TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
TÊN ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CẢI CÁCH
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Luật hành chính
Mã phách:.............................................
HÀ NỘI - 2021
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một đất nước phát triển bền vững là đất nước không phải chỉ dựa vào
nền kinh tế mà cần có nhiều yếu tố khác trong đó có cả sự trong sạch, vững
mạnh của nền hành chính, vì thế tất cả các nước trên thế giới đều đang muốn
có được sự cải cách nền hành chính tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
cao nhất và nước ta cũng không phải ngoại lệ Việt Nam Cải cách thủ tục
hành chính vẫn đang là chủ đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta quan tâm
và vẫn đang là vẫn đề mang tính thời sự và mang tính cấp thiết, Cho đến nay
nước ta vần đang tiếp tục những chương trình cải cách nền hành chính nhà
nước và cải cách thủ tục hành chính được xem là khâu đột phá và quan trọng
nhất. Thực tế cho thấy thủ tục hành chính rườm rà sẽ gây ra phiền hà cho việc
thực hiện quyền tự do, lợi ích và công việc chung của cơ quan, gây trở ngại
cho việc giao lưu và hợp tác giữa nước ta với nước ngoài, gây ra những câu
chuyện cậy quyền, gây khó dễ, bệnh giấy tờ trong hệ thống cơ quan hành
chính, là nơi thuận lợi cho nạn tham nhũng, lãng phí phát sinh, hồnh hành.
Ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của cá nhân. Trước những yêu
cầu của công cuộc đổi mới Đảng và Nhà nước ta đã và đang đẩy mạnh thực
hiện công cuộc cải cách hành chính nhằm nâng cao hiệu quả của bộ máy quản
lý nhà nước đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước, Mục tiêu cơ bản của nền
hành chính nước ta là Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính
pháp lý, hiệu quả, minh bạch và cơng bằng trong khi giải quyết cơng việc
hành chính. Loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để
tham nhũng, gây khó khăn cho dân. Mở rộng cải cách thủ tục hành chính trên
tất cả các lĩnh vực, xóa bỏ kịp thời những quy định khơng cần thiết về cấp
phép và thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, kiểm định, giám định.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài Tiểu luận:
3
“Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính”
làm đề tài của mình. Để làm rõ hơn những mặt đã làm được, chưa làm được
của nước ta và qua đó có những kiến nghị khắc phục, để thực hiện hoạt động
cải cách thủ tục hành chínhngày càng đạt hiệu quả cao.
2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin về nhà nước và pháp luật mà chủ yếu là trên cơ sở quan điểm duy vật
và phép biện chứng. Đồng thời đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như: thu thập tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội
học.
2.1. Phương pháp tổng thế thống kê
Dựa trên các báo cáo từ tờ trình,các đề tài nghiên cứu khoa học,sau đó
tổng hợp những số liệu liên quan từ đó phân loại số liệu thành các mục nhỏ
làm dẫn chứng.Đây là một phương pháp quan trọng không thể thiếu trong quá
trình nghiên cứu đề tài.
2.2. Phương pháp so sánh
Từ số liệu thống kê đem ra so sánh qua từng năm. từng thời kì để thấy
được tốc độ gia tăng cũng như nhu cầu thực tế của hoạt động chứng thực.
Ngồi ra cịn so sánh các văn bản mới và cũ để phát huy điểm mạnh , khắc
phục các hạn chế để từ đó đưa ra những ý kiến, đề xuất ảnh hưởng tích cực
đến đời sống nhân dân.
2.3.Phương pháp phân tích
Đi sâu vào hoạt động chứng thực để thấy những tác động tích cực, ảnh
hưởng tiêu cực đến đời sống nhân dân, nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân
khách quan.
2.4. Phương pháp điều tra khảo sát
Qua thực tế tìm hiểu hoạt động cải cách thủ tục hành chinh nhà nước
4
lấy ý kiến của người dân đến chứng thực cũng như cán bộ chứng thực đánh
khách quan về hoạt động chứng thực cũng như nguyện vọng của người dân.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận của thủ tục hành chínhvà
cải cách thủ tục hành chínhtrong cơng cuộc cải cách nền hành chính Quốc
gia. Trên cơ sở đó đề tài đưa ra nhận xét và đánh giá về cải cách thủ tục hành
chính, đồng thời đưa ra giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả cải cách thủ
tục hành chính tại Việt Nam
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu trên phạm vi cả nước
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về áp
dụng, lý luận và thực tiễn áp dụng và cải cách thủ tục hành chính tại các cấp
trong thời gian từ năm 2000 đến nay.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần
phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương I: Lý luận về hành chính và cả cách thủ tục hành chính
Chương II: Thực trạng cơng tác cải cách thủ tục hành chính
Chương III: Các đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả trong công tác
cải cách thủ tục hành
5
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN VỀ HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH
1.1. Khái quát một số vấn đề về cải cách thủ tục hành chính
1.1.1. Thủ tục hành chính
1.1.1.1. Khái niệm thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính là những quy định, trình tự về thời gian, về khơng
gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy Nhà nước, là cách
thức giải quyết công việc của các cơ quan Nhà nước trong mối quan hệ với
các cơ quan, tổ chức và cá nhân, công dân.
Theo tinh thần, nội dung các văn kiện của Đảng (Nghị quyết đại hội
Đảng VII, Nghị quyết trung ương lần thứ 8 khoá VII. Nghị quyết đại hội
Đảng VIII, IX, X) và các văn bản pháp luật (Nghị quvết của Chính phủ số
38/CP ngày 4/5/1994 về cải cách một bướcthủ tục hành chínhtrong việc giải
quyết công việc của công dân và tổ chức, Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg
ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể
cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001- 2010) thìthủ tục hành chínhcó
nội dung rất rộng, bao gồm:
- Số lượng các hoạt động cụ thể cần thực hiện để tiến hành những hoạt
động quản lí nhất định;
- Nội dung, mục đích của các hoạt động cụ thể;
- Cách thức tiến hành, thời hạn tiến hành các hoạt động cụ thể;
- Trình tự của các hoạt động cụ thể; mối liên hệ giữa các hoạt động đó.
Có thể nói, đây là cách hiểu đầy đủ nhất vềthủ tục hành chính. Cách
hiểu này cho phép đánh giá đúng ý nghĩa, vai trò của thủ tục hành chínhtrong
quản lí nhà nước, tạo điều kiện cho việc tìm hiểu nhu cầu, định ra phương
hướng, biện pháp thích hợp để cải cách thủ tục hành chính nhằm xây dựng
6
nền hành chính hiện đại đáp ứng nhu cầu quản lí nhà nước trong điều kiện
hiện nay.
1.1.1.2. Đặc điểm của thủ tục hành chính
Mặc dù có nhiềuthủ tục hành chính nhưng do tính thống nhất của quản
lý hành chính nhà nước nên các thủ tục hành chínhcó một số đặc điểm chung
sau:
Thứ nhất,thủ tục hành chính được xác định bởi các quy phạm pháp luật
hành chính.Quy phạm pháp luật hành chính bao gồm quy phạm nội dung và
quy phạm thủ tục. Quy phạm nội dung trực tiếp quy định những quyền và
nghĩa vụ cơ bản của các chủ thể quản lý nhà nước; quy phạm thủ tục quy định
các cách thức thực hiện quy phạm nội dung (bao gồm quy phạm nội dung,
luật hành chính và một số quy phạm nội dung của các ngành luật khác như
hôn nhân gia đình, dân sự…)
Thứ hai,thủ tục hành chínhlà thủ tục thực hiện các hoạt động quản lý
nhà nước haythủ tục hành chính được thực hiện bởi các chủ thể quản lý hành
chính nhà nước là: các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cá nhân được
nhà nước trao quyền, trong đó quan trọng nhất phải kể đến các cơ quan hành
chính, các cán bộ, cơng chức trong hệ thống cơ quan này. Vì cơ quan hành
chính có chức năng quản lý hành chính nhà nước nên các chủ thể trong cơ
quan đó khơng chỉ thực hiện phần lớn các thủ tục hành chínhmà cịn thực hiện
những thủ tục liên quan đến các hoạt động quản lý hành chính quan trọng
nhất. Ngồi các cơ quan hành chính, các cơ quan nhà nước khác cũng tiến
hành các thủ tục hành chínhkhi thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà
nước, như khi cơ quan đó xây dựng, củng cố cơng tác nội bộ; các cơ quan, tổ
chức, cá nhân thực hiệnthủ tục hành chínhkhi tiến hành các hoạt động quản lý
hành chính được Nhà nước trao quyền trong những trường hợp cụ thể do pháp
luật quy định.
7
Thứ ba,thủ tục hành chínhcó tính mềm dẻo, linh hoạt. Hoạt động quản
lý hành chính nhà nước vốn phong phú, đa dạng. Nội dung và cách thức tiến
hành từng hoạt động cụ thể chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau như
thẩm quyền, năng lực của chủ thể quản lý, đặc điểm của đối tượng quản lý,
điều kiện hoàn cảnh diễn ra hoạt động quản lý…Mỗi yếu tố đó lại chịu sự tác
động của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội khiến cho hoạt động
quản lý trở nên sống động. Vì vậy khơng thể có mộtthủ tục hành chínhduy
nhất cho tồn bộ hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Do đó,thủ tục hành
chínhphải có tính mềm dẻo, linh hoạt nhằm giúp cho sự vận động của các chủ
thể trong hoạt động quản lý được dễ dàng hơn.
1.1.2..Cải cách thủ tục hành chính
1.1.2.1. Khái niệm cải cách thủ tục hành chính
Cải cách hành chính là một sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu
nhất định, được xác định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cải cách hành
chính khơng làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính, mà chỉ làm cho
hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân được tốt hơn; các thể
chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống hơn; cơ chế hoạt
động, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
hành chính hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế – xã hội
của một quốc gia.
Cải cách thủ tục hành chínhlà cải cách các quy định pháp luật về trình
tự, thủ tục thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước, người
có thẩm quyền; cải cách các quy định về các loạithủ tục hành chính; cải cách
việc thực hiện các thủ tục hành chính.
Nội dung của cải cách thủ tục hành chính bao gồm những vấn đề sau
đây:
8
•
Cơ chế một cửa và một cửa liên thơng
•
Kiểm sốt thủ tục hành chính
•
Đánh giá tác động thủ tục hành chính
•
Rà sốt, đánh giá thủ tục hành chính
•
Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị
1.1.2.2. ý nghĩa cải cách thủ tục hành chính
Ý nghĩa của cải cách thủ tục hành chính, nhằm bảo đảm tính pháp lý,
hiệu quả, minh bạch, cơng bằng trong khi giải quyết cơng việc hành chính;
loại bỏ những rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó
khăn cho người dân và doanh nghiệp.
1.2. Vai trị của cải cách thủ tục hành chính
Thứ nhất, cải cách thủ tục hành chính có vai trị quan trọng để đổi mới
phương thức hoạt động của nền hành chính, từ nội dung, phương pháp, lề lối
làm việc, thống nhất từ trung ương tới địa phương.
Thứ hai, cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy q trình dân chủ, củng
cố niềm tin của người dân, tăng cường sự tham gia của người dân vào hoạt
động của, hoạt động quản lý nhà nước.
Thứ ba, cải cách thủ tục hành chính giúp kiểm sốt tốt hơn hoạt động
hành chính nhà nước - vốn là hoạt động có tính phức tạp, nhạy cảm.
Thứ tư, cải cách thủ tục hành chính có vai trò thúc đẩy, nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, cơng chức trong hệ thống hành chính nhà nước.
Thứ năm, cải cách thủ tục hành chính giúp nâng cao chất lượng dịch vụ
công, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân, tổ chức
1.3. Sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính
Hiện nay thủ tục hành chính ở nước ta cịn bộc lộ nhiều thiếu sót: Hình
thức địi hỏi q nhiều giấy tờ, gây phiền hà cho nhân dân; nặng nề, nhiều
cửa, nhiều cấp trung gian, rườm rà, không rõ ràng về trách nhiệm; không phù
9
hợp với yêu cầu của thời kỳ mở cửa và hội nhập. Thủ tục hành chính thiếu
thống nhất, thường bị thay đổi một cách tuỳ tiện, thiếu công khai, minh
bạch…
Hiệu quả của nhược điểm trên là gây phiền hà cho việc thực hiện quyền
tự do, lợi ích và cơng việc chung của cơ quan, gây trở ngại cho việc giao lưu
và hợp tác giữa nước ta với nước ngoài, gây ra tệ cửa quyền, bệnh giấy tờ
trong hệ thống cơ quan hành chính, là nơi thuận lợi cho nạn tham nhũng, lãng
phí phát sinh, hồnh hành, gây phiền hà cho tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp
Cải cách thủ tục hành chính là nhiệm vụ cấp thiết, khó khăn, lâu dài và
thường xuyên. thủ tục hành chính là biểu hiện cụ thể của quản lý hành chính
nhà nước và có liên quan trực tiếp đến thẩm quyền của cơ quan hành chính
nhà nước, cán bộ, cơng chức nhà nước. Mục tiêu cải cách thủ tục hành chính
là đúng đắn, cần thiết nhưng việc thực hiện thì khơng đơn giản, vì đề xuất cắt
giảm thủ tục, hay yêu cầu cải tiến quy định thủ tục theo hướng tạo thuận lợi
tối đa cho người dân, tổ chức, tăng cường chức năng phục vụ, “cơng bộc” của
phía cơ quan, cán bộ, cơng chức nhà nước hoặc phân tích, chỉ ra những hạn
chế, bất cập của quy định thủ tục …. Không phải lúc nào, bao giờ cũng dễ
được cơ quan quản lý, cơ quan chủ trì soạn thảo chấp nhận, đồng tình. Tuy
nhiên, đấu tranh với cái cũ, thực hiện những cái mới để xã hội phát triển, để
bộ máy hành chính nhà nước ngày càng phát huy tính hiệu lực, hiệu quả trong
quản lý, vận hành ln là địi hỏi, thách thức của nhiệm vụ cải cách thủ tục
hành chính.
10
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
2.1. cơ sở lý luận
2.1.1. Cơ sở để thực hiện cải cách thủ tục hành chính
Do thủ tục hành chính còn bộc lộ nhiều nhược điểm: Đòi hỏi quá nhiều
giấy tờ, phiền hà cho nhân dân, nhất là đối những người ít biết về lề lối làm
việc của cơ quan nhà nước. Thủ tục còn nặng nề, quá nhiều khâu nhiều cửa,
nhiều cấp trung gian không cần thiết không rõ ràng về trách nhiệm, trì trệ
khơng phù hợp với thời kỳ đổi mới, mở cửa thị trường của nhà nước ta, làm
kìm hãm sự phát triển chung. Hệ thống thủ tục hành chính thiếu thống nhất
thường thay đổi một cách tuỳ tiện do đó có quá nhiều cơ quan có thẩm quyền
ban hành thủ tục hành chính và các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý
thấp. Tại đại hội lần thứ VI của Đảng khi đề ra đường lối đổi mới, Đảng ta đã
chỉ ra 3 nội dung lớn là:
Thứ nhất: cải cách bộ máy hành chính nhà nước trong đó tập trung
vào việc tổ chức và các mối liên hệ trong bộ máy hành chính nhà nước.
Thứ hai: xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước có đủ trình độ,
năng lực, phẩm chất, đủ sức để thực hiện công việc được giao.
Thứ ba: cải cách thể chế của nền hành chính và cải cách thủ tục hành
chính, trong đó cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá. Thủ tục hành
chính là cơ sở và là điều kiện để cơ quan nhà nước giải quyết công việc của cá
nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
Ngồi ra cịn căn cứ vào một số cơ sở pháp lý sau:
- Nghị quyết số 30c/NQ – CP ( ngày 08 tháng 11 năm 2011) về việc
ban hành Chương trình tổng thể Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011
– 2020;
11
- Nghị định số 63/2010/NĐ – CP (ngày 08 tháng 6 năm 2010 )của
Chính phủ về kiểm sốtthủ tục hành chính;
- Quyết định số 93/2007/QĐ – TTg ( ngày 22 tháng 6 năm 2007) ban
hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương;
- QĐ số 30/QĐ – TTg (ngày 10 tháng 01 năm 2007) Phê duyệt Đề án
Đơn giản hóathủ tục hành chính.trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn
2007 – 2010;
- Nghị quyết số 136/ NQ – TTg ( ngày 17 tháng 9 năm 2001) quyết
định của thủ tướng chính phủ Phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010.
2.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và Đảng cộng sản Việt Nam về cải cách hành chính Việt Nam
Các nhà kinh điển theo học thuyết Mác - Lênin đã có những tư tưởng
bước đầu về cải cách nền hành chính nhà nước, đặc biệt những tư tưởng của
Lênin.Trong quá trình lãnh đạo nhà nước Xơ Viết, Lênin rất chú trọng đối với
cơng tác cải cách nền hành chính. Người coi đây là cơ sở phát triển nền kinh
tế- xã hội.
Trong cải cách nền hành chính, Lênin nhấn mạnh đến việc sắp xếp, tinh
giảm bộ máy hành chính và thực hành tiếp kiệm. Người nhấn mạnh: “Nhiệm
vụ cấp thiết, chủ yếu nhất lúc này và trong những năm sắp tới là không ngừng
tinh giảm bộ máy Xô Viết và giảm bớt chi phí của nó xóa bỏ tác phong lề mề
hành chính”.
Cùng với việc thiết lập một hệ thống quản lí mới, Lênin xúc tiến việc
cải cách chính để đảm bảo cho bộ máy nhà nước vận hành thông suốt. Lê- nin
coi trọng việc cải cách, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, giảm bớt những
khâu xét duyệt giấy tờ không cần thiết.Người đặc biệt lưu ý tới việc soạn lại
12
các quy định thật cơ bản, thiết thực đã tính tốn chính xác để thi hành có hiệu
quả.
Những quan điểm của Lê nin và chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng ta
kế thừa và phát triển trong điều kiện hiện nay.
2.2. Sự cần thiết phải cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam
- Cải cách hành chính xuất phát từ yêu cầu của sự phát triển xã hội, đặc
biệt là yêu cầu của phát triển kinh tế. Trong bối cảnh nước ta đổi mới nền kinh
tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cần tạo lập được một
hệ thống thể chế đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN cũng như để quản lý, hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt
động kinh tế- xã hội. Nền hành chính cần chuyển biến để xóa bỏ tư duy, cách
nghĩ, cách làm của thể chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp sang xây dựng
nền hành chính kiến tạo, hành động, liêm chính, phục vụ.
Hội nhập quốc tế và khu vực đã và đang tác động mạnh mẽ tới mọi nền
hành chính, đặt ra yêu cầu cải cách hành chính mạnh mẽ. Đây vừa là thời cơ,
thuận lợi, vừa đặt ra thách thức mới đối với nền hành chính Việt Nam trong
bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang mở cửa, hội nhập để phát triển. Trong
điều kiện kinh tế mở, có tính tồn cầu, địi hỏi phải nhanh chóng tạo lập đồng
bộ hệ thống thể chế kinh tế, thể chế hành chính phù hợp với thơng lệ chung
của thế giới; bộ máy tinh gọn, được tổ chức khoa học, đội ngũ cán bộ, cơng
chức có trình độ, năng lực, trách nhiệm, đạo đức,... giúp hòa nhập khu vực và
cộng đồng quốc tế, rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam với thế giới. Q
trình dân chủ hóa đời sống xã hội ngày càng mạnh mẽ.
Hiện nay, quá trình dân chủ đang phát triển mạnh mẽ, thu hút sự tham
gia của người dân ngày càng nhiều hơn vào hoạt động quản lý nhà nước.
Người dân với trình độ dân trí tăng lên, hiểu biết pháp luật cao, ý thức sâu sắc
hơn về vị trí, vai trị của mình, đặt ra những yêu cầu về "dân biết, dân bàn,
13
dân làm, dân kiểm tra". Từ đó, yêu cầu về tính cơng khai, minh bạch trong thể
chế, chính sách, thủ tục hành chính, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức
trong thực thi công vụ được đặt ra bức thiết địi hỏi nền hành chính phải có
những bước cải cách mạnh mẽ, quyết liệt, triệt để và đồng bộ và cam kết
mạnh mẽ về một nền hành chính phục vụ, hiện đại. - Khoa học công nghệ,
đặc biệt là công nghệ thông tin phát triển tác động trực tiếp tới u cầu cải
cách hành chính.
Khoa học cơng nghệ khơng ngừng đem lại những tiến bộ vươt bậc cho
nhân loại, tạo ra những khả năng hồn tồn mới và có tác động sâu sắc đối với
các hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế của thế giới, làm thay đổi căn bản
phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, thay đổi lối sống, phong cách làm
việc, cách thức giao tiếp của chúng ta. Khoa học công nghệ phát triển mở ra
nhiều cơ hội cho Việt Nam trong đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực sản
xuất, sức cạnh tranh, rút ngắn khoảng cách phát triển. Trong bối cảnh đó, nền
154 hành chính Việt Nam cần có phản ứng kịp thời về mặt chính sách để thích
ứng, tăng cường năng lực, để nắm bắt cơ hội, những thời cơ mà nó mang lại.
Nếu khơng, nền hành chính sẽ bị tụt hậu kéo theo việc giảm sút, thậm chí cản
trở các cơ hội phát triển và hội nhập của nền kinh tế.
2.3.Thực trạng cơng tác cải cách thủ tục hành chính
Triển khai thực thi 25 nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa thủ
tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của các bộ, ngành, tính đến
ngày 30.6.2011, các bộ, ngành đã ban hành theo thẩm quyền và dự thảo văn
bản trình cấp có thẩm quyền để đơn giản hóa trên 3.000 thủ tục hành chính,
đạt tỷ lệ 63%. Trong đó, số thủ tục hành chính đã được ban hành thành văn
bản quy phạm pháp luật để thực thi lên tới 1.882 thủ tục hành chính, mang lại
lợi ích trực tiếp cho người dân và doanh nghiệp. Một số bộ, ngành kết quả
thực hiện đạt tỷ lệ cao, bao gồm: Giao thông vận tải, Tài nguyên môi trường,
14
Tài chính, Khoa học cơng nghệ, Nội vụ, Tư pháp, …
Về phía các địa phương, triển khai phương án đơn giản hóa thủ tục
hành chính đã được phê duyệt trên cơ sở kết quả tự rà soát thủ tục hành chính
trong khn khổ Đề án 30, đến nay, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương đã chủ động ban hành văn bản thuộc thẩm quyền để thực thi
phương án đơn giản hóa của 3.636 thủ tục hành chính đang được thực hiện tại
các sở, ngành, UBND cấp huyện, UBND cấp xã, như TP.HCM, Bến Tre, Tây
Ninh, Đà Nẵng, Sóc Trăng, Lào Cai, Đồng Nai, Điện Biên, An Giang, Kiên
Giang, Thừa Thiên - Huế, Long An, Cần Thơ, Hải Phòng, Bà Rịa - Vũng Tàu,
Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Vĩnh Long…
Về phạm vi kiểm soát thủ tục hành, trước đây, vì nguồn lực có hạn nên
việc triển khai cải cách thủ tục hành chính theo Đề án 30 chỉ áp dụng đối với
các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời
sống nhân dân. Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP,
các thủ tục trong nội bộ của các cơ quan hành chính nhà nước có liên quan
đến việc giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức, như thủ tục tăng
lương, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ công chức, thi nâng ngạch… đều thuộc phạm
vi điều chỉnh của hoạt động kiểm sốt thủ tục hành chính. Trong thời gian tới,
trong khuôn khổ của hoạt động kiểm sốt thủ tục hành chính, văn phịng
chính phủ cùng với các bộ, ngành, địa phương sẽ từng bước thực hiện đơn
giản hóa các thủ tục nội bộ trong hệ thống các cơ quan hành chính có liên
quan đến việc giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức nhằm nâng
cao hiệu lực quản lý nhà nước, cắt giảm chi phí cho cả khối hành chính cũng
như các cá nhân, tổ chức có liên quan.
Có thể nói, kết quả thực thi phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính
đạt được thời gian qua tại các bộ, ngành, địa phương là một sự cố gắng rất lớn
15
cần được ghi nhận. Tuy nhiên, vẫn còn một số bộ, ngành, địa phương thực
hiện cịn chậm cơng tác này so với thời hạn được Thủ tướng giao. Văn phịng
Chính phủ sẽ tiếp tục đôn đốc các bộ, ngành, địa phương khẩn trương hoàn
thành giai đoạn thực thi, đẩy nhanh tiến độ hiện thực hóa các phương án cải
cách mang lại lợi ích cho người dân và doanh nghiệp.
Về cơng tác kiểm sốt thủ tục hành chính, trong một thời gian ngắn
cơng tác kiểm sốt đã có những chuyển động rất tích cực trong tồn bộ bộ
máy hành chính từ trung ương tới địa phương. Đến nay, đã có tất cả các bộ,
ngành và 62/63 địa phương triển khai việc thành lập phịng kiểm sốt thủ tục
hành chính đặt tại văn phòng bộ, ngành, UBND cấp tỉnh. Cùng với việc kiện
tồn về tổ chức và nhân sự cho phịng kiểm sốt thủ tục hành chính, hệ thống
cán bộ đầu mối kiêm nhiệm làm cơng tác kiểm sốt thủ tục hành chính tại các
vụ, cục, sở, ban, ngành, UBND cấp huyện và cấp xã cũng được quan tâm,
kiện toàn.
Toàn thể cán bộ cơng chức làm cơng tác kiểm sốt thủ tục hành chính
tại các bộ, ngành, địa phương đã tham dự đầy đủ chương trình tập huấn
nghiệp vụ do văn phịng Chính phủ tổ chức. Thơng qua tập huấn, nhận thức
của lãnh đạo và công chức các bộ, ngành về công tác này được nâng cao,
công tác đánh giá tác động các quy định về thủ tục hành chính và lấy ý kiến
về thủ tục hành chính được coi trọng, hoạt động kiểm sốt thủ tục hành chính
bước đầu đã đi vào nề nếp. Các đơn vị kiểm soát thủ tục hành chính đã tham
mưu cho lãnh đạo bộ, ngành, địa phương thực hiện việc sửa đổi, bổ sung theo
thẩm quyền quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ
quan mình, theo đó phải thực hiện đánh giá tác động và lấy ý kiến đơn vị
kiểm sốt thủ tục hành chính đối với dự thảo quy định về thủ tục hành chính;
ban hành quy chế phối hợp trong việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị
16
của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính; xây dựng kế hoạch kiểm sốt
thủ tục hành chính năm 2011 và kế hoạch truyền thơng phục vụ kiểm sốt thủ
tục hành chính của bộ, ngành, địa phương. Đây là nền tảng tốt để đưa hoạt
động kiểm soát thủ tục hành chính đi vào nề nếp, duy trì và phát huy kết quả
cải cách thủ tục hành chính trong thời gian tới.
Trong những năm gần đây, vấn đề giải quyết các thủ tục cho cá nhân và
tổ chức đã được quan tâm và giải quyết một cách nhanh chóng, nhiều thủ tục
đã được rút ngắn các bước trung gian, nhân dân đã khơng cịn phải chờ đợi
lâu, hồ sơ được hướng dẫn chuẩn bị một cách chu đáo, người đân cũng đã có
thể tự mình tìm hiểu về thủ tục mà mình đang có dự định cần phải giải quyết.
Các thủ tục hành chínhđã được chính thức cơng khai một cách minh bạch, cụ
thể đầy đủ các thông tin cần thiết về phí, lệ phí, hồ sơ, thời hạn giải quyết.
Các thủ tục được phân định rõ ràng theo từng lĩnh vực giúp người dân tìm
hiểu đễ dàng hơn.
2.4. Kết quả đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục trong
công tác thực hiện cải cách thủ tục hành chính
2.4.1. Kết quả đã đạt được trong việc thực hiện cải cách thủ tục hành
chính
Cơng tác cải cách thủ tục hành chính bước đầu có chuyển biến, nhận
thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân được nâng lên một bước. Hiệu quả và
hiệu lực quản lý hành chính từng bước được quan tâm. Các thủ tục hành chính
được rà soát. Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa đi vào hoạt
động ổn định, công chức trực và giải quyết công việc đúng lịch, các thủ tục
hành chínhđã được thực hiện cơng khai, minh bạch, dân chủ, công khai. Việc
trả kết quả cơ bản được thực hiện theo đúng thời gian quy định; khắc phục
tình trạng đùn đấy công việc, trách nhiệm không được phân định rõ ràng.
17
- Các cơ quan, đơn vị đã xây dựng quy trình giải quyết nội bộ đối với
các thủ tục hành chính tiếp nhận tại phịng chun mơn. Hiện trạng việc đánh
giá theo ISO đối với các thủ tục hành chính: đã và đang triển khai áp dụng hệ
thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001- 2000 và đạt kết quả cao.
- Chất lượng giải quyết hồ sơ hành chính:
+ Số lượng hồ sơ được giải quyết trong năm 2009 – 2010:
Tỉ lệ hồ sơ được giải quyết đúng hạn và trước hạn đạt 92,5%
Tỉ lệ hồ sơ chậm giải quyết so với quy định chiếm 7,5%
+ Số lượng hồ sơ được giải quyết trong năm 2011:
Tỉ lệ hồ sơ được giải quyết đúng hạn và trước hạn đạt 90,7%
Tỉ lệ hồ sơ chậm giải quyết so với quy định chiếm 9,3%
+ Số lượng hồ sơ được giải quyết trong 3 tháng đầu năm 2012:
Tỉ lệ hồ sơ được giải quyết đúng hạn và trước hạn đạt 91%
Tỉ lệ hồ sơ đang giải quyết chưa quá hạn so với quy định chiếm 5%
Tỉ lệ hồ sơ chậm giải quyết so với quy định chiếm 4%
+ Số lượng hồ sơ được giải quyết trong năm 2018:
Tỉ lệ hồ sơ tiếp nhận trực tuyến mức độ 3, mức độ 4. Được giải quyết
trước hạn, đúng hạn đạt tỷ lệ 99,6%.
Trong năm 2019, nước ta đã tập trung chỉ đạo triển khai các nội dung
về cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, cơng chức; cải cách tài chính cơng và hiện đại hố nền hành chính nhằm
cơng khai, minh bạch, vừa tạo sự thuận tiện cho các cá nhân, tổ chức vừa đáp
ứng yêu cầu nghiệp vụ, đảm bảo đúng pháp luật. Bên cạnh đó cũng chỉ đạo bộ
phận một cửa huyện và các xã, thị trấn thực hiện trả kết quả thủ tục hành
chính qua dịch vụ bưu chính cơng ích.
Tiến hành khảo sát, đánh giá sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với
18
sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước với 3 lĩnh vực: Tài nguyên- môi
trường, Tư pháp, Lao động thương binh và xã hội. Kết quả cho thấy, trên 98%
tỷ lệ người dân hài lòng đối với dịch vụ công thuộc các lĩnh vực trên.
Việc thực hiện đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế
một cửa, một cửa liên thơng, đơn giản hóa thủ tục hành chính đã góp phần rút
ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí, các thủ tục giấy tờ khơng cần thiết, tạo
điều kiện thuận lợi cho người dân khi đến thực hiện các thủ tục hành chính tại
cơ sở.
Tiến hành thực hiện đa dạng hóa các hình thức tiếp nhận các phản
ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về những vấn đề liên quan đến việc giải
quyết thủ tục hành chính, về chun mơn, thái độ phục vụ của cán bộ, công
chức, người lao động. Nhằm nâng cao chất lượng cải cách hành chính, bên
cạnh việc duy trì 100% các thủ tục hành chính tiếp nhận và trả kết quả tại bộ
phận một cửa, nước ta cũng đang nỗ lực nâng cao thực hiện việc tiếp nhận và
trả kết quả thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính cơng ích.
Nhìn chung, cơng tác cải cách thủ tục hành chínhđã được thực hiện khá
tồn diện và đầy đủ, về cơ bản quyền và lợi ích của các tổ chức và công dân
đã được thực hiện:
+ Thực hiện giải quyết cơng việc theo cơ chế một cửa góp phần thay
đổi về chất trong hoạt động. Cụ thể: Từ khi đầu tư xây dựng bộ phận một cửa,
lắp đặt và đưa vào hoạt động hệ thống máy vi tính và các trang thiết bị có cài
đặt phần mềm quản lý hồ sơ, thủ tục hành chính. Trang bị màn hình cảm ứng
tra cứu thông tin, hệ thống đọc mã vạch, thiết bị lấy số tự động đã giúp cho
công dân đến giao dịch được thuận tiện hơn, việc giải quyết công việc được
tiến hành tuần tự. Người dân có thể dễ dàng tra cứu thông tin, thành phần hồ
19
sơ, phí, lệ phí, thời gian trả kết quả hồ sơ với thủ tục mà mình thực hiện. Giúp
cán bộ, công chức dễ dàng trong quản lý và làm việc với cơng dân.
Danh mục 216 thủ tục hành chính, thành phần hồ sơ, mức phí, lệ phí
đều được cơng khai qua hệ thống màn hình cảm ứng và tra mã vạch phục vụ
công dân tra cứu thông tin, tránh được việc cơng dân phải đến trực tiếp liên hệ
các phịng ban chuyên môn để giải quyết công việc. Tổ chức tiếp nhận hồ sơ
được thực hiện trong các ngày làm việc trong tuần (từ thứ 2 đến sáng thứ 7)
khắc phục tình trạng người dân phải chờ đợi lâu để nộp hồ sơ, cơng việc được
hồn thành nhanh, đúng thời hạn hơn.
+Cơng tác kiểm tra đánh giá được tích cực thực hiện đã hạn chế được
nạn quan liêu, sách nhiễu nhân dân, nạn quan liêu giấy tờ, công việc của các
tổ chức, cá nhân được thực hiện đầy đủ, quyền và lợi ích được đảm bảo thực
hiện.
+ Cơng tác cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh đã tháo gỡ
những vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh thúc đấy kinh tế phát triển, nâng
cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của công dân.
Cơ sở vật chất của cơ quan, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả được tăng
cường đầu tư, đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ thông tin trong giải quyết
công việc theo cơ chế một cửa, từng bước hiện đại hóa nền hành chính nhà
nước ở địa phương.
2.4.2. Những hạn chế cần khắc phục trong việc thực hiện cải cách
thủ tục hành chính
- Thể chế hành chính, trong đó có thủ tục hành chính nhìn chung vẫn
cịn nhiều phức tạp, rườm rà, gây khơng ít phiền toái cho doanh nghiệp và
người dần; vẫn mang nặng cơ chế “xin – cho”. Thể chế về tổ chức, hoạt động
của bộ máy Nhà nước, về thực thi cơng vụ của các cơ quan hành chính, của
mỗi cán bộ, công chức vẫn chưa đủ rõ và cụ thể, còn chậm đổi mới, chồng
20
chéo, phức tạp, gây khó dễ cho người dân và doanh nghiệp, chưa phù hợp với
thông lệ chung của thế giới.
- Tổ chức bộ máy hành chính cịn nhiều bất cập. Việc điều chỉnh, đổi
mới chức năng, nhiệm vụ của cả bộ máy hành chính Nhà nước cũng như của
từng cấp, từng cơ quan hành chính cịn hình thức, chưa phù hợp với yêu cầu
phát triển nền kinh tế hiện nay. Bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc, song trùng
chức năng, thẩm quyền và sức ỳ, sự trì trệ, quan liêu. Tổ chức bộ máy thiếu
khoa học, cịn máy móc, cứng nhắc. Việc phân cấp Trung ương- địa phương
vẫn còn nhiều hạn chế, chậm chạp, chính quyền địa phương cịn thiếu các
điều kiện cần thiết để phát huy tính chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong quản
lý trên địa bàn.
- Đội ngũ cán bộ, cơng chức cịn nhiều hạn chế cả về số lượng, chất
lượng. Công chức vừa thiếu lại vừa thừa, ở khía cạnh thiếu những cơng chức
có năng lực, có đạo đức, có tính chun nghiệp. Chất lượng đội ngũ cán bộ,
cơng chức cịn nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu, còn yếu cả về kiến
thức, kỹ năng thực thi cơng vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học, tinh thần trách
nhiệm và phục vụ. Một bộ phận cán bộ, cơng chức suy thối về phẩm chất
đạo đức, lối sống, tham nhũng, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước yêu cầu của
người dân và tổ chức.
- Cơ chế quản lý ngân sách, tài sản cơng cịn nhiều yếu kém, bất hợp
lý, chưa khuyến khích tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các đơn vị, cá
nhân thụ hưởng ngân sách. Những quy định, cách thức quản lý còn bất cập
tạo nhiều kẽ hở cho tình trạng lãng phí, tham nhũng phổ biến, tràn lan, chậm
được khắc phục.
- Hệ thống phần mềm quản lý hồ sơ thủ tục hành chính vẫn chưa được
triển khai đến tồn bộ các phịng ban gây nhiều khó khăn trong việc thống kê
cũng như việc chuyển giao, tiếp nhận hồ sơ, kiểm soát việc xử lý hồ sơ giữa
21
bộ phận một cửa và các phịng ban chun mơn.
- Nhiều nơi cơ sở vật chất bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả cịn
khó khăn, hạn chế: diện tích chưa đúng quy định, cơ sở vật chất, trang thiết bị
phục vụ cơng việc cịn thiếu.
22
2.5. Những khó khăn, thách thức trong cải cách hành chính nhà
nước ở nước ta hiện nay
Thứ nhất, cải cách hành chính nhà nước Việt Nam đã trải qua một
chặng đường dài nhưng thách thức lớn nhất đối với yêu cầu xây dựng hệ
thống hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh, quản lý có hiệu lực, hiệu
quả là những yếu kém kéo dài của bộ máy hành chính nhà nước, sự lạc hậu so
với mặt bằng trong khu vực và thế giới, tệ quan liêu, nạn tham nhũng, sự thối
hóa về phẩm chất, đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức khiến niềm tin
của người dân, doanh nghiệp đối với nền hành chính suy giảm. Trình độ hiểu
biết và kỹ năng của cán bộ, công chức để xử lý các vấn đề quản lý tầm vĩ mô
và vi mô đạt thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiện đại.
Sức ỳ của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp còn ảnh hưởng khá nặng đến
nếp nghĩ, phong cách làm việc của một bộ phận cán bộ, cơng chức, trong khi
đó cuộc cải cách lại được tiến hành trong điều kiện còn thiếu kiến thức và
kinh nghiệm quản lý nhà nước trong cơ chế kinh tế mới, trước yêu cầu xây
dựng hệ thống hành chính nhà nước dân chủ và hiện đại, thích ứng được với
thực tiễn.
Thứ hai, vấn đề đặt ra với cải cách hành chính phải đảm bảo sự hài hịa,
thống nhất, đồng bộ của cải cách hành chính với các cuộc cải cách khác trong
hệ thống chính trị. cải cách hành chính được đặt trong tổng thể đổi mới hệ
thống chính trị và cải cách bộ máy nhà nước nói chung. Việt Nam cùng một
lúc tiến hành một loạt các cải cách: cải cách lập pháp, cải cách tư pháp, cải
cách kinh tế, cải cách giáo dục... Mỗi cuộc cải cách theo đuổi các mục tiêu,
kết quả riêng, tuy nhiên những đặc thù của từng cuộc cải cách vẫn nằm trong
mối quan hệ tổng thể, phải đảm bảo hài hòa, thống nhất. Chính vì vậy, tính
đồng bộ giữa các cuộc cải cách này có ý nghĩa quan trọng, nó tạo ra sự thống
nhất ở tầm vĩ mô như hoạch định thể chế, chính sách, pháp luật.
23
Thứ ba, cải cách hành chính là cơng việc khó khăn, phức tạp, lâu dài và
gặp nhiều lực cản. Hoạt động hành chính nhà nước cũng là lĩnh vực nhạy
cảm, ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên tới quyền và lợi ích hàng ngày của
người dân, do đó được người dân, doanh nghiệp quan tâm đặc biệt. Tuy được
xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đòi hỏi sự đồng thuận của cả hệ thống chính
trị nhưng khâu tổ chức triển khai thực hiện từ trung ương đến địa phương
chưa ngang tầm nhiệm vụ. Hiện tại vẫn thiếu một giải pháp cần thiết đủ tầm
về mặt chỉ đạo để bảo đảm sự kết nối có hiệu quả. Đồng thời, cịn nhiều vấn
đề quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định nội dung và
phương thức tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, cải cách hành chính, xây
dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN cần phải tiếp tục nghiên cứu.
Có thể nói gần như các yếu tố cấu thành cơ bản của nền hành chính quốc gia
đều địi hỏi phải cải cách, thay đổi. Chính vì vậy, việc triển khai không đơn
giản và cũng không thể sớm đạt kết quả.
Thứ tư, cải cách hành chính ở mỗi quốc gia cũng như ở Việt Nam hiện
nay khơng thể có một hình mẫu cụ thể. Tiến hành cải cách trên tinh thần học
hỏi những kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới và vận
dụng hợp lý, linh hoạt phù hợp với bối cảnh, điều kiện Việt Nam. Phạm vi và
quy mô rộng lớn của cải cách hành chính địi hỏi phải tiến hành một cách liên
tục, với quyết tâm cao, vừa làm vừa nghiên cứu, tổng kết thử nghiệm những
mơ hình tổ chức và quản lý mới. Thách thức, khó khăn này đặt ra cho nền
hành chính Việt Nam những yêu cầu mới trong những giai đoạn, bối cảnh,
tình hình mới hiện nay.
Thứ năm, cải cách hành chính đang đứng trước những thời cơ và thách
thức lớn của q trình tồn cầu hóa, hội nhập quốc tế, của quá trình phát triển
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong điều kiện kinh tế mở, có tính
tồn cầu, địi hỏi phải nhanh chóng tạo lập đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế,
24
thể chế hành chính phù hợp với thơng lệ chung của thế giới; phải đổi mới tổ
chức bộ máy và nâng cao trình độ, năng lực, trách nhiệm của cán bộ, cơng
chức để có thể hịa nhập vào cộng đồng quốc tế, cộng đồng khu vực, trong khi
chúng ta đang ở một khoảng cách khá xa so với thế giới. Đồng thời, sự vận
hành nền kinh tế theo các quy luật của thị trường sẽ tác động sâu sắc và đặt ra
yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ vai trò, chức năng của Nhà nước nói chung và
của nền hành chính nhà nước nói riêng, địi hỏi phải chuyển mạnh sang nền
hành chính “phục vụ”, xóa bỏ triệt để cơ chế “xin - cho”, tạo ra “sân chơi”,
“luật chơi” phù hợp với quy luật của thị trường, tôn trọng và tạo thuận lợi cho
người dân và doanh nghiệp.
Tiểu kết
Tại chương 2 tôi đã đi sâu và chỉ rõ thực trạng trong việc thực hiện cải
cách thủ tục hành chính và nêu ra nhừn điểm đã làm được và những điểm cần
khắc phục. Từ việc tìm hiểu thực tiễn hoạt động cải cách tủ tục hành chính,
phát hiện những hạn chế, tồn tại, qua đó tổng quát lại những nguyên nhân,
hạn chế để tìm ra những giải pháp hiệu quả và đưa ra những đề xuất, kiến
nghị cụ thể, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong cơng tác áp dụng pháp
luật; hoàn thiện hệ thống pháp luật để áp dụng pháp luật phù hợp với thực tế;
đảm bảo hiệu lực một cách triệt để.
25