Tải bản đầy đủ (.docx) (27 trang)

tiểu luận pháp luật đại cương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (151.58 KB, 27 trang )


KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

NGUYÊN TẮC NHÂN ĐẠO TRONG BỘ LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
GVHD: NGUYỄN THỊ HÀ PHƯƠNG
NHÓM SINH VIÊN THỰC HIỆN
STT

Họ và tên

MSSV

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2020

ĐIỂM:……………………………………………………………………………..


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN:

KÝ TÊN


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU
1.



Lý do chọn đề tài

Một nhà nước tiến bộ là một nhà nước tồn tại trên cơ sở hướng đến việc bảo
đảm các lợi ích của con người, hạnh phúc của con người là thước đo mọi giá trị
của cuộc sống. Và tất nhiên một nhà nước tiến bộ, dân chủ mà Việt nam ta muốn
hướng đến cũng không nằm ngồi tiêu chí đó. Do đó, Bộ luật hình sự Việt Nam
đã ra đời nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam, răn đe
những thành phần xấu trong xã hội. Và đương nhiên, trong Bộ luật hình sự chắc
chắn có tồn tại một số hình phạt khá nhạy cảm, tiêu biểu đó là luật tử hình, một
cơng cụ răn đe cao nhất đối với mọi loại tội phạm nguy hiểm, nhằm loại bỏ hoàn
toàn họ ra khỏi xã hội.
Tuy nhiên hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, mọi người ngày càng ý thức
rõ hơn về quyền được sống của một con người. Còn đối chính phủ của các nước,
đặc biệt là các nước phát triển, họ gọi đó là “nhân quyền”, do đó, xu thế hiện
nay của luật hình sự trên thế giới đó là tập trung hướng đến cải tạo tội phạm,
biến họ trở thành người tốt hơn là lấy đi mạng sống của họ. Còn đối với Việt
nam, quan điểm đạo đức mang giá trị nhân văn, thể hiện đạo lý về tình thương
con người bao trùm trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như là một
truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Từ đó, kết hợp giữa xu thế chung của thế giới,
sự phát triển nhân loại và truyền thống dân tộc, Việt Nam ta đã có những cải
cách rất rõ ràng trong việc đưa tính nhân đạo vào cơng cụ pháp lý của mình, đó
chính là Bộ luật hình sự. Việc đưa tính nhân đạo vào Bộ luật hình sự chắc chắn
sẽ tạo ra một hiệu ứng tích cực, làm hồn chỉnh hơn nữa pháp luật của chúng ta
vốn đã được đánh giá rất cao về mặt hoàn thiện.
Với sự quan tâm sâu sắc đến pháp luật, cùng với đó là khao khát muốn hiểu
rõ hơn nữa sự vận hành, ứng dụng của pháp luật trong cuộc sống, cụ thể là tính
nhân đạo trong pháp luật mà nhà nước ta đã ban hành. Đồng thời làm rõ hơn nữa
4



vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về tư tưởng nhân đạo dưới khía cạnh pháp lý,
từ đó nhóm chúng em đã quyết định chọn đề tài “Quy tắc nhân đạo trong Bộ
luật hình sự Việt Nam” cho bài tiểu luận này.
2.

Mục đích nghiên cứu

Làm rõ các khái niệm về nhân đạo, nhân đạo từ góc độ pháp lý, các khía
cạnh khác nhau của quy tắc nhân đạo áp dụng trong pháp luật hình sự. Chỉ rõ
được sự hiện diện của quy tắc nhân đạo trong pháp luật Việt Nam ở các đều
khoản nội dung cụ thể. Thể hiện được tính tích cực của bộ luật hinh sự năm
2015 (sửa đổi bổ sung 2017) so với Bộ luật hình sự năm 1999 khi chưa áp dụng
nhiều quy tắc nhân đạo. Nêu ra thực trạng của việc áp dụng tính nhân đạo trong
luật hình sự và xu hướng của luật hình sự, cụ thể là áp dụng tính nhân đạo trong
tương lai.

5


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC NHÂN ĐẠO
1.1. Một

số khái niệm

1.1.1

Nhân đạo


Chủ nghĩa nhân đạo là một đạo lý có lịng tốt, từ thiện, và nhân ái đến
tồn thể lồi người một cách vơ tư. Trong lịch sử, chủ nghĩa nhân đạo là một
khái niệm ln tiến triển nhưng ln có tính tồn thể. Theo chủ nghĩa này,
không ai nên kỳ thị người đau khổ hoặc bị hành hạ vì lý do giới tính, thiên
hướng tình dục, dân tộc, đẳng cấp, tuổi, tơn giáo, hay quốc tịch.
Chủ nghĩa nhân đạo bao hàm cả cách nhìn nhận, đánh giá con người về
nhiều mặt trong các quan hệ với tự nhiên, xã hội và đồng loại. Nhân đạo từ xưa
đến nay là một thế giới mà trong đó con người ln đấu tranh chống lại mọi thế
lực thù địch ln xuất hiện dưới mọi hình thức, để khẳng định chính mình,
khẳng định quyền năng và sức mạnh của mình, đồng thời thể hiện khát vọng làm
người mãnh liệt và cao đẹp của mình.
1.1.2.

Nhân đạo từ góc độ pháp luật

Nhân đạo là đạo làm người. Đạo làm người thể hiện ở lịng thương u,
với ý thức tơn trọng các giá trị danh dự, nhân phẩm của con người, khơng làm
đau đớn con người. Luật hình sự Việt Nam khoan hồng với những người tự thú,
thật thà khai báo, tố giác đồng bọn, lập công chuộc tội, ăn năn, tự nguyện sửa
chữa hoặc bồi thường thiệt hại. Luật hình sự khơng có mục đích trả thù, hạ thấp
nhân phẩm người phạm tội mà nhằm tạo điều kiện để họ được cải tạo trở thành
người có ích cho xã hội, sống lương thiện. Luật hình sự Việt Nam có nhiều quy
định nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội tự cải tạo như quy định về miễn
trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, v.v... Trong hệ thống hình phạt của Luật
hình sự Việt Nam có nhiều loại hình phạt không tước tự do như cảnh cáo, cải tạo
không giam giữ...
6


1.2.


Nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam
Nguyên tắc này thể hiện ở việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội
chủ yếu nhằm cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội. Hình phạt
khơng gây đau đớn về thể xác của người phạm tội. Bộ luật hình sự có nhiều quy
định tạo điều kiện cho người phạm tội tự cải tạo, có cơ hội để sớm hịa nhập vào
cộng đồng như: quy định về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, án treo
và một số hình phạt khơng tước quyền tự do như hình phạt cảnh cáo.
Cơng dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Dù có phạm tội họ
vẫn là cơng dân Việt Nam, vẫn là thành viên của xã hội. Chính vì vậy, khi xem
xét hành vi phạm tội của họ, Nhà nước ln chú ý đến nhiều khía cạnh như độ
tuổi, tình trạng sức khỏe, tình trạng bản thân khi phạm tội như mang thai, hồn
cảnh gia đình đang gặp khó khăn đặc biệt để xác định mức hình phạt phù hợp,
điều đó xuất phát từ đạo đức, truyền thống dân tộc Việt Nam và được thấm
nhuần trong nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa của Luật Hình sự Việt Nam.
Nguyên tắc nhân đạo được thể hiện như sau:
Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác
đồng phạm, lập cơng chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm
trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối
cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;
Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình
phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát,
giáo dục;
Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ
sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ
có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp
hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;

7



Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống
lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được
xóa án tích. Khi quyết định hình phạt cơ quan xét xử chú ý đặc điểm nhân thân
người phạm tội như phụ nữ có thai, người chưa thành niên, người già yếu, bệnh
tật, người đang trong thời kỳ nuôi con nhỏ, người có hồn cảnh gia đình đặc biệt
khó khăn.
Ngun tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa còn thể hiện trong hàng loạt quy
định của Bộ luật hình sự như quy định miễn chấp hành hình phạt cho người lập
cơng lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, quy định về án treo.
Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa thể hiện rõ nét ở mục đích áp dụng
hình phạt là cải tạo người phạm tội, giáo dục để họ trở thành người lương thiện
có ích cho xã hội, thể hiện ngun tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội.
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội và áp
dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết, nếu xét
thấy khơng cần thiết thì Tịa án áp dụng biện pháp tư pháp. Tử hình và tù chung
thân khơng áp dụng với người chưa thành niên. Khi xử phạt tù có thời hạn,
người chưa thành niên được hưởng mức án nhẹ hơn mức án với người thành
niên phạm tội tương ứng.
1.3. Mối

liên hệ giữa nguyên tắc nhân đạo và nguyên tắc khác trong luật

hình sự Việt Nam
Theo định hướng của đảng và nhà nước, quy tắc nhân đạo khi đã áp dụng thì
phải áp dụng một cách thống nhất, đồng bộ với các quy định, điều khoản một
cách rõ ràng. Từ đó ta sẽ dễ dàng thấy được mối liên hệ chặt chẽ giữa quy tắc
nhân đạo với các quy tắc cơ bản trong pháp luật hình sự việt nam: nguyên tắc
pháp chế; nguyên tắc dân chủ; nguyên tắc hành vi và nguyên tắc lỗi; nguyên tắc
phân hóa trách nhiệm hình sự.

1.3.1.

Nguyên tắc pháp chế
8


Nguyên tắc pháp chế là một nguyên tắc hết sức quan trọng và cơ bản của
quá trình xây dựng và đổi mới pháp luật ở Việt Nam. Nói đến pháp chế tức là
nói đến sự triệt để tuân thủ pháp luật từ phía Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã
hội và của cơng dân. Ngun tắc pháp chế có nguồn gốc từ ngun lý khơng có
tội nếu khơng có luật.
Trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc pháp chế được coi là nguyên tắc cơ
bản, xuyên suốt toàn bộ các hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự.
Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc pháp chế cụ thể:
Về mặt lập pháp: Việc sửa đổi, bổ sung, quy định tội phạm mới hay xoá
bỏ một tội phạm phải được tiến hành một cách hợp pháp, theo đúng thủ tục luật
định. Theo cơ chế này, mọi tội phạm và hình phạt phải được Luật hình sự quy
định " có luật, có tội ".Ngồi ra, ngun tắc pháp chế cịn địi hỏi pháp luật hình
sự phải được xây dựng trên những cơ sở khoa học, được xây dựng một cách
hồn thiện, đáp ứng u cầu đấu tranh phịng ngừa và chống tội phạm. Các quy
định của Luật hình sự phải được xây dựng một cách cụ thể, chính xác với các
dấu hiệu của từng hành vi phạm tội và hậu quả pháp lý của nó.
Về mặt áp dụng pháp luật: Nhà nước khơng chấp nhận một bản án hình sự
về một tội nào đó, nếu như tội này khơng được quy định trong Luật hình sự hiện
hành. Việc xét xử phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ sót tội
phạm, khơng để oan người vơ tội. Hình phạt mà Toà án tuyên cho người phạm
tội phải phù hợp với các quy định của luật hình sự.
Các cơ quan tiến hành tố tụng khi thực hiện các hoạt động điều tra, truy
tố, xét xử phải tuân theo đúng và đầy đủ các thủ tục luật định.
Nguyên tắc pháp chế địi hỏi sự chính xác và thống nhất trong việc áp

dụng Luật hình sự, trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội
của tội phạm và của bản thân người phạm tội. Điều đó có nghĩa là trên phạm vi

9


tồn lãnh thổ Việt Nam, pháp luật hình sự phải được áp dụng như nhau, không
phân biệt giai cấp, tôn giáo, thành phần xã hội...của người phạm tội.
Đối với công dân, nguyên tắc pháp chế đòi hỏi mỗi người dân đều phải
tuân thủ pháp luật một cách triệt để.
1.3.2.

Nguyên tắc dân chủ

Dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân, sự tham gia rộng rãi của nhân
dân vào quá trình quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Đây là một nguyên tắc hiến
định. Trong Luật hình sự, nội dung của nguyên tắc dân chủ thể hiện ở các điểm
sau: Luật hình sự bảo vệ và tơn trọng các quyền dân chủ của công dân trong tất
cả các mặt của đời sống xã hội, kiên quyết xử lý các hành vi xâm phạm những
quyền dân chủ của công dân; Luật hình sự bảo đảm cho nhân dân lao động tự
mình hay thông qua các tổ chức xã hội tham gia vào việc xây dựng và áp dụng
Luật hình sự, đấu tranh chống và phịng ngừa tội phạm; Luật hình sự coi việc
đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm là sự nghiệp của toàn dân.
1.3.3.

Nguyên tắc hành vi và nguyên tắc có lỗi

Xuất phát từ quan điểm: Đối tượng điều chỉnh của pháp luật chỉ có thể là
hành vi của con người mà không thể là ý nghĩ, tư tưởng của họ, Ngành luật hình
sự Việt Nam thừa nhận nguyên tắc hành vi là một trong các nguyên tắc chính.

Theo đó, Luật hình sự khơng truy cứu trách nhiệm hình sự của một người về tư
tưởng của họ mà chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của họ
khi hành vi đó thỏa mãn các dấu hiệu được quy phạm pháp luật quy định.
Gắn liền với nguyên tắc hành vi là nguyên tắc có lỗi. Luật hình sự truy
cứu trách nhiệm hình sự về hành vi của một người chỉ khi hành vi đó có lỗi.
1.3.4.

Ngun tắc phân hóa trách nhiệm hình sự

Cũng như các ngun tắc khác, ngun tắc phân hóa trách nhiệm hình sự
phải được thể hiện trong xây dựng pháp luật hình sự và áp dụng pháp luật hình
10


sự. Trong áp dụng pháp luật hình sự, nguyên tắc này cịn được gọi là ngun tắc
cá thể hóa trách nhiệm hình sự hay ngun tắc cá thể hóa hình phạt.
Chức năng giáo dục của Luật hình sự chỉ có thể thành hiện thực khi trách
nhiệm hình sự được xác định đúng cho từng chủ thể phạm tội. Hình phạt áp
dụng cho chủ thể phạm tội phải tương xứng với mức độ gây nguy hiểm cho xã
hội của tội phạm gây ra và phải phù hợp với nhân thân cũng như hồn cảnh của
chủ thể phạm tội.
Như vậy ta có thể thấy Pháp luật hình sự và các nguyên tắc của Luật hình
sự có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thể hiểu và vận dụng tốt, có hiệu quả
các quy định của pháp luật hình sự thơng qua nội dung của các nguyên tắc của
Luật hình sự.
Pháp luật hình sự và các nguyên tắc của luật hình sự trong Luật Hình sự
Việt Nam được thể hiện ở việc xét xử hình sự phải đúng người, đúng tội, khơng
bỏ lọt tội phạm, khơng xử oan người vơ tội, hình phạt phải tương xứng với tính
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Bảo đảm tính nghiêm minh
triệt để của Luật Hình sự Việt Nam, bảo vệ hữu hiệu các lợi ích của Nhà nước,

của xã hội và lợi ích hợp pháp của cơng dân.

11


CHƯƠNG II: NỘI DUNG NGUYÊN TẮC NHÂN ĐẠO TRONG BỘ
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1. Nội

dung nguyên tắc nhân đạo

2.1.1.

Nguyên tắc nhân đạo trong các quy định về đường lối chính
sách hình sự

Chính sách hình sự là một bộ phận của chính sách pháp luật thể hiện tư
tưởng, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội
phạm trong từng thời kỳ nhất định. Tư tưởng nhân đạo trong chính sách hình sự
của Đảng và nhà nước ta thể hiện đường lối xử lý đối với các tội phạm được xác
định trên cơ sở coi trọng cả mục đích trừng trị và giáo dục, phịng ngừa tội
phạm, trong đó mục đích giáo dục người phạm tội, đề cao tính “hướng thiện”
ln được đặt lên hàng đầu.
Trước hết phải kể đến Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Đảng,
trong đó Đảng ta đã chỉ rõ, cần phải “Coi trọng việc hồn thiện chính sách hình
sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phịng ngừa và tính hướng thiện
trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt
tiền, hạn chế áp dụng hình phạt tử hình…”. Bộ luật hình sự (bộ luật hình sự) số
100/2015/QH13 (gọi là bộ luật hình sự năm 2015) được Quốc hội khóa XIII, kỳ
họp thứ 10 thơng qua ngày 27 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực tồn phần kể từ

ngày 01 tháng 01 năm 2018 đã kịp thời thể chế hoá chủ trương cải cách tư pháp
của Đảng, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, trong đó nhấn mạnh phải “tạo ra cơ
chế hữu hiệu để bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ
lợi ích của Nhà nước và tổ chức, góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ
và thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, góp phần tháo
gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội
phạm và tăng cường hội nhập quốc tế”. Đây là những định hướng quan trọng, là
cơ sở nền tảng cho việc xây dựng các chế định khác nhau của Bộ luật hình sự.
12


Tội phạm và hình phạt được quy định phải xuất phát từ tính đặc thù của từng
loại tội phạm cũng như các điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội chi phối. Có như
vậy, tính chất giáo dục cũng như phịng ngừa của hình phạt mới đạt được hiệu
quả và đảm bảo được sự đồng thuận trong dư luận xã hội.
Nguyên tắc nhân đạo trong chế định tội phạm
Tội phạm là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội so với các hành vi vi
phạm pháp luật khác. Việc xác định và ghi nhận một hành vi nguy hiểm cho xã
hội bị coi là tội phạm và đưa nó vào bộ luật hình sự là kết quả của sự đánh giá
tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và sự cần thiết phải xử lý hành vi đó
trước pháp luật. Biểu hiện của tính nhân đạo trong việc quy định một hành vi
nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm không phải là sự áp đặt ý chí của Nhà
nước mà về bản chất hành vi đó vốn dĩ đã hội đủ những yếu tố tiêu cực tồn tại
một cách khách quan, người làm luật quy định tội phạm nhằm mục đích để bảo
vệ các giá trị xã hội quan trọng khác.
Xuyên suốt trong các quy định về chế định tội phạm được quy định trong bộ
luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với 314 tội danh quy định từ
chương XIII đến chương XXVI là sự ghi nhận và phản ánh đúng những hành vi
nguy hiểm cho xã hội đã và đang tác động tiêu cực đến các phương diện của đời
sống chính trị-xã hội. Tuy nhiên việc cân nhắc, tính đến khả năng phải chịu hậu

quả pháp lý bất lợi của nhà nước đối với từng hành vi nguy hiểm, từng tội phạm
cụ thể sẽ được xét dựa trên nhiều yếu tố khác nhau với phương châm: cụ thể hóa
các trường hợp bị coi là tội phạm và khơng bị coi là tội phạm (được loại trừ
trách nhiệm hình sự).
“Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải
chịu trách nhiệm hình sự. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được
quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Điều
đó có nghĩa là xác định tội phạm phải theo nguyên tắc có luật mới có tội, khơng
13


có luật thì khơng có tội. Luật hình sự khơng cho phép quy tội khách quan, đồng
thời không cho phép áp dụng nguyên tắc tương tự về luật. Các tội phạm cụ thể
cũng được sắp xếp theo thứ tự từng chương, từng điều luật căn cứ vào tính chất
nguy hiểm cho xã hội của khách thể của tội phạm. Điều đó khẳng định một lần
nữa tính ưu việt của nhà nước trong việc luôn luôn coi trọng và ưu tiên hàng đầu
vấn đề bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, tự do, tài
sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, pháp nhân.
Về những trường hợp không phải là tội phạm, ngồi việc tiếp tục duy trì và
cụ thể hóa các trường hợp như trong Bộ luật hiện hành, bộ luật hình sự năm
2015 đã bổ sung thêm 3 trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự là: Gây
thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm pháp; rủi ro trong nghiên cứu, thử
nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; thi hành mệnh lệnh
của người chỉ huy hoặc của cấp trên. Đây là những trường hợp cần thiết quy
định nhằm tạo hành lang pháp lý an tồn để khuyến khích người dân an tâm, tích
cực tham gia phòng chống tội phạm; tham gia các hoạt động sản xuất, nghiên
cứu khoa học có tính chất “đột phá” vì lợi ích chung của tồn xã hội đồng thời
nhằm để bảo vệ chính quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong từng điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể.
2.1.2.

1.

Nguyên tắc nhân đạo trong các hình phạt

Nguyên tắc nhân đạo trong quy định về khái niệm hình phạt và mục đích của
hình phạt:
Bộ luật hình sự năm 2015 bổ sung thêm khái niệm hình phạt đối với pháp

nhân thương mại so với Bộ luật hình sự năm 1999: Hình phạt là biện pháp
cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do
Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội
nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.

14


Thứ nhất, điểm mới đặc biệt quan trọng tại Bộ luật hình sự năm 2015 bao
gồm điểm mới về các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội
1. Hình phạt chính bao gồm: Phạt tiền; Đình chỉ hoạt động có thời hạn; Đình chỉ
hoạt động vĩnh viễn.
2. Hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số
lĩnh vực nhất định; Cấm huy động vốn; Phạt tiền, khi khơng áp dụng là hình
phạt chính.
3. Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một
hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.
Thứ hai, điểm mới về quy định tù có thời hạn:
Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở
giam giữ trong một thời hạn nhất định. Tù có thời hạn đối với người phạm một
tội có mức tối thiểu là 03 tháng và mức tối đa là 20 năm. Thời gian tạm giữ, tạm
giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm

giam bằng 01 ngày tù. Khơng áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần
đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vơ ý và có nơi cư trú rõ ràng. Đó thể hiện tính
nhân đạo rõ ràng của cơ quan ban hành luật ở Việt Nam so với năm 1999. Điều
này cũng giúp cho phạm nhân có thêm một cơ hội nữa để không phải phạm luật
lần nữa trong xã hội.
Thứ ba, điểm mới về quy định tịch thu tài sản:
Bộ luật hình sự năm 2015 bổ sung các trường hợp áp dụng biện pháp tịch
thu tài sản: “Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội
phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma tuý, tham nhũng hoặc tội
phạm khác do Bộ luật này quy định”.
Thứ tư, tính nhân đạo của pháp luật ở các tình tiết giảm nhẹ hình sự:
15


Bộ luật hình sự năm 2015 bổ sung thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự:
1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người
phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; Người phạm tội
tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; Phạm tội
trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Phạm tội trong trường
hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; Phạm tội trong trường hợp vượt quá
mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; Phạm tội trong trường hợp bị kích
động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra; Phạm tội vì
hồn cảnh đặc biệt khó khăn mà khơng phải do mình tự gây ra…
2. Khi quyết định hình phạt, Tịa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác
là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.
3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định
tội hoặc định khung thì khơng được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định
hình phạt.

Qua điều 51 bộ luật hình sự 2015, ta có thể thấy rất nhiều trường hợp
được đưa vơ các tình tiết giảm nhẹ hình sự, đó thể hiện rất sâu sắc tính nhân đạo
của pháp luật trong việc ban hành bộ luật hình sự. Cơ quan ban hành luật đã tạo
điều kiện hết mức cho người dân giảm nhẹ chế độ hình sự nhằm thực hiện việc
cải tạo và giam giữ trong thời gian ngắn hơn, giúp người dân mau chóng hồ
nhập lại với xã hội và tạo lập một cuộc sống mới tốt đẹp hơn. Đây là điều rất
đáng được phát huy của BỘ LUẬT HÌNH SỰ trong thời gian sắp tới.
Thứ năm, về mặt tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bộ luật hình sự năm 2015 làm rõ các tình tiết tăng nặng sau:
+ Trường hợp phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai và người già được
quy định lại: “Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70
tuổi trở lên”.
16


Thứ sáu, sự nhân đạo của việc miễn hình phạt trong bộ luật:
Bộ luật hình sự năm 2015 quy định lại nội dung miễn hình phạt: Người
phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp sau của mà đáng
được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.
Thứ bảy, sự nhân đạo trong việc miễn chấp hành hình phạt.
Điểm khác biệt của Bộ luật hình sự năm 2015 so với năm 1999:
Phân định việc miễn chấp hành hình phạt đối với người bị kết án tù có
thời hạn đến 3 năm và trên 3 năm, được quy định cụ thể tại Khoản 2, 3 Điều 62
Bộ luật hình sự năm 2015.
Nguyên tắc nhân đạo trong các quy định về hình phạt, hệ thống hình phạt,

2.

chế tài và khung hình phạt
a.


Nguyên tắc nhân đạo ở nguyên tắc xử lý

Theo Bộ luật hình sự cho ta thấy rằng , mọi hành vi phạm tội phải được phát
hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, cơng minh theo đúng pháp luật. Mọi người
phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín
ngưỡng, tơn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Nghiêm trị người chủ mưu, cầm
đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi
dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo
quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng.
Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng
phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường
thiệt hại gây ra.
Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt trong trại
giam, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có
nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành hình phạt.Đối với Bộ luật hình sự
2015 thì tính nhân đạo đã làm thay đổi ít nhiều giá trị cốt lõi qua việc quy định
chỉ nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính
17


chất chuyên nghiệp, Cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Khoan hồng đối
với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công
chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội
phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa
hoặc bồi thường thiệt hại gây ra.
b.

Nguyên tắc nhân đạo ở hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian


Việc quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng
nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn
hình phạt, giảm hình phạt, xố án tích và các quy định khác khơng có lợi cho
người phạm tội, thì khơng được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện
trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành. Điều luật xoá bỏ một tội phạm, một
hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết
giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự,
miễn hình phạt, giảm hình phạt, xố án tích và các quy định khác có lợi cho
người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước
khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.
c.

Nguyên tắc nhân đạo đối với những người khơng có năng lực trách nhiệm
hình sự
Việc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc

bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả
năng điều khiển hành vi của mình, thì khơng phải chịu trách nhiệm hình sự;
đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.Người phạm
tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tính trạng
quy định tải khoản 1 điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện
pháp bắt buộc chữa bệnh.Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách
nhiệm hình sự.

18


2.2. Một

số quy định cụ thể trong Bộ Luật Hình Sự 2015, sửa đổi bổ sung


năm 2017 về giảm nhẹ tội trạng, thể hiện tính nhân đạo
Những trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự bao gồm: Sự kiện bất
ngờ; Tình trạng khơng có năng lực trách nhiệm hình sự; Phịng vệ chính đáng;
Tình thế cấp thiết; Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; Rủi ro trong
nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; Thi
hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên.
Sự kiện bất ngờ : Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội
trong trường hợp không thể thấy trước hoặc khơng buộc phải thấy trước hậu quả
của hành vi đó, thì khơng phải chịu trách nhiệm hình sự.
Tình trạng khơng có năng lực trách nhiệm hình sự : Người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm
mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì khơng
phải chịu trách nhiệm hình sự.
Phịng vệ chính đáng : Phịng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ
quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà
nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có
hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phịng vệ chính đáng khơng phải là tội
phạm. Vượt q giới hạn phịng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá
mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt q giới hạn phịng vệ chính đáng phải
chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Tình thế cấp thiết : Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây
thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của
Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà khơng cịn cách nào khác là phải gây một
thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Hành vi gây thiệt hại trong tình thế
cấp thiết khơng phải là tội phạm. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt
19



quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách
nhiệm hình sự.
Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội: Hành vi của người để bắt giữ
người thực hiện hành vi phạm tội mà khơng cịn cách nào khác là buộc phải sử
dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì khơng phải là tội
phạm. Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần
thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.
Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và
công nghệ: Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử
nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân
thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phịng ngừa thì khơng
phải là tội phạm. Người nào khơng áp dụng đúng quy trình, quy phạm, khơng áp
dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách
nhiệm hình sự.
Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên: Người thực hiện
hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của
cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng,
an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng
người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì khơng phải chịu
trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách
nhiệm hình sự. Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 của Bộ luật này.
Trường hợp căn cứ miễn trách nhiệm hình sự:
1.

Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những
căn cứ sau đây:

20



Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách,
pháp luật làm cho hành vi phạm tội khơng cịn nguy hiểm cho xã hội nữa;
Khi có quyết định đại xá.
2.

Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong
các căn cứ sau đây:
Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà

người phạm tội khơng cịn nguy hiểm cho xã hội nữa; Khi tiến hành điều tra,
truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến khơng cịn khả
năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa; Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc,
góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn
chế đến mực thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập cơng lớn hoặc có cống
hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
3.

Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do

vơ ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản
của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự
nguyện hoà giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn
trách nhiệm hình sự.

21


CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC NHÂN ĐẠO VÀ
HƯỚNG HỒN THIỆN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

3.1. Tình hình áp dụng án tử hình ở Việt Nam hiện nay
Theo quy định tại Điều 40 Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm
trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi
phạm tội hoặc khi xét xử; bổ sung thêm 2 trường hợp không thi hành án tử hình
là: người đủ 75 tuổi trở lên và người bị kết án tử hình về tội tham ơ tài sản, tội
nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản
tham ơ, nhận hối lộ mà và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc
phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập cơng lớn thì khơng thi hành án tử
hình đối với họ.
Bộ luật hình sự năm 2015 đã bỏ tử hình ở 7 tội danh: Cướp tài sản; Sản
xuất buôn bán hàng cấm là lương thực, thực phẩm; Tàng trữ trái phép chất ma
túy; Chiếm đoạt chất ma túy; Phá hủy cơng trình, cơ sở, phương tiện quan trọng
về an ninh quốc gia; Chống mệnh lệnh; Đầu hàng địch. Đồng thời, Bộ luật hình
sự năm 2015 đã bỏ tội danh hoạt động phỉ trước đây có quy định hình phạt tử
hình.
3.2. Xóa

án tích

Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 (Bộ luật hình sự năm 2015) có
nhiều quy định mới có lợi hơn cho người đã chấp hành xong bản án và người bị
kết án do lỗi vô ý, cụ thể:
3.2.1.

Khái niệm về xố án tích

Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người được xóa án tích coi như
chưa bị kết án.”, “Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội
phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt khơng bị coi là có án
tích.”.Đây là quy định mới, khi người bị kết án do lỗi vơ ý về tội phạm ít nghiêm

trọng, lỗi vơ ý về tội phạm nghiêm trọng có thể chịu hình phạt, nhưng không bị
22


coi là có án tích hoặc người bị kết án về mọi loại tội nếu được miễn hình phạt thì
cũng được coi là khơng có án tích. Do đó những người này nếu phạm tội mới thì
khơng được lấy bản án trước để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.
Tuy nhiên người bị kết án trong trường hợp này vẫn phải tổng hợp hình phạt
trong trường hợp phạm tội mới mà họ chưa chấp hành bản án trước đó.
3.2.2.

Đương nhiên được xóa án tích

Bộ luật hình sự năm 2015 đã rút ngắn thời gian để xố án tích đối với hình
phạt tù đi rất nhiều, chỉ cịn 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền,
cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; 02 năm trong trong
trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05
năm đến 15 năm; 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung
thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án. Thời điểm để tính xố án tích cũng
thay đổi, theo bộ luật hình sự năm 2015 thì thời điểm xố án tích kể từ khi chấp
hành xong hình phạt chính.
3.2.3.

Xố án tích đối với người dưới 18 tuổi

Bộ luật hình sự năm 2015 quy định mọi trường hợp người phạm tội từ đủ 14
tuổi đến dưới 16 tuổi bị kết án; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về
tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm
trọng do vô ý hoặc người dưới 18 tuổi bị áp dụng biện pháp tư pháp thì được coi
là khơng có án tích.

Thời hạn đương nhiên được xố án tích đối với người từ đủ 16 tuổi đến
dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng cũng ngắn hơn người trên 18 tuổi phạm tội, chỉ còn 06 tháng
trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc
phạt tù nhưng được hưởng án treo; 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05
năm; 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; 03 năm
trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm.
23


3.3. Xu

hướng nhân đạo và hướng thiện trong áp dụng pháp luật hình sự
của Việt nam

3.3.1.

Hạn chế áp dụng hình phạt tù, tử hình

Thể hóa chủ trương về hạn chế áp dụng hình phạt tù, bộ luật hình sự 2015 đã
mở rộng áp dụng hình phạt ngồi tù theo hướng phạt tiền là hình phạt chính. Bộ
luật hình sự năm 2015 đã mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt cải tạo khơng
giam giữ. Theo đó, hình phạt này được áp dụng cả đối với người từ đủ 16 đến
dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc người từ đủ 14 tuổi đến
dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng.
Bộ luật hình sự 2015 cũng đã mở rộng nội hàm của hình phạt cải tạo khơng
giam giữ. Theo đó, trong trường hợp người bị phạt cải tạo khơng giam giữ
khơng có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này
thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian
cải tạo không giam giữ với thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04

giờ/ngày và không quá 05ngày/tuần. Biện pháp này không áp dụng đối với
người già yếu, phụ nữ có thai.
Đồng thời, đối với hình phạt tù, Bộ luật hình sự năm 2015 cũng khẳng định
ngun tắc khơng áp dụng hình phạt tù đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm
trọng do vơ ý và có nơi cư trú rõ ràng.
3.3.2.

Chính sách hình sự bảo vệ các đối tượng yếu thế

Đối với người từ đủ 14 tuổi đến duới 16 tuổi, Bộ luật hình sự đã thu hẹp
phạm vi trách nhiệm hình sự của đối tượng này. Theo đó, người chưa thành niên
chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng thuộc 28 tội danh trong số 314 tội danh được quy định
trong Bộ luật hình sự năm 2015 (chiếm tỷ lệ 8.91%) thuộc 4 nhóm tội phạm: các
tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người; các tội xâm
phạm sở hữu; các tội phạm về ma túy; các tội xâm phạm an tồn cơng cộng.
24


Ngoài ra đối tượng này cũng chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn
bị phạm 2 tội danh trong số 314 tội danh của Bộ luật này (chiếm tỉ lệ 0.63%) là
tội giết người và cướp tài sản.
Bộ luật hình sự năm 2015 quy định rõ 3 trường hợp người chưa thành bị
kết án được coi là khơng có án tích: người bị kết án là người đủ 14 đến dưới 16
tuổi; người bị kết án là người đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án do lỗi vơ ý về tội
ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng; người chưa thành
niên bị áp dụng biện pháp tư pháp (giáo dục tại trường giáo dưỡng). Ngoài 3
trường hợp nêu trên, người chưa thành niên bị kết án nhưng được miễn hình
phạt cũng khơng bị coi là có án tích.
Bộ luật hình sự năm 2015 đã thu hẹp đáng kể phạm vi xử lý hình sự đối

với người có hành vi chuẩn bị phạm tội. Theo đó, người có hành vi chuẩn bị
phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm 25 tội
danh trong số 314 tội danh của Bộ luật này (chiểm tỉ lệ 7.96%).
Bên cạnh đó, Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung chế định tha tù trước
hạn có điều kiện với các quy định hết sức chặt chẽ nhằm tạo cơ hội cho những
phạm nhân tích cực cải tạo trong q trình chấp hành án ở các cơ sở giam giữ
được sớm trở về với gia đình và xã hội.

25


×