện. Nếu như trong giai đoạn đầu của quá trình tiếp nhận ODA, quản lý nhà nước theo mô hình tập trung nhiều ở cấp trung ương thì nay theo mô hình phân cấp mạnh mẽ để các Bộ, ngành và địa phương phát huy tính chủ động và nâng cao trách nhiệm từ khâu xây dựng dự án, thực hiện dự án, khai thác và vận hành các sản phẩm đầu ra. Theo Điều 6 - Nguyên tắc cơ bản trong quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi Nghị định số 38/2013/NĐ-CP ngày 23/4/2013Việt Nam, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA và vốn vay ưu đãi trên cơ sở phân cấp gắn với trách nhiệm, quyền hạn, năng lực quản lý và tính chủ động của các ngành, các cấp; bảo đảm sự phối hợp quản lý, kiểm tra và giám sát chặt chẽ của các cơ quan liên quan. Cụ thể hơn trong Chương VII – Quản lý nhà nước về ODA và vốn vay ưu đãi, các tổ chức, cơ quan tham gia vào công tác quản lý nhà nước về ODA và vốn vay ưu đãi đều được phân định rõ ràng nhiệm vụ và quyền hạn. Cụ thể, các cơ quan tham gia quản lý bao gồm:.
<span class='text_page_counter'>(64)</span> Thứ nhất, Bộ Kế hoạch và Đầu tư giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA và vốn vay ưu đãi; Thứ hai, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan xây dựng chiến lược, chính sách hợp tác phát triển với nhà tài trợ, quy hoạch thu hút, điều phối, quản lý và sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi. Thứ ba, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan trình Thủ tướng Chính phủ về việc ký kết các điều ước quốc tế cụ thể về ODA và vốn vay ưu đãi. Thứ tư, Bộ Tư Pháp, Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng được quy định rõ ràng nhiệm vụ và quyền hạn. 3.3.3. Sử dụng ODA Năm 2015, nền kinh tế thế giới vẫn chưa phục hồi mạnh và tiềm ẩn rủi ro, hơn thế nữa Việt Nam sau khi trở thành nước có mức thu nhập trung bình thấp thì việc thu hút ODA sẽ ngày càng trở nên khó khăn hơn. Bởi vậy, việc nâng cao năng lực sử dụng các nguồn vốn đã cam kết và nguồn vốn ODA mới thu hút được là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Để sử dụng một cách có hiệu quả nguồn viện trợ ODA, trước hết cần phải xác định nhiệm vụ ưu tiên, qua đó tiếp tục thu hút, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn; tiếp đó nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án; rà soát dự án, giải quyết các dự án đen; coi công tác tăng cường giám sát, chống tiêu cực, tham nhũng trong quản lý, sử dụng vốn ODA là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi trong thời gian tới, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cần thực hiện một số giải pháp quan trọng như: Thứ nhất, cần thiết phải đề ra các nguyên tắc, thứ tự lựa chọn dự án ưu tiên sử dụng nguồn vốn ODA, tránh sử dụng vốn viện trợ đi đầu tư dàn trải, phân tán không hiệu quả và gây lãng phí, làm tăng thêm gánh nặng nợ quốc gia và cần kiên quyết từ chối các khoản ODA vay nếu xét thấy không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp do bị chi phối bởi các yếu tố ràng buộc..
<span class='text_page_counter'>(65)</span> Thứ hai, nâng cao tính tự chủ cũng như trách nhiệm của chủ đầu tư, thực hiện tốt các khâu của quy trình dự án lựa chọn, lập văn kiện dự án, thẩm định, phê duyệt, tổ chức thực hiện hợp đồng mua sắm, xây lắp, tư vấn..., khả năng trả nợ, tính bền vững trong quá trình phát triển và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả sử dụng vốn. Thực hiện tốt công tác quản lý tài chính Nhà nước đối với nguồn vốn ODA, tránh tình trạng bố trí sử dụng vốn dàn trải, xác định rõ ngay từ thời điểm ban đầu những dự án phải vay lại và trả nợ cho Chính phủ với những dự án được ngân sách cấp để làm cơ sở xây dựng dự án. Thứ ba, đào tạo, tuyển chọn và nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn và đạo đức của cơ quan và cán bộ thẩm định dự án ở các bộ ngành, địa phương, đặc biệt là chuyên môn nghiệp vụ, hiểu biết pháp luật và khả năng ngoại ngữ cũng như kinh nghiệm quản lý. Thứ tư, phải có cơ chế quản lý chặt chẽ việc mua sắm tài sản phục vụ cho các hoạt động của dự án.Ví dụ, về tiêu chuẩn định mức mua sắm ô tô phục vụ cho các dự án có thể không dùng vốn vay nước ngoài như hiện nay và sử dụng luân chuyển cho nhiều dự án cho đến khi từng chiếc xe hết giá trị sử dụng. Bên cạnh đó, tăng cường chuẩn bị, đàm phán, ký kết các chương trình, dự án ODA và vốn vay ưu đãi, đặc biệt trong khuôn khổ các chương trình hợp tác phát triển trung hạn của các nhà tài trợ như WB, ADB… 3.3.4. Cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn Giám sát chương trình, dự án được đầu tư bằng nguồn vốn ODA bao gồm các hoạt động theo dõi, kiểm tra quá trình triển khai thực hiện trên thực tế của chương trình, dự án. Trong đó, theo dõi chương trình, dự án là một quá trình thường xuyên và định kỳ được thực hiện bởi cấp quản lý nhằm cập nhật toàn bộ các thông tin liên quan đến tình hình thực hiện chương trình, dự án. Từ đó tiến hành phân loại và phân tích thông tin để có thể kịp thời đề xuất các giải pháp xử lý, đảm bảo các dự án, chương trình này bám sát đúng mục tiêu ban đầu, đảm bảo tiến độ cũng như chất lượng trong khuôn khổ các nguồn lực có hạn của chương trình, dự án..
<span class='text_page_counter'>(66)</span> Khác với theo dõi, công tác kiểm tra các dự án được đầu tư bằng nguồn vốn ODA bao gồm các hoạt động định kỳ theo kế hoạch hoạt đột xuất nhằm mục đích kiểm tra việc chấp hành các quy định của luật pháp Việt Nam cũng như các quy định trong điều ước quốc tế về ODA và vốn vay ưu đãi. Nếu phát hiện ra sai phạm, tiến hành kiến nghị với các cấp có thẩm quyển xử lý và giám sát việc thực thi các biện pháp khắc phục. Trong khi đó, đánh giá hiệu quả sửdụng nguồn vốn ODA bao gồm các hoạt động định kỳ, tiến hành xem xét một cách toàn diện và có hệ thống, khách quan về tính phù hợp, hiệu quả, tác động và mức độ bền vững của các chương trình, dự án để có thể đưa ra những điều chỉnh cần thiết và rút ra bài học kinh nghiệm cho giai đoạn thực hiện tiếp theo và cho các dự án, chương trình sau này. Giám sát và đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA là một công tác đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều đơn vị từ cơ quan chủ quản, chủ dự án, ban quản lý dự án, đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư với vai trò là đầu mối giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức thực hiện giám sát và đánh giá ODA và vốn vay ưu đãi ở cấp quốc gia. Để công tác giám sát và đánh giá các dự án, chương trình sử dụng nguồn vốn ODA phát huy được hiệu quả, cần thiết phải phân định rạch ròi quyền hạn và trách nhiệm của các bên liên quan, để dễ dàng quy trách nhiệm nếu một khâu trong quy trình gặp vấn đề, tránh trường hợp đùn đẩy trách nhiệm giữa các bên.
<span class='text_page_counter'>(67)</span> KẾT LUẬN Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, các quốc gia phát triển có xu hướng cắt giảm các khoản viện trợ phát triển chính thức do áp lực thắt lưng buộc bụng. Trong khi, đối với các nước đang phát triển thu nhập thấp thì nguồn vốn ODA vẫn luôn là một nguồn vốn tối cần thiết đề phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong bối cảnh đó, trên thế giới xuất hiện một số nhà tài trợ ODA mới nổi và Đài Loan là một trong số đó. Dù vấn đề viện trợ nước ngoài của Đài Bắc luôn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi xung quang câu hỏi đâu là động lực thực sự của những khoản viện trợ được vùng lãnh thổ này cung cấp. Tuy nhiên, dù lý do Đài Loan cung cấp ODA là gì đi nữa thì đối với các quốc gia nhỏ bé đang phát triển ở các khu vực châu Phi, châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ Latinh hay vùng Caribe, những khoản trợ giúp kỹ thuật nông nghiệp, các suất học bổng hay viện trợ nhân đạo từ Đài Bắc vẫn là nguồn ngoại lực quan trọng và đáng quan tâm, thu hút. Hiểu được thứ tự ưu tiên của Đài Loan trong việc cung cấp nguồn vốn ODA, các lĩnh vực mà Đài Bắc có thế mạnh và ưu tiên viện trợ sẽ là tiền đề quan trọng giúp Việt Nam có thể xây dựng các chương trình nhằm thu hút nhiều hơn nữa viện trợ từ vùng lãnh thổ này, góp phần giúp Việt Nam chủ động ứng phó với xu hướng nguồn vốn ODA cung cấp sẽ giảm dần trong thời gian tới khi nước ta đã trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình thấp..
<span class='text_page_counter'>(68)</span> PHỤ LỤC Bảng: Thống kê các Nghị định về quản lý ODA đã được Chính phủ Việt Nam ban hành STT. 1. Tên nghị định Nghị định số 20/CP. Năm ban hành. 1994. Nội dung Về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức Về việc ban hành Quy chế. 2. Nghị định số 87/CP. quản lý và sử dụng nguồn 1997. Hỗ trợ phát triển chính thức Về việc ban hành Quy chế. 3. 4. Nghị định số 17/2001/NĐ-CP. Nghị định số 131/2006/NĐ-CP. 2001. 5. CP. hỗ trợ phát triển chính thức Ban hành Quy chế quản lý. 2006. và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức Về quản lý và sử dụng. Nghị định số Số: 38/2013/NĐ-. Quản lý và sử dụng nguồn. nguồn hỗ trợ phát triển 2013. chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ.
<span class='text_page_counter'>(69)</span> DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO I.. Tài liệu tiếng Việt. 1. Bản tin ODA số 40/2013 Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright niên khóa 2011-2013 3. Nguyễn Hữu Hiểu (2014), “Tìm hiểu nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức – ODA”, Trường Đào tạo và Phát triển Nguồn nhân lực. 4. Phạm Thị Xuân Mai (2012), “Chính sách kinh tế đối ngoại của Đài Loan”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 4. 5. Phí Hồng Minh (2014), “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Đài Loan”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, Số 6(218), tr.3. II. 1.. Tài liệu tiếng Anh Austin Ramzy, “Nepal Rejects Taiwanese Offer of Rescue Help, but Accepts Medical Aid”, The New York Times, 2015.. 2. Gerald Chan, “Taiwan as an Emerging Foreign Aid Donor: Developments, Problems, and Prospects”, NXB. Pacific Affairs, University of British Columbia, 1997. 3. Goals of Aid Provision, Summary of Taiwan’s Foreign Aid Policy White Paper, Taipei Representative Office in the EU and Belgium 4. James Meernik, Eric L. Krueger, và Steven C. Poe, “Testing Models of U.S. Foreign Policy: Foreign Aid during and after the Cold War”, NXB. Đại học Bắc Texas, 1998 5. John F. Copper, “Taiwan's diplomatic isolation: how serious a problem?”, The Journal of East Asian Affairs, 1992. 6. International Higher Education Scholarship Program, TaiwanICDF. 7. Kamiljon T. Akramov, “Foreign Aid Allocation, Governance, and Economic Growth”, International Food Policy Research Institute, (29), November 2012..
<span class='text_page_counter'>(70)</span> 8. Mandy, Hsiao-chuan Liao Eun Jeong Soh, “Dollars and Diplomacy: Instrumentality of Foreign Aid -Taiwan and Korea”, University of South Carolina, (8), 2009. 9. Oscar Sanchez-Sibony (2014), Red Globalization: The Political Economy of the Soviet Cold War from Stalin to Khrushchev, NXB. Cambridge: University press 10. Taiwan’s Current Foreign Aid Work, Summary of Taiwan’s Foreign Aid Policy White Paper, Taipei Representative Office in the EU and Belgium. 11. The Constitution of the Republic of China 12. The United Nations General Assembly Resolution 2758 13. White Paper –The One-China Principle and the Taiwan Issue (2000), the Taiwan Affairs Office and the Information Office of the State Council. 14. Tang Shaocheng, “EU's Policy towards Taiwan/China and the Issue of Arms Embargo”, Institute of International Relations, IIR, Taiwan, 2007. III. 1.. Tạp chí điện tử. Aid (ODA) by sector and donor [DAC5], truy cập ngày 20/04/2015.. 2. Costa Rica breaks relations with Taiwan, NBC news.com 3.. 4.. truy. cập. ngày. 15/04/2015 5. International. Development. Statistics. (IDS). online. databases,. truy cập ngày 20/04/2015. 6.. THE DAC LIST OF ODA RECIPIENTS www.oecd.org/dac/stats/daclist..
<span class='text_page_counter'>(71)</span> 7.. Taiwan’s Transformation from Aid Recipient to Aid Donor (2009), Taipei. Representative. Office. in. the. EU. and. Belgium,. xItem=90636&ctNode=463&mp=102, truy cập ngày 15/04/2015. 8.. Ministry of Economic Affairs,R.O.C. - Statistics of Economic 2012, menu_id=213, truy cập ngày 20/04/2015.. 9. Vision and Objectives, TaiwanICDF, xItem=4479&ctNode=29844&mp=2 truy cập ngày 20/04/2015. 10.. Ministry of Foreign Affairs, Republic of China (Taiwan), 11. Mitchell to reveal China details, ingh-taiwan.shtml 12. 1997 Annual Report of TaiwanICD 13. Operations, 2013 TaiwanICDF Annual Reports 14.. EXIM “Bank Services”, truy cập ngày 20/04/2015. 15.. Taiwan. IHA. (2006). “Vision. and. Projections”,. www.taiwaniha.org/eaboutus.html truy cập ngày 20/04/2015 16.. Swaziland GDP, composition by sector – CIA World Factbook, factbook/geos/wz.html truy cập ngày 01/05/2014. 17. Phòng Ngoại thương (Bureau of Foreign Trade) Đài Loan www.trade.gov.tw 18.. Mark Mngomezulu, “Sticking by a Friend, Swaziland and Taiwan Relations”, International Political Forum, truy cập ngày 19/04/2015.
<span class='text_page_counter'>(72)</span>