Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

Tóm tắt đề tài nghiên cứu Chỉ số Hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (186.32 KB, 11 trang )

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh đã hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), với kế hoạch đã được thông
qua tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 14 ở Thái Lan (năm 2015), quy định cụ thể các biện pháp
nhằm thực hiện bốn trụ cột của AEC gồm: (1) Thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất; (2) Một khu
vực kinh tế cạnh tranh; (3) Một khu vực phát triển đồng đều và (4) Hội nhập với nền kinh tế toàn cầu.
Bên cạnh đó, Hiệp định Đối tác Tồn diện và Tiến bộ xun Thái Bình Dương (CPTPP) đã chính thức
có hiệu lực từ ngày 30/12/2018 đối với 11 nước thành viên (trong đó có Việt Nam) và việc thực hiện
các hiệp định thương mại giữa Việt Nam với các nước, nhất là Hàn Quốc, Nhật Bản. Các diễn biến hội
nhập quốc tế này đã và đang tác động đến nhiều mặt đời sống KT-XH, thúc đẩy tiến trình cải cách thể
chế của Việt Nam nói chung và các địa phương nói riêng.
Trong cơng tác HNKTQT, tỉnh Bình Định đã ban hành các văn bản chỉ đạo và triển khai nhiều
hoạt động trên địa bàn. Tuy nhiên, theo xếp hạng Chỉ số năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa
phương, năm 2012 Bình Định chỉ đạt ở mức thấp, cuối nhóm trung bình (xếp hạng 40/63), 8 trụ cột
gồm: thể chế, cơ sở hạ tầng, văn hóa, đặc điểm tự nhiên, con người, thương mại, đầu tư và du lịch đạt
trung bình thấp. Do đó, cần có những đánh giá khách quan về thực trạng và tiềm năng HNKTQT của
tỉnh hiện nay. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn này, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định giao Viện Nghiên
cứu phát triển KT- XH thực hiện Đề tài “Đánh giá chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế (PEII) của tỉnh
Bình Định” (Quyết định số 848/QĐ-UBND ngày 16/3/2018).
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu với mục tiêu đánh giá chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế tỉnh Bình Định năm
2017; đề xuất giải pháp nâng cao năng lực hội nhập kinh tế quốc tế tỉnh Bình Định đến năm 2025.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương, thang đo
năng lực hội nhập kinh tế quốc tế ở phạm vi tỉnh Bình Định trong năm 2017.
4. Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng
Đề tài đã sử dụng tổng hợp các phương pháp và kỹ thuật sau: (1) Phương pháp phân tích - tổng
hợp để khái quát hóa Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương; tính tốn điểm số năng lực hội
nhập kinh tế quốc tế của Bình Định theo Niên giám thống kê, các sở, ngành cung cấp; (2) Phương
pháp bảng câu hỏi “8 đóng” để phỏng vấn trực tiếp 300 đối tượng trên địa bàn tỉnh Bình Định; (3) Kế


thừa từ mơ hình nghiên cứu “8 trụ cột” đã được Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế Việt Nam
công bố trong báo cáo Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương năm 2013; các phần mềm
EXCEL, EViews và SPSS được sử dụng để xử lý, tổng hợp và phân tích thống kê dữ liệu thứ cấp và sơ
cấp.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của đề tài gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan về chỉ
số hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương (PEII); Chương 2: Đánh giá chỉ số hội nhập kinh tế quốc
tế của tỉnh Bình Định; Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực hội nhập kinh tế quốc tế tỉnh Bình Định
đến năm 2025.
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CHỈ SỐ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CẤP ĐỊA PHƯƠNG
1. Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương
1.1. Khái niệm về năng lực hội nhập kinh tế quốc tế ở địa phương
Hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia là quá trình liên tục, biểu thị bằng kết quả: tăng
trưởng thương mại bền vững, sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, điểm đến du
lịch đối với du khách nội địa và quốc tế; được nhiều sự kỳ vọng và mong muốn đến sống, học tập và
1


làm việc của cư dân từ các quốc gia, lãnh thổ khác. Để đạt được những kết quả này, một quốc gia
không chỉ dừng lại ở việc tham gia vào các tổ chức quốc tế, khu vực hoặc tích cực tham gia các hiệp
định đa phương, song phương với các quốc gia khác, mà cịn phải thúc đẩy q trình phát triển nội sinh
của chính các “địa phương” cấu thành nên quốc gia đó.
Như vậy, năng lực HNKTQT của địa phương là khái niệm được tiếp cận để tìm hiểu khả năng
khai thác và thu hút các nguồn lực của chính quyền, người dân và các tổ chức trong địa phương.
Nguồn lực đó là: lợi thế kinh tế địa lý để thu hút dòng dịch chuyển thương mại, đầu tư, văn hóa, con
người, tri thức. Từ đó, xây dựng địa phương trở thành đơn vị trung chuyển hoặc đích đến nhằm lưu giữ
lợi ích cho địa phương; hoặc là cách thức sắp xếp các nguồn lực hiện tại để thu hút các nguồn lực từ
bên ngoài hoặc phát triển các nguồn lực từ bên trong ra bên ngoài theo hướng phù hợp với mục tiêu và
kỳ vọng ở tương lai.

1.2. Chỉ số Hội nhập kinh tế quốc tế
“Chỉ số hội nhập kinh tế cấp địa phương” đã được Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế
Việt Nam công bố năm 2011 và 2013 trong báo cáo “Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa
phương” . Báo cáo này đánh giá thực trạng hội nhập của các nền kinh tế địa phương với phần còn lại
của thế giới, trong đó đặc biệt là hội nhập vào nền kinh tế tồn cầu thơng qua thang đo lường “Chỉ số
hội nhập kinh tế cấp địa phương”.
Dựa trên phương pháp tư duy hệ thống, khái qt hóa các dịng vật chất dịch chuyển giữa một
địa phương (được giới hạn bởi ranh giới hành chính của địa phương) với phần còn lại của thế giới (địa
phương khác và quốc tế) để xem xét mức độ thu hút các nguồn lực dịch chuyển cho mục tiêu tăng
trưởng và phát triển.
Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương được tổng hợp, tính tốn từ 8 trụ cột chính, bao
gồm: 4 trụ cột nhân tố động: (1) Thương mại, (2) Đầu tư, (3) Du lịch, (4) Con người; 4 trụ cột tĩnh
gồm: (1) Cơ sở hạ tầng, (2) Văn hóa, (3) Đặc điểm tự nhiên địa phương, (4) Thể chế. Mức độ hội nhập
đơn giản được đo lường dựa trên cách tiếp cận về dịch chuyển nguồn lực giữa các địa điểm về mặt số
lượng, chất lượng, cường độ với mức độ mạnh hay yếu trong hội nhập kinh tế.
2. Thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh Bình Định
2.1. Thách thức đối với quá trình đổi mới cải cách thể chế và luật pháp
Bình Định đang phải đối mặt với thách thức lớn nhất chính là cải cách thể chế và pháp luật.
Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng, điều kiện đủ cho việc thu được lợi ích từ hội nhập chính là cải cách bên
trong nội bộ địa phương. Quá trình cải cách thể chế được xem là thách thức lớn và nghiêm trọng nhất
của chính quyền địa phương, đặc biệt là tính minh bạch, thủ tục hành chính, sự bình đẳng giữa DN có
vốn nhà nước và DN tư nhân. Mặc dù, Bình Định đã có những hành động nỗ lực cải cách thể chế, cải
cách thủ tục hành chính nhưng nhìn chung mơi trường kinh doanh tại Bình Định vẫn cịn tồn tại và yếu
kém.
2.2. Thách thức đối với năng lực thực thi chính sách của các cơ quan quản lý nhà nước
Trong điều kiện HNKTQT và việc áp dụng triệt để cơ chế ISDS, cho phép nhà đầu tư được
kiện chính quyền nơi nhận đầu tư ra Trọng tài quốc tế độc lập. Đây là vấn đề lớn mà các cơ quan quản
lý Nhà nước tại Bình Định cần lưu ý: các vụ kiện kiểu này, chính quyền khơng bao giờ có lợi, thậm chí
ln đứng trước nguy cơ bị thiệt hại lớn. Cơ chế này sinh ra các nguy cơ kèm theo, sẽ là một sức ép để
buộc các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đầu tư tại Bình Định phải hành xử đúng nguyên tắc và

pháp luật, tránh để bị kiện.
Ở Bình Định, mặc dù đa phần cán bộ, cơng chức, viên chức (CBCCVC) đã có quan tâm, nắm
bắt các kiến thức cơ bản về hội nhập (62%), nhưng vẫn cịn một bộ phận khơng nhỏ chỉ biết sơ sơ
(34%) hoặc không quan tâm đến hội nhập (4%). Đây thực sự là một thách thức đối với vấn đề hội nhập
kinh tế quốc của địa phương.
2.3. Thách thức về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
2


Quá trình tái cấu trúc khu vực DN nhà nước vẫn diễn ra một cách chậm chạp, dàn trải và thiếu
đột phá… Đối với các DN tư nhân, điểm yếu của khu vực này là tư duy kinh doanh ngắn hạn, thiếu
chiến lược và thiếu tính hợp tác. Để vượt qua các rào cản kỹ thuật, môi trường trong hội nhập, địi hỏi
DN phải có sự lựa chọn, theo dõi những thay đổi trong chính sách của các thị trường mục tiêu. Từ đó,
chủ động chuẩn bị các biện pháp vượt qua rào cản chứ không phải chuyển từ thị trường này sang thị
trường khác. Trong cách tiếp cận này, đòi hỏi các DN phải xác định và tập trung khai thác lợi thế của
mình và hợp tác với các đối tác phù hợp để có thể cùng nhau tiếp cận thị trường. Chính điều này địi
hỏi sự thay đổi tư duy kinh doanh của các DN Việt Nam nói chung và DN Bình Định nói riêng.
2.4. Thách thức trong thu hút đầu tư
- Đối với thu hút đầu tư: Kết quả chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của Tỉnh. Một số
thách thức trong quá trình thu hút đầu tư bao gồm: Vị trí địa lý nằm cách xa các trung tâm kinh tế lớn
của cả nước, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài; nguồn nhân lực
chưa đáp ứng đủ nhu cầu của nhà đầu tư cả về số lượng và chất lượng; hệ thống thông tin dữ liệu về
kinh tế - xã hội tỉnh còn hạn chế, chưa cung cấp kịp thời cho nhà đầu tư.
2.5. Thách thức về cạnh tranh đối với một số ngành kinh tế trọng điểm của địa phương
- Đối với ngành may mặc: có sự phát triển nhanh về số lượng, nhưng hầu hết ngành may mặc
Bình Định đều là “may gia công” bị phụ thuộc nhiều vào các DN nước ngoài và các doanh nghiệp
FDI.
- Đối với ngành gỗ: Nguyên liệu chế biến sản phẩm gỗ của Bình Định phụ thuộc nhập khẩu
trên 80% và chiếm trên 50% giá thành sản phẩm; thị trường sản phẩm gỗ các nước phát triển như EU,
Mỹ, Úc ngày càng có nhiều rào cản khắt khe quy định về tính hợp pháp của các sản phẩm gỗ nhập

khẩu. Đây là thách thức tiêu biểu của ngành gỗ của tỉnh, bên cạnh chất lượng nguồn lao động trong
ngành cịn ở mức hạn chế, cơng nghệ tương đối thấp.
- Đối với ngành thủy sản: Việc giảm thuế quan đã dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng trong luồng
hàng nhập khẩu từ các nước thanh viên trong từng Hiệp định vào Việt Nam với giá cả cạnh tranh; lao
động ngành thủy sản của địa phương không ổn định, đặc biệt là trong lĩnh vực khai thác; cơ chế giám
sát cùng với chế tài đặt ra trong các Hiệp định liên quan đã tạo ra khơng ít thách thức đối với DN khi
tham gia vào các chuỗi cung ứng xuất khẩu.
- Đối với Chăn ni: Hiện có quy mơ nhỏ lẻ chiếm tỷ lệ cao, sản xuất cịn manh mún, tự phát;
đầu vào của ngành chăn nuôi địa phương ngày càng trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào các tập đồn
nước ngồi; xu hướng làm gia cơng cho các cơng ty nước ngồi của các trang trại ngày càng lớn.
3. Kinh nghiệm đánh giá năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương ở Việt Nam
Một số tổ chức thể hiện sự quan tâm đến việc đánh giá mức độ hội nhập kinh tế quốc tế như
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) thông qua việc đầu tư cho các báo cáo về mức độ hội nhập. Nội
dung các báo cáo đi sâu vào phân tích khối lượng giao dịch thương mại, đầu tư trực tiếp để đánh giá
tiến trình hội nhập của các quốc gia thành viên bên cạnh việc phân tích hiệu quả chính sách thu hút
vốn đầu tư, chính sách thúc đẩy kinh doanh.
Một số báo cáo lựa chọn chủ thể nghiên cứu là các thành phố, như loạt báo cáo về hội nhập
kinh tế của tổ chức CEOs for Cities đã xem xét mức độ hội nhập kinh tế của các thành phố ở Hoa Kỳ
dưới góc nhìn của một thành phố “có tính kết nối” thơng qua đối ứng của chỉ số đồng dạng
(dissimilarity index) với giả thiết rằng hội nhập cao nhất về kinh tế là khi mọi nhóm người ở các khu
vực lân cận nhau có cùng chung mức thu nhập.
Có thể thấy, bên cạnh những nghiên cứu tập trung đánh giá về tiến trình hội nhập, một số khác
đi theo hướng đề xuất chỉ số nhằm xếp hạng và mơ tả bức tranh tồn cảnh về năng lực và mức độ hội
nhập trên các góc độ nghiên cứu khác nhau như Chỉ số hội nhập thương mại Bắc Mỹ, Chỉ số hội nhập
kinh tế tổng hợp của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Chỉ số phụ thuộc thương mại trong khu vực,
Chỉ số hội nhập kinh tế, Chỉ số phát triển kinh tế bền vững, Chỉ số tự do kinh tế.
3


Được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và vận dụng kinh nghiệm các chuyen gia trong và ngoài

nước, Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế của Việt Nam nghiên cứu xây dựng “Chỉ số hội nhập
kinh tế quốc tế cấp địa phương” và được đề cập lần đầu vào năm 2011 trong “Báo cáo năng lực hội
nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương” và lần thứ hai vào 2013.
4. Mơ hình và phương pháp xác định Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương áp
dụng cho tỉnh Bình Định
4.1. Các mơ hình nghiên cứu
- Mơ hình Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương: do Ủy ban Quốc gia về Hợp tác
Kinh tế quốc tế phối hợp thực hiện, nhằm đánh giá thực trạng HNKTQT của các tỉnh thành Việt Nam
năm 2010 và 2012. Mơ hình này được phân tích đánh giá trên cơ sở 8 trụ cột, mỗi trụ cột có một số
tiêu chí và xem xét dựa trên một số chiều kích khác nhau.
- Mơ hình đánh giá của Châu Âu: Liên minh Châu Âu sử dụng 4 chỉ số thành phần để đánh giá
hội nhập kinh tế; Ngân hàng Trung ương châu Âu sử dụng 4 chỉ tiêu đánh giá hội nhập kinh tế (khơng
bao gồm hội nhập về thể chế).
- Mơ hình đánh giá của các nước ASEAN: xây dựng một nhóm các chỉ số hội nhập của khu vực
ASEAN, bao gồm các chỉ số: thương mại hàng hóa, đầu tư, thương mại về tài chính và các dịch vụ
khác, cơ sở hạ tầng, khách hàng, tiêu chuẩn, đánh giá và đồng thuận chung, DN nhỏ và vừa, e-ASEAN
và sở hữu trí tuệ.
- Mơ hình đánh giá của khối thị trường chung Trung Đơng và Nam Phi: Sử dụng 12 nhóm yếu
tố để đánh giá hội nhập kinh tế.
- Mơ hình đánh giá của các nước Châu Phi: xây dựng tám “nhóm hoạt động” hội nhập kinh tế.
- Chỉ số hội nhập kinh tế tổng hợp của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: được kế thừa từ chỉ
số phát triển con người của UNDP và bộ chỉ số LIS (Lisbon Strategy Indicators) của Liên minh Châu
Âu.
Những mơ hình dùng để đánh giá năng lực hội nhập đều có những điểm mạnh và điểm yếu
khác nhau. Ngoài ra, để sử dụng hiệu quả một mơ hình đánh giá năng lực hội nhập của một quốc gia,
một khu vực cụ thể thì cần phải tính đến những đặc thù riêng của từng quốc gia, khu vực. Đối với bối
cảnh Việt Nam, mô hình “Chỉ số hội nhập kinh tế cấp địa phương” đã được Ủy ban Quốc gia về Hợp
tác Kinh tế quốc tế xây dựng và thực hiện đánh giá năm 2013. Đây là mơ hình cơ bản được sử dụng
trong nghiên cứu hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương của tỉnh Bình Định.
4.2. Phương pháp xác định chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương áp dụng cho

tỉnh Bình Định
- Nguồn dữ liệu sử dụng: Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ hai nguồn chính.
Dữ liệu thứ cấp, được thống kê và tổng hợp từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Định, các cơ quan quản
lý Nhà nước theo lĩnh vực có liên quan. Dữ liệu sơ cấp, được thu thập từ kết quả điều tra khảo sát mẫu
với quy mô 300 phiếu phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi do nhóm nghiên cứu thực hiện.
- Các trụ cột về năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương: đề tài đã xây dựng hệ thống
8 trụ cột với hệ thống các tiêu chí nền và chỉ tiêu cụ thể. Trong đó, một số chỉ tiêu đã được bổ sung,
điều chỉnh để phù hợp hơn với thực tiễn ở Bình Định như sau: (1) Trụ cột Thương mại theo 3 tiêu chí:
Thương mại địa phương, Xuất khẩu, Nhập khẩu; (2) Trụ cột Đầu tư theo 4 tiêu chí: Đầu tư (FDI), Đầu
tư của Chính phủ, Yếu tố thu hút đầu tư, Khả năng tiếp cận vốn và giải ngân của DN; (3) Trụ cột Du
lịch theo 2 tiêu chí: Thực trạng du lịch địa phương, Đánh giá của chủ thể khai thác dịch vụ du lịch địa
phương; (4) Trụ cột Con người theo 3 tiêu chí: Dân cư và đời sống, Nhân lực, Nhân dụng; (5) Trụ cột
Cơ sở hạ tầng theo 3 tiêu chí: Giao thơng, Cơng nghệ thơng tin, Điện nước; (6) Trụ cột Văn hóa theo 3
tiêu chí: Biểu tượng địa phương Giá trị và tiêu chuẩn văn hóa địa phương Đa dạng văn hóa; (7) Trụ cột
Đặc điểm địa phương theo 2 tiêu chí: Vị trí địa lý chiến lược và tác động của thời tiết, Sản phẩm đặc
trưng của địa phương; (8) Trụ cột Thể chế theo 2 tiêu chí Thực hiện trách nhiệm pháp lý, Nguyên tắc
làm việc được cộng đồng địa phương chấp nhận.
4


- Quy trình và phương pháp:
Phương pháp tính tốn cho Bình Định, áp dụng theo phương pháp được trình bày trong “Báo
cáo đánh giá Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2015” . Cụ thể, đối với dữ
liệu thứ cấp, điểm của từng trụ cột được tính bằng cách so sánh theo tỉ lệ phần trăm của từng yếu tố
cấu thành nên trụ cột của một tỉnh so với tỉnh có giá trị lớn nhất của yếu tố. Giá trị của trụ cột bằng giá
trị trung bình của các yếu tố thành phần. Đối với dữ liệu sơ cấp, việc tính điểm trung bình của từng yếu
tố được tính trên thang điểm likert 5 mức. Sau đó, điểm trung bình của từng trụ cột cũng sẽ được tính
bằng điểm trung bình của tất cả các yếu tố trong trụ cột đó. Điểm số cuối cùng của từng cột trụ được
tính theo bằng trung bình cộng của điểm theo số liệu thứ cấp và điểm theo số liệu sơ cấp. Điểm của chỉ
số hội nhập cấp tỉnh của Bình Định bằng trung bình cộng điểm của 8 trụ cột cấu thành.

Tiểu kết Chương 1:
(1) Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương đã được Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế
quốc tế Việt Nam công bố năm 2011 và 2013. Theo đó, PEII được tổng hợp, tính tốn theo 8 trụ cột,
bao gồm: 4 trụ cột nhân tố tĩnh: Cơ sở hạ tầng, Văn hóa, Đặc điểm tự nhiên địa phương, Thể chế; 4 trụ
cột nhân tố động: Thương mại, Đầu tư, Du lịch, Con người.
(2) Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tỉnh Bình Định gặp một số thách thức sau: Mơi
trường kinh doanh cịn tồn tại, hạn chế trong cải cách thủ tục hành chính; một bộ phận khơng nhỏ
CBCCVC chưa quan tâm đến hội nhập; doanh nghiệp hầu hết có quy mơ vừa và nhỏ hoặc siêu nhỏ,
năng lực cạnh tranh hạn chế; thu hút đầu tư chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của Tỉnh; sức
cạnh tranh của một số ngành kinh tế trọng điểm: ngành may mặc chủ yếu là “may gia công” bị phụ
thuộc nhiều vào các doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp FDI, nguyên liệu ngành gỗ phụ
thuộc nhập khẩu, hàng thủy sản giảm thuế quan đã dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt, chăn ni có quy
mơ nhỏ lẻ chiếm tỷ lệ cao, sản xuất còn manh mún, tự phát.
(3) Kinh nghiệm đánh giá năng lực HNKTQT cấp địa phương ở Việt Nam chưa nhiều. Ủy ban
Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế của Việt Nam nghiên cứu xây dựng “Chỉ số hội nhập kinh tế quốc
tế cấp địa phương” và được đề cập lần đầu vào năm 2011 và lần thứ hai vào 2013. Trong đó, nhờ sự hỗ
trợ của các tổ chức quốc tế và vận dụng kinh nghiệm các chun gia ngồi nước là chủ yếu.
(4) Mơ hình và phương pháp xác định chỉ số HNKTQT cấp địa phương áp dụng cho tỉnh Bình
Định: Về mơ hình: Phân tích 7 mơ hình nghiên cứu đánh giá năng lực hội nhập kinh tế, rút ra những
điểm mạnh và điểm yếu khác nhau. Từ đó, nhóm tác giả sử dụng mơ hình “Chỉ số hội nhập kinh tế cấp
địa phương” đã được Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế quốc tế xây dựng và thực hiện đánh giá năm
2013 áp dụng cho Bình Định. Về phương pháp: Cơ bản sử dụng phương pháp do Ủy ban Quốc gia về
hợp tác kinh tế quốc tế của Việt Nam nghiên cứu xây dựng, đã được áp dụng đối với tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu.
Chương 2
ĐÁNH GIÁ CHỈ SỐ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
CỦA BÌNH ĐỊNH
Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương năm 2017 đối với tỉnh Bình Định đã được đo
lường theo hai nguồn dữ liệu: (1) Số liệu thống kê; (2) Số liệu điều tra khảo sát chọn mẫu. Để phù hợp
với các phương pháp tính PEII hiện đang sử dụng, đồng thời khắc phục các yếu tố sai lệch từ hai

nguồn dữ liệu, đề tài xác định chỉ số hội nhập kinh tế quốc của tỉnh Bình Định năm 2017 là bình quân
của hai kết quả đo lường đã thực hiện.
1. Trụ cột Thương mại
Trụ cột Thương mại đạt 37,06/100 điểm, là trụ cột có điểm số thấp sau trụ cột Đầu tư. Kết quả
này được xem xét từ các khía cạnh như sau: chất lượng hạ tầng phân phối thương mại như Chợ, Siêu
thị, Trung tâm thương mại,… được đánh giá tốt hơn, có khả năng cung cấp đa dạng các mặt hàng, đáp
ứng với nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ buôn bán, thương mại
được đánh giá tốt; chất lượng sản phẩm phân phối trong hệ thống thương mại và tình hình xuất - nhập
của địa phương cũng được đánh giá khá. Tuy nhiên, yếu tố dịch vụ thương mại và liên kết của DN ở
5


địa phương chỉ được đánh giá ở mức trung bình, chưa phát huy hết vai trò trong bối cảnh HNKTQT ở
địa phương, do kinh doanh nhỏ lẻ còn lớn, hạn chế về tư duy và kiến thức hội nhập kinh tế của các
tầng lớp kinh doanh, phân phối. Từ đó, có thể thấy điểm chung trong đánh giá của các đối tượng khảo
sát đối với trụ cột thương mại của Bình Định khá tích cực và cịn nhiều dư địa phát triển để nâng cao
năng lực HNKTQT.
2. Trụ cột Đầu tư
Trụ cột Đầu tư đạt 33,66/100 điểm, là mức thấp nhất trong 8 trụ cột. Kết quả này phản ảnh từ
những yếu tố chính sau: giải ngân nguồn vốn đầu tư vẫn còn hạn chế; số dự án và lượng vốn thu hút
đầu tư được nhiều và lớn hơn, nhưng chất lượng dự án còn hạn chế, nên chưa đáp ứng được kỳ vọng
của các đối tượng khảo sát. Từ đó, có thể thấy, Bình Định đang có những bước phát triển bước đầu tích
cực về vấn đề thu hút đầu tư và cần phải tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong thời gian tới.
3. Trụ cột Du lịch
Trụ cột Du lịch đạt 38,33/100 điểm. Kết quả này phản ảnh từ những yếu tố chính sau: chất
lượng phương tiện vận tải phục vụ du lịch được đánh giá khá tốt. Tuy nhiên, số lượng và chất lượng
sản phẩm du lịch không được đánh giá cao; quảng bá, xúc tiến và tiếp thị du lịch đến đối tác nước
ngồi cịn yếu và thiếu; chuẩn hóa dịch vụ du lịch tiến hành còn chậm chạp; quản lý nhà nước đối với
dịch vụ du lịch cịn hạn chế. Bên cạnh đó, du lịch Bình Định đã thu hút được lượt khách đến địa
phương khá cao, nhưng mức chi tiêu bình quân/du khách và thu ngân sách từ hoạt động dịch vụ du lịch

còn thấp.
4. Trụ cột Con người
Trụ cột Con người đạt 45,79/100 điểm. Kết quả này phản ảnh từ những yếu tố chính sau: tỷ lệ
thất nghiệp và hộ nghèo tương đối thấp; an ninh, trật tự và an toàn xã hội khá tốt; chất lượng phục vụ
về giáo dục và y tế đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân; có một số chính sách hỗ trợ phát triển
nguồn nhân lực. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, đặc biệt nhân lực chất lượng cao còn
thấp so với nhu cầu phát triển chung của cả nước.
5. Trụ cột Cơ sở hạ tầng
Trụ cột Cơ sở hạ tầng đạt 44,80/100 điểm. Kết quả này phản ảnh từ những yếu tố chính sau: hệ
thống giao thơng đường bộ, đường thủy, đường hàng không đáp ứng tốt nhu cầu di chuyển trong và kết
nối ra ngoài tỉnh; hạ tầng viễn thông hiện đại; hạ tầng điện, nước phục vụ tốt cho sinh hoạt và sản xuất.
Tuy nhiên; hạ tầng về xã hội chưa đáp ứng nhu cầu của người dân, như nhà ở xã hội, cơng trình vệ sinh
cơng cộng, hạng mục phục vụ cho người khuyết tật. Đây là yêu cầu chính đáng, nhưng nguồn lực đầu
tư của tỉnh còn hạn chế, chưa đáp ứng được.
6. Trụ cột Văn hóa
Trụ cột Văn hóa đạt 49,10/100 điểm. Kết quả này phản ảnh từ những yếu tố chính sau: các di
sản có giá trị văn hóa bản địa đang được bảo tồn và phát triển tốt, đã góp phần tạo dựng biểu tượng địa
phương Bình Định. Tuy nhiên, yếu tố này sẽ cản trở năng lực hội nhập quốc tế của địa phương nếu
không xử lý phù hợp mâu thuẫn ngày càng lớn giữa bảo tồn và phát triển, giữa hòa nhập và hòa tan.
7. Trụ cột Đặc điểm địa phương
Trụ cột Đặc điểm địa phương đạt 57,99/100 điểm, là trụ cột được đánh giá cao nhất trong 8 trụ
cột. Kết quả này phản ảnh từ những yếu tố chính sau: điều kiện bất lợi của thời tiết, khí hậu đối với địa
phương được người dân nhận thức khá tốt, đã góp phần phịng ngừa, giảm thiểu tác hại đến hoạt động
sản xuất, kinh doanh của người dân, đồng thời đang khai thác hiệu quả lợi thế về vị trí địa lý, cảnh
quan thiên nhiên, sản phẩm đặc trưng phục vụ phát triển KT- XH. Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường do
con người tạo ra ngày càng lớn, chậm được khắc phục triệt để sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả
của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
8. Trụ cột Thể chế
Trụ cột Thể chế đạt 53,59/100 điểm, được đánh giá ở mức trung bình, thấp hơn trụ cột đặc
6



điểm địa phương. Kết quả này phản ảnh từ những yếu tố chính sau: cải cách thủ tục hành chính, thực
thi pháp luật, cải thiện môi trường và thái độ phục vụ người dân của cán bộ, công chức đều được chính
quyền địa phương thực hiện khá nghiêm túc và có hiệu quả bước đầu. Tuy nhiên, chính quyền chưa
chủ động (phần lớn là bị động) và tích cực trong việc giải quyết các vướng mắc về thủ tục hành chính,
tạo cơ chế thuận lợi hơn cho người dân, DN trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Do đó, người đứng
đầu các cấp chính quyền địa phương cần chủ động nâng cao năng lực lắng nghe và thấu hiểu để giải
quyết nhanh chóng, hiệu quả mọi vấn đề phát triển kinh tê và dân sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.
Như vậy, tổng hợp chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh Bình Định trong năm 2017 chỉ đạt
46,33/100 điểm, ở mức dưới trung bình. Đây là kết quả còn rất khiêm tốn đối với một địa phương có
khơng ít thế mạnh về nguồn tài ngun đa dạng, phong phú, thời tiết và khí hậu có phần thuận lợi, có
di sản văn hóa và sản phẩm đặc trưng cùng với trật tự – an ninh – an toàn xã hội tốt và giữ vững ổn
định. Tuy nhiên, chưa khai thác hiệu quả tiềm năng vốn có của tỉnh, do còn nhiều vướng mắc trong thu
hút đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách nhân dụng...
Tiểu kết Chương 2:
(1) Kết quả đánh giá 8 trụ cột thành phần của PEII Bình Định năm 2017 theo số liệu khảo sát,
được xếp theo điểm từ cao đến thấp: Thể chế (71,4 điểm); Văn hoá (70,1 điểm); Đặc điểm địa phương
(69,8 điểm); Cơ sở hạ tầng (67,3 điểm); Du lịch (64,8 điểm); Thương mại (64,6 điểm); Đầu tư (64,2
điểm); Con người (63,4 điểm). Như vậy, chỉ số năng lực hội nhập kinh tế quốc tế năm 2017 của Bình
Định thơng qua khảo sát với điểm bình quân là 66,9 điểm, có thể đánh giá đạt mức trung bình khá. Kết
quả này cho thấy thứ tự sắp xếp các trụ cột thành phần theo dữ liệu khảo sát và thống kê được khái
quát dưới đây là phù hợp.
(2) Kết quả đánh giá 8 trụ cột thành phần của PEII Bình Định năm 2017 theo số liệu thống kê,
được xếp theo điểm từ cao đến thấp: Văn hóa (49,10 điểm); Đặc điểm địa phương (46,17 điểm); Thể
chế (35,78 điểm); Con người (28,19 điểm); Cơ sở hạ tầng (22,34 điểm); Du lịch (11,87 điểm); Thương
mại (9,56 điểm), là trụ cột có điểm số thấp sau trụ cột Đầu tư; Trụ cột Đầu tư (3,11 điểm), là mức thấp
nhất. Như vậy, chỉ số năng lực hội nhập kinh tế quốc tế năm 2017 của Bình Định theo chỉ tiêu thống kê
kinh tế - xã hội với điểm bình quân là 25,77 điểm, đạt ở mức dưới trung bình. Từ đó cho thấy, địa
phương đã cố gắng duy trì tốc độ phát triển kinh tế của địa phương, nhưng cịn gặp nhiều khó khăn

trong phát triển thương mại và thu hút đầu tư.
(3) Kết quả đánh giá tổng hợp chỉ số PEII Bình Định năm 2017 cho thấy năng lực hội nhập
kinh tế quốc tế cấp địa phương tỉnh Bình Định ở mức trung bình về phía cận dưới. Trong đó, có hai chỉ
số thành phần thuộc trụ cột Đặc điểm địa phương (57,99 điểm) và trụ cột Thể chế (53,59 điểm) đạt ở
mức trung bình về phía cận trên; 06 trụ cột cịn lại đạt mức trung bình về phía cận dưới, theo thứ tự:
Văn hóa (49,10 điểm), Con người (45,79 điểm), Cơ sở hạ tầng (44,80 điểm), Du lịch (38,33 điểm),
Thương mại (37,06 điểm), Đầu tư (33,66 điểm). Bên cạnh đó, Nhóm tác giả đã chỉ ra các yếu tố chính
hiện hữu và tiềm năng tác động đến năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của Bình Định.
Chương 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH
ĐẾN NĂM 2025
1. Khuyến khích thu hút vốn đầu tư
Bình Định đã xác định tập trung ưu tiên thu hút nguồn vốn đầu tư phát triển một số ngành
ngành kinh tế trọng tâm của địa phương như: du lịch, ngư nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, dịch vụ
cảng logistic, công nghiệp chế biến. Dựa trên tình hình thực tế về thu hút đầu tư, Tỉnh cần nhất quán
quan điểm và tập trung định hướng thu hút đầu tư như: Thu hút đầu tư phải đi trước một bước, chủ
động chuẩn bị kết cấu hạ tầng; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khai thác thông tin
mạng, hỗ trợ trong công tác nghiên cứu và xâm nhập thị trường; tiếp tục tập trung mời gọi nhà đầu tư
trong và ngồi nước có tiềm lực, thương hiệu mạnh để đầu tư các dự án then chốt vào các lĩnh vực mũi
nhọn; chú trọng nhóm các nhà đầu tư vừa và nhỏ nhưng có cơng nghệ sạch và cao ; tiếp tục thực hiện
chính sách hỗ trợ thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh đang áp dụng.
7


2. Thu hút du khách và phát triển du lịch
Triển khai đồng bộ, hiệu quả, bám sát Chương trình hành động số 06 - CTr/TU, Quyết định số
755/QĐ-UBND và Quyết định số 4772/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2017 kèm theo kế hoạch
điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bình Định đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 gắn với xây dựng lộ trình cụ thể đảm bảo tính khả thi, phù hợp với yêu cầu thực tế và điều kiện
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

3. Nâng cấp hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông
Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông địa phương trong bối cảnh HNKTQT, trước tiên phải phù
hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, phù hợp định hướng phát triển giao thông vận
tải cả nước và Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Để đạt được các
mục tiêu về phát triển giao thông của tỉnh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 của tỉnh Bình
Định đã được phê duyệt tại Quyết định số 3507/QĐ-UBND ngày 08/10/2015 của UBND tỉnh Bình
Định.
4. Phát triển ngành dịch vụ logictics
Giải pháp phát triển ngành Logistics Bình Định phải phù hợp với Kế hoạch phát triển dịch vụ
Logistics tỉnh Bình Định đến năm 2025 Trên cơ sở kết quả nghiên cứu được Viện đã thực hiện năm
2015.
5. Cải cách thể chế địa phương
Triển khai thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính (CCHC) của tỉnh
giai đoạn 2016 - 2020 theo Chương trình hành động số 05-CTr/TU ngày 20/10/2016 của Tỉnh ủy; các
Kế hoạch cải cách hành chính với các mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ và các biện pháp tại các Quyết
định số 536/QĐ-UBND, Quyết định số 4833/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bình Định.
Tiểu kết Chương 3:
(1) Khuyến khích thu hút nguồn vốn đầu tư: Đầu tư hồn thiện có trọng điểm kết cấu hạ tầng,
nhất là giao thông; tập trung ưu tiên mời gọi nhà đầu tư trong và ngồi nước có tiềm lực, thương hiệu
mạnh, có cơng nghệ cao thân thiện với môi trường để thu hút nguồn vốn đầu tư theo ngành kinh tế có
lợi thế của Tỉnh; tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh đang áp dụng ,
đồng thời rà sốt bổ sung mới phù hợp quy định Chính phủ và thực tế hiện nay của địa phương;
thường xuyên tiếp xúc, gặp gỡ, lắng nghe và giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc của các
doanh nghiệp, các nhà đầu tư.
(2) Thu hút du khách và phát triển du lịch: Tăng cường vai trò của cơ quan quản lý du lịch các
cấp trong việc hỗ trợ khách du lịch đảm bảo các vấn đề về giá cả, an ninh, an tồn, mơi trường du lịch;
xây dựng và thực hiện các đề án ưu tiên phát triển sản phẩm du lịch cho địa phương theo nhóm sản
phẩm du lịch chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang bản sắc văn hóa Bình Ðịnh, thân thiện với
mơi trường; tập trung thu hút có lựa chọn các phân đoạn thị trường khách du lịch, trong đó cần duy trì
thị trường truyền thống (Đông Bắc Á, ASEAN), phát triển thị trường (Tây Âu, Úc, Bắc Mỹ, Bắc Âu)

và mở rộng khai thác thị trường mới (Đông Âu, Ấn Độ, Trung Đông,...); phát triển nguồn nhân lực du
lịch, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên du lịch và chủ các DN hoạt động trong lĩnh vực du lịch, lữ
hành, lưu trú đáp ứng tốt nhu cầu phát triển ngành du du lịch của Tỉnh.
(3) Nâng cấp hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thơng: Tập trung thi cơng hồn thành các cơng trình
giao thơng trọng điểm; nâng cấp mở rộng Ga Diêu Trì, Cảng hàng khơng Phù Cát, xây dựng cảng
container có quy mô lớn và các cảng bến thuyền du lịch; phát triển hạ tầng nông thôn để phục vụ cho
phát triển nông nghiệp nông thôn, đặc biệt các xã điểm nông thôn mới; phát triển một số hạ tầng kỹ
thuật và hạ tầng khác như hạ tầng du lịch, hạ tầng đô thị, hạ tầng y tế, viễn thông, cấp thoát nước…
(4) Phát triển ngành dịch vụ logictics: Thành lập Đại lý hải quan tại Bình Định và Hiệp hội
doanh nghiệp logistics của Tỉnh; xây dựng ICD tập trung và sớm có quy hoạch cụ thể về việc xây dựng
8


trung tâm logistics lớn, kết nối với cảng biển Quy Nhơn và các khu công nghiệp trong vùng; hỗ trợ
kinh phí đào tạo nhân lực cho doanh nghiệp làm dịch vụ logistics trên địa bàn tỉnh, đồng thời đẩy
mạnh xúc tiến thương mại cho dịch vụ logistics thông qua việc tổ chức các hội thảo, tổ chức các đoàn
nghiên cứu học tập kinh nghiệm tại các tỉnh, thành phố có dịch vụ logistics phát triển để trao đổi, hợp
tác tìm cơ hội và mời gọi đầu tư để phát triển dịch vụ logistics của tỉnh.
(5) Cải cách thể chế địa phương: Triển khai thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ cải
cách hành chính (CCHC) của tỉnh giai đoạn 2016 - 2020 theo Chương trình hành động số 05- CTr/TU
ngày 20/10/2016 của Tỉnh ủy; thực hiện đúng quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL theo quy
định của Luật ban hành văn bản QPPL; thường xuyên rà sốt, bãi bỏ các TTHC khơng cịn phù hợp,
đẩy mạnh cải cách TTHC hướng tới bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong
giải quyết công việc, tạo mơi trường thơng thống, thuận lợi cho các nhà đầu tư; không ngừng đẩy
mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, cơng chức, viên chức có số lượng,
cơ cấu hợp lý, đủ trình độ năng lực thi hành cơng vụ trong các cơ quan nhà nước từ tỉnh đến cơ sở; cải
thiện các chỉ số đánh giá cấp địa phương, cụ thể gồm: PCI, PAPI, PAR- Index và SIPAS theo hướng
năm sau cao hơn năm trước, duy trì cho đến năm 2025 và các năm tiếp theo.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận

1.1. Trên cơ sở khung lý thuyết được rút ra từ mơ hình nghiên cứu “Chỉ số năng lực Hội nhập
kinh tế quốc tế cấp địa phương (PEII)” do Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế quốc tế công bố, đã
được sử dụng để đánh giá thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của các tỉnh, thành phố Việt Nam năm
2013. Đồng thời có tham khảo phương pháp tính tốn xác định Chỉ số PEII năm 2015 đối với tỉnh Bà
Rịa – Vũng Tàu để áp dụng cho trường hợp Bình Định. Ngồi ra, đề tài xác định được một số khía
cạnh mang tính khác biệt của Bình Định, từ đó có cái nhìn tồn diện hơn về năng lực hội nhập kinh tế
quốc tế của tỉnh Bình Định.
1.2. Từ kết quả thu thập, xử lý, phân tích, tổng hợp dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, đề tài đã xây
dựng được bức tranh sinh động, toàn diện về thực trạng 8 trụ cột thành phần của chỉ số PEII tỉnh Bình
Định năm 2017. Đồng thời, đã đo lường, tính tốn, xác định được từng chỉ số thành phần, chỉ số tổng
hợp của PEII Bình Định năm 2017 và kết luận “Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương tỉnh
Bình Định ở mức trung bình về phía cận dưới”. Bên cạnh đó, Nhóm tác giả đã chỉ ra các yếu tố chính
hiện hữu và tiềm năng tác động đến năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của Bình Định.
1.3. Trên cơ sở phân tích kết quả đánh giá chỉ số PEII của Bình Định năm 2017, đề tài đã đề
xuất hệ thống các giải pháp vừa có tính chiến lược, dài hạn và vừa có định hướng trọng tâm, cụ thể cần
nhanh chóng triển khai thực hiện. Trong đó cần lưu ý:
- Đối với trụ cột đầu tư ngoài việc triển khai một số ưu đãi thu hút đầu tư theo các chính sách
chung của cả nước thì Bình Định cịn nghiên cứu triển khai một số chính sách mang tính đặc trưng, tạo
mọi điều kiện thu hút các DN trong và ngoài nước đến đầu tự tại địa phương. Bên cạnh đó, nhằm nâng
cao năng lực thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn đến năm 2025 cần chú ý tập trung vào một
số chiến lược như sau: Xây dựng và triển khai các chính sách thu hút đầu tư vào ngành nông nghiệp
công nghệ cao; tiếp tục thúc đẩy quá trình giải ngân và đưa vào triển khai, hoàn thiện các dự án đầu tư
lớn, quan trọng đã đăng ký đầu tư trong giai đoạn 2016-2018; tiếp tục triển khai các hoạt động xúc tiến
đầu tư quảng bá, giới thiệu sản phẩm của tỉnh tại nước ngoài; hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp, nhà
đầu tư tìm hiểu về pháp luật, chính sách, thủ tục đầu tư; tiềm năng, thị trường, đối tác và cơ hội đầu tư;
triển khai dự án sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
- Đối với trụ cột thương mại, mà trọng tâm là ngành logistics, Bình Định cần thực hiện nhanh
chóng, bám sát tiến độ thực hiện các nội dung công việc theo Quy hoạch phát triển ngành logistics của
Bình Định đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Bên cạnh đó, về lâu dài cần thực hiện hiệu quả một số chiến
lược như sau: Thành lập Đại lý hải quan tại Bình Định; thành lập Hiệp hội doanh nghiệp logistics tỉnh

Bình Định; xây dựng cảng Container chuyên nghiệp, đầu tư nâng cấp cảng Container có sẵn.
9


- Đối với trụ cột du lịch cần thực hiện nhất quán và kiên trì các biện pháp thống nhất với Quyết
định số 4772/QĐ-UBND kèm theo kế hoạch triển khai quyết định này nhằm điều chỉnh Quy hoạch
tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bình Định đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Bên cạnh đó cần
thực hiện chiến lược phát triển du lịch địa phương như sau: Phát triển sản phẩm du lịch phù hợp với
những tiềm năng sẵn có dựa trên phân loại về mức độ ưu tiên phát triển sản phẩm du lịch cho địa
phương theo nhóm sản phẩm du lịch và những định hướng phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng các bộ
tiêu chuẩn đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch và triển khai đánh giá thường xuyên; tăng cường vai
trò của cơ quan quản lý du lịch các cấp, ban quản lý các khu/điểm du lịch trên địa bàn trong hỗ trợ
khách du lịch đảm bảo các vấn đề về giá cả, an ninh, an tồn, mơi trường du lịch; xây dựng kế hoạch
xúc tiến, thu hút khách du lịch quốc tế và nội địa dựa trên các đánh giá về thị trường ưu tiên mục tiêu;
liên kết đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch, và cán bộ phục vụ trong ngành du lịch.
- Để nâng cao điểm số của trụ cột cơ sở hạ tầng Bình Định trong giai đoạn đến thì việc hồn
thiện cơ sở hạ tầng giao thơng đóng vai trị vơ cùng quan trọng và cấp thiết.Việc phát triển cơ sở hạ
tầng giao thông địa phương phải phù hợp với các quy hoạch chung của trung ương, tỉnh về phát triển
hạ tầng giao thông; cụ thể phải bám sát các quan điểm, mục tiêu và chiến lược phát triển đã được phê
duyệt trong Quyết định số 3507/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bình Định ngày 08/10/2015 về việc Phê
duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển giao thông vận tải tỉnh Bình Định đến năm 2020 và định hướng
đến năm 2030.
- Trong bối cảnh HNKTQT ở Bình Định, vấn đề cải cách thể chế luôn được quan tâm sâu sắc.
Dựa trên các tham khảo từ Quyết định số 536/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bình Định ngày 24/02/2017
và Quyết định số 4833/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bình Định ngày 26/12/2017, nghiên cứu đã trình
bày một số biện pháp nhằm nâng cao chỉ số HNKTQT của trụ cột này, tập trung vào một số các khía
cạnh như: Cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy; xây dựng và nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cơng chức, viên chức. Bên cạnh đó, cần triển khai kiên trì các chiến
lược cải cách thể chế, bao gồm: Cải thiện các chỉ số đánh giá cấp địa phương (PCI, PAPI, PAR- Index
và SIPAS theo hướng năm sau cao hơn năm trước; xây dựng hiệu quả kênh kết nối và phản hồi thơng

tin giữa chính quyền và doanh nghiệp; hồn chỉnh các cơ chế, chính sách hỗ trợ tập trung vào doanh
nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn dựa trên các nhiệm vụ và mục tiêu phát triển và hỗ trợ doanh nghiệp
nhỏ và vừa theo Nghị quyết 35/NQ-CP và Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa của Bình Định; xây
dựng và triển khai hiệu quả Đề án khởi nghiệp tỉnh Bình Định từ nay đến năm 2025 theo hướng chỉ hỗ
trợ cho nhóm doanh nghiệp tích cực dựa trên đánh giá kết quả cuối cùng; tổ chức lại, nâng cấp Hiệp
hội doanh nghiệp và chuyển dần các hoạt động hỗ trợ từ cơ quan nhà nước sang Hiệp hội, hội ngành
hàng.
2. Khuyến nghị
2.1. Đối với Trung ương
- Về khung khổ công tác hội nhập kinh tế quốc tế tại địa phương:
(1) Cần hướng dẫn để đảm bảo tính đồng bộ giữa các Chương trình hội nhập kinh tế quốc tế và
hội nhập quốc tế, cả về nội dung và tổ chức bộ máy chỉ đạo. Hiện nay chưa có sự nhất quán về thực
hiện vấn đề này giữa các địa phương;
(2) Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế ở địa phương chưa được hướng dẫn rõ ràng, hiệu quả; do
đó cách thức triển khai cịn rất khác nhau. Các cơ quan Trung ương cần thiết tổ chức Hội thảo tại các
Vùng, miền về vấn đề này để thu thập các bài học kinh nghiệm tốt của các địa phương và đưa đến kết
luận/hướng dẫn những vấn đề cốt lõi các địa phương phải thực hiện và còn lại là các vấn đề tùy nghi
theo mức độ sáng tạo và đặc thù của các địa phương.
- Về công tác thông tin hội nhập kinh tế quốc tế sau đàm phán:
(1) Các địa phương, doanh nghiệp là nơi trực tiếp triển khai và thực thi các cam kết sau khi các
Bộ ngành đàm phán. Tuy nhiên, từ nội dung đàm phán các FTA đến thực tiễn còn khoảng cách rất lớn,
trong khi đó chưa có nhiều hoạt động phân tích, hướng dẫn chi tiết từ các Bộ ngành, giúp doanh
nghiệp, địa phương hiểu đúng và vận dụng các nội dung khá phức tạp của các cam kết. Đề nghị các Bộ
10


ngành và Ban Chỉ đạo liên ngành về Hội nhập kinh tế quốc tế tăng cường công tác hướng dẫn chung
cho các địa phương về hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và kết quả đàm phán nói riêng, đảm bảo
hiệu quả của hoạt động đàm phán.
(2) Các doanh nghiệp cần các thông tin cụ thể chia theo từng ngành nghề và thị trường; do đó

các cơ quan Trung ương, VCCI cần tăng cường hỗ trợ thông tin chi tiết theo hướng này, giúp các
doanh nghiệp tiếp cận thông tin hữu ích.
(3) Trong các Chương trình tập huấn về hội nhập quốc tế (do Bộ Ngoại giao chủ trì), cần có sự
phối hợp chặt chẽ với Bộ Cơng Thương và bổ sung kinh phí, tăng cường các Chương trình tập huấn về
hội nhập kinh tế quốc tế với nội dung thiết thực, đặc biệt lưu ý các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Về nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ chuyên trách về hội nhập kinh tế quốc tế:
(1) Ban Chỉ đạo liên ngành về Hội nhập kinh tế quốc tế cần có Chương trình bài bản, hỗ trợ và
thường xuyên phối hợp với các địa phương để đào tạo cán bộ hội nhập, nhằm duy trì một đội ngũ cán
bộ có năng lực triển khai nhiệm vụ phức tạp và thiết thực này.
(2) Trước mắt, tập trung hỗ trợ các đơn vị/Trung tâm về hội nhập kinh tế quốc tế tại các thành
phố lớn tại 3 miền để từ đó hỗ trợ lại cho các địa phương lân cận.
2.2. Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định
Trên cơ sở nội dung nhiệm vụ, giải pháp được nêu trong đề tài, kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh
Bình Định quyết định tổ chức xây dựng, phê duyệt Đề án nâng cao năng lực hội nhập kinh tế quốc tế
của tỉnh, trong đó:
- Phân cơng cụ thể các đơn vị triển khai thực hiện nhiệm vụ, nội dung mới hoặc lồng ghép với
các Chương trình, Đề án đang triển khai, nhưng cần tách bạch và nhấn mạnh nội dung về hội nhập
kinh tế quốc tế trong giai đoạn tới;
- Xem xét bố trí ngân sách triển khai hàng năm, chú trọng các nhiệm vụ có tính chất ưu tiên.
Chi tiết các hoạt động và quy mơ kinh phí sẽ do đơn vị chủ trì xem xét đề xuất trong từng nội dung
chương trình hoặc nhiệm vụ cụ thể, Sở Cơng Thương tổng hợp và trình phê duyệt hàng năm.
- Mở rộng thu hút tư vấn và các nguồn lực bên ngoài để đảm bảo các nhiệm vụ thực hiện hiệu
quả.
- Sơ, tổng kết việc triển khai thực hiện Đề án hàng năm, trên cơ sở xem xét các tiêu chí đánh
giá hiệu quả (nhất là từ phía doanh nghiệp), tránh hình thức hoặc báo cáo hành chính./.

11




×