Hội thảo khoa học Quốc gia Quản lý tài nguyên, môi trường
và phát triển bền vững vùng Tây Bắc, Việt Nam
VẤN ĐỀ SỨC CHỨA TẠI ĐIỂM DU LỊCH SINH THÁI CỘNG ĐỒNG HỮU LIÊN,
HỮU LŨNG, LẠNG SƠN
Cao Hoàng Hà
Khoa Việt Nam học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Email:
Tóm tắt: Nghiên cứu này khái quát lý thuyết cơ bản về sức chứa du lịch nói chung. Sức chứa du lịch có bốn khía
cạnh khác nhau, do vậy, có nhiều phương pháp tiếp cận và xác định sức chứa. Với một điểm du lịch mới phát triển,
dựa trên lợi thế về tài nguyên du lịch tự nhiên là danh thắng Đồng Lâm và rừng đặc dụng Hữu Liên, tác giả lựa chọn
phương pháp xác định sức chứa của A. M. Cifuentes và H. Cebaloos-Lascurain cùng với R. A. Carpenter và J. E.
Maragos cho điểm du lịch Hữu Liên, trong đó, chú trọng đánh giá khía cạnh vật lý - sinh thái. Tuy có sự chênh lệch
giữa hai phương pháp nhưng kết quả sức chứa rất lý tưởng cho việc triển khai phát triển du lịch.
Từ khóa: Sức chứa du lịch, du lịch bền vững, Hữu Liên.
1. GIỚI THIỆU
Hữu Liên là một điểm du lịch mới, đang trong giai đoạn đầu phát triển du lịch. Hiện tại, đã xuất hiện một số
hoạt động kinh doanh dịch vụ tự phát phục vụ khách tham quan. Một số dự án du lịch đang triển khai và tiếp tục
kêu gọi các nhà đầu tư. Với những giá trị đặc sắc về tài nguyên du lịch tự nhiên gắn với giá trị văn hóa dân tộc
thiểu số, Hữu Liên được định hình phát triển loại hình du lịch sinh thái, cộng đồng. Tuy nhiên, có thể thấy các loại
hình du lịch này rất nhạy cảm và dễ tổn thương từ các tác động bên ngồi. Do vậy, tính tốn và lượng hóa sức
chứa du lịch nhằm đảm bảo số lượng khách du lịch không ảnh hưởng đến địa phương và hướng đến phát triển bền
vững là nhiệm vụ có giá trị lý luận và thực tiễn cao, là cơ sở cho các quy hoạch và chính sách kêu gọi đầu tư, thu
hút du khách và phát triển du lịch.
Trong giới hạn về không gian và phương pháp, nghiên cứu này kế thừa các phương pháp tính tốn sức chứa
đang được dùng phổ biến trên thế giới và Việt Nam như sức chứa sinh thái của R. A. Carpenter và J. E. Maragos,
sức chứa du lịch của A. M. Cifuentes và H.Cebaloos-Lascurain để đưa ra được các thơng số cụ thể về sức chứa.
Trong đó, sức chứa về vật lý và sức chứa sinh thái được ưu tiên quan tâm đánh giá và tính tốn.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ XÁC ĐỊNH SỨC CHỨA
Việc xác định sức chứa xã hội, kinh tế, tâm lý hoặc là trừu tượng hoặc là khó khăn hoặc là chưa thống nhất
[1]. Vì vậy, trong giới hạn nghiên cứu này, tác giả lựa chọn và kế thừa các phương pháp tính tốn sức chứa về góc
độ vật lý, sinh học để đảm bảo tính định lượng, khách quan, dễ áp dụng.
1) Đứng trên góc độ vật lý, Phạm Trung Lương [2] cho rằng sức chứa là số lượng tối đa du khách mà khu vực
có thể tiếp nhận. Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu về không gian đối với mỗi du khách cũng như
đối với nhu cầu sinh hoạt của họ. Cơng thức chung tính sức chứa bao gồm ba loại:
- Sức chứa thường xuyên:
CPI =
AR
a
trong đó:
CPI: Sức chứa thường xun (Instantaneous carrying capacity);
AR: Diện tích của khu vực (Size of area);
a: Tiêu chuẩn không gian (Diện tích cần cho một người).
- Sức chứa hằng ngày:
CPI = CPI × TR =
TR
a
Vấn đề sức chứa tại điểm du lịch sinh thái cộng đồng Hữu Liên, Hữu Lũng, Lạng Sơn
623
trong đó:
CPD: Sức chứa hằng ngày (Daily capacity);
TR: Công suất sử dụng mỗi ngày (Turnover rate of users per day).
- Sức chứa hằng năm:
CPY
=
CPD AR × TR
=
PR
a × PR
trong đó:
CPY: Sức chứa hằng năm (Yearly capacity);
PR: Ngày sử dụng (Tỷ lệ ngày sử dụng liên tục trong năm) (Sử dụng cả đêm 1/365 × OR);
OR: Công suất sử dụng giường (Occupancy rate).
2) Kế thừa quan điểm của A. M. Cifuentes và H. Cebaloos-Lascurain, Võ Quế và Nguyễn Thị Sơn [4; 5] chia
ra làm ba loại sức chứa căn cứ vào các yếu tố về chính sách và quản lý du lịch, hiện trạng tham quan và các yếu tố
ảnh hưởng khác:
- Sức chứa tự nhiên: Là số khách tối đa mà điểm du lịch có khả năng chứa, dựa trên tiêu chuẩn bình qn
khách cho diện tích sử dụng.
V
PCC = A × × Rf
a
trong đó:
A: Diện tích dành cho du lịch (Area for tourist use);
V : Tiêu chuẩn bình quân khách cho diện tích, bằng số khách/m2 (Visitors/Area);
a
Rf: Hệ số quay vịng - Số lượt tham quan hàng ngày (Rotation factor) (Rf = tổng thời gian mở cửa/thời gian
trung bình 1 lần tham quan).
- Sức chứa thực tế: Là sức chứa tự nhiên bị hạn chế bởi các điều kiện vụ thể của địa điểm tham quan (môi
trường, sinh thái, xã hội):
RCC= PCC − Cf 1 − Cf 2 − Cf 3 − ... − Cfn
trong đó:
Cf là các biến số điều chỉnh, nếu biểu hiện bằng % sẽ là:
Ml
Cf
=
×100
Mt
trong đó:
Ml: Mức độ hạn chế của biến số;
Mt: Tổng số khả năng của biến số.
Như vậy:
RCC
= PCC ×
100 − Cf 1 100 − Cf 2 100 − Cf 3
100 − Cfn
×
×
× ... ×
100
100
100
100
Các biến số điều chỉnh liên quan đến các đặc điểm và điều kiện cụ thể của mỗi điểm, khu du lịch và không
nhất thiết giống nhau.
- Sức chứa cho phép: Là sức chứa thực tế bị hạn chế bởi các điều kiện liên quan đến mức độ quản lý du lịch.
Chẳng hạn, mức độ đảm bảo yêu cầu quản lý chỉ đáp ứng X%, công thức sẽ là:
ECC = RCC × X%
trong đó: ECC : Sức chứa cho phép.
624
Cao Hồng Hà
Như vậy, PCC ln lớn hơn RCC và RCC lớn hơn ECC hoặc chỉ bằng khi mức độ quản lý đảm bảo 100 %.
3) Trên góc độ sức chứa sinh thái và tiếp nhận quan điểm của Carpenter RA và J. E. Maragos (1989), Đặng Thị
Phương Anh và Bùi Thị Thu Vân [1] sử dụng công thức như sau:
Cst =
A T AT
× =
a t
at
trong đó:
A: Yếu tố sinh thái nhạy cảm nhất (có thể là diện tích cho sử dụng cơng cộng, diện tích bãi biển, độ dài đường
mịn dành cho hiking, diện tích cắm trại,…);
a: Tiêu chuẩn của yếu tố sinh thái nhạy cảm cho một du khách theo phân hạng tiêu chuẩn;
T: Thời gian mở cửa điểm du lịch – giờ/ngày;
t: Thời gian dành cho một du khách sử dụng yếu tố sinh thái nhạy cảm nói trên – giờ/ngày.
3. MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Quan niệm về sức chứa du lịch
3.1.1. Khái niệm
“Sức chứa” của mơi trường nói chung là khả năng của một hệ sinh thái hỗ trợ các tổ chức bộ phận được
lành mạnh trong khi vẫn duy trì sản phẩm, khả năng sử dụng và khả năng phục hồi. Về sức chứa du lịch, Tổ
chức Du lịch thế giới (WTO) định nghĩa: “Sức chứa du lịch là mức độ sử dụng của khách tham quan mà trong
một khu vực có thể cung cấp, đáp ứng ở mức độ cao cho du khách và để lại rất ít tác động vào nguồn tài
nguyên” [5].
Định nghĩa trên cho thấy, việc sử dụng lãnh thổ du lịch chỉ có giới hạn, nếu vượt quá, sẽ làm giảm sự hài lòng
của khách và mang lại những tác động ngược trở lại về mặt môi trường, xã hội, kinh tế, văn hóa của khu vực.
3.1.2. Các yếu tố của sức chứa du lịch
Sức chứa du lịch liên quan đến số lượng khách du lịch đến một địa điểm tại một thời điểm và chứa đựng bốn
khía cạnh:
- Khía cạnh vật lý - sinh học: Khía cạnh cạnh vật lý là lượng khách thực tế mà điểm đó thể chứa. Khía cạnh
sinh học là ngưỡng hoạt động du lịch mà vượt quá sẽ xảy ra sự suy thối mơi trường đến mức khơng thể chấp
nhận được.
- Khía cạnh xã hội: Thể hiện sự suy thối văn hóa - xã hội của dân cư địa phương sẽ xảy ra nếu vượt ngưỡng
nhất định.
- Khía cạnh tâm lý: Nơi đón khách có thể chứa một số khách tối đa và có khả năng cung cấp kinh nghiệm du
lịch có chất lượng, nếu vượt quá giới hạn về số lượng của các nhóm khách tham quan, những người này có thể ảnh
hưởng đến sự hứng thú hay kinh nghiệm du lịch của nhóm người kia. Việc xác định sức chứa về mặt tâm lý là rất
khó khăn và mang tính trừu tượng. Tùy vào đặc điểm của điểm đến, tâm lý, sở thích và mối quan tâm của du
khách, khả năng chứa về mặt tâm lý học có thể thay đổi.
- Khía cạnh quản lý: Thể hiện mức độ khách tối đa có thể quản lý thích đáng trong một khu tham quan. Yếu tố
này liên quan đến số lượng nhân viên đủ để giám sát các hoạt động du lịch của một lượng khách nhất định; Các
phương tiện đảm bảo thông tin (sơ đồ hướng dẫn, chỉ dẫn, biển báo); Giờ mở cửa tham quan; không gian đỗ
xe/bến tàu và sự tiện lợi cho du khách mà không gây những tác động xẩy đến môi trường du lịch (thùng rác, nơi
vệ sinh) [5].
3.1.3. Vai trò
- Sức chứa du lịch là một trong những cơ sở quan trọng đảm bảo khu, điểm du lịch được khai thác và duy trì
một cách bền vững. Để đạt được mức độ phát triển du lịch tối ưu cho mỗi khu vực, việc xây dựng một chiến lược
là cần thiết nhằm chỉ đạo sự phát triển và quản lý du lịch. Việc được tổ chức hoạt động trong giới hạn cho phép
của môi trường nhằm đảm bảo rằng khu, điểm du lịch không bị phá hủy vì khách du lịch, giảm thiểu những trả giá
và tối đa lợi ích [5].
Vấn đề sức chứa tại điểm du lịch sinh thái cộng đồng Hữu Liên, Hữu Lũng, Lạng Sơn
625
- Về mặt kỹ thuật, sức chứa du lịch là một trong những cách thức để xác định được quá trình phát triển của
điểm du lịch đang ở giai đoạn nào để kịp thời đưa ra những cảnh báo hoặc định hướng quy hoạch phát triển trong
ngắn hạn và dài hạn. Việc xác định sức chứa du lịch giúp các nhà quản lý điểm đến và các nhà điều hành cơ sở du
lịch quản trị hiệu quả và duy trì được trạng thái cân bằng giữa cung và cầu dịch vụ. Đặc biệt, chỉ số về sức chứa có
ý nghĩa quan trọng bởi nó quyết định tính hiệu quả cũng như hiệu suất của hoạt động đầu tư và kinh doanh [1].
3.1.5. Nguyên tắc xác định sức chứa
- Xác định sức chứa du lịch nên được tiến hành sớm. Thông thường, vấn đề này được tiến hành để đánh giá
xem điểm du lịch đã bước vào giai đoạn bão hòa hay chưa [1]. Tuy nhiên, theo khuyến cáo và kinh nghiệm, sức
chứa du lịch cần được tiến hành trong giai đoạn đánh giá tiền khả thi cho một dự án du lịch hoặc trước khi quy
hoạch phát triển cho một điểm du lịch mới. Một điểm du lịch đã hình thành nhưng đang trong quá trình làm mới
cũng cần được đánh giá lại từ đầu về sức chứa du lịch.
- Sức chứa thay đổi tùy thuộc vào địa điểm, tính mùa, thời gian, thái độ của người sử dụng, các phương tiện,
tình trạng và mức độ quản lý, cũng như đặc trưng động về mơi trường bản thân điểm du lịch. Vì vậy, về nguyên
tắc, trong trường hợp khu, điểm du lịch có nhiều dạng tài ngun, khi tính tốn sức chứa cần phải tính đến sức
chứa cho từng loại tài nguyên trong khu, điểm du lịch, tuyến du lịch sau đó mới tính sức chứa tổng hợp của tồn
bộ khu du lịch [5 và 4].
- Việc tính khả năng sức chứa mang tính ước lệ nhằm có những biện pháp điều chỉnh, quản lý khách du lịch để
tránh sự gia tăng không kiểm sốt được số lượng khách [5]. Do vậy, khơng có con số nào là khẳng định được tính
chính xác tuyệt đối và mức độ hợp lý của lượng khách tham quan, mà luôn phải nghiên cứu, xem xét và điều
chỉnh kết hợp với các biện pháp khác.
3.2. Khái quát về khu vực nghiên cứu
3.2.1. Vị trí địa lý
Khu vực du lịch sinh thái cộng đồng Hữu Liên thuộc xã Hữu Liên, phía Bắc huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn;
cách Hà Nội khoảng 125 km. Ranh giới hành chính giáp với huyện Bắc Sơn; bốn xã huyện Hữu Lũng; xã Vạn
Linh, huyện Chi Lăng; xã Hữu Lễ, huyện Văn Quan.
3.2.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên
3.2.2.1. Điều kiện tự nhiên
Với diện tích tự nhiên hơn 6,6 nghìn ha, Hữu Liên là khu vực có đặc điểm cảnh quan karst với địa hình đá vơi
trung bình thấp (300 - 500 m), xen kẽ là thung lũng phù sa nhỏ và bằng phẳng có phong cảnh hữu tình và sự đa
dạng về sinh học của khu bảo tồn thiên nhiên (rừng đặc dụng Hữu Liên).
Không chỉ đa dạng về sinh cảnh với khu rừng đặc dụng quý hiếm, địa hình karst cịn kiến tạo cho nơi đây các
hang động núi đá, thác, những dòng suối ngầm và hồ nước trong veo, những cánh đồng cỏ rộng và nhiều thảm
thực vật phong phú như một sân golf tự nhiên - một “Cao nguyên Mông Cổ của Việt Nam” 20. Nhờ địa hình cao
hơn xung quanh, kết hợp với lớp phủ thực vật của rừng đặc dụng và nguồn nước tự nhiên, khí hậu Hữu Liên mát
mẻ và dễ chịu hơn các địa phương khác trong huyện Hữu Lũng 21.
3.2.2.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên
a) Khu rừng đặc dụng Hữu Liên
Khu rừng đặc dụng Hữu Liên nằm trong vùng núi đá vơi Cao Bằng - Lạng Sơn có diện tích 8.293,4 ha, phần
thuộc xã Hữu Liên có diện tích là 5.101,4 ha (chiếm 62 %) [6]. Khu rừng đặc dụng Hữu Liên là hệ sinh thái rừng
Theo PGS.TS Phạm Hồng Long (ĐH KHXH&NV) trong bài Trải nghiệm thảo nguyên xanh trong lòng xứ Lạng, Mục VẺ ĐẸP
VIỆT NAM, Bản điện tử Trung tâm Thông tin du lịch – Tổng cục Du lịch Việt Nam.
20
Hữu Lũng là huyện có nền nhiệt cao (nóng) nhất tỉnh Lạng Sơn. Xét cả về nhiệt độ trung bình năm và nhiệt độ tháng nóng nhất (tháng
7), Hữu Lũng đều cao hơn thành phố Lạng Sơn (Hữu Lũng 23,4 - 29 oC, Tp. Lạng Sơn 21,1 - 27,2 oC. [Theo số liệu Quy chuẩn Xây
dựng Việt Nam 02:2008/BXD].
21
626
Cao Hồng Hà
trên núi đá vơi có giá trị cao về đa dạng sinh học, với 776 loài thực vật bậc cao và 409 lồi động vật. Trong đó, có
30 loài thực vật và 61 loài động vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam cần được bảo tồn 22.
Khu vực này cịn có địa hình núi đá vơi hiểm trở (độ cao trung bình 300 m, có nhiều đỉnh cao trên 500 m), có
cảnh quan đẹp đặc sắc với các hang động, suối ngầm và các hồ ngập nước theo mùa. Với những giá trị đó, khu
rừng đặc dụng Hữu Liên đã được đưa vào danh mục hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam 23. Do khu vực thuộc
địa hình núi đá vơi, có hiện tượng karst mạnh nên nhân tố thuỷ văn có tính chất đặc biệt: Có nhiều suối ngầm, suối
cụt, các mỏ nước, hang nước và vùng ngập nước theo mùa. Về mùa mưa vùng ngập nước có thể lợi dụng làm
đường thuỷ đi lại tới các thung, khe núi đá và đánh bắt thủy sản. Về tổng thể, khu vực này thuận lợi cho việc
khoanh nuôi bảo vệ rừng cũng như bảo vệ động vật rừng; Tổ chức du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, du lịch mạo hiểm,
nghiên cứu,…
b) Danh thắng Đồng Lâm
Đồng Lâm nằm ở phía Bắc, cách trung tâm xã Hữu Liên 3 km, có diện tích khoảng 100 ha. Nếu đến Đồng
Lâm vào mùa khô sẽ được tận hưởng cảnh đẹp ngoạn mục giữa điệp trùng núi non, trải ra ngút mắt là đồng cỏ tự
nhiên mênh mông xanh mướt như một “sân golf” tuyệt mỹ; du khách có thể hịa mình vào thiên nhiên, đồng cỏ và
tổ chức các hoạt động dã ngoại, cắm trại, văn hóa thể thao, leo núi, khám phá hang động,... Vào mùa nước, Đồng
Lâm chuyển thành một kỳ quan “Sơn thủy hữu tình”, thảo nguyên bát ngát biến thành biển nước mênh mông xanh
thẳm, du khách có thể thỏa thích trải nghiệm các trò chơi như: chèo mảng, bơi thuyền Kayak, câu cá, leo núi, tham
quan khám phá các hang động,…
c) Hệ thống các hang động, hồ nước tự nhiên
- Hang động:
Hữu Liên được tạo hóa ban cho cảnh sắc thiên nhiên kỳ diệu, những hang động kỳ bí, những dịng suối ngầm
và hồ nước trong veo khiến du khách như được giao hòa với đất trời, với cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ và bí ẩn
vừa là di tích lịch sử vừa là thắng cảnh. Hệ thống gồm gần 10 hang động thích hợp với loại hình du lịch leo núi,
khám phá hang động.
- Hồ nước tự nhiên:
Phần đất tự nhiên của Hữu Liên hình hành nhiều hồ tự nhiên với diện tích dao động từ 38 - 100 ha, độ sâu từ 9
- 25 m. Hoạt động thích hợp dành cho khách du lịch: chèo mảng, bơi thuyền kayak, câu cá thư giãn tận hưởng
khơng khí trong lành.
3.2.3. Tài ngun du lịch nhân văn
3.2.3.1. Tài nguyên gắn với giá trị dân tộc học
- Nhà ở:
Hiện nay, tồn xã Hữu Liên có 815 hộ với dân số là 3.524 người (1.798 nam và 1.726 nữ) 24, gồm 9 dân tộc:
Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mơng, Cao Lan, Sán Dìu, Mường, Thái với phong tục tập quán và nét văn hóa truyền
thống giàu bản sắc cùng sinh sống trong 7 thôn 25. Phần lớn các đồng bào dân tộc chọn kiến trúc nhà sàn bằng gỗ 4
gian 2 trái lợp ngói âm dương truyền thống chiếm đến 85% trên tổng số 815 hộ dân, trong đó có trên 30 hộ gia
đình có kiến trúc nhà sàn được xây dựng khang trang. Nổi bật giữa những thung lũng lúa nước bằng phẳng là
những nếp nhà sàn rộng rãi, thoáng mát nằm lưng chừng mây núi của rừng già tựa như một bức họa thủy mặc làm
say đắm lòng người. Kiến trúc nhà sàn cao rộng, thoáng đãng nằm rải rác theo từng cụm từ 5 - 7 hộ, lưng dựa vào
thế núi, mặt hướng ra cánh đồng bằng phẳng. Nhà sàn ở đây vừa cao ráo, sạch sẽ tránh được muỗi vắt, thú rừng,
vừa rộng rãi thoáng mát lại vừa tao nhã mềm mại.
- Sản xuất:
Trồng lúa nước trên các ruộng bằng phẳng nằm xen giữa các thung lũng karst là hoạt động sản xuất chính của
đồng bào 9 dân tộc. Nhờ độ phì nhiêu của đất, sự trù phú của nguồn nước nên lúa cho hạt mẩy và đều. Ngồi ra,
cư dân cịn kết hợp đi rừng bổ sung đặc sản và sản xuất một số đồ thủ công như đan lát, làm chổi.
Voọc đen má trắng (Trachipithecus francoisi), Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides), Khỉ vàng (Macaca mulatta), Cu li lớn (Nycticebus
bengalensis), Cu li nhỏ (N. Pygmaeus), Hươu xạ,… Các loài thực vật quý hiếm như Hoàng đàn, Trai (Garcinia
fagraeoides), Nghiến (Burretiondendron tonkinense), Trám (Canarium sp.) hay Thích (Acer sp.,...).
22
Theo Quyết định số 194/CT ngày 09/08/1986 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
23
24
Số liệu trong công văn số: 247/CTK-DSVX, ngày 17 tháng 9 năm 2019 UBND huyện Hữu Lũng.
25
Lân Châu, Làng Que, Đoàn Kết, Làng Bên, Liên Hợp, Ba Lẹng, Tân Lai.
Vấn đề sức chứa tại điểm du lịch sinh thái cộng đồng Hữu Liên, Hữu Lũng, Lạng Sơn
627
- Nghệ thuật và trang phục:
Hiện nay, người dân sinh sống tại Hữu Liên vẫn giữ gìn được nét bản sắc văn hóa truyền thống, là yếu tố quan
trọng trong việc thu hút khách du lịch. Rất nhiều làn điệu nghệ thuật mang tính bản địa vẫn cịn được biểu diễn và
truyền nối như hát Pá Xoan của dân tộc Dao, hát Nhà tơ (hát cửa đình), hát Then, diễn Chèo cổ [7, 8]. Đáng chú ý,
trang phục dân tộc Dao, tiếng nói riêng của dân tộc vẫn được lưu giữ và sử dụng trong hoạt động thường ngày.
- Đặc sản
Nhờ sự trù phú của thiên nhiên và sự đa dạng trong văn hóa ẩm thực của 9 dân tộc, Hữu Liên có rất nhiều đặc
sản có nguồn gốc tự nhiên hoặc nguyên liệu do cư dân địa phương sản xuất: gà nướng, cá nướng, nem nướng, lợn
nướng, rau dớn, rau bồ khai, bánh ngơ, bánh giị bầu, bánh chưng đen, xơi cẩm đủ màu nhuộm từ lá cây; ốc suối,
cá suối, rau rừng; rượu ngô men lá và tắm lá thuốc thảo dược.
3.2.3.2. Tài nguyên gắn với tín ngưỡng, tâm linh
Hữu Liên có tới 5 đền và 1 đình cùng các lễ hội địa phương góp phần bổ sung và đa dạng hóa hệ thống tài
nguyên du lịch 26.
3.3. Tiếp cận phương pháp tính sức chứa
Bám sát các nguyên tắc xác định sức chứa du lịch, tác giả cho rằng nên tính toán sức chứa cụ thể cho từng loại
tài nguyên, từng khu vực hoạt động du lịch riêng, sau đó mới tính đến sức chứa chung cho điểm du lịch sinh thái
cộng đồng Hữu Liên. Sức chứa cụ thể đảm bảo tài nguyên, dịch vụ, cơ sở hạ tầng - kỹ thuật và sự thỏa mãn du
lịch không bị ảnh hưởng trong ngày tham quan, mùa tham quan và chu kỳ tham quan; cịn sức chứa chung có giá
trị tham khảo cho các quy hoạch vĩ mô, điều tiết, kêu gọi đầu tư và quản lý nhà nước.
Các nghiên cứu về sức chứa đều thống nhất có ba loại sức chứa cơ bản: sức chứa sinh thái, sức chứa xã hội và
sức chứa kinh tế. Tuy nhiên, cách tính sức chứa kinh tế chưa thực sự chặt chẽ vì có những thiệt hại các hoạt động
kinh tế khác sẽ được bù đắp bằng nguồn lợi nhuận của hoạt động du lịch [1, tr.58] và quan trọng là điều này được
cộng đồng địa phương chấp nhận. Sức chứa xã hội cũng chưa được tính vì Hữu Liên đang ở chỉ số bực mình
Doxey (DI) là 0,25 (vì đang ở giai đoạn đầu trong vịng đời điểm du lịch) trong khi cơng thức tính chỉ khả thi khi
chỉ số DI là 0,5. Do đó, nghiên cứu này sẽ khơng đề cấp đến sức chứa kinh tế và sức chứa xã hội.
3.3.1. Sức chứa sinh thái của R. A Carpenter và J. E. Maragos
Căn cứ vào sự hấp dẫn của tài nguyên, có 2 khu vực được lựa chọn để tính sức chứa là danh thắng Đồng Lâm,
rừng đặc dụng Hữu Liên. Cả hai tài nguyên nguyên trên thích hợp với các hoạt động như picnic, vui chơi giải trí
ngồi trời (thuộc các loại hình du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, sinh thái), đi bộ trong rừng (thuộc loại hình du lịch
mạo hiểm).
Cơng thức chung là:
Cst =
A T AT
× =
a t
at
1) Sức chứa du lịch của danh thắng Đồng Lâm:
Vào mùa ngập nước và lý tưởng cho hoạt động du lịch (từ tháng 5 đến tháng 10), khu vực Đồng Lâm có diện tích
lên tới 100 ha, ngược lại, vào mùa khơ diện tích chỉ còn 5 ha.
Amm = 100 ha = 1.000.000 m2
a (picnic) = 100 – 250 m2/người;
2
Amk = 5 ha = 50.000 m
a (vui chơi giải trí ngồi trời) = 100 m2/người
Tác giả đề xuất T là 12 giờ/ngày và t là 6 giờ/ngày (6h00 sáng đến 18h00 tối, vì nhiều hoạt động của picnic dã ngoại không thực hiện được khi trời tối). Từ dữ liệu, đối chiếu công thức, kết quả cho thấy như sau:
- Sức chứa dành cho hoạt động picnic:
26
Đền thờ Đức Thánh Cả, đền thờ Đức thánh Hai, đền thờ Đức Thánh Ba, đền thờ Ông Tướng, đền Thổ Địa và đình Trung
628
Cao Hồng Hà
Mùa lý tưởng
=
Cst
Mùa khơ
1.000.000 ×12
= 8.000 du khách
250 × 6
500.000 ×12
=
Cst = 4.000 du khách
250 × 6
- Sức chứa dành cho hoạt động vui chơi giải trí ngồi trời:
Mùa lý tưởng
Mùa khơ
1.000.000 ×12
=
Cst = 20.000 du khách
100 × 6
=
Cst
500.000 ×12
= 10.000 du khách
100 × 6
Như vậy, sức chứa tối đa của danh thắng Đồng Lâm có thể dành cho một hoạt động trong một thời điểm vào là
20.000 du khách, vào mùa khô chỉ là 1.000 du khách.
2) Sức chứa du lịch rừng đặc dụng Hữu Liên:
A = 5.101,4 ha = 51,01 km2
a (đi bộ trong rừng) = 10 người/km
Tác giả đề xuất T là 12 giờ/ngày và t là 6 giờ/ngày
- Sức chứa dành cho hoạt động đi bộ trong rừng:
=
Cst
5.101, 4 ×12
= 1.020 du khách
10 × 6
Cùng một thời điểm, rừng đặc dụng Hữu Liên có thể chứa tối đa tới 1.020 du khách tham gia hoạt động đi bộ
trong rừng.
Tổng hợp kết quả của 2 điểm tài nguyên cho thấy, cùng một thời điểm lý tưởng nhất, Đồng Lâm và rừng đặc
dụng Hữu Liên có thể đáp ứng sức chứa tối đa tới 21.020 du khách đối với hoạt động vui chơi giải trí ngồi trời và
9.020 đối với hoạt động picnic mà không làm ảnh hưởng đến cảnh quan, tài nguyên và tính bền vững. Vào mùa
khô, sức chứa tối đa này giảm xuống chỉ còn 2.020 du khách.
Kết quả về sức chứa theo công thức của R. A. Carpenter và J. E. Maragos có một số điểm cần bàn tính tiếp, đó
là Yếu tố sinh thái nhạy cảm nhất (A) chỉ có thể xác định đơn thuần là tổng diện tích dành cho sử dụng du lịch một
cách nói chung (100 ha của Đồng Lâm hoặc 5.101,4 ha của rừng đặc dụng Hữu Liên). Các yếu tố được coi là điều
kiện của điểm đến làm giảm số lượng của sức chứa không được tính tốn trong cơng thức này như: tính mùa của
khí hậu và lượng nước, mùa sinh sản của sinh vật nói chung, các khu vực bị ơ nhiễm, diện tích đất phục vụ các
mục đích khác khơng liên quan du lịch,…
3.3.2. Sức chứa du lịch của A. M. Cifuentes và H. Cebaloos - Lascurain
1) Sức chứa du lịch của danh thắng Đồng Lâm:
- Sức chứa tự nhiên:
A = 100 ha = 1.000.000 m2
Tiêu chuẩn mỗi người cần tối thiểu 100 m2 cho picnic hoặc vui chơi giải trí ngồi trời => 100 m2/người = 0,01.
Tổng thời gian mở cửa 12 giờ/ngày.
Thời gian trung bình một lần tham quan 6 giờ/ngày.
v
PCC = A × × Rf = 1.000.000 × 0, 01× 2 = 20.000 du khách/ngày
a
- Sức chứa thực tế:
Vấn đề sức chứa tại điểm du lịch sinh thái cộng đồng Hữu Liên, Hữu Lũng, Lạng Sơn
629
+ Hệ số hiệu chỉnh thời gian mưa: Tổng số ngày mưa theo dữ liệu quan trắc là 141 ngày/năm 27, vậy Cf mưa =
141/365 = 38,6 %.
+ Hệ số hiệu chỉnh thời gian nắng: Tổng số giờ nắng trong năm 1.695 giờ, thời gian nắng gắt gây bất lợi cho
tham quan và các hoạt động du lịch khác từ 11h00 đến 14h00 trong các tháng 5 - 9 28 là 234 giờ (thời gian nắng
trong khung 11h00 đến 14h00 các tháng từ 10 đến 5 (năm sau) không gay gắt và ảnh hưởng nhiều đến các hoạt
động ngoài trời). Vậy Cf nắng = 234/1695 = 13,8 %.
+ Hệ số hiệu chỉnh số ngày có dơng: Trung bình một năm Hữu Liên có 51 ngày có dơng, vậy, Cf dơng =
51/365 = 13,9 %.
=> Sức chứa thực tế của Đồng Lâm là RCC = 20.000 - 38,6 % - 13,8 % - 13,9 % = 6.740 du khách/ngày.
Như vậy, với diện tích lý tưởng 100 ha, khấu trừ các điều kiện chi phối về số ngày mưa, số giờ nắng và ngày
có dơng, sức chứa thực tế tối đa của danh thắng Đồng Lâm là 6.740 du khách/ngày.
2) Sức chứa du lịch của rừng đặc dụng Hữu Liên:
Với thông số tương tự như phần 2) của Mục 3.1, ta thấy:
- Sức chứa tự nhiên:
v
PCC = A × × Rf = 5101, 4 × 0,1× 2 = 1.020 du khách/ngày
a
Cf mưa = 141/365 = 38,6 %;
Cf nắng = 234/1695 = 13,8 %;
Cf dông = 51/365 = 13,9 %.
=> Sức chưa thực tế là:
- Sức chứa thực tế:
RCC = 1.020 - 38,6 % - 13,8 % - 13,9 % = 344 du khách/ngày.
Tổng hợp kết quả cho thấy, sức chứa tối đa của hai điểm tài nguyên trên đạt 7.084 du khách/ngày. Rõ ràng, kết
quả này chưa phản ánh chính xác nhất sức chứa của điểm du lịch Hữu Liên vì chưa tính tốn đến các chỉ số giới
hạn về ơ nhiễm, độ an tồn cho du khách, giới hạn về cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật, đặc biệt là giới hệ số
năng lực quản lý. Vì giới hạn về quy mơ và không gian, nghiên cứu này chủ yếu dừng lại ở các điểm tài nguyên tự
nhiên quan trọng của Hữu Liên mà chưa tính tốn đến sức chứa của các điểm tài nguyên nhân văn.
4. THẢO LUẬN
Sức chứa du lịch tiếp cận theo phương pháp của A. M.Cifuentes và H. Cebaloos-Lascurain cũng như R. A.
Carpenter và J. E. Maragos đều cho giá trị giống nhau đối với điểm tài nguyên rừng đặc dụng Hữu Liên (1.020 du
khách) nhưng có sự khác biệt khi tính tốn cho danh thắng Đồng Lâm (20.000 du khách so với 6.740 du khách). Nguyên
nhân là do tiêu chuẩn của yếu tố sinh thái nhạy cảm cho một du khách theo phân hạng tiêu chuẩn (a) của R. A.
Carpenter và J. E. Maragos được tính theo đơn vị m2/người (cụ thể là 100 m2/người), còn tiêu chuẩn bình qn khách
cho diện tích
v
a
của A. M. Cifuentes và H. Cebaloos-Lascurain được tính bằng số khách/m2 (cụ thể 100
m2/người = 0,01 người/m2).
Từ các kết quả, có thể nhận xét rằng cách tính sức chứa của A. M. Cifuentes và H. Cebaloos-Lascurain là phức
tạp và đầy đủ hơn, bởi trong khi R. A. Carpenter và J. E. Maragos căn cứ vào tiêu chuẩn của yếu tố sinh thái và
tương quan giữa thời gian mở cửa với thời gian tham quan để tính sức chứa cho tồn thể lãnh thổ thì A. M.
Cifuentes và H. Cebaloos-Lascurain đã loại trừ được các yếu tố làm giảm sức chứa thông qua các hệ số giới hạn
về môi trường, thời tiết, cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật và năng lực quản lý. Cũng chính vì vậy, kết quả về sức
chứa tính toán theo A. M. Cifuentes và H. Cebaloos-Lascurain thường thấp hơn so với R. A. Carpenter và J. E
Maragos.
27
28
Theo số liệu Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam 02:2008/BXD.
Tháng 5 có 16 ngày nắng, tháng 6 là 16 ngày, tháng 7 là 15 ngày, tháng 8 là 14 ngày và tháng 9 là 17 ngày.
630
Cao Hoàng Hà
5. KẾT LUẬN
1) Sức chứa du lịch là cơ sở và cách thức quan trọng trong phát triển bền vững điểm du lịch. Thông qua xác định
giới hạn tối đa số lượng du khách và điểm du lịch có thể đón tiếp mà khơng phá hủy mơi trường - tài nguyên, phát
huy tối đa các giá trị và lợi ích, nhà quản lý và điều hành có thể đưa ra các biện pháp quản lý hữu hiệu, phù hợp và
mang tính lâu dài. Sức chứa có bốn khía cạnh khác nhau nhưng khía cạnh vật lý - sinh thái thường được ưu tiên và
quan tâm tính tốn, bởi sức chứa vật lý - sinh thái (sức chứa tự nhiên) là cơ sở để tính tốn và xác định các loại sức
chứa tiếp theo. Tuy nhiên, dù có ưu tiên khía cạnh nào, vẫn phải đảm bảo nguyên tắc tính tốn cho từng loại tài
ngun, từng điểm du lịch trước, sau đó tính sức chứa chung cho tồn bộ điểm đến.
2) Hữu Liên là điểm du lịch mới được quan tâm đầu tư và ở giai đoạn đầu trong chu kỳ vịng đời phát triển. Do
đó, việc tính tốn sức chứa du lịch trước khu thực hiện các dự án và kêu gọi đầu tư là rất thích hợp. Đặc biệt,
nhiệm vụ này càng cần thiết và cấp bách đối với một điểm đến dựa trên nền tảng tài nguyên du lịch tự nhiên nhạy
cảm, dễ tổn thương với hệ thống rừng đặc dụng gồm nhiều loài quý hiếm và địa hành thung lũng karst kỳ vỹ,
nguyên sơ.
3) Tiếp cận phương pháp tính sức chứa vật lý - sinh thái của hai nhóm tác giả A. M. Cifuentes và H. CebaloosLascurain cùng với R. A. Carpenter và J. E. Maragos cho thấy sức chứa du lịch cho hai điểm tài nguyên quan
trọng nhất của điểm du lịch Hữu Liên có thể đạt tới 21.020 du khách (theo phương pháp của R. A. Carpenter và J.
E. Maragos) nhưng chỉ đạt ngưỡng 7.084 du khách (theo phương pháp của A. M. Cifuentes và H. CebaloosLascurain). Nguyên nhân của sự chênh lệch kết quả trên là do tiêu chuẩn của yếu tố sinh thái nhạy cảm cho một
du khách có sự khác nhau. Tuy nhiên, xét trên tổng thể dù sức chứa chỉ có thể đạt 7.084 du khách đối với một
điểm đến có diện tích > 6.600 ha là một kết quả ấn tượng và khả thi. Rõ ràng, sức chứa theo hướng tiếp cận
phương pháp của A. M. Cifuentes và H. Cebaloos-Lascurain tuy phức tạp và địi hỏi dày cơng hơn nhưng gắn với
điều kiện thực tế khai thác du lịch hơn, bởi đã loại trừ được các hệ số giới hạn làm giảm sức chứa.
4) Tuy nhiên, như đã đề cập và dẫn giải trong phần lý luận, không có một phương pháp và con số định lượng
cụ thể nào phản ánh chính xác tuyệt đối sức chứa của một điểm du lịch; trường hợp điểm du lịch Hữu Liên cũng
khơng ngoại lệ. Bởi vì, tất cả các chỉ số làm cơ sở, các chỉ số về môi trường tự nhiên dùng để đánh giá, các dấu
hiệu quan sát, các tiêu chuẩn trung bình quy định đối với từng du khách,… đều mang tính tương đối. Do đó, sức
chứa du lịch là một trong những cơ sở quan trọng định hướng cho quản lý nhà nước, kêu gọi đầu tư, phát triển và
hướng đến bền vững cho Hữu Liên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1].
[2].
[3].
[4].
[5].
[6].
[7].
[8].
[9].
Đặng Thị Phương Anh, Bùi Thị Thu Vân (2018). Phát triển du lịch bền vững. Nhà xuất bản Đại học Quốc
gia Hà Nội, Việt Nam.
Phạm Trung Lương (2002). Du lịch sinh thái - Những vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam.
Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, Việt Nam.
Nguyễn Đình Hịe, Vũ Văn Hiếu (2001). Du lịch bền vững. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt
Nam.
Võ Quế (2018). Bàn về tính tốn sức chứa cho khu du lịch quốc gia Hồ Núi Cốc, Thái Nguyên (2018).
Mục Nghiên cứu - Trao đổi, bản điện tử Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (ITDR), Tổng cục Du lịch
Việt Nam, Hà Nội.
Nguyễn Thị Sơn (2001). Cơ sở khoa học cho việc định hướng phát triển du lịch sinh thái ở vườn quốc gia
Cúc Phương. Luận án TS Địa lý - ĐHSPHN, Hà Nội.
Khu Dự trữ thiên nhiên Hữu Liên (2019). Tài liệu giới thiệu khu dự trữ thiên nhiên - Bản Điện tử, Lạng
Sơn, Việt Nam.
Phịng Văn hóa và Thơng tin Hữu Lũng (2017). Báo cáo tình hình phát triển du lịch trên địa bàn huyện Hữu
Lũng năm 2017; phương hướng, nhiệm vụ năm 2018 - Số: 34/BC-VH&TT, Lạng Sơn.
Trung tâm Xúc tiến thông tin du lịch Lạng Sơn (2017). Khai thác tiềm năng du lịch hữu liên gắn kết với
vùng phụ cận - mục điểm đến, www.dulichlangson.com.vn, Lạng Sơn.
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2003). Quy chế Bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch. Quyết định số
02/2003/QĐ-BTNMT, Hà Nội, Việt Nam.
Vấn đề sức chứa tại điểm du lịch sinh thái cộng đồng Hữu Liên, Hữu Lũng, Lạng Sơn
[10].
[11].
[12].
[13].
[14].
631
Bộ Xây dựng (2008). Quy chuẩn xây dựng Việt Nam (Số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng - Phần I),
QCXDVN 02:2008/BXD. Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng, Hà Nội, Việt Nam.
Ủy ban nhân dân huyện Hữu Lũng (2018). Kế hoạch phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
giai đoạn từ nay đến năm 2020 và định hướng những năm tiếp theo trên địa bàn huyện Hữu Lũng - Số:
116/KH-UBND, Lạng Sơn.
Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2019). Quyết định về việc cho Công ty Cổ phần Du lịch Nối vòng tay thuê
đất để thực hiện dự án Khu lưu trú và nghỉ dưỡng sinh thái Hữu Liên - Số: 2363/QĐ-UBND, Lạng Sơn.
Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2019). Quyết định về việc phê duyệt và cơng bố danh mục kiểm kê di tích
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn - Số: 73/QĐ-UBND, Lạng Sơn.
Ủy ban nhân dân xã Hữu Liên - huyện Hữu Lũng (2019). Tài liệu thuyết minh Điểm du lịch xã Hữu Liên,
huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn.
THE PROBLEM OF THE PROPERTY AT HUU LIEN ECOLOGICAL
TOURISM POINTS
Cao Hoang Ha
Faculty of Vietnamese Studies - Hanoi National University of Education
Abstract: There have been different approaches in studying tourism adopted by earlier researchers. However, in this
paper, the method of A.M.Cifuentes and H.CebaloosLascurain with Carpenter RA and Maragos JE, were selected as
they seems to be relevant to the research site (Donglam and Huulien). This paper asesses the physical –ecological
dimension. Despite the difference between the two methods, the results ideally supports the development of tourism in
Huulien destination..
Keywords: tourism capacity, sustainable tourism, Huu Lien, etc.