LỄ HỘI OK OM BOK CỦA DÂN TỘC KHMER
I – Nguồn gốc lễ hội, đối tượng thờ cúng
1.
Nguồn gốc lễ hôi
Lễ hội Ok Om Bok được tiến hành vào ngày 14 và 15 tháng Kađar theo
Phật lịch. Nếu so sánh với lịch pháp của người Việt thì lễ hội diễn ra trong khoảng
thời gian từ ngày 14 đến 15 tháng 10 Âm lịch.
Về mặt ngữ nghĩa, Lễ hội Ok Om Bok còn gọi là Lễ hội Cúng Trăng. Tiếng
Khmer “Ok” nghĩa là đút, “Om Bok” nghĩa là cốm dẹp. Ok Om Bok có nghĩa là
“Đút cốm dẹp bằng cách bốc bằng tay” nên lễ hội này cịn có tên gọi khác là lễ hội
Đút cốm dẹp.
Theo các truyện trong kinh điển Phật giáo và cổ tích Khmer, người ta lý
giải rằng, Lễ hội cúng Trăng ra đời từ một câu chuyện nói về tiền kiếp của đức Phật
Thích Ca Mâu Ni.
Đó là vào một đêm rằm trăng trịn, có một con thỏ phát nguyện muốn hiến
thể xác của mình cho bất kỳ ai cần đến, để sớm hóa kiếp khác. Lời nguyền đó ngay
lập tức được vị thần Sakah đang ngự ở trên trời nghe được. Ngài liền hạ giới, biến
thành một cụ già, lom khom đến gần con thỏ xin được ăn thịt. Thỏ liền đồng ý, bảo
thần Sakah hãy đi lấy củi và nhóm lửa lên, trong khi chờ thỏ tắm cho sạch sẽ. Khi
ngọn lửa đã cháy to, thỏ liền nhảy vào đống lửa tự thiêu mình, biến thành thức ăn
cho cụ già (thần Sakah). Thế nhưng, khi đó ngọn lửa khơng những khơng thiêu chết
thỏ mà cịn tắt đi.
Xúc động trước việc làm thiện tính đó, thần Sakah bồng lấy thỏ, bay một
mạch lên cung Trăng và dùng phép màu vẽ hình thỏ in vào mặt Trăng mãi mãi về
sau này để con người thấy mà soi gương. Cũng từ đó, Lễ hội cúng Trăng ra đời.
2.
Đối tượng thờ cúng
Lễ hội Ok Om Bok là lễ hội lớn nhất và được chờ đợi nhiều nhất trong
năm của đồng bào Khmer Nam Bộ. Người Khmer làm lễ Cúng Trăng nhằm cầu
mong cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, dân làng được hưởng
hạnh phúc. Theo quan niệm của người Khmer, Mặt Trăng được xem như một vị
thần điều tiết mùa màng, có quyền năng chi phối mùa màng trong canh tác nông
nghiệp. phù hộ cho dân làm kinh tế khá giả trong năm, nên trong ngày này, mọi
nhà đều tham gia lễ Cúng Trăng. Lễ hội thường diễn ra tại các tỉnh Trà Vinh và Sóc
Trăng…, nơi đồng bào dân tộc người Khmer sinh sống đơng đúc. Theo nghĩa đó,
Lễ hội Ok Om Bok của người Khmer có sự tương đồng với lễ hội Thượng điền của
người Việt.
II – Nội dung lễ hội Ok Om Bok
1.
Phần lễ (nghi thức cúng lễ)
Lễ hội Ok Om Bok thường được người Khmer Nam Bộ tổ chức trong phạm
vi gia đình hoặc ở chùa, cũng như ở các nơi sinh hoạt cộng đồng, trường hợp
người Khmer ở Trà Vinh thường tổ chức tại Ao Bà Om, trong những thắng cảnh
tiêu biểu của tỉnh.
Lễ vật Cúng Trăng gồm cốm dẹp, khoai lang, khoai môn, trái cây, bánh
kẹo... bà con phum sóc chuẩn bị cả tháng trước khi diễn ra lễ hội. Người Khmer
lấy lúa nếp quết thành cốm dẹp cùng các hoa màu khác để làm lễ vật Cúng Trăng.
Hình ảnh: Lễ
vật cúng trăng
2
Hình ảnh: Nghi thức cúng của người Khmer
Tiếp theo là việc dựng cổng tre, trúc. Cổng được làm bằng hoa lá với 2 cây
tre, trúc làm trụ và lá dừa làm vịm ngang. Phía trên cổng, người Khmer giăng một
dây trầu 12 lá được cuốn tròn tượng trưng cho 12 tháng trong năm và một dây cau
7 trái được chẻ vỏ ra như hai cánh con ong, tượng trưng cho 7 ngày trong tuần.
Dưới cổng trúc, các lễ vật Cúng Trăng được đặt ngay ngắn để tỏ lịng thành kính
dâng tới thần Mặt Trăng.
Ngày nay lễ cúng đơn giản hơn, chỉ cần đem một cái bàn và bày lên đó
các lễ vật cúng.
Cơng việc chuẩn bị lễ vật hồn tất, vào đêm 14 trăng tròn hoặc 15 khi trăng
lên cao (ngày chính của Lễ hội), dân làng tập trung ở sân chùa hoặc sân nhà,
hướng về phía mặt trăng để làm lễ. Lễ có sự tham gia của cả người cao tuổi và trẻ
nhỏ. Chủ lễ là người cao tuổi nhất, các vị sư sãi hoặc người có uy tính trong cộng
đồng khấn vái bày tỏ lòng biết ơn của con người đối với thần Mặt Trăng, xin thần
Mặt Trăng tiếp nhận lễ vật và ban cho mọi người sức khỏe, mùa màng tươi tốt.
Sau khi cúng xong, chủ lễ sẽ đút cốm dẹp cho các em nhỏ và vỗ nhẹ vào
lưng vài lần đồng thời hỏi những mong muốn của các em. Người Khmer tin rằng,
các ước muốn của trẻ nhỏ sẽ là niềm tin và động lực cho người lớn vào năm tới.
Hình ảnh: Đút cốm dẹp
Xong thủ tục này, mọi người vừa ăn uống, vừa múa hát vui chơi đến khuya.
2. Phần hội
3
*Đua ghe ngo
Theo phong tục cổ truyền của người Khmer, nghi lễ Cúng Trăng xong cũng
là lúc các hoạt động phần hội được bắt đầu, đặc sắc nhất là tục đua ghe ngo. Đây
là nghi thức truyền thống tiễn đưa thần nước, sau mùa gieo trồng về với biển cả,
cũng là nghi thức tôn giáo tưởng nhớ rằng thần rắn Nagar xưa biến thành khúc gỗ
để đưa Phật qua sông.
Ghe Ngo có chiều dài khoảng 22 - 24 mét, chiều ngang khoảng 1,2m có
từ 45 - 50 tay bơi. Chiếc ghe Ngo có mũi và lái đều cong, thân được trang trí hoa
văn sặc sỡ, đầu ghe có hình con thú biểu trưng cho từng ghe. Ghe Ngo được xem là
tài sản quý giá và thiêng liêng của phum sóc, được bảo quản cẩn thận tại chùa.
Hình dáng của ghe ngo
Ghe ngo chính là biểu tượng sức mạnh của người Khmer, nên đua ghe ngo
nhằm thể hiện sức mạnh và sự dẻo dai của dân tộc trong việc chinh phục thiên
nhiên và chống lại kẻ thù. Và chỉ được hạ thủy 1 lần trong năm khi có lễ Ok Om
Bok.
Trước khi hạ thủy, người ta thường làm lễ tạ thần , thắp hương cúng vái và
sau đó là chọn người điều khiển, người lái, quân dầm bơi và tổ chức chiêu đãi
những người tham gia cuộc thi.
4
Hình ảnh: Thắp hương, cúng vái trước khi hạ thủy
Đội quân bơi toàn là những thanh niên trai tráng khỏe mạnh, có kinh
nghiệm trong thi đấu, biết phối hợp động tác chặt chẽ. Trước ngày hội người ta
thường tiến hành tập dượt công phu, trước tiện là bơi trên bờ, sau đó là bơi dưới
nước. Người được chọn ngồi mũi để chỉ huy phải là người uy tín đối với bà con và
phải có kinh nghiệm đua ghe ngo.
Hình ảnh: Tập dợt đua ghe ngo
Cuộc đua ghe ngo diễn ra rất quyết, tiếng trống, tiếng cồng và tiếng hò - hụi
của các đội đua đang khởi động, tiếng cổ cũ của người dân đã làm sôi động cả
khúc sông.
5
Hình ảnh: Lễ hội đua ghe ngo
*Thả đèn gió
Một trong những hình ảnh ấn tượng góp phần làm cho đêm hội của đồng
bào dân tộc Khmer thêm phần đặc sắc là thả đèn gió.
Theo quan niệm của các dân tộc thuộc hệ văn minh lúa nước, lửa là
phương tiện duy nhất để con người có thể giao tiếp với thế giới thần linh nên đèn
gió bay lên sẽ mang theo ước nguyện của con người về mưa thuận gió hịa, mùa
màng bội thu, con người no đủ đến với Thần Mặt Trăng. Ngày nay, vì sự an tồn
chung, nghi thức thả đèn gió khơng cịn được tiến hành.
Đó là những chiếc lồng đèn khá to được làm từ giấy quyến mỏng màu
trắng; chiều cao của lồng đèn khoảng 1m, chu vi tròn chừng 0,8m được kết lại
bằng keo và thanh tre cùng một sợi dây để cột chất đốt; chất đốt được làm từ bông
và dầu dừa.
Chuẩn bị lồng đèn làm từ giấy mỏng và dai
6
...và chất đốt bằng bông pha dầu dừa.
Bung đèn lên trên hơi lửa
7
Cùng xoay quanh lồng đèn để lấy cân
bằng và cho lỗng khí bên trong
Hội thả đèn gió tại chùa
Thả đèn
Theo các sư sãi của các chùa cho biết, làm đèn gió khá đơn giản, cái khó
là khi đốt phải tạo sự cân bằng để đèn bay lên cao mà lửa không bén vào thành
đèn. Sau khi dùng hơi lửa làm cho đèn bung lên, người ta đốt tim đèn rồi xoay
vịng làm lỗng khơng khí bên trong để đèn có thể nhờ gió đưa bay lên cao.
Đèn gió thường được các chùa đốt thả trong ngày lễ Ok-Om-Bok truyền
thống với mong muốn được mọi sự may mắn, thắng lợi.
*Thả đèn nước
8
Trong khn khổ lễ hội Ok Om Bok cịn có lễ hội thả đèn nước thường
được tổ chức trong đêm Cúng Trăng, tuy nhiên cũng có nơi tổ chức vào rằm tháng
9. Ý nghĩa chính của lễ hội thả đèn nước là tiễn đưa các linh hồn về cõi âm, ý
nghĩa phụ nhằm thể hiện sự hối lỗi đối với thần nước và đất vì đã làm ơ uế và đào
xới suốt một năm qua, cũng như xin những điều may mắn cho vụ mùa mới.
Đối với lễ hội thả đèn nước của người Khmer Nam Bộ, người ta thiết kế
một chiếc kiệu với chất liệu cây tạp, sau đó đặt lúa gạo, mắm muối, thịt, trái rồi thả
trôi theo dòng nước xem đây là lễ vật để tạ ơn thần đất, nước và cũng là lương thực
tiễn đưa những linh hồn quá cố. Ngày nay, lễ nghi và đồ cúng vẫn được giữ
nguyên, chỉ khác ở chỗ những chiếc thuyền, kiệu được làm rực rỡ, nổi bật hơn bởi
những ánh đèn đủ màu. Làm tăng thêm nét thẩm mỹ, góp phần thêm phần sinh
động cho lễ hội Ok Om Bok.
9
III – Sự biến đổi của lễ hội Ok Om Bok qua thời gian
Có thể thấy, theo thời gian, Lễ hội Ok om bok đã có nhiều sự biến đổi
nhất định để có thể đáp ứng cũng như phù hợp với hồn cảnh và con người ngày
nay.
Hiện nay, khơng gian tổ chức Lễ hội Ok om bok vẫn được tiến hành ở từng
gia đình và các chùa. Ngồi việc các gia đình tổ chức cúng tại nhà, lễ hội này cịn
được tổ chức thêm ở những nơi vui chơi cơng cộng. Hoạt động này được ngành
văn hóa đầu tư nghiêm túc, có kịch bản, dàn dựng như một chương trình văn hóa
văn nghệ chun nghiệp. Nội dung của buổi trình diễn này, thể hiện bằng cả tiếng
Khmer và tiếng Việt, cũng đầy đủ các phần giới thiệu về nguồn gốc của lễ cúng
Trăng, sự tích về “Mặt trăng và con thỏ”, hình thức “đút cốm dẹp” tại các gia đình
trong phum-sóc,… Ngồi ra, lễ hội cịn tổ chức nhiều hoạt động vui chơi cộng
đồng như: thi trang phục ngày hội của người Khmer, hội diễn tiếng hát quần chúng
Khmer, hội chợ trưng bày sản phẩm nơng nghiệp, thương nghiệp,…
Hình ảnh: Những hoạt động khác của lễ hội Ok Om Bok
10
Mặt khác, Lễ hội ok om bok không chỉ tổ chức hai ngày theo truyền thống
mà bắt đầu từ năm 2013 đã được nâng lên thành Festival “Tuần lễ văn hóa Lễ
hội Ok om bok, đua ghe ngo” với quy mơ tồn quốc, mang lại sinh khí và tầm cao
mới cho loại hình sinh hoạt văn hóa thể thao đậm bản sắc này. Dựa trên Lễ hội
đua ghe ngo truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer, Festival là sự tổng kết
một giai đoạn hoạt động và trưởng thành của sự nghiệp bảo tồn văn hóa của đồng
bào Khmer tại đồng bằng sông Cửu Long. Đây không chỉ được xem là điểm sáng
văn hóa đáng tự hào mà cịn góp phần quan trọng khai thác tiềm năng, đưa du lịch
trở thành một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, đáp ứng xu
thế liên kết, liên vùng, hội nhập; mang tính xã hội hóa cao, phù hợp định hướng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Từ festival, đã có nhiều địa phương đến tham gia hội đua ghe ngo như Cần
Thơ – Bạc Liêu – Cà Mau – Kiên Giang, thậm chí có đội ghe ngo đến từ nước
bạn - Campuchia. Điều này chứng tỏ lễ hội gắn liền với môn thể thao truyền
thống này đang phát triển mạnh mẽ, trở thành sự kiện văn hoá truyền thống lớn ở
Việt Nam.
Bên cạnh đó, ngày nay việc đua ghe ngo khơng chỉ dành cho phái mạnh mà
cịn có cả sự tham gia của những người phụ nữ Khmer. Với tinh thần và tốc độ thi
đấu khơng thua kém gì các đội nam, một số đội đua nữ đã giành được nhiều chiến
thắng và trở nên nổi tiếng ở ĐBSCL. Trong số đó có thể kể đến như: Ngan Dừa
11
(Bạc Liêu), Giồng Riềng (Kiên Giang), Cầu Kè (Trà Vinh)…Sự góp mặt của các
đội ghe nữ đã làm cho lễ hội trở nên sôi động và hấp dẫn hơn bao giờ hết.
Hình ảnh: Đua ghe ngo nữ
Nói chung, lễ hội khơng phải là một hiện tượng văn hóa nhất thành bất
biến, mà là một yếu tố động, luôn tiếp tục dịng chảy của nó sao cho phù hợp với
khơng gian và thời gian. Ngày nay, lễ hội của người Khmer ở Trà Vinh đã biến
đổi ít nhiều cho phù hợp với sự phát triển xã hội, nhưng vẫn giữ được nét truyền
thống vốn có. Đây là điều quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi người
Khmer.
IV – Thực trạng và giải pháp của lễ hội Ok Om Bok trong phát triển du lịch
12
1. Thực trạng
Lễ hội chưa khai thác được sản phẩm hàng lưu niệm, đặc sản địa phương
phục vụ du khách trong mùa lễ hội.
Tình trạng ăn xin, trộm cắp ở lễ hội; sự kết nối giữa các điểm chùa, nhà
dân, nơi sinh hoạt cộng đồng và các điểm tham quan khác.
Các hoạt động trong lễ hội còn bị sân khấu hóa.
Chưa có nhiều chương trình du lịch dịp lễ hội.
Sự quan tâm của du khách thật sự chú ý nhiều ở phần hội; ý nghĩa và giá
trị văn hóa của lễ hội chưa được khai thác tốt.
Đối tượng du khách trong dịp lễ hội Ok Om Bok chưa được quan tâm
đúng mức.
Sự kiện văn hóa lễ hội tổ chức tốt nhưng chưa gắn kết được nguồn du
khách.
Số lượng du khách ngoài khu vực thật sự chủ động tìm đến lễ hội Ok Om
Bok còn hạn chế.
Giải pháp
Cần chú ý khai thác yếu tố truyền thống trong lễ hội Ok Om Bok, làm tôn
lên giá trị của lễ hội. Cụ thể là những chiếc đèn hoa đăng nên thực hiện
bằng chất liệu truyền thống (gáo dừa, bè chuối, hoa sen…) bảo vệ được
môi trường nước thay vì những chất liệu hiện nay.Điều này sẽ tạo nên
thương hiệu du lịch xanh cho lễ hội Ok Om Bok, đồng thời cũng góp phần
tuyên truyền cho du khách và cộng đồng địa phương về ý nghĩa môi
trường sinh thái nhân văn mà lễ hội muốn truyền tải.
Tăng cường cơng tác an ninh phịng chống các tệ nạn trộm cắp, ăn xin có
thể diễn ra tại lễ hội.
Cần khai thác đúng hướng, thế mạnh riêng và nhấn mạnh tính dân tộc
trong lễ hội. Thế mạnh của phát triển du lịch lễ hội của người Khmer Nam
bộ chính là văn hóa Phật giáo Nam tơng.
2.
Nhạc ngũ âm, trang phục và ẩm thực truyền thống, không gian văn hóa
truyền thống của lễ hội (các ngơi chùa, điểm sinh hoạt cộng đồng…) cũng
cần được đầu tư và chú ý lưu giữ những nghi lễ truyền thống.
Cần đầu tư nhiều hơn về yếu tố truyền thông nhằm mục đích giúp các du
khách ở phương xa có thể biết đền lễ hội.
13
*Tài liệu tham khảo
1. Lễ Ok Om Bok, Sức mạnh kì diệu của thần Mặt Trăng (ngày truy cập:
15/2/2021)
/>2. Đặc sắc Lễ hội Ok Om Bok của đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh (ngày truy
cập: 15/2/2021)
/>3.
Ấn Tượng Cảnh Thả Đèn Gió Của Người Khmer (ngày truy cập: 15/2/2021)
/>
4.
Lễ hội Ok Om Bok của người Khmer Nam Bộ (ngày truy cập: 15/2/2021)
/>
5. Tìm hiểu về Lễ hội Ok-Om-Bok của đồng bào Khmer Nam bộ (ngày truy cập:
15/2/2021)
/>6. Một số biến đổi trong Lễ Hội Ok Om Bok của người Khmer Trà Vinh hiện
nay (ngày truy cập: 15/2/2021)
/>sid=1462&pageid=6915&catid=69621&id=617920&catname=ly-luan-thuctrien&title=mot-so-bien-doi-trong-le-hoi-ok-om-bok-cua-nguoi-khmer-tra-vinhhien-nay
7.
Ok Om Bok - Đua ghe ngo lễ hội hấp dẫn, mang đậm dấu ấn văn hóa Khmer
Nam bộ (ngày truy cập: 15/2/2021)
/>
8.
Lễ hội Ok Om Bok ở miền Tây (ngày truy cập: 16/2/2021)
/>
9.
Lễ hội cúng trăng Ok Om Bok của tộc người Khmer Nam Bộ - cả vùng sông
nước lung linh đèn trời (ngày truy cập: 16/2/2021)
14
/>10.Ấn
tượng cảnh thả đèn gió của người dân tộc Khmer ( ngày truy cập:
16/2/2021)
/>
11.
Lễ hội Ok Om Bok của người Khmer (tỉnh Trà Vinh) trong phát triển
du lịch (ngày truy cập: 16/2/2021)
/>
15