Tải bản đầy đủ (.docx) (45 trang)

Tểu luận pháp luật kinh doanh du lịch

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (258.45 KB, 45 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
BỘ MÔN DU LỊCH

MÔN HỌC:

PHÁP LUẬT KINH DOANH DU LỊCH
(Học kì 1 nhóm 1 năm học 2021 - 20220
ĐỀ TÀI:

PHÁP LUẬT KINH DOANH DỊCH VỤ
KHÁCH SẠN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI
KHÁCH SẠN SUNWAY HANOI
Giáo viên hướng dẫn: TS. VŨ QUANG
Họ và tên sinh viên: Cao Thị Vân Anh
Mã sinh viên: A31555

Hà Nội, 2021

Trang 1


MỤC LỤC
CHƯƠNG 1. Các khái niệm về dịch vụ du lịch và pháp luật kinh
doanh khách sạn ....................................................................................................2
1.1 Các khái niệm cơ bản....................................................................2
1.1.1 Khái niệm chung về dịch vụ.......................................................2
1.1.2 Khái niệm dịch vụ khách sạn.....................................................3
1.1.3 Đặc điểm của kinh doanh khách sạn..........................................4
1.2 Pháp luật trong hoạt động kinh doanh khách sạn...............5
1.2.1 Khái niệm về pháp luật..............................................................5
1.2.2 Đặc trưng của pháp luật.............................................................8


1.2.3 Pháp luật trong kinh doanh khách sạn......................................10
1.2.4 Vai trò của pháp luật đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ
khách sạn

..................................................................................................10

1.2.5 Ý nghĩa của pháp luật trong kinh doanh dịch vụ khách sạn.....12
1.3 Các quy định của pháp luật về kinh doanh khách sạn.....12
1.3.1 Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ khách sạn...........................12
1.3.2 Điều kiện kinh doanh dịch vụ khách sạn và xếp hạng sao.......13
1.3.3 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ
khách sạn

..................................................................................................17

1.3.4 Giải quyết các tranh chấp và xử lý các vi phạm trong kinh
doanh khách sạn................................................................................................
19
CHƯƠNG 2. thực tế áp dụng Tại khách sạn sunway hanoi...............
22
Trang 2


2.1 Giới thiệu về khách sạn Sunway Hanoi.................................22
2.1.1 Thông tin chung về khách sạn..................................................22
2.1.2 Cơ sở vật chất của khách sạn...................................................23
2.1.3 Đội ngũ nhân sự của khách sạn................................................24
2.2 Hoạt động kinh doanh tại khách sạn.....................................26
2.2.1 Thị trường khách hàng.............................................................26
2.2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh.................................................27

2.3 Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật trong ho ạt
động kinh doanh dịch vụ tại khách sạn Sunway Hanoi.......................29
2.3.1 Điều kiện thành lập khách sạn..................................................29
2.3.2 Cơ cấu tổ chức của khách sạn..................................................30
2.3.3 Mục tiêu hoạt động của khách sạn...........................................33
2.3.3.1 Phạm vi kinh doanh và thời gian hoạt động..........................33
2.3.4 Quyền hạn................................................................................33
2.3.5 Nghĩa vụ...................................................................................34
2.3.6 Đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật về kinh
doanh dịch vụ khách sạn tại khách sạn Hyatt Regency Hanoi......................34
CHƯƠNG 3. Một số đề xuất giúp nâng cao chất lượng khách sạn
sunway hanoi

.................................................................................................36

3.1 Đánh giá nhận xét chung............................................................36
3.1.1 Một số mặt tích cực..................................................................36
3.1.2 Một số bất cập và nguyên nhân................................................36
3.2 Một số đề xuất nâng cao chất lượng.....................................37
Trang 3


3.2.1 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.......................................37
3.2.2 Hoàn thiện chính sách marketing mix......................................39

Trang 4


LỜI MỞ ĐẦU
Khi xã hội phát triển, nhận thức và hiểu biết của mọi người càng được

nâng cao, pháp luật càng đóng vai trị quan trọng trong đời sống xã hội. Nếu coi
kinh tế là xương sống, con người là mạch máu thì pháp luật chính là bộ não chịu
trách nhiệm kiểm soát xã hội. Pháp luật bảo đảm cho sự tồn tại bình đẳng của
mọi tầng lớp. Pháp luật không chỉ là một công cụ giúp bộ máy lãnh đạo dễ dàng
mà cịn tạo ra mơi trường bình ổn cho sự phát triển của đạo đức, xóa bỏ những
bất cơng, hiềm khích để làm lành mạnh hố đời sống xã hội và góp phần tạo nên
những giá trị cho thời đại mới. Luật pháp Việt Nam cũng luôn được cập nhật để
phù hợp hơn với tốc độ phát triển của nền kinh tế thị trường kỉ nguyên 4.0.
Hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanh dịch vụ khách sạn cũng
dần trở thành một trong những đầu tàu cho cuộc cách mạng thời đại mới của
Đảng Cộng Sản và Nhà nước nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Luật
pháp được áp dụng trong kinh doanh đống vai trị xây dựng một nền kinh tế có
trật tự, có kỷ cương, văn minh, hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân
chính, trong đó có ý thức đạo đức. Sự phát triển khơng ngừng của nhóm ngành
dịch vụ du lịch, đặc biệt là dịch vụ cư trú đã tạo ra những yêu cầu mới về pháp
luật. Bộ Luật Du lịch năm 2017 bổ sung và sửa đổi đã được ra đời trong hồn
cảnh đó. Đây là thành quả tất yếu nhằm kiểm sốt nhóm ngành này.
Bài tiểu luận dưới đây tác giả sẽ làm rõ tầm quan trọng của luật pháp trong
kinh doanh dịch vụ khách sạn và áp dụng thực tiễn tại khách sạn Sunway Hanoi.

Trang 1


HƯƠNG 1. CÁC KHÁI NIỆM VỀ DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ PHÁP LUẬT KINH
DOANH KHÁCH SẠN
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1

Khái niệm chung về dịch vụ
Ở thời điểm hiện tại, có rất nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ. Trong

nền kinh tế thị trường dịch vụ được coi là mọi thứ có giá trị, khác với hàng hố
vật chất, mà một người hoặc một tổ chức cung cấp cho một người hoặc một tổ
chức khác để đổi lấy một cái gì đó. Khái niệm này chỉ ra các tương tác của con
người hoặc một tổ chức khác trong quá trình hình thành dịch vụ. Khái niệm này
cũng thể hiện quan điểm hướng tới khách hàng vì giá trị của dịch vụ do khách
hàng quyết định.
Theo Luật giá năm 2013: “Dịch vụ là hàng hóa có tính vơ hình, q trình
sản xuất và tiêu dùng khơng tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ
thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”.
Trong kinh tế học: “Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng
hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và
những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản
phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.”
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho
những nhu cầu nhất định của số đơng, có tổ chức và được trả công”
Theo Luật Thương mại 2005: “Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương
mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực
hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau
đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh tốn cho bên cung ứng dịch vụ và sử
dụng dịch vụ theo thỏa thuận.”

Trang 2


Theo GS Philip Kotler - cha đẻ của marketing hiện đại, đã đưa ra định
nghĩa: “Dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp
cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vơ hình
và khơng dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể
hoặc khơng có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào.”
Tổng kết lại có thể đưa ra một khái niệm về dịch vụ như sau:“Dịch vụ là

một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ
giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp mà
khơng có sự chuyển giao quyền sở hữu”.
1.1.2

Khái niệm dịch vụ khách sạn
Trước hết, khách sạn là địa điểm lưu trú tạm thời của du khách. Khách sạn
có kinh doanh các dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch có nhu cầu như nghỉ
ngơi, ăn uống, tổ chức hội nghị ... Cùng với sự phát triển của kinh tế và nhu cầu
của đời sống con người càng được nâng cao thì các tiện nghi trong khách sạn
ngày càng hiện đại hơn và nhân viên chu đáo hơn. Để được coi là một khách sạn
(Hotel) cần có những u cầu về kiến trúc, có quy mơ từ 10 buồng ngủ trở lên,
đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ
khách du lịch.
Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các
dịch vụ lưu trú, ăn uống, và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng các
nhu cầu ăn, nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích kinh
doanh có lãi. Ngồi hai nhu cầu chính ăn và ngủ, thì khách đến khách sạn cịn có
nhu cầu về hội họp, chữa bệnh, vui chơi giải trí, làm đẹp,… Và để đáp ứng
những nhu cầu đó thì trong kinh doanh khách sạn đã có thêm dịch vụ giải trí, thể
thao, y tế, chăm sóc sắc đẹp, dịch vụ giặt là, dịch vụ điện thoại, dịch vụ thanh
toán, dịch vụ vận chuyển,….

1.1.3

Đặc điểm của kinh doanh khách sạn
Trang 3


Kinh doanh khách sạn cũng có nét tương đồng giống với các hoạt động

kinh doanh dịch vụ khác như tính vơ hình, tính khơng thể tách rời, đặc tính
khơng đồng đều về chất lượng hay không thể dự trữ. Dưới đây là một số đặc
điểm khác riêng biệt của kinh doanh khách sạn khác với các hoạt động kinh
doanh dịch vụ khác.
Thứ nhất, Kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên du lịch tại các
điểm du lịch. Tài nguyên du lịch là yếu tố thúc đẩy, thôi thúc con người đi du
lịch có thể kể đến như thiên nhiên, nhân văn hay xã hội . Những địa điểm có tài
nguyên du lịch hấp dẫn thì hoạt động kinh doanh khách sạn sẽ càng thành công.
Kinh doanh khách sạn không chỉ phụ thuộc vào tài nguyên du lịch của điểm đến
mà cịn có tác động ngược lại với tài ngun du lịch. Một số địa điểm nổi lên
nhờ có sự xuất hiện của khách sạn. Một ví dụ tiêu biểu như Bà Nà Hill hay tổ
hợp du lịch nghỉ dưỡng Flamigo Đại Lải. Chính nhờ những đặc điểm về kiến
trúc, quy hoạch và cơ sở vật chất kỹ thuật của địa điểm lưu trú đã tạo ra những
ảnh hưởng tới tài nguyên du lịch cho địa phương.
Điều thứ hai, hoạt động kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng vốn đầu
tư lớn. Do yêu cầu về tính chất lượng của khách sạn nên đòi hỏi các thành phần
khác bên trong cơ sở vật chất kỹ thuật của khách sạn cũng cần có chất lượng
tương đương. Khách sạn là nơi khách lưu trú, trải nghiệm và nghỉ ngơi trong
chuyến đi nên luôn cần mang tới sự thoải mái. Các trang thiết bị và cơ sở vật
chất, hạ tầng kỹ thuật của khách sạn phải có chất lượng cao để đạt được mục
tiêu của thu hút khách hàng. Ngoài ra, đặc điểm này còn xuất phát từ một số yếu
tố khác. Một trong số đó là chi phí ban đầu cho cơ sở hạ tầng của khách sạn
tương đối là cao; Cùng với đó chi phí th mặt bằng hoặc quyền sử dụng đất cho
một cơng trình khách sạn là rất lớn.
Yếu tố thứ ba là kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng lao động trực
tiếp. Kinh doanh khách sạn chủ yếu là dịch vụ trải nghiệm, khi chính khách
Trang 4


hàng sẽ được phục vụ bởi những nhân viên của khách sạn. Lực lượng lao động

trong khách sạn được chuyên mơn hóa cao theo từng bộ phận chun biệt. Thời
gian làm việc phụ thuộc vào thời gian sử dụng dịch vụ khách, thường sẽ kéo dài
tồn thời gian 24/7. Chính vì thế, khách sạn cần đến số lượng lớn nhân cơng dẫn
tới những khó khăn về chi phí lao động. Muốn cân bằng giữa yếu tố cung ứng
dịch vụ và chất lượng sản phẩm thì người quản lý cần đảm bảo cân đối giữa chi
phí này với chất lượng cung ứng dịch vụ. Một trong những cách để tăng cường
chất lượng đó là nâng cao tiêu chuẩn đầu vào của nhân viên; tiến hành đạo tạo,
bồi dưỡng nhân viên nâng cao khả năng phục vụ; lựa chọn và phân công bố trí
nguồn nhân lực phù hợp trong từng thời điểm.
Điều cuối cùng, kinh doanh khách sạn mang tính quy luật. Nói cách khác
chính là tính thời vụ của hoạt động dịch vụ. Với những địa điểm du lịch gần biển
thì mùa cao điểm là sẽ mùa hè, còn mùa thấp điểm là mùa đơng. Yếu tố này
mang tính quy luật song không phải luôn đúng trong mọi trường hợp. Nắm bắt
được quy luật này, hoạt động kinh doanh khách sạn có thể tạo ra những chiến
lược quản lý phù hợp để thu hút khách du lịch.
1.2 Pháp luật trong hoạt động kinh doanh khách sạn
1.2.1

Khái niệm về pháp luật
Pháp luật là một khái niệm phức tạp, trải qua các thời đại và ở các khu vực
trên thế giới, những vấn đề như bản chất, nguồn gốc, vai trò, phạm vi điều chỉnh
của pháp luật... được nhận thức một cách khác nhau.
Ở Trung Quốc cổ đại, trường phái Nho gia (đại biểu là Khổng Tử) cho
rằng, pháp luật được đồng nhất với “hình pháp” (sự trừng phạt). nó chỉ được đặt
ra cho những người không hiểu và không theo được “lễ”. Sách Lễ kí viết: “Lễ
khơng đi xuống đến người dân thường. Hình pháp khơng đi lên đến giới đại
phu’’. Theo các nhà nho, “lễ” là một loại quy tắc xử sự vừa mang tính chất ln
lí, đạo đức, tơn giáo, phong tục, tập quán, vừa mang tính chất chính trị, pháp lí
Trang 5



mà những người cầm quyền phải tin theo, giữ gìn để thiết lập, duy trì quan hệ
danh phận đẳng cấp trong xã hội. Cũng ở Trung Quốc thời kì này, trường phái
Pháp gia (đại biểu là Hàn Phi Tử) quan niệm, pháp luật “Lễ cái biên soạn thành
sách đặt ở nơi cơng đường và nói rõ cùng trăm họ... cho nên bậc minh chúa nói
pháp luật thì mọi kẻ hèn kém trong nước, không ai không nghe thấy”. Mặc dù
không trực diện đề cập nội hàm khái niệm pháp luật, tuy nhiên theo Hàn Phi Tử,
pháp luật phải thành văn và phải được công khai cho mọi người đều biết. Hàn
Phi Tử cho rằng, bản chất của con người là tham lam, ích kỉ (bản tính ác), vì
vậy, để thiết lập trật tự xã hội, nắm giữ quyền lực dài lâu, người cầm quyền
không thể dựa vào lễ, nhạc mà phải sử dụng luật pháp, luật pháp đó phải cơng
khai, minh bạch để mọi người đều biết và tuân thủ nghiêm chỉnh.
Ờ phương Tây, quan niệm về pháp luật tương đối phức tạp, tuy nhiên, tựu
trung lại có thể chia thành hai trường phái, trường phái pháp luật thực định và
trường phái pháp luật tự nhiên.
- Theo quan niệm của trường phái pháp luật thực định, pháp luật là
những quy tắc do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều
chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập trật tự xã hội. Đó là những quy
phạm cụ thể, hiện hữu, xác định, thể hiện rõ ràng, chúng được ban
hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong một phạm vi không gian
xác định.
- Theo quan niệm của trường phái pháp luật tự nhiên, pháp luật là những
quy tắc tất yếu hình thành một cách tự nhiên trong đời sống của con
người xuất phát từ bản chất của con người với tư cách là một bộ phận
của giới tự nhiên, tương tự như việc con người đói thì ăn, khát thì
uống, tìm kiếm thức ăn để duy trì sự tồn tại của mình, kết hơn, sinh con
để duy trì nịi giống... Thứ pháp luật này khơng do nhà nước nào ban
hành ra và bảo đảm thực hiện mà nó được hiểu như là tạo hóa đã ban
tặng cho con người, nó cao hơn pháp luật do nhà nước ban hành, nó là
Trang 6



vĩnh cửu và bất biến, không bị thay đổi ở mọi dân tộc và mọi thời đại.
Pháp luật thực định do nhà nước ban hành ra và bảo đảm thực hiện
phải dựa trên cơ sở của pháp luật tự nhiên, phải phù hợp, không được
trái với pháp luật tự nhiên. Các luật gia theo phái này cho rằng các
quyền tự nhiên của con người như quyền sống, quyền tự do, quyền
mưu cầu hạnh phúc là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Họ đấu tranh
cho các quyền con người và quyền công dân, chống lại sự lạm dụng
quyền lực của các cơ quan nhà nước, địi hỏi phải kiểm sốt quyền lực
nhà nước, bảo vệ các quyền tự do của con người. Những đại biểu xuất
sắc của trường phái này là Aristote, Ciceron, Grotius, Montesquieu...
Chẳng hạn, Montesquieu cho rằng: Pháp luật là hệ thống các quy tắc
xử sự mang tính bá, buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thựa nhận
nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phục vụ và bảo vệ quyền lợi của
các tầng lớp dân cư trong xã hội (của giai cấp thống trị trong các nhà
nước bóc lột).
Ngày nay, cả trong lí luận cũng như thực tiễn, pháp luật đều được tiếp cận
theo quan điểm pháp luật thực định, nhưng có tiếp thu những giá trị của quan
điểm pháp luật tự nhiên. Theo đó, pháp luật do nhà nước ban hành nhưng phải
phù họp với thực tiễn khách quan, phù hợp với quy luật vận động và phát triển
của đời sống, pháp luật phải dựa trên cơ sở cơng lí, phải phù hợp với các quyền
tự nhiên của con người. Chính vì vậy, danh từ pháp luật trong ngôn ngữ của hầu
hết các quốc gia trên thế giới đều phản chiếu ý niệm công lý. Thực tế cho thấy,
pháp luật của nhiều nhà nước đương đại đã thừa nhận quyền con người với tư
cách là quyền tự nhiên, bẩm sinh mà tạo hoá đem lại cho họ.
Ở Việt Nam hiện nay, trong giáo trình của các cơ sở đào tạo luật học cũng
như trong sách báo pháp lí tồn tại nhiều định nghĩa về pháp luật dưới góc độ là
pháp luật thực định. Tuy nhiên, có thể nói, các định nghĩa đó cơ bản chỉ khác
nhau về câu chữ và thể hiện quan niệm về pháp luật với tư cách là một loại quy

Trang 7


tắc ứng xử của con người, một loại chuẩn mực xã hội, pháp luật có những điểm
khác biệt cơ bản so với các loại chuẩn mực xã hội khác như đạo đức, phong tục
tập quán... Tác giả xin sử dụng quan niệm dưới đây về pháp luật: “Pháp luật là
hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm
thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà
nước.”
1.2.2

Đặc trưng của pháp luật
Trên cơ sở quan niệm như trên về pháp luật, có thể thấy, pháp luật có các
đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, pháp luật có tỉnh quyền lực nhà nước
Tính quyền lực nhà nước là đặc điểm riêng có của pháp luật. Để thực hiện
việc tổ chức và quản lí các mặt của đời sống xã hội, nhà nước cần có pháp luật.
Các quy định pháp luật có thể do nhà nước đặt ra, cũng có thể được tạo nên từ
việc nhà nước thừa nhận các quy tắc xử sự sẵn có trong xã hội như đạo đức,
phong tục tập qn, tín điều tơn giáo... Với tính cách là những quy tắc xử sự,
phảp luật chính là những u cầu, địi hỏi hoặc cho phép của nhà nước đối với
hành vi ứng xử của các chủ thể trong xã hội. Nói cách khác, pháp luật thể hiện ý
chí của nhà nước. Thơng qua pháp luật, nhà nước cho phép người dân được làm
gì, khơng cho phép họ làm gì hay bắt buộc họ phải làm gì, làm như thế nào...
Với quyền lực của mình, nhà nước có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để
tổ chức thực hiện pháp luật, yêu cầu các cá nhân, tổ chức trong xậ hội phải thực
hiện pháp luật nghiêm chỉnh. Khi cần thiết, nhà nước có thể sử dụng các biện
pháp cưỡng chế để bảo vệ pháp luật, trừng phạt người vĩ phạm, đảm bảo cho
pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trong cuộc sống.
Thứ hai, pháp luật có tính quy phạm phổ biến.

“Quy phạm” nghĩa là khuôn thước, khuôn mẫu, chuẩn mực. Các quy định
của pháp luật là những khuôn mẫu, chuẩn mực định hướng cho nhận thức và
Trang 8


hành vi của mọi người, hướng dẫn cách xử sự cho cá nhân, tổ chức trong xã hội.
Các chủ thể khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh do pháp luật dự liệu thì xử sự theo
những khn mẫu mà nhà nước đã nêu ra. Căn cứ vào các quy định của pháp
luật, các tổ chức và cá nhân trong xã hội sẽ biết mình được làm gì, khơng được
làm gì, phải làm gì và làm như thế nào khi ở vào một điều kiện, hồn cảnh cụ
thể nào đó. Phạm vi tác động của pháp luật rất rộng lớn, nó là khuôn mẫu ứng
xử cho mọi cá nhân, tổ chức trong đời sống hàng ngày, nó điều chỉnh các quan
hệ xã hội trên các lĩnh vực của cuộc sống, pháp luật tác động đến mọi
địaphưorng, vùng, miền của đất nước.
Thứ ba, pháp luật có tính hệ thống
Bản thân pháp luật là một hệ thống các quy phạm hay cạc quy tăc xử sự
chung, các nguyên tắc, các khai niệm pháp lí... Pháp luật điều chỉnh quan hệ xã
hội bằng cậch tác động lên cách xử sự của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội
đó, làm cho quan hệ phát triển theo chiều hướng nhà nước mong muốn. Mặc dù
điều chỉnh các quan hệ xã hội trong nhiều lĩnh vực khác nhau, song các quy định
của pháp luật không tồn tại biệt lập mà giữa chúng có mối liên hệ nội tại thống
nhất với nhaú, tạo nên một chỉnh thể thống nhất.
Thứ tư, pháp luật có tính xác định về hình thức
Pháp luật được thể hiện trong những hình thức xác định như tập quán
pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật. Ở dạng thành văn, các quy định
của pháp luật được thể hiện một cách rõ ràng, cụ thể, khơng trừu tượng, chung
chung, bảo đảm có thể được hiểu và thực hiện thống nhất trên toàn xậ hội.
Ngày nay, sự giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, sự tác động qua lại,
ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng lớn. Đe điều chỉnh
mối quan hệ giữa các quốc giá, các tổ chức quốc tế cũng cần có pháp luật, gọi là

pháp .luật quốc tế. Pháp luật quốc tế được hiểu là hệ thống quy phạm do các
quốc gia, các tổ chức quốc tế thỏa thuận xây dựng nên để điều chỉnh các quan hệ
Trang 9


xã hội phát sinh trong đời sống quốc tế. Bên cạnh những điểm tương đồng với
pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế có những nét đặc thù. Trong phạm vi giáo
trình này chủ yếu đề cập đến pháp luật quốc gia.
1.2.3

Pháp luật trong kinh doanh khách sạn
Luật Du lịch (pháp luật trong kinh doanh du lịch) là ngành luật độc lập
trong hệ thống pháp luật Việt Nam là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà
nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ về tài nguyên du lịch, phát triển sản
phẩm du lịch và hoạt động du lịch; quyền, nghĩa vụ của khách du lịch, tổ chức,
cá nhân kinh doanh du lịch, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, cộng đồng dân cư
có hoạt động liên quan đến du lịch; quản lý nhà nước về du lịch.
Luật kinh doanh khách sạn là những quy phạm pháp luật điều chỉnh các
quyền, quan hệ và hành vi của người, công ty, tổ chức và doanh nghiệp kinh
doanh dịch vụ khách sạn, được quy định trong luật Du lịch. Trong mục 3: Lưu
trú du lịch có cung cấp những thơng tin về hoạt động kinh doanh khách sạn này.
Theo đó thì Khách sạn là một pháp nhân nằm trong điều 48 về các loại cơ sở lưu
trú du lịch.

1.2.4

Vai trò của pháp luật đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ khách sạn
Phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn là chủ chương của Đảng
và Nhà nước. Nghị quyết 45/CP của Chính phủ khẳng định “Làm cho ngành du
lịch nước ta sớm đuổi kịp ngành du lịch của các nước phát triển trong vùng và

trên thế giới, đưa du lịch nước ta trở thành một ngành kinh tế quan trọng”, mà
kinh doanh khách sạn giữ vị trí quan trọng đối với sự phát triển của ngành du
lịch nên cần có những chính sách phát triển kinh doanh khách sạn.
Bên cạnh phát triển kinh doanh khách sạn cần có những giải pháp tối ưu
để hạn chế những tác động tiêu cực làm ảnh hưởng đến môi trường và xã hội.
Quản lý nhà nước về kinh doanh khách sạn đóng vai trị vơ cùng quan trọng.
Nhà nước thơng qua những cơng cụ quản lý nhất định nhằm tác động tích cực
Trang 10


vào các hoạt động kinh doanh khách sạn, tạo dựng môi trường pháp lý lành
mạnh, giúp ngành Du lịch phát triển theo đúng định hướng và hiệu quả. Văn bản
pháp luật nhà nước đã được đưa ra nhằm điều chỉnh các hoạt động du lịch và
xác định vai trò, nhiệm vụ của hoạt động kinh doanh du lịch nói chung và ngành
kinh doanh dịch vụ khách sạn nói riêng.
Hoạt động du lịch liên quan trực tiếp đến khách du lịch. Khách du lịch ở
đây có màu da, quốc tịch, tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ nhận thức và văn hóa
khác nhau. Trong q trình du lịch, những lợi ích chính đáng và hợp pháp của họ
cần được bảo vệ thông qua pháp luật. Bên cạnh đó, các luật du lịch cũng được
đặt ra nhằm đảm bảo khách du lịch khi sử dụng dịch vụ khách sạn cũng phải tôn
trọng và thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
Khơng những vậy, hoạt động kinh doanh khách sạn chủ yếu là kinh doanh.
Một trong những yếu tố cơ bản và quan trọng của kinh doanh dịch vụ là uy tín,
chất lượng và danh tiếng, tạo được những ấn tượng tốt đẹp trong tâm trí của
khách du lịch. Việc đặt ra các điều luật để các cá nhân, tổ chức kinh doanh
khách sạn tuân theo khơng những đem lại uy tín cho các tổ chức, các cá nhân
kinh doanh du lịch mà còn mang lại cả danh tiếng cho dân tộc và đất nước.
1.2.5

Ý nghĩa của pháp luật trong kinh doanh dịch vụ khách sạn

Du lịch Việt Nam đang phát triển nhanh chóng thu hút sự tham gia của
nhiều tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư, nhiều loại hình dịch vụ du lịch mới
ra đời, sự cạnh tranh trong nước và khu vực ngày càng trở nên gay gắt, yêu cầu
về phát triển bền vững, vấn đề bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch ngày càng
trở nên bức xúc. Trước xu thế hội nhập quốc tế mạnh mẽ của Việt Nam, việc ban
hành Luật Du lịch đã đáp ứng được yêu cầu thể chế hố chủ trương, chính sách
của Đảng trong phát triển ngành kinh doanh khách sạn, từ đó phát triển du lịch
thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, cũng như đáp ứng được nhu cầu phát
triển thực tiễn và tiến trình hội nhập của Việt Nam.
Trang 11


1.3 Các quy định của pháp luật về kinh doanh khách sạn
1.3.1

Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ khách sạn
Các công ty du lịch bao gồm nhiều các công ty đa ngành nghề từ lữ hành
đến vận tải và lưu trú, nhà hàng,.... Mỗi ngành nghề du lịch đều có điều kiện
riêng được quy định cụ thể trong Luật du lịch.
A.

Điều kiện cấp giấy phép kinh doanh
Phải có ít nhất 10 phòng cho một khách sạn và mỗi phòng tối thiểu phải có

diện tích là 12m2, 9m2 tùy vào phịng đơi hay phòng đơn. Cơ sở vật chất phải
được thiết kế đạt tiêu chuẩn tối thiểu là 1 sao.
Địa điểm xây dựng khách sạn không được liền kề với khu vực an ninh
quốc phịng, khơng gần với các khu vực ơ nhiễm mơi trường hay có các hóa chất
gây độc hại. Đảm bảo khoảng cách xây dựng tối thiểu là 100m giữa khách sạn
và khu vực bệnh viện hay trường học.

Làm thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề
khách sạn. Phải đảm bảo có các loại giấy tờ như: Giấy chứng nhận phòng cháy
chữa cháy, giấy chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm, giấy chứng nhận đủ điều
kiện an ninh trật tự, giấy xác nhận đăng ký bảo vệ môi trường.
B.

Cơ cấu chức quản trị khách sạn
Cơ cấu tổ chức là một hệ thống các mối quan hệ hoạt động chính thức bao

gồm những cơng việc riêng rẽ cũng như những công việc tập thể. Cơ cấu tổ chức
là tổng hợp các bộ phận (đơn vị, cá nhân) khác nhau, có mối liên hệ và quan hệ
phụ thuộc lẫn nhau, được chun mơn hóa và có những trách nhiệm, quyền hạn
nhất định, được bố trí thành từng khâu, những cấp khác nhau nhằm thực hiện
chức năng quản trị và phục vụ mục tiêu chung của tổ chức, doanh nghiệp.

Trang 12


Việc tổ chức công tác quản lý trong bất kỳ công ty nào cũng cần thiết và
không thể thiếu, nhờ có việc tổ chức như vậy sẽ bảo đảm giám sát chặt chẽ tình
hình kinh doanh của cơng ty kinh doanh khách sạn.
Để thực hiện tốt chức năng quản lý thì mỗi doanh nghiệp cần có một bộ
máy tổ chức quản lý phù hợp. Tuy mỗi một doanh nghiệp kinh doanh khách sạn
sẽ có cách tổ chức, sắp xếp bộ phận phịng ban khác nhau nhưng chung quy lại
đều có một cách tổ chức cơ bản.
1.3.2

Điều kiện kinh doanh dịch vụ khách sạn và xếp hạng sao
A. Điều kiện kinh doanh dịch vụ khách sạn
Tại Điều 49 luật Du lịch 2017 đã quy định điều kiện kinh doanh dịch vụ

lưu trú du lịch:
1. Điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch bao gồm:
a) Có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật;
b) Doanh nghiệp phải đáp ứng được các điều kiện về an ninh, trật tự, an
tồn về phịng cháy và chữa cháy, bảo vệ mơi trường, an toàn thực phẩm theo
quy định của pháp luật. Như theo quy định tại Khoản 22 Điều 3 Nghị định
96/2016/NĐ-CP thì kinh doanh dịch vụ lưu trú là một trong những ngành, nghề
đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự nên để kinh doanh dịch vụ này
thì doanh nghiệp cần phải đáp ứng điều kiện về an ninh, trật tự. Bên cạnh đó là
các yêu cầu về điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, phịng cháy và chữa cháy,
bảo vệ mơi trường.
c) Đáp ứng điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ phục
vụ khách du lịch theo quy định tại Mục 3 Chương V Nghị định 168/2017/NĐCP, cụ thể: Điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ đối với khách
sạn được quy định tại Điều 22 Nghị định 168/2017/NĐ-CP, gồm: Có hệ thống
điện, hệ thống cấp nước sạch và thốt nước; Có tối thiểu 10 buồng ngủ; có quầy
Trang 13


lễ tân, phịng vệ sinh chung; Có nơi để xe cho khách đối với khách sạn nghỉ
dưỡng và khách sạn bên đường; Có bếp, phịng ăn và dịch vụ phục vụ ăn uống
đối với khách sạn nghỉ dưỡng, khách sạn nổi, khách sạn bên đường; Có giường,
đệm, chăn, gối, khăn mặt, khăn tắm; thay bọc đệm, bọc chăn, bọc gối, khăn mặt,
khăn tắm khi có khách mới; Có nhân viên trực 24 giờ mỗi ngày và người quản
lý, nhân viên được tập huấn về nghiệp vụ du lịch.
Ngoài ra, trước khi đi vào hoạt động chậm nhất 15 ngày, cơ sở lưu trú du
lịch có trách nhiệm gửi thơng báo bằng văn bản tới Sở Du lịch, Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch nơi có cơ sở lưu trú du lịch về những nội dung về: Tên, loại
hình, quy mô cơ sở lưu trú du lịch; Địa chỉ cơ sở lưu trú du lịch, thông tin về
người đại diện theo pháp luật và Cam kết đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu
trú du lịch.

C.

Xếp hạng sao
Khách sạn được xếp hạng theo tiêu chuẩn quốc gia gồm 01 sao, 02 sao, 03

sao, 04 sao và 05 sao. Căn cứ theo vị trí, kiến trúc, trang thiết bị tiện nghi, dịch
vụ, người quản lý và nhân viên phục vụ, an ninh, an tồn, bảo vệ mơi trường và
vệ sinh an toàn thực phẩm, khách sạn được xếp theo 5 hạng. Xếp hạng sao
khách sạn là công cụ, thước đo cho chất lượng dịch vụ của cơ sở lưu trú. Tại
Điều 50 luật Du lịch 2017 đã quy định về xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch:
1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch được tự nguyện
đăng ký xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Khách sạn, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, tàu thủy lưu trú du lịch được
xếp hạng theo tiêu chuẩn quốc gia về xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch. Hạng cơ sở
lưu trú du lịch bao gồm 01 sao, 02 sao, 03 sao, 04 sao và 05 sao.
3. Thẩm quyền thẩm định, công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch được quy
định như sau:
Trang 14


a) Tổng cục Du lịch thẩm định, công nhận cơ sở lưu trú du lịch hạng 04
sao và hạng 05 sao;
b) Cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh thẩm định, công nhận cơ sở
lưu trú du lịch hạng 01 sao, hạng 02 sao và hạng 03 sao.
4. Hồ sơ đăng ký công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch bao gồm:
a) Đơn đề nghị công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch theo mẫu do Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định;
b) Bản tự đánh giá chất lượng của cơ sở lưu trú du lịch theo quy định
trong tiêu chuẩn quốc gia về xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch;
c) Danh sách người quản lý và nhân viên trong cơ sở lưu trú du lịch;

d) Bản sao có chứng thực văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận bồi
dưỡng nghiệp vụ và giấy chứng nhận thời gian làm việc trong lĩnh vực du lịch
của người quản lý, trưởng bộ phận trong cơ sở lưu trú du lịch.
5. Trình tự, thủ tục cơng nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch được quy định
như sau:
a) Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch nộp 01 bộ hồ sơ
đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này. Trường
hợp hồ sơ không hợp lệ, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ
yêu cầu sửa đổi, bổ sung;
b) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền chủ trì, phối hợp với tổ chức xã hội - nghề nghiệp về du
lịch thẩm định và ra quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch; trường hợp
không công nhận, phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
6. Quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch có thời hạn 05 năm.
Sau khi hết thời hạn, tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch có nhu
Trang 15


cầu đăng ký xếp hạng lại cơ sở lưu trú du lịch thực hiện theo quy định tại các
khoản 4, 5 và 7 Điều này.
7. Phí thẩm định cơng nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch được thực hiện theo
quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
8. Biển công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch được gắn ở khu vực cửa
chính của cơ sở lưu trú du lịch.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định mẫu biển công nhận
hạng cơ sở lưu trú du lịch.
Sau khi có quyết định cơng nhận hạng cho cơ sở lưu trú, tổng cục Du lịch
và các cơ quan chuyên môn về du lịch sẽ vẫn tổ chức kiểm tra chất lượng cơ sở
lưu trú và có quyền thu hồi quyết định cơng nhận hạng, thay đổi hạng cơ sở lưu

trú du lịch. Điều này giúp đảm bảo các cơ sở lưu trú luôn luôn duy trì được chất
lượng theo tiêu chuẩn đã được cơng nhận. Như tại Điều 51 luật Du lịch 2017 về
công bố, kiểm tra chất lượng cơ sở lưu trú du lịch quy định:
1. Tổng cục Du lịch công bố danh sách cơ sở lưu trú du lịch đã được xếp
hạng theo thẩm quyền; hướng dẫn, kiểm tra việc xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch
của cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh; tổ chức kiểm tra chất lượng cơ sở
lưu trú du lịch trên toàn quốc.
2. Cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh công bố danh sách cơ sở lưu
trú du lịch đã được xếp hạng theo thẩm quyền; tổ chức kiểm tra chất lượng cơ sở
lưu trú du lịch trên địa bàn.
Điều 52 luật Du lịch 2017 về việc thu hồi quyết định công nhận hạng, thay
đổi hạng cơ sở lưu trú du lịch quy định:
1. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cơng nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch
thu hồi quyết định công nhận hạng đối với cơ sở lưu trú du lịch khơng duy trì
chất lượng theo tiêu chuẩn đã được công nhận.
Trang 16


2. Khi có sự thay đổi về cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ, tổ chức, cá nhân
kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm
định lại để cơng nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch. Hồ sơ, trình tự, thủ tục thay đổi
hạng cơ sở lưu trú du lịch thực hiện theo quy định tại các khoản 4, 5, 6 và 7
Điều 50 của Luật này.
1.3.3

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ khách sạn
Luật Du lịch 2017, Điều 53. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh
doanh dịch vụ lưu trú du lịch:
1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch có quyền sau đây:
a) Từ chối tiếp nhận khách du lịch có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm

nội quy của cơ sở lưu trú du lịch hoặc khi cơ sở lưu trú du lịch khơng cịn khả
năng đáp ứng u cầu của khách du lịch;
b) Hủy bỏ hợp đồng cung cấp dịch vụ đối với khách du lịch có hành vi vi
phạm pháp luật, vi phạm nội quy của cơ sở lưu trú du lịch.
2. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch có nghĩa vụ sau
đây:
a) Bảo đảm duy trì điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch theo quy
định tại khoản 1 Điều 49 của Luật này;
b) Niêm yết cơng khai giá bán hàng hóa và dịch vụ, nội quy của cơ sở lưu
trú du lịch;
c) Bồi thường thiệt hại cho khách du lịch theo quy định của pháp luật về
dân sự;
d) Thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh
nơi có cơ sở lưu trú du lịch khi có sự thay đổi về tên cơ sở, quy mơ, địa chỉ,
người đại diện theo pháp luật;
Trang 17


đ) Chỉ được sử dụng từ “sao” hoặc hình ảnh ngôi sao để quảng cáo về
hạng cơ sở lưu trú du lịch sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công
nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch;
e) Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê, kế toán theo quy định của pháp
luật.
3. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch đã được công nhận
hạng có quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Quyền và nghĩa vụ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này;
b) Treo biển công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch và quảng cáo đúng với
loại, hạng đã được cơng nhận;
c) Duy trì chất lượng của cơ sở lưu trú du lịch theo đúng loại, hạng đã
được công nhận.

1.3.4

Giải quyết các tranh chấp và xử lý các vi phạm trong kinh doanh khách sạn
Trong xã hội, con người có những lợi ích khác nhau, có trường hợp cịn
đối lập nhau; mặt khác , nhận thức của mỗi người về nghĩa vụ và trách nhiệm
cũng khơng giống nhau. Vì vậy, không phải bất cứ ai và cũng không phải bất cứ
lúc nào, các thành viên trong xã hội cũng đều xử sự theo đúng các quy định của
pháp luật. Vi phạm pháp luật do đó là hiện tượng khơng thể nào tránh khỏi trong
xã hội. Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh ngày càng cạnh tranh như vậy,
tranh chấp, xung đột mâu thuẫn giữa các bên do không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ.
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật một cách cố ý hoặc vô ý, gây
hậu quả, thiệt hại cho xã hội, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo
vệ, do chủ thể có năng lực hành vi thực hiện. Các dấu hiệu đó cũng là những nội
dung cơ bản của các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật: mặt khách quan, khách
thể, mặt chủ quan, chủ thể của vi phạm pháp luật. Vi phạm pháp luật được chia
Trang 18


thành bốn loại chủ yếu: vi phạm hành chính,vi phạm hình sự (tội phạm), vi
phạm dân sự và vi phạm kỉ luật. Vi phạm pháp luật là sự thực hiện làm phát sinh
trách nhiệm pháp lý và cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý. Tương ứng với
các loại vi phạm pháp luật có các loại trách nhiệm pháp lý sau:
Trách nhiệm hành chính
Trách nhiệm nhân sự
Trách nhiệm dân sự
Trách nhiệm kỷ luật
Trong quản lý và kinh doanh du lịch, các loại pháp lý trên đều được áp
dụng đối với các vi phạm pháp luật tương ứng.
Để giải quyết các tranh chấp/ khiếu nại, ngày 21/5/2019, Chính phủ đã ban

hành Nghị định số 45/2019/NĐ- CP về quy định xử phạt hành chính. Trong đó,
các hành vi vi phạm phải chịu một trong hai cách xử phạt chính là cảnh cáo hoặc
phạt tiền. Tùy theo mức độ, tính chất vi phạm, cá nhân, tổ chức có hành vi vi
phạm hành chính trong hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải khách du lịch.
Ngoài ra để giải quyết tranh chấp, trong thực tế hiện nay có bốn phương
thức chính sau:
- Giải quyết thông qua thương lượng: Đây là phương thức được các bên
tranh chấp lựa chọn trước tiên và trong thực tiễn phần lớn các tranh chấp trong
kinh doanh, thương mại đều được giải quyết bằng phương thức này.
- Giải quyết tranh chấp thơng qua hịa giải: Đây là phương thức mà các
bên tranh chấp thông qua bên trung gian để cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để đi
đến thống nhất một phương án giải quyết bất đồng giữa khách du lịch và doanh
nghiệp.
- Giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài: Đây là hình thức mà các bên
thỏa thuận đưa ra tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ ra giải quyết tại trọng
Trang 19


tài và sau khi được trọng tài sau khi xem xét sự việc tranh chấp sẽ đưa ra phán
quyết có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên.
- Hình thức cuối cùng là giải quyết tranh chấp thơng qua Tòa án: Đây là
phương thức giải quyết tranh chấp mà các bên thông qua cơ quan tiến hành tố
tụng để giải quyết.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương I đã cho có cái nhìn chung về những khái niệm, đặc điểm, vai trò
cũng như ý nghĩa của hoạt động kinh doanh dịch vụ khách sạn. Sự hình thành và
phát triển ngành du lịch nói chung cũng như sự phát triển của ngành kinh doanh
dịch vụ lưu trú nói riêng là biểu hiện tích cực của mơ hình mới trong điều kiện
nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
Trong thời điểm hiện nay, pháp luật đã trở thành một bộ phận cấu thành

của nền kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng. Dựa vào pháp luật, các
doanh nghiệp và khách hàng sẽ có những thống nhất, sự thỏa thuận công bằng
thông qua hợp đồng được tuân thủ theo các quy định, yêu cầu của Nhà nước, của
các cấp quản lý...
Tựu chung lại chương I cung cấp một cái nhìn từ tổng quan đến chi tiết về
kinh doanh khách sạn và pháp luật trong kinh doanh khách sạn từ đó hiểu được
tầm quan trọng của pháp luật, điều kiện cần và đủ để thành lập một doanh
nghiệp khi muốn kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ khách sạn, đi kèm với đó là
cách giải quyết và xử lí vi phạm.

Trang 20


HƯƠNG 2. THỰC TẾ ÁP DỤNG TẠI KHÁCH SẠN SUNWAY HANOI
2.1 Giới thiệu về khách sạn Sunway Hanoi
2.1.1

Thông tin chung về khách sạn
Tên đơn vị: Khách sạn Sunway Hanoi, Công ty TNHH Một Thành Viên
Khách Sạn Sunway Hà Nội tại số 19, Phạm Đình Hổ, Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Website:
Tel: 024 39713888
Khách sạn Sunway Hanoi (Sunway Hotel Hanoi) trực thuộc Tập đoàn
Sunway International Hotels & Resorts, là một tập đoàn quốc tế chuyên nghiệp
về quản lý và dịch vụ tại Malaysia, hiện đang quản lý 13 khách sạn và khu nghỉ
mát đa quốc gia với tổng số hơn 3.000 phịng nghỉ.
Tại Việt Nam, Tập đồn Sunway International Hotels & Resorts đang kinh
doanh khách sạn tiêu chuẩn 4 sao quốc tế Sunway Hotel Hanoi với 143 phòng
nghỉ tiêu chuẩn quốc tế, được thành lập vào năm 1998.
Kinh doanh tới cuối năm 2010, tồn bộ phịng nghỉ của khách sạn được

cải tạo và nâng cấp, với hệ thống của sổ bằng kính cách âm, mang đến cho
khách hàng cảm giác yên tĩnh tuyệt đối, đây là điểm khác biệt đặc trưng của
Khách sạn Sunway Hanoi so với các khách sạn khác trong khu vực tại thời điểm
đó.
Tháng 9 năm 2012, Khách sạn Sunway Hanoi hoàn thiện nâng cấp khu
vực nhà hàng và sảnh khách sạn, mở ra cho khách hàng một khơng gian hồn
tồn mới để tận hưởng trọn vẹn dịch vụ tại khách sạn.
Năm 2014, Khách sạn Sunway Hanoi hoàn thành dự án xây dựng khu vực
của khách VIP đặt tại tầng 7 của khách sạn, hiện là Club Lounge, là không gian

Trang 21


×