Chun đề nghiên cứu
KẾT QUẢ TÍNH TỐN CÁC TRỤ CỘT CHỈ SỐ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
CỦA TỈNH BÌNH ĐỊNH
Trương Quang Phong, Hồ Đại Nghĩa
Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Bình Định
,
TĨM TẮT – Năm 2019, chúng tôi đã công bố "Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế (PEII) của Bình
Định", trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu về chỉ số PEII mà nhóm nghiên cứu đã tiến hành
nghiên cứu trong năm 2018. Trong đó trình bày một số nội dung bao gồm: Tổng quan về Chỉ số
hội nhập kinh tế quốc tế (khái niệm về năng lực HNKTQT ở địa phương, khái niệm về Chỉ số hội
nhập kinh tế cấp địa phương, thách thức trong quá trình HNKTQT của tỉnh Bình Định và một số
mơ hình, phương pháp tính chỉ số PEII áp dụng cho trường hợp nghiên cứu ở Bình Định), kết
quả tính tốn Chỉ số PEII dựa trên điểm số tính tốn được từ kết quả khảo sát và số liệu thống
kê. Dựa trên kết quả đạt được, công bố cũng trình bày một số giải pháp và nhiệm vụ nhằm nâng
cao chỉ số này ở Bình Định trong giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, để tiếp tục làm rõ hơn những
nội dung đã trình bày trước đây, cơng bố này tiếp tục trình bày chi tiết và cụ thể hơn kết quả tính
tốn của 8 trụ cột hình thành nên chỉ số HNKTQT mà chúng tôi đã nghiên cứu.
Từ khóa – Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế (PEII), chỉ số LIS, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC).
MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) ngày càng sâu rộng, tỉnh Bình
Định đã ban hành các văn bản chỉ đạo và triển khai nhiều hoạt động trên địa bàn. Tuy
nhiên, theo xếp hạng Chỉ số năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương 1 (PEII)
năm 2012 Bình Định chỉ đạt ở mức thấp, cuối nhóm trung bình (xếp hạng 40/63), 8 trụ cột
gồm: Thể chế, cơ sở hạ tầng, văn hóa, đặc điểm tự nhiên, con người, thương mại, đầu tư
và du lịch đạt trung bình thấp. Đến năm 2018, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh Bình Định đã triển khai đề tài nghiên cứu tính tốn chỉ số này, nhằm đánh giá sự thay
đổi về thực trạng HNKTQK của địa phương so với kết quả đánh giá năm 2012 2. Tuy
nhiên, kết quả nghiên cứu của đề tài này khơng được như kỳ vọng, q trình HNKTQT
của địa phương vẫn cịn chậm chạp và chưa có nhiều bước đột phá.
1. Thương mại
1.1. Thương mại sản xuất và tiêu dùng
Giá trị tổng mức bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh Bình Định (theo giá hiện hành)
năm 2013 đạt mức 30,42 nghìn tỷ đồng, năm 2018 xấp xỉ đạt mức 53,34 nghìn tỉ đồng.
Như vậy, tốc độ tăng trưởng kép hằng năm giai đoạn 2013 – 2018 ở mức 12,23%.
Đây là giai đoạn tín dụng thắt chặt và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nước ta bị chậm
lại, nhưng tốc độ phát triển của tỉnh đã đạt được là đáng kể. Điều này cho thấy, Bình Định
có tiềm năng lớn trong những năm tiếp theo của giai đoạn phục hồi nền kinh tế và sự tham
gia mạnh mẽ các hiệp định thương mại tự do trong khu vực và thế giới của Việt Nam.
1.2. Xuất - nhập khẩu
Giá trị xuất khẩu của tỉnh liên tục tăng, từ 588,9 triệu USD năm 2013 lên 825,6
triệu USD năm 2018, tăng hơn 1,4 lần. Giai đoạn 2013 - 2018, giá trị xuất khẩu tăng khá
đều đặn với tốc độ bình quân 6,7%/năm với nhiều biến động, cụ thể năm 2013 tăng 2,6%,
1
Chỉ số năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương (PEII) do Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế thực
hiện 2 lần trong năm 2010, 2012 và công bố vào năm 2011, 2013.
2
Đề tài “Đánh giá chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế (PEII) của tỉnh Bình Định”, t heo Quyết định số 848/QĐ-UBND
ngày 16/3/2018 của UBND tỉnh Bình Định
năm 2014 tăng 7,8%, năm 2015 tăng 10,6%, năm 2016, 2017 tăng khá thấp lần lượt là
0,1% và 3,8% đến năm 2018, tốc độ tăng đột phá đạt mức 13,9%. Giai đoạn này, hoạt
động xuất khẩu còn chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thối kinh tế
thế giới. Trong đó, Bình Định gặp khó khăn, giảm đáng kể đối với đầu ra một số mặt hàng
nông lâm sản, công nghiệp. Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu đã góp phần quan trọng đối với
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ năm 2013 đến năm 2018 đạt gần 1,65 tỷ USD,
tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 11,6%/năm. Trong đó, năm 2014 nhập khẩu vượt bậc với
mức tăng trưởng là 47,2%, đạt 643,7 triệu USD; năm 2016 và 2017, nhu cầu nhập nguyên
vật liệu cho sản xuất giảm mạnh nên hoạt động nhập khẩu ở mức tăng trưởng thấp, lần
lượt là 1,1% và 3,6% với kim ngạch nhập khẩu tương ứng 283,0 triệu USD và 293,1 triệu
USD. Tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, năm 2018 kim ngạch nhập khẩu đạt 13,9%.
1.3. Hệ thống phân phối thương mại
Hệ thống tổ chức kinh doanh phát triển về số lượng và phạm vi hoạt động trên địa
bàn tỉnh Bình Định đến năm 2018, đã có trên 1.770 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực thương mại, dịch vụ và trên 42.000 hộ kinh doanh thương mại và dịch vụ cá thể. Hệ
thống này đã phân phối, kinh doanh theo chuỗi, bán hàng qua các trung tâm thương mại,
trung tâm phân phối, siêu thị, được phân bố như sau :
Đối với trung tâm thương mại, siêu thị: có 04 trung tâm thương mại, trong đó có 02
Trung tâm thương mại hạng II (Trung tâm thương mại Quy Nhơn, Trung tâm thương mại
chợ lớn Quy Nhơn) và 02 Trung tâm thương mại hạng III (Trung tâm thương mại Big C
Quy Nhơn, Trung tâm thương mại An Nhơn); có 06 siêu thị, trong đó có 04 siêu thị tổng
hợp và 02 siêu thị chuyên doanh, cụ thể: thành phố Quy Nhơn (05 siêu thị): Siêu thị
Co.opmart Quy Nhơn (hạng II), Trung tâm Metro Cash và Carry Quy Nhơn (hạng I), Big
C Quy Nhơn (hạng I), Siêu thị nội thất Đài Loan (hạng III), Siêu thị VLXD và trang trí
nội thất cao cấp Xuân Hiếu (hạng III); thị xã An Nhơn có 01 siêu thị hạng III (Siêu thị
Co.opmart An Nhơn).
Đối với mạng lưới chợ: có 179 chợ, trong đó 44 chợ thành thị (kiên cố) và 135 chợ
nông thôn (02 kiên cố, 101 bán kiên cố và 32 chợ tạm) đang hoạt động thuộc diện trong
quy hoạch; có 51 chợ đang hoạt động khơng có trong quy hoạch, hầu hết là chợ cóc, tạm
bợ do một số tiểu thương tự nhóm họp (phần lớn ở khu vực nông thôn).
1.4. Công tác xúc tiến thương mại
Để hỗ trợ phát triển thị trường và đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Người Việt
Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, ngành Công Thương đã tổ chức các “Phiên chợ hàng
Việt Nam về nông thôn”, xây dựng “Điểm bán hàng Việt” tại huyện An Lão và thành phố
Quy Nhơn. Đây là cầu nối cho các doanh nghiệp tiếp tục mở rộng thị trường đến khu vực
nông thôn, miền núi, đồng thời tạo điều kiện cho người dân được hưởng lợi từ chương
trình bình ổn giá, tiếp cận hàng Việt.
Để tạo điều kiện cho các DN xuất khẩu có cơ hội giao thương với các thị trường
tiềm năng nhằm tăng cường khả năng xuất khẩu, ngành Công Thương đã tổ chức cho
doanh nghiệp tham gia hội chợ, triển lãm trong nước và khu vực để liên kết, quảng bá,
giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm cơ hội kinh doanh, trao đổi kinh nghiệm, hợp tác đầu tư.
Mặt khác, công tác dự báo, cung cấp thông tin về pháp luật và thơng lệ quốc tế, tình hình
thị trường xuất khẩu, quy định của các nước sở tại đối với các sản phẩn chủ lực của Bình
Định cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Đồng thời, thực hiện hỗ trợ kinh phí cho doanh
nghiệp tham gia hội chợ triển lãm ở nước ngoài để tìm kiếm thị trường mới. Nhờ đó, các
sản phẩm chủ lực của Tỉnh, bước đầu đã xuất khẩu sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, Trung
Đông …
Đánh giá chung:
Trụ cột thương mại địa phương có tốc độ tăng trưởng kép 12,23%/năm trong giai
đoạn 2013 - 2018. So với các tỉnh trong Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung và cả nước,
Bình Định có kim ngạch xuất khẩu khơng cao, nhưng tỉ lệ xuất khẩu luôn cao hơn gấp đôi
tỉ lệ nhập khẩu. Đây là kết quả đáng kể trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế với tín
dụng thắt chặt và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đang có xu hướng dần hồi phục. Tuy
nhiên, theo kết quả tính tốn năm 2018 cho thấy Trụ cột Thương mại đạt 37,06/100 điểm,
là trụ cột có điểm số thấp sau trụ cột Đầu tư. Kết quả này cho thấy mặc dù chất lượng hạ
tầng phân phối thương mại như Chợ, Siêu thị, Trung tâm thương mại,…trên địa bàn tỉnh
được đánh giá khá tốt có khả năng cung cấp đa dạng các mặt hàng, đáp ứng với nhu cầu,
thị hiếu người tiêu dùng; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ buôn bán, thương mại
được đánh giá tốt; chất lượng sản phẩm phân phối trong hệ thống thương mại và tình
hình xuất - nhập của địa phương cũng được đánh giá khá. Tuy nhiên, yếu tố dịch vụ
thương mại và liên kết của DN ở địa phương ở mức trung bình, chưa phát huy hết vai trị
trong bối cảnh HNKTQT ở địa phương, do kinh doanh nhỏ lẻ còn lớn, hạn chế về tư duy
và kiến thức hội nhập kinh tế của các tầng lớp kinh doanh, phân phối đã dẫn đến kết quả
thấp trong kết quả của trụ cột này.
2. Đầu tư
2.1. Đầu tư nội địa
Tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Bình Định có xu hướng tăng ở cả 2 khu vực kinh
tế. Khu vực kinh tế Nhà nước, lượng vốn đầu tư tăng đều và liên tục qua các năm, vốn
đầu tư trung bình trong giai đoạn 2013 - 2018 là 5.291,8 tỷ đồng/năm. Đối với khu vực
kinh tế ngoài nhà nước, lượng vốn đầu tư trong khu vực này chiếm tỷ lệ lớn nhất trong 3
khu vực kinh tế, giai đoạn 2013 - 2018 tăng đều qua các năm, lượng vốn đầu tư bình quân
giai đoạn này khỏang 14.109,4 tỷ đồng/năm và được đánh giá là bước đột phá tăng nhanh
so với những giai đoạn trước.
Tình hình thu hút đầu tư từ khu vực ngồi nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Định
trong giai đoạn 2013 – 2018 được dẫn ra ở bảng 1.
Bảng 1: Số lượng dự án đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh
Năm
2013
2014
2015
2016
2017
2018
Số lượng dự án đã cấp phép
43
38
39
18
42
46
3.109,90
1.358,09
3.657,55
3.227,00
12.244,33
6.140,17
Vốn đầu tư (tỷ đồng)
Nguồn: Báo cáo hàng năm của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định
Từ bảng số liệu thống kê cho thấy, năm 2013, có 43 dự án được cấp Giấy chứng
nhận đầu tư (GCNĐT) với tổng vốn đăng ký là 3.109,9 tỷ đồng; Năm 2014 số lượng dự
án đầu tư giảm mạnh so với năm 2013, do có 13 dự án phải điều chỉnh GCNĐT; Năm
2015, 2016 vốn đầu tư được duy trì ổn định và tăng chất lượng các dự án đầu tư trong
năm 2016; Năm 2017, có 42 dự án được đầu tư với tổng vốn đạt 12.244,33 tỷ đồng, đánh
dấu bước đột phá trong việc thu hút đầu tư. Trong đó, có 12 dự án trong Khu kinh tế, tổng
vốn đầu tư đạt 1.316,83 tỷ đồng; 17 dự án trong các Khu Công nghiệp, tổng vốn đầu tư
đạt 5.119,03 tỷ đồng; 13 dự án được cấp ngoài KKT, KCN, tổng vốn đầu tư đạt 5.808,47
tỷ đồng. Đây là các dự án có số vốn đầu tư cao, tạo được hiệu ứng tích cực cho đầu tư trên
địa bàn tỉnh. Năm 2018, sức hút đầu tư mặc dù còn duy trì ở mức khá cao nhưng đã có
dấu hiệu chững lại, cần phải có những động lực để tiếp tục duy trì nhịn độ tăng đầu tư như
năm 2017.
2.2. Đầu tư nước ngồi
Chính quyền địa phương của tỉnh Bình Định ln nỗ lực ban hành và thực hiện
chính sách phù hợp về cải cách hành chính, đầu tư xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng
kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống đường giao thông đã tạo được môi trường thuận lợi để thu
hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong giai đoạn 2013 – 2018, số lượng dự án
đầu tư trực tiếp nước ngồi (FDI) và vốn đăng ký có chiều hướng tăng dần, được thể hiện
trong bảng 2.
Bảng 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2013 – 2018
Đvt: Triệu USD
Năm
Số dự án được cấp phép
Tổng vốn đăng ký
Vốn thực hiện
2013
2014
2015
2016
2017
2018
8
9
7
10
9
7
1.030,4
141,5
61,8
84,1
117,2
84,9
41,31
55,95
19,33
24,32
27,43
30,7
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Định năm 2013, 2017
Số lượng dự án FDI đầu tư được duy trì ổn định, bình quân 8-9 dự án/ năm với
lượng vốn đăng ký biến động qua từng năm. Trong năm 2013, số dự án và đặc biệt là tổng
vốn đăng ký FDI trong năm đạt ở mức rất cao. Tỉnh đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư (GCNĐKĐT) cho 8 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1.030,4 triệu USD, tăng
gấp nhiều lần so với các năm trước. Tuy số vốn đăng ký cao gấp hơn 3 lần so với các năm
trong cùng giai đoạn nhưng số vốn thực hiện chỉ chiếm 4% so với số vốn đăng ký trong
năm. Đến năm 2014, lượng vốn đăng ký giảm còn 141,5 triệu USD, nhưng vốn thực hiện
chiếm tỷ lệ 40% so với vốn đăng ký. Năm 2015, có số dự án thấp nhất tương ứng với số
vốn đăng ký và vốn thực hiện thấp nhất giai đoạn. Tuy nhiên, năm 2016 số dự án tăng
cao, các dự án đang trong quá trình thực hiện chiếm 29% số vốn đăng ký. Trong năm
2017, tỉnh đã cấp GCNĐKĐT cho 9 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi (FDI), với
tổng vốn đăng ký 117,2 triệu USD. Năm 2018, tồn tỉnh có 7 dự án đầu tư được cấp phép
với số vốn đầu tư đăng ký thấp hơn năm 2017 nhưng vốn thực hiện lại cao hơn, đây là tín
hiệu tốt trong vấn đề thu hút vốn FDI của địa phương.
Đánh giá chung về thu hút vốn đầu tư nước ngồi trên địa bàn tỉnh ít có thay đổi về
vốn, mục tiêu, quy mô, công suất, pháp nhân đầu tư; một số dự án tại Khu kinh tế Nhơn
Hội và các KCN trên địa bàn tỉnh có tiến độ xây dựng và giải ngân vốn đầu tư chậm, do
vướng mắc trong cơng tác giải phóng mặt bằng và trượt giá thị trườn; đa số các dự án FDI
tại Khu Kinh tế Nhơn Hội và các KCN trên địa bàn tỉnh đã đi vào hoạt động đều có quy
mơ nhỏ, sử dụng ít lao động và đóng góp cho ngân sách địa phương chưa đáng kể. Vì vậy,
trụ cột đầu tư tác động đến hội nhập kinh tế của địa phương còn hạn chế.
Đánh giá chung:
Dựa trên kết quả nghiên cứu về thực trạng đầu tư trên địa bàn tỉnh Bình Định cho
thấy hầu hết các DN trên địa bàn tỉnh có quy mơ vừa và nhỏ, rất cần sự hỗ trợ về chính
sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước. Trong đó, vốn đầu tư đã được Ngân hàng nhà
nước triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, giải pháp về vốn tín dụng trên địa
bàn tỉnh, điều chỉnh giảm lãi suất tiền vay đối với các khoản vay cũ, cơ cấu lại thời hạn
trả nợ, triển khai các sản phẩm mới với lãi suất thấp đối với khách hàng vay vốn kinh
doanh. Tuy nhiên, việc tiếp cận với nguồn vốn vay khơng hồn tồn thuận lợi, ngun
nhân chủ yếu là do nhiều thủ tục chưa thông thống, khơng kịp thời và đồng bộ của các
cơ quan thực hiện dịch vụ hành chính cơng. Do đó, nhiều DN chưa khai thác được nguồn
vốn này dẫn đến mất thời cơ và ảnh hưởng tiêu cực đến hội nhập kinh tế quốc tế của Bình
Định.
Kết quả điểm số của Trụ cột Đầu tư đạt 33,66/100 điểm, là mức thấp nhất trong 8
trụ cột. Kết quả này phản ảnh từ những yếu tố chính sau: giải ngân nguồn vốn đầu tư vẫn
còn hạn chế; số dự án và lượng vốn thu hút đầu tư được nhiều lớn hơn, nhưng chất lượng
dự án còn hạn chế, nên chưa đáp ứng được kỳ vọng.
3. Du lịch
3.1. Số lượng khách du lịch
Tổng lượng khách du lịch năm 2018 đến Bình Định ước đạt 4,092 triệu lượt khách,
số lượt khách tăng liên tục qua các năm. Nhưng hiện nay, tốc độ tăng có dấu hiệu giảm,
cụ thể từ năm 2013 đến 2015, lượt khách đến Bình Định tăng mạnh từ 18% đến 25%, từ
2015 tốc độ tăng lượt khách đã giảm xuống đáng kể, đến cuối năm 2017 thì lượt khách
chỉ tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước, năm 2018 chỉ tăng 10,6% so với năm 2017.
Trong đó, khách du lịch đến Bình Định chủ yếu là khách nội địa, chiếm trên 90% lượt
khách đến Bình Định giai đoạn 2013 - 2017, khách quốc tế đến Bình Định cũng có xu
hướng tăng qua các năm nhưng không nhiều.
Số lượng khách du lịch đến Bình Định có sự tăng lên về số lượng, song hiệu quả
của hoạt động thu hút khách du lịch chưa tương xứng với tiềm năng và chưa thực sự trở
thành một điểm đến có sức hút lớn trong tương quan so sánh với các thành phố khác trong
khu vực Duyên hải miền Trung như Đà Nẵng, Khánh Hòa, Quảng Nam, Bình Thuận.
3.2. Doanh thu du lịch
Số lượng du khách đến Bình Định ngày càng tăng, là cơ hội thúc đẩy sự phát triển
của các sản phẩm dịch vụ du lịch: dịch vụ lưu trú, nhà hàng và du lịch lữ hành. Doanh thu
dịch vụ du lịch tăng trưởng cao, với mức tăng bình quân 30,72%/năm trong giai đoạn
2013 – 2018. Trong đó năm 2018 tăng cao và đột phá nhất trong cả giai đoạn, đạt gần
54,7%.
Đặc điểm thu hút du khách đến Bình Định chủ yếu từ hoạt động khai thác thế
mạnh tự nhiên vốn có là biển đảo, chưa tạo được nhiều sản phẩm du lịch có giá trị gia
tăng cao, mang tính đặc trưng riêng biệt của địa phương như các tỉnh Khánh Hòa, Đà
Nẵng, Huế...
Đánh giá chung:
Bước đầu Bình Định đã khai thác tài nguyên tự nhiên sẵn có và đang “lộ thiên” có
hiệu quả. Để trụ cột du lịch giữ vai trò quan trọng trong HNKTQT của địa phương, chính
quyền tỉnh Bình Định nên xác định tài nguyên tự nhiên chỉ là điểm tựa ban đầu, làm nền
tảng cho việc khai thác, phát triển tiềm năng lịch sử, văn hóa đặc trưng của từng địa
phương trong tỉnh. Kết quả tính tốn điểm số cho Trụ cột Du lịch đạt 38,33/100 điểm.
Đây là kết quả khá thấp, cho thấy trụ cột này cịn có nhiều khâu cịn hạn chế. Mặc dù
chất lượng phương tiện vận tải phục vụ du lịch được đánh giá khá tốt, tuy nhiên, số lượng
và chất lượng sản phẩm du lịch không được đánh giá cao; quảng bá, xúc tiến và tiếp thị
du lịch đến đối tác nước ngồi cịn yếu và thiếu; chuẩn hóa dịch vụ du lịch tiến hành cịn
chậm chạp; quản lý nhà nước đối với dịch vụ du lịch cịn hạn chế. Bên cạnh đó, có thể
thấy du lịch Bình Định đã thu hút được lượt khách đến địa phương khá cao, nhưng mức
chi tiêu bình quân/du khách và thu ngân sách từ hoạt động dịch vụ du lịch còn thấp. Đây
là khó khăn và tồn tại đã trực tiếp cản trở đến q trình phát triển của địa phương nói
chung và ngành du lịch nói riêng.
4. Con người - Lao động
4.1. Dân số, lao động và việc làm
Dân số trung bình tỉnh Bình Định năm 2013 là 1.509,3 nghìn người tăng lên
1.534,767 nghìn người (năm 2018). Quy mơ dân số trong tỉnh ngày càng tăng, nhu cầu về
lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng theo. Để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng ngày càng
tăng, đòi hỏi phải mở rộng và phát triển sản xuất, đa dạng hóa các ngành nghề hoạt động,
số việc làm được tạo ra nhiều hơn, cơ cấu việc làm biến đổi.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên tỉnh Bình Định năm 2013 là 907,2 nghìn
người tăng lên 944,683 nghìn người (năm 2018); việc làm được tạo ra nhiều hơn, nhưng
tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng từ 1,9% năm 2013 lên 3,04% năm 2018. Đặc biệt, tỷ lệ thất
nghiệp năm 2016 chiếm 3,9%, là tỷ lệ cao nhất trong giai đoạn 2013 – 2018.
Để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực địa phương, chính quyền tỉnh Bình Định
đã tổ chức thực hiện quyết định của Thủ tướng về hỗ trợ đào tạo nghề, định hướng nghề
nghiệp, xuất khẩu lao động1. Kết quả đã tiến hành các hoạt động tuyển sinh đào tạo, bồi
dưỡng nghề cho 15.000 người lao động nông thôn (đề án 1956), lao động qua đào tạo, bồi
dưỡng nghề đạt 56%; hỗ trợ đào tạo nghề và giáo dục định hướng cho 1.000 lao động
thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ dân tộc thiểu số, trong đó khoảng 50% lao động đi làm
việc ở nước ngồi. Bên cạnh đó, tỉnh Bình Định đã ban hành và thực hiện một số chính
sách hỗ trợ về tài chính cho các hộ nghèo nhằm phát triển và nâng cao đời sống người
dân2.
4.2. Đời sống và thu nhập
Nhu cầu về nhà ở, lương thực, giáo dục, dịch vụ y tế, vui chơi, giải trí của người
dân Bình Định ngày càng được nâng cao về chất lượng; thu nhập bình quân trong năm
2012 đạt 1.719 nghìn đồng/người/tháng và năm 2018 đạt 3.135,8 nghìn đồng/người/tháng.
Kết quả thu nhập tăng cao của người dân thể hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ việc làm,
vốn của chính quyền địa phương.
Để tiếp tục duy trì tăng thu nhập của người dân, các cấp chính quyền địa phương
trong tỉnh cần quan tâm tạo công ăn việc làm, hỗ trợ mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm, vốn và kỹ thuật trong sản xuất.
4.3. Trật tự, an tồn xã hội
Bình Định là một trong những địa phương có tình hình trật tự - an ninh xã hội ổn
định nhất cả nước, đặc biệt và về tình hình an tồn giao thơng và tình hình phịng cháy
chữa cháy ở các cấp địa phương.
Số vụ tai nạn giao thơng trên địa bàn Bình Định giảm từ 213 vụ năm 2013 xuống
144 vụ năm 2018 . Trong năm 2018, có 144 vụ tai nạn giao thơng có tính chất từ nghiêm
trọng trở lên, làm 153 người chết, 35 người bị thương; so với năm 2017 số vụ tai nạn giao
thông năm 2018 giảm 10,6% (giảm 15 vụ); số người chết giảm 10% (giảm 17 người), số
người bị thương giảm 3% (giảm1 người) so với năm 2017.
Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về dạy nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020
2
Quyết định số 56/2017/QĐ-UBND ngày 28/9/2017 của UBND tỉnh Bình Định về Ban hành quy chế
trích lập, quản lý và sử dụng nguồn vốn từ ngân sách địa phương ủy thác qua ngân hàng chính sách xã
hội để cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn tỉnh Bình Định
1
Về cháy nổ, năm 2018 đã xảy ra 117 vụ tăng 64 vụ so với 2017, ước tính giá trị
thiệt hại 133,242 tỷ đồng; so với năm 2017, số vụ cháy, nổ tăng 120,8%, giá trị thiệt hại
tăng 105,3%.
Đánh giá chung:
Từ kết quả tính tốn cho thấy trụ cột Con người đạt 45,79/100 điểm. Kết quả này
cho thấy vấn đề Con người ở địa phương đang ở mức trung bình với một số kết quả khả
quan như: tỷ lệ thất nghiệp và hộ nghèo tương đối thấp; an ninh, trật tự và an toàn xã hội
khá tốt; chất lượng phục vụ về giáo dục và y tế đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân;
có một số chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên chính sách nhân dụng
của chính quyền và doanh nghiệp chưa tốt chưa thu hút được nguồn chất lượng cao về
làm việc tại địa phương. Bên cạnh đó, hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, đặc biệt nhân
lực chất lượng cao còn thấp so với nhu cầu phát triển chung của cả nước.
5. Cơ sở hạ tầng
5.1. Hạ tầng giao thông đường bộ
Tổng chiều dài mạng lưới đường bộ hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Định là 9.437
km. Trong đó, có 5 tuyến quốc lộ, với tổng chiều dài đi qua địa phận Bình Định là 308,5
km, kết nối Bình Định với cả nước theo hướng Bắc - Nam và Đông - Tây. Quốc lộ 1 có 4
làn xe cùng với tuyến tránh; Quốc lộ 1D và Quốc lộ 19 đã mở rộng từ cấp III đến cấp II;
Quốc lộ 19B và QL 19C là đường cấp VI đồng bằng. Ngoài ra, Đường tỉnh có 11 tuyến,
với chiều dài 506,47 km; Đường huyện có 45 tuyến, với tổng chiều dài là 490,1km;
Đường giao thơng nơng thơn có tổng chiều dài là 7.363 km; Đường đô thị dài 613,4 km;
Đường chuyên dùng dài 207 km (tính đến năm 2017).
Mật độ mạng lưới đường (khơng tính đến đường ngõ xóm và đường nội đồng) tại
Bình Định là 0,87 km/km2, cao hơn mức bình quân của vùng Kinh tế trọng điểm miền
Trung là 0,59 km/km2.
5.2. Hạ tầng giao thông đường sắt
Tuyến đường sắt thống nhất chạy dọc xuyên suốt địa bàn Bình Định, với tổng
chiều dài là 158,4 km bao gồm tuyến chính Bắc – Nam và 1 nhánh nối vào TP. Quy Nhơn.
Tuyến chính Bắc – Nam dài 148km từ đèo Bình Đê (ranh giới với tỉnh Quảng Ngãi) đến
Mục Thịnh (ranh giới với tỉnh Phú Yên). Nhánh nối vào Quy Nhơn bắt đầu từ ga Diêu Trì
đến ga Quy Nhơn, có chiều dài 10,4km. Trên địa bàn tỉnh có 12 ga, trong đó 11 ga trên
tuyến chính (Ga chính là ga Diêu Trì, cịn lại chủ yếu là các ga có chức năng tránh tàu), 1
ga trên tuyến nhánh, tuy nhiên lượng hàng hóa và hành khách thơng qua ga khơng nhiều.
Ga Quy Nhơn là ga hành khách nằm trong nội đô thành phố, hiện chỉ khai thác
tuyến Sài Gòn - Quy Nhơn với lượng khách hạn chế. Ga nằm trong nội thành, khai thác
không hiệu quả và cản trở giao thông đơ thị, hiện đã có chủ trương dừng khai thác.
5.3. Hiện trạng kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa
Hiện nay trên địa bàn tỉnh chỉ có 01 tuyến đường thủy nội địa là tuyến Đống Đa –
Nhơn Châu3, do Cục đường thuỷ nội địa Việt Nam quản lý, đang khai thác phục vụ hành
khách đi lại với tần suất 01 chuyến đi về/ngày. Ngoài ra, hoạt động vận tải thủy nội địa
vẫn có ở một số khu vực mặt hồ, khơng có tuyến cơng bố với tần suất không cố định phục
vụ nhu cầu du lịch, dân sinh như tại Hầm Hô, hồ Núi Một.
Quyết định số 3808/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh Bình Định và đóng một số tuyến
đường thủy nội địa trên địa bàn tỉnh.
3
5.4. Hạ tầng giao thơng đường biển
Bình Định có 134 km bờ biển, có đảo, vũng, vịnh và các cửa biển thuận lợi xây
dựng cảng biển. Các bến cảng biển chính đều tập trung ở TP. Quy Nhơn và khu vực tiếp
giáp đầm Thị Nại. Cụm cảng biển Quy Nhơn có tầm quan trọng chiến lược về kinh tế - xã
hội, an ninh quốc phịng của tỉnh Bình Định, khu vực miền Trung và khu vực Tây
Nguyên.
Cụm cảng biển Quy Nhơn hiện tại có 1 khu bến hoạt động là khu bến Quy Nhơn –
Thị Nại, bao gồm 05 bến tổng hợp và 02 bến chuyên dùng đang khai thác 4. Năm bến cảng
tổng hợp là cảng Quy Nhơn, cảng Thị Nại, Tân cảng Quy Nhơn, Tân cảng Miền Trung và
bến địa phương Đống Đa (hiện không khai thác). Trong đó có 2 bến cảng chính chiếm thị
phần lớn nhất là cảng Quy Nhơn và cảng Thị Nại; bến Tân cảng Quy Nhơn và bến Tân
cảng miền Trung là 2 bến cảng mới công bố; bến Đống Đa là bến địa phương hiện đang
trong giai đoạn đầu tư nâng cấp. Hai bến chuyên dùng là bến xăng dầu Quy Nhơn và bến
xăng dầu An Phú… Luồng hàng hải Quy Nhơn được đầu tư nâng cấp với các thông số kỹ
thuật cơ bản5: Tổng chiều dài tuyến luồng là 6,3km, chiều rộng 110m, cao độ đáy đạt
-11,0m, vũng quay trở tàu rộng 300m. Việc đưa luồng hàng hải Quy Nhơn vào sử dụng sẽ
tạo điều kiện cho các tàu có trọng tải 50.000 DWT giảm tải ra vào luồng Quy Nhơn an
tồn, giúp giải quyết nhanh chóng lượng hàng hóa thơng qua các cảng.
Ngồi những cảng biển nêu trên, tỉnh Bình Định cịn có cảng địa phương đang hoạt
động là cảng Tam Quan và cảng Đề Gi. Hai cảng này được quy hoạch thành cảng địa
phương nhưng hiện chưa được đầu tư nhiều và đang chỉ phục vụ như bến tàu cá, thuộc
quản lý của ngành Nông nghiệp và phát triển nơng thơn. Ngồi ra, theo quy hoạch sẽ có
Cảng Nhơn Hội nằm từ phía Nam cầu Thị Nại kéo dài đến phía Nam bán đảo Phương
Mai, gồm cảng thuế quan và cảng phi thuế quan với tổng diện tích 257,91 ha, phục vụ tàu
bách hóa và container 50.000 DWT, lượng hàng hóa thơng qua 12 triệu tấn/năm. Tuy
nhiên, sẽ điều chỉnh quy hoạch Cảng Nhơn Hội là cảng chuyên dụng có quy mơ nhỏ.
5.5. Hạ tầng giao thơng hàng khơng
Cảng hàng không Phù Cát nằm cách quốc lộ 1A khoảng 1,5km về hướng Tây, cách
trung tâm thành phố Quy Nhơn 30km về phía Tây Bắc, cơng suất thiết kế 500.00 hành
khách/năm; năm 2018 lượng hành khách thông qua cảng hơn 1.000.000 hành khách/năm,
vượt công suất thiết kế.
Cảng hàng không Phù Cát đóng vai trị quan trọng trong việc vận chuyển hành
khách, đặc biệt là du khách đi đến Bình Định, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh. Ngoài ra, là sân bay dùng chung dân dụng và quân sự cấp I, được xác định là
sân bay chính trong hệ thống phịng thủ quốc phịng, là căn cứ quân sự quan trọng trong
hệ thống phòng thủ bảo vệ tổ quốc. Cảng hàng không này sẽ được tiếp tục mở rộng tiếp
nhận tuyến bay quốc tế.
5.6. Hạ tầng cung cấp điện, nước
Về hạ tầng cung cấp điện, trên địa bàn tỉnh Bình Định có nguồn phát điện từ 6 nhà
máy thủy điện vừa và nhỏ (Vĩnh Sơn, Vĩnh Sơn 5, Trà Xom, Định Bình, Tiên Thuận, Văn
Phong) đã hịa lưới điện quốc gia. Ngồi ra, Bình Định đang phát triển năng lượng sạch
4
Quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển số 4 (QĐ 1764 năm 2011) sẽ có 2 khu bến Quy Nhơn – Thị Nại, Nhơn Hội và 3
bến là Tam Quan, Đề Gi, bến Nhiệt điện than Bình Định.
5
347/QĐ-CHHVN ngày 22/5/2013 của Cục hàng hải. Việt Nam V/v Công bố đưa luồng hàng hải Quy
Nhơn vào sử dụng
(sức gió, mặt trời) để phát điện. Nguồn trạm cao áp có 13 trạm 110kV, bao gồm 19 máy
biến áp, với tổng dung lượng 565MVA; lưới điện phân phối trung, hạ áp có 3.202 biến áp,
phân phối với tổng dung lượng 954.133kVA; tổng số đường dây trung áp là 2.810,7 km;
tổng số đường dây hạ áp là 3.064,51 km. Từ đó tạo ra nguồn điện ổn định trên địa bàn
tỉnh, đảm bảo chất lượng điện và độ tin cậy cung cấp điện ngày càng nâng cao.
Về hạ tầng cung cấp nước, có khả năng đáp ứng được nhu cầu khoảng 100.000
m /ngày đêm. Trong đó, cơng suất cấp nước của thành phố Quy Nhơn chiếm gần 50% so
với cả tỉnh, với công suất 48.000 m 3/ngày đêm. Hiện nay, trữ lượng nước mặt tiềm năng
tồn tỉnh Bình Định có khoảng 9,34 tỷ m3/năm. Các nguồn nước mặt chủ yếu do 04 sông
lớn là sông Lại Giang, sông Kôn, sông La Tinh và sông Hà Thanh.
3
Đánh giá chung:
Hiện nay cơ sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh Bình Định được đánh giá ở mức trung
bình khá theo tiêu chí phát triển và quản lý hoạt động sử dụng hạ tầng. Điều này khá phù
hợp với tình hình kinh tế của tỉnh cịn khó khăn, phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ của địa
phương còn hạn chế so với các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
Kết quả tính toán điểm số của trụ cột Cơ sở hạ tầng đạt 44,80/100 điểm phản ảnh
từ những yếu tố chính sau: hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, đường hàng không
đáp ứng tốt nhu cầu di chuyển trong và kết nối ra ngồi tỉnh; hạ tầng viễn thơng hiện đại;
hạ tầng điện, nước phục vụ tốt cho sinh hoạt và sản xuất. Tuy nhiên; hạ tầng về xã hội
chưa đáp ứng nhu cầu của người dân, như nhà ở xã hội, cơng trình vệ sinh cơng cộng,
hạng mục phục vụ cho người khuyết tật. Đây là yêu cầu chính đáng, nhưng nguồn lực đầu
tư của tỉnh còn hạn chế.
6. Văn hóa
6.1. Di tích lịch sử - văn hóa vật thể
Theo số liệu thống kê đến năm 2018, trên địa bàn tỉnh Bình Định có 234 di tích
lịch sử - văn hóa, có 114 di tích được xếp hạng. Trong đó, có 01 di tích cấp quốc gia đặc
biệt, 35 di tích cấp quốc gia và 78 di tích cấp tỉnh. Các di tích tiêu biểu có giá trị và khả
năng khai thác du lịch cao như: quần thể di tích lịch sử thời Tây Sơn - Quang Trung (Nhà
Bảo tàng Quang Trung, căn cứ địa nghĩa quân Tây Sơn, điện Tây Sơn, gò Đá Đen, bến
Trường Trầu,...). Đây là di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt (cơng nhận năm 2014); hệ
thống di tích văn hóa Chăm (thành Đồ Bàn, tháp Cánh Tiên, tháp Phú Lốc, phế tích hai
tháp Tân Kiều, Chà Rây và trung tâm gốm Lai Nghi, di tích khu lị gốm Gị Sành,...) là di
tích văn hóa cấp quốc gia; các di tích lịch sử cách mạng (Căn cứ cách mạng Núi Bà,
chứng tích Nho Lâm - Tuy Phước, chứng tích Gị Dài - Tây Sơn, di tích chiến thắng đèo
Nhơng - Phù Mỹ,...), di tích danh nhân (Lăng Mai Xuân Thưởng, mộ Hàn Mặc Tử, đến
thờ Đào Duy Từ,...); các di tích lịch sử tơn giáo (chùa Thập Tháp, chùa Nhạn Sơn, chùa
Linh Phong,...).
6.2. Lễ hội truyền thống
Bình Định là nơi hội tụ và giao thoa văn hóa của nhiều dân tộc, nên các hình thức
văn hóa dân gian và lễ hội truyền thống cũng rất đa dạng và phong phú. Hàng năm, trên
địa bàn tỉnh thường diễn ra nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc, đậm chất truyền thống văn
hóa, lễ hội và thường tập trung vào mùa xuân như: lễ hội Đống Đa -Tây Sơn, lễ hội Cầu
ngư, hội xuân Chợ Gò, lễ hội Đua thuyền, lễ hội làng rèn Phương Danh,... và vô số các lễ
hội khác xuyên suốt cả năm.
6.3. Nghệ thuật truyền thống
Bình Định nổi tiếng về các loại hình nghệ thuật dân gian. Trong đó, nghệ thuật hát
bài chịi Bình Định là cái nơi của nghệ thuật bài chịi Trung bộ - Việt Nam (UNESCO
cơng nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại); hát bội Bình Định, võ cổ
truyền Bình Định là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, Ngồi ra, Bình Định cũng là
nơi có nhiều nhà thơ nổi tiếng của cả nước như Xuân Diệu, Yến Lan, Hàn Mặc Tử, Chế
Lan Viên,...
6.4. Nghề thủ cơng truyền thống
Bình Định được biết đến là nơi có nhiều làng nghề truyền thống. Hiện nay, có 41
làng nghề được bảo tồn và phát triển như: nón lá, đúc đồng, đồ gỗ thủ cơng mỹ nghệ, dệt,
gốm, rèn, thảm xơ dừa,…Vùng Nhơn Hậu (thị xã An Nhơn) là nơi tập trung nhiều làng
nghề.
6.5. Đặc sản, ẩm thực
Bình Định có rất nhiều sản vật đặc sắc từ tự nhiên như yến sào, tôm hùm, tôm sú,
cua huỳnh đế, mực ống, cá chua, cá ngừ đại dương, chình mun; ẩm thực được hình thành
và phát triển từ tri thức truyền thống như: rượu Bàu Đá, nem Chợ huyện, sản phẩm từ
dừa, bún tôm, bún rạm, chả cá Quy Nhơn, bánh tráng, bún Song thằn An Thái, bánh ít lá
gai,...
Đánh giá chung:
Bình Định có những giá trị văn hóa vơ cùng độc đáo và phong phú với nhiều di
tích lịch sử - văn hóa vật thể vơ giá, nhiều lễ hội truyền thống độc đáo mang đậm bản sắc
văn hóa địa phương. Ngồi ra các giá trị nghệ thuật, nghề thủ công, đặc sản, ẩm thực
truyền thống nổi tiếng được nhiều người, địa phương biết đến. Tuy nhiên việc khai thác
của chính quyền, các DN lữ hành cũng như nhận thức của người dân địa phương trong
việc bảo vệ, phát huy và khai thác các giá trị này chỉ ở mức rất thấp, chưa đạt như tiềm
năng khai thác như mong đợi.
Kết quả tính tốn về trụ cột Văn hóa đạt 49,10/100 điểm phản ảnh từ những yếu tố
chính sau: các di sản có giá trị văn hóa bản địa đang được bảo tồn và phát triển tốt, đã
góp phần tạo dựng biểu tượng địa phương Bình Định. Tuy nhiên vấn đề xử lý phù hợp
mâu thuẫn ngày càng lớn giữa bảo tồn và phát triển, giữa hòa nhập và hòa tan trong hội
nhập là một vấn đề khá cấp thiết, nếu chính quyền địa phương và người dân sinh sống
trên địa bàn tỉnh Bình Định khơng giải quyết tốt vấn đề này thì đây sẽ là yếu tố cản trở
năng lực hội nhập quốc tế của địa phương trong tương lai.
7. Đặc điểm địa phương
7.1. Vị trí địa lý
Bình Định thuộc vùng duyên hải miền Trung Việt Nam, trải dài theo hướng Bắc –
Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh
Gia Lai và phía Đơng giáp biển Đơng với bờ biển dài 134 km; là một trong 5 tỉnh của
Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, có vị trí địa kinh tế quan trọng trong giao lưu với
các quốc gia khu vực và quốc tế. Đây là cửa ngõ ra biển Đông gần nhất và thuận lợi nhất
của Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Thái Lan và Myanma thông qua Quốc lộ 19 và cảng
biển quốc tế Quy Nhơn; đồng thời, nằm ở trung điểm của trục giao thông đường sắt,
đường bộ Bắc - Nam Việt Nam và đường hàng khơng.
7.2. Đặc điểm địa hình, khí hậu
Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đơng, phía Tây của
tỉnh là vùng núi rìa phía đơng của dãy Trường Sơn Nam, kế tiếp là vùng trung du và tiếp
theo là vùng ven biển. Các dạng địa hình phổ biến là các dãy núi cao, đồi thấp xen lẫn
thung lũng hẹp độ cao trên dưới 100 mét, hướng vng góc với dãy Trường Sơn, các đồng
bằng lòng chảo, các đồng bằng duyên hải bị chia nhỏ do các nhánh núi đâm ra biển.
Ngoài cùng là cồn vát ven biển có độ dốc khơng đối xứng giữa 2 hướng sườn Đông và
Tây. Các dạng địa hình chủ yếu của tỉnh là: Vùng núi; Vùng đồi; Vùng đồng bằng và
Vùng ven biển.
Do vị trí địa lý, địa hình tạo nên khí hậu Bình Định có tính hai mùa tương đối rõ
nét. Sự tác động mang tính mùa của yếu tố khí hậu - thời tiết gây khó khăn trong phát
triển du lịch biển, đảo. Ngồi ra, khí hậu mang tính mùa vụ cao đã ảnh hưởng tiêu cực đến
hoạt động sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Mặc khác, địa hình nằm gọn bên
sườn phía Đơng của dãy Trường Sơn, có vùng núi rất ngắn và dốc khơng có khả năng điều
tiết lũ, nên lưu lượng dòng chảy lũ rất lớn dễ gây sạt lở, ngập lụt, nhưng hết mưa là sông
suối nhanh cạn nước, nắng nóng gây khơ hạn kéo dài.
7.3. Sản phẩm đặc trưng
Kết quả điều tra, thống kê năm 2017 của Sở Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn
tỉnh Bình Định cho thấy, Bình Định có 72 sản phẩm đặc trưng có thế mạnh, bao gồm 06
nhóm sau: (1) Nhóm thực phẩm có 49 sản phẩm (chiếm 68,06%), gồm các sản phẩm
chính: bị thịt chất lượng cao, nước mắm, cá ngừ đại dương, tôm thịt, hải sản khô các loại,
lúa giống, gà giống, gà thịt, yến sào. Trong đó, tỷ lệ đã công bố chất lượng sản phẩm đạt
42,6%; tỷ lệ đã đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đạt 18,6%; (2) Nhóm đồ uống có 06
sản phẩm (chiếm 5,56%), gồm các sản phẩm chính: rượu các loại, nước uống đóng chai,
nước dừa xiêm. Trong đó, tỷ lệ đã công bố chất lượng sản phẩm đạt 64,2%; tỷ lệ đã đăng
ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đạt 50%; (3) Nhóm thảo dược có 02 sản phẩm (chiếm
2,78%), gồm các sản phẩm chính: muối dược liệu, thìa canh Bidiphar. Trong đó, tỷ lệ đã
cơng bố chất lượng sản phẩm đạt 100%; tỷ lệ đã đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đạt
100%; (4) Nhóm vải và may mặc có 02 sản phẩm (chiếm 2,78%), gồm các sản phẩm
chính: may mặc, kén tằm. Trong đó, tỷ lệ đã công bố chất lượng sản phẩm đạt 100%; tỷ lệ
đã đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đạt 100%; (5) Nhóm lưu niệm – nội thất – trang trí
có 14 sản phẩm (chiếm 14,44%), gồm các sản phẩm chính: đồ gỗ mỹ nghệ, đồ gỗ ngoại
thất, mai cảnh, các sản phẩm từ sơ sợi dừa. Trong đó, tỷ lệ đã công bố chất lượng sản
phẩm đạt 13,3%; tỷ lệ đã đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đạt 13,3%; (6) Nhóm dịch
vụ du lịch nơng thơn có 01 sản phẩm (chiếm 1,39%).
7.4. Tài ngun thiên nhiên
Tài nguyên đất: đất sử dụng tính đến 31/12/20176 là 607.133 ha, trong đó đất nơng
nghiệp là 512.110 ha, chiếm 84,3%; đất phi nông nghiệp là 71.938 ha chiếm 11,9%; đất
chưa sử dụng là 23.085 ha chiếm 3,8%. Diện tích đất chưa sử dụng còn rất lớn, chiếm tới
3,8% tổng hiện trạng đất sử dụng của tỉnh, đây chính là một tiềm năng lớn cần được đầu
tư khai thác.
Tài nguyên rừng: có khoảng 370.514 ha đất lâm nghiệp có rừng đến 31/12/2017,
trong đó rừng sản xuất 158.502 ha và hơn 184.527 ha phòng hộ và rừng đặc dụng là
27.485 ha, rừng có ý nghĩa lớn về phịng hộ và bảo vệ mơi trường. Năm 2017, diện tích
rừng trồng mới tập trung đạt 8.992 ha, tăng 0,2% so với thực hiện năm 2016, trong đó
rừng sản xuất 8.233 ha; rừng phịng hộ 759 ha. Sản lượng gỗ khai thác đạt 853.587 m 3,
6
Niên giám thống kê Bình Định năm 2017
tăng 17,94% so với thực hiện năm 2016; sản lượng củi khai thác đạt 634.456 ster, tăng
17,55%; tre khai thác được 1.776 nghìn cây, giảm 0,17%; lá nón đạt 2.832 nghìn lá, giảm
0,11%. Rừng tự nhiên ở Bình Định có hơn 40 lồi cây dược liệu có giá trị khác, phân bố ở
hầu hết mọi nơi trong tỉnh như: Ngũ Gia Bì, Sa Nhân, Bách Bộ, Thổ Phục Linh, Hồng
Đằng, Thiên Môn, Phong Kỳ, Kim Ngân,… Vùng trung du, ven biển có cây dừa, trám,
đặc biệt có cây Mai Gừng có giá trị dược liệu rất cao nhưng chỉ phân bố ở vài vùng rất
nhỏ hẹp tại Vĩnh Thạnh. Cây Sa nhân cũng có giá trị xuất khẩu cao.
Tài nguyên khoáng sản: khá đa dạng, đáng chú ý nhất là đá granít có trữ lượng
khoảng 500 triệu m3, với nhiều màu sắc đỏ, đen, vàng… là vật liệu xây dựng cao cấp
được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng; sa khoáng titan đang được khoanh vùng
bảo vệ, tập trung ở mỏ Đề Gi (Phù Cát) trữ lượng khoảng 1,5 triệu m 3; cát trắng ở Hoài
Nhơn, trữ lượng khoảng 90.000 m3. Nhiều nguồn nước khống được đánh giá có chất
lượng cao đã và đang được đưa vào khai thác sản xuất nước giải khát, chữa bệnh. Ngồi
ra, cịn có các khoáng sản khác như cao lanh, đất sét và đặc biệt là các quặng vàng ở Hoài
Ân, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn.
Tài ngun nước mặt: Bình Định có lượng mưa khá lớn, trung bình năm từ 2000 –
3000 mm, cùng với 4 sông lớn và các hệ thống suối với tổng trữ lượng khoảng 5,2 tỷ m 3.
Ngoài 4 lưu vực sơng chính là sơng Kơn, sơng Lại Giang, sơng La Tinh và sơng Hà
Thanh, Bình Định cịn có một số hồ chứa nước lớn, không những phục vụ cho nơng
nghiệp, thủy điện mà cịn góp phần thu hút khách du lịch, phát triển nền kinh tế của tỉnh.
Bên cạnh đó, cịn có các đầm nước lợ ven biển có giá trị nuôi trồng thủy sản cao, như:
đầm Thị Nại có diện tích mặt nước 5.060 ha, đầm Đề Gi có diện tích mặt nước trung bình
khoảng 1.580 ha, đầm Trà Ổ diện tích mặt nước đầm lúc rộng nhất khoảng 2.000 ha, trung
bình 1.000 - 1.200 ha, vào mùa kiệt diện tích có thể thu hẹp cịn khoảng 200 - 300 ha.
Nhìn chung, Bình Định có tài ngun nước mặt dồi dào nhưng phân bố không đều theo
không gian vào thời gian. Mùa mưa phải khắc phục tình trạng úng ngập. Mùa khô lại phải
chống hạn. Do vậy, việc phát triển thuỷ lợi để khắc phục tình trạng trên, nhất là ở vùng
đồi, núi nhằm đáp đáp ứng yêu cầu của sản xuất và đời sống là rất cần thiết..
Tài ngun nước ngầm: Bình Định có lưu lượng nước ngầm trung bình, độ sâu
trung bình của các mạch nước ngầm ở vùng đồng bằng từ 5- 7 m, vùng trung du từ 10- 12
m, có nơi lớn hơn 20 m. Chất lượng nước ngầm khác nhau theo từng vùng. Các kết quả
điều tra khảo sát (Liên đoàn địa chất) tổng trữ lượng khai thác dự báo ở một số khu vực
như sau: Khu vực Tam Quan 898 m 3/ ngày, khu vực Trà Ổ, 3.077 m3/ngày, khu vực Phù
Mỹ 7.049 m3/ngày và khu vực Quy Nhơn 17.983 m 3/ngày. Khai thác nguồn nước ngầm
trên địa bàn tỉnh qui mô cịn nhỏ, phục vụ cho sinh hoạt là chính, sử dụng cho công
nghiệp và nông nghiệp chưa đáng kể.
Tài nguyên biển: được thiên nhiên ưu đãi một bờ biển dài 134 km, với nhiều cửa
biển: Quy Nhơn, Đề Gi, Tam Quan và hơn 7.600 ha mặt nước có khả năng nuôi trồng
thủy hải sản xuất khẩu. Hệ sinh thái biển Bình Định thích hợp cho nhiều loại hải sản có
giá trị cao được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng. Bờ biển và các đảo nhỏ ở Bình
Định cịn nguyên sơ đang là điểm đến hấp dẫn của du khách trong các năm gần đây.
7.5. Tài nguyên nhân văn
Bình Định có một tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch với nhiều danh lam thắng
cảnh, hội tụ đầy đủ núi, sông, biển, đầm, hồ, hải đảo, đồng ruộng, làng quê và lễ hội mang
bản sắc dân tộc Việt Nam. Nơi đây là vùng “địa linh nhân kiệt”, có nền văn hóa lâu đời,
cái nơi của nghệ thuật tuồng, là quê hương của người anh hùng dân tộc Quang Trung -
Nguyễn Huệ, là kinh đô của vương quốc Champa ngày xưa, giờ đây vẫn cịn để lại nhiều
di tích lịch sử văn hóa (LSVH) với hệ thống tháp Chàm được đánh giá vào loại đẹp nhất
của Việt Nam. Đây là những điểm đến đang khai thác để thu hút khách du lịch trong và
ngồi nước.
Đánh giá chung:
Bình Định có một số lợi thế về vị trí địa lý, đặc điểm địa hình, khí hậu thuận lợi
cho việc phát triển một số loại hình kinh tế chủ lực của địa phương như: chăn nuôi, đánh
bắt nuôi trồng thủy hải sản, logistics…Bên cạnh đó các giá trị về tài nguyên thiên nhiên
và nhân văn của địa phương cũng khá ấn tượng.
Kết quả tính tốn cho trụ cột Đặc điểm địa phương đạt 57,99/100 điểm, là trụ cột
được đánh giá ở mức trung bình cao nhất trong 8 trụ cột. Kết quả này phản ảnh từ những
yếu tố chính sau: điều kiện bất lợi của thời tiết, khí hậu đối với địa phương được người
dân nhận thức khá tốt, đã góp phần phịng ngừa, giảm thiểu tác hại đến hoạt động sản
xuất, kinh doanh của người dân; đồng thời đang khai thác hiệu quả lợi thế về vị trí địa lý,
cảnh quan thiên nhiên, sản phẩm đặc trưng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là
trong vấn đề phát triển ngành du lịch. Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường do con người tạo ra
ngày càng lớn, chậm được khắc phục triệt để sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
8. Thể chế
8.1. Một số kết quả chủ yếu trong điều hành CCHC của Bình Định
Cơng tác chỉ đạo điều hành cải cách hành chính: đã chỉ đạo quyết liệt trong tổ chức
thực hiện công tác CCHC nhằm triển khai các nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Bình Định,
Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình hành động sơ 05-CTr/TU ngày 20/10/2016, UBND
tỉnh ban hành Quyết định sô 536-QĐ/UBND ngày 24/02/2017 của UBND tỉnh. Trên cơ sở
đó, các sở, ngành và địa phương đã chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm, triển khai cải cách
thủ tục hành chính trong các lĩnh vực: đất đai, đầu tư, thuế, đăng ký kinh doanh, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép xây dựng. Trong đó, tập trung hồn thiện quy
định, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thơng tại các
cơ quan hành chính nhà nước, tạo thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của
người dân, doanh nghiệp.
Cải cách thể chế thông qua ban hành văn bản quy phạm pháp luật của địa phương:
Công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) đã có nhiều
chuyển biến tích cực. Các quyết định nhằm triển khai thực hiện chính sách pháp luật trên
địa bàn tỉnh Bình Định được xây dựng đảm bảo đúng quy trình, quy định. Trong năm
2017, chính quyền cấp tỉnh đã ban hành 130 VBQPPL (46 Nghị quyết của HĐND và 84
Quyết định của UBND)7, các văn bản được tập trung chủ yếu liên quan đến lĩnh vực đất
đai, tài ngun khống sản, mơi trường, tài chính, giáo dục.
Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức: các cấp
ủy Đảng, tổ chức Đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị theo chức năng nhiệm vụ, quyền hạn
của mình tập trung xây dựng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể, khả thi để thực
hiện có hiệu quả chỉ đạo của Ban Thường vụ tỉnh ủy và UBND tỉnh. Nâng cao trách
nhiệm trách nhiệm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả
Kết quả kiểm tra, xử lý rà soát văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh năm 2017, Bản tin số
01/2018 của Sở Tư pháp tỉnh Bình Định
7
cơng tác cán bộ; xây dựng đồng bộ, tồn diện đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là người đứng
đầu cấp ủy, tổ chức đảng.
Hiện đại hóa nền hành chính: theo mục tiêu của Chương trình hành động, UBND
tỉnh đã phê duyệt chủ trương đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và ứng dụng mơ hình chính
quyền điện tử giai đoạn 2016 - 20208; phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt
động các cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 9; đồng thời, xây dựng các kế hoạch
hàng năm để tổ chức triển khai thực hiện.
Kết quả: 100% các sở, ban, ngành và UBND cấp huyện, 07 cơ quan Trung ương
trên địa bàn tỉnh và 04/159 xã có trang thơng tin điện tử; Hệ thống Văn phòng điện tử đã
được triển khai tại 21/21 cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, 11/11 UBND cấp huyện và
70/159 UBND cấp xã; 100% các cơ quan, đơn vị sử dụng mạng nội bộ (LAN) để trao đổi
cơng việc, hình thành nên trục liên thông văn bản 04 cấp từ Trung ương đến cấp xã trên
địa bàn tỉnh. 100% sở, ngành, UBND cấp huyện và 50% UBND cấp xã đã triển khai sử
dụng và thực hiện kết nối liên thông giữa các cơ quan, đơn vị với UBND tỉnh .
8.2. Kết quả đo lường năng lực cạnh tranh của địa phương qua các chỉ số
(1) Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) có ý nghĩa rất quan trọng đối với địa
phương, phản ảnh chất lượng điều hành kinh tế thuộc thẩm quyền của chính quyền cấp
tỉnh, thành phố ở Việt Nam. PCI của tỉnh Bình Định do VCCI cơng bố từ năm 2014 đến
2018 được dẫn ra ở bảng 5.
Bảng 5: Tổng hợp các chỉ số thành phần PCI của Bình Định từ năm 2014-2018
Chỉ số thành phần
2014
2015
2016
2017
2018
Gia nhập thị trường
8,79
9,0
8,65
7,75
6,85
Tiếp cận đất đai
6,18
6,05
6,03
6,79
7,11
Tính minh bạch
6,53
6,17
6,61
6,67
6,54
Chi phí thời gian
6,82
7,47
6,56
6,48
7,36
Chi phí khơng chính thức
4,68
5,34
5,44
6,46
5,72
Tính năng động
4,2
4,87
4,82
5,63
6,02
Hỗ trợ doanh nghiệp
5,79
5,23
5,45
6,30
5,48
Đào tạo lao động
6,0
6,1
5,16
5,82
6,20
Thiết chế pháp lý
5,66
5,56
6,19
6,51
6,55
Cạnh tranh bình đẳng
5,16
4,85
6,23
6,31
6,69
Tổng điểm PCI
59,72
59,23
60,24
64,08
64,04
17
20
18
18
20
Xếp hạng
Nguồn: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh - VCCI (2018)
Từ bảng số liệu cho thấy, PCI Bình Định có xu hướng cải thiện về điểm số nhưng
lại sụt giảm về tính cạnh tranh khi vị thứ xếp hạng có chiều hướng giảm. Năm 2014 Bình
8()
9()
Quyết định số 1030/QĐ-UBND ngày 31../3/2016 của UBND tỉnh.
Quyết định số 900/QĐ-UBND ngày 17/3/2017 của UBND tỉnh.
Định đạt điểm số là 59,72, xếp thứ 17. Đến năm 2018 điểm số của Bình Định đã đạt 64,04
điểm nhưng vị thứ đã sụt xuống thứ 20. Điều này cho thấy sự nổ lực cải thiện PCI của các
địa phương khác rất quyết liệt.
(2) Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính cơng cấp tỉnh (PAPI)
Chỉ số PAPI đo lường hiệu quả quản trị và hành chính cơng cấp tỉnh dựa trên trải
nghiệm và đánh giá của người dân khi tương tác với các cấp chính quyền địa phương. Chỉ
số PAPI là công cụ theo dõi, giám sát năng lực điều hành, quản lý nhà nước, thực thi
chính sách và cung ứng dịch vụ cơng của chính quyền địa phương; giúp các cấp chính
quyền địa phương có những căn cứ điều chỉnh và cải thiện hiệu quả công tác, phục vụ
người dân tốt hơn.
Bảng 6: Tổng hợp các chỉ số thành phần PAPI của Bình Định từ năm 2014-2018
Chỉ số thành phần
2014
2015
2016
2017
2018
Tham gia của người dân ở cấp cơ sở
5,8
4,8
5,6
5,5
4,87
Cơng khai, minh bạch
6,3
5,7
6,1
5,7
4,83
Trách nhiệm giải trình với người dân
5,9
5,9
4,9
5,4
4,52
Kiểm sốt tham nhũng trong khu vực cơng
6,6
6,1
6,6
7,2
6,23
Thủ tục hành chính cơng
6,7
6,7
7,0
7,3
6,90
Cung ứng dịch vụ cơng
7,3
6,9
7,2
7,3
6,94
Quản trị mơi trường
-
-
-
-
4,02
Quản trị điện tử
-
-
-
-
2,73
38,6
36,1
37,4
38,4
41,04
Tổng điểm PAPI
Nguồn: papi.org.vn
Nhìn chung trong giai đoạn 2014-2018, kết quả đánh giá chỉ số PAPI của Bình
Định duy trì ở mức cao. Tuy nhiên, xu hướng được đánh giá chưa ổn định, thiếu bền
vững.
(3) Chỉ số Cải cách hành chính (PAR-Index)
PAR Index là chỉ số cải cách hành chính, là cơng cụ quan trọng để theo dõi, đánh
giá hoạt động cải cách hành chính (CCHC) được Bộ Nội vụ ban hành tại Quyết định số
1294/QĐ-BNV ngày 03/12/2012 với mục tiêu theo dõi, đánh giá một cách thực chất, khác
quan, công bằng kết quả CCHC hàng năm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình
tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020.
Hiện tồn tỉnh có 21/21 cơ quan chun mơn thuộc UBND tỉnh, 11/11 UBND cấp
huyện, 159/159 UBND cấp xã thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thơng; có 3/21 cơ
quan hành chính cấp tỉnh và 3/11 cơ quan hành chính cấp huyện thực hiện mơ hình Bộ
phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại.Tuy nhiên, nhìn chung cải cách thủ tục hành chính
(TTHC) và hiện đại hóa nền hành chính ở Bình Định là 2 lĩnh vực quan trọng nhưng cịn
nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến mơi trường đầu tư, sự hài lòng của người dân và tổ chức.
Theo kết quả đánh giá, xếp hạng chỉ số cải cách hành chính (PAR - Index) do Bộ
Nội vụ cơng bố hằng năm, Bình Định đều ở thứ hạng thấp, khơng ổn định. Chỉ số CCHC
năm 2016 của Bình Định tăng 12 bậc so với năm 2015, tuy nhiên năm 2017 lại giảm 18
bậc so với năm 2016, xếp vị trí thứ 59/63 tỉnh, thành phố. Đến năm 2018 Bình Định có sự
cải thiện khi nâng xếp hạng lên 53/63 tỉnh thành.
(4) Chỉ số Hài lòng của người dân về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước
trên địa bàn tỉnh Bình Định năm 2017 (SIPAS)
Chỉ số này được xây dựng nhằm có cơ sở đo lường, xác định mức độ hài lòng của
cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước một cách cụ thể,
định lượng như đã đề ra tại Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ và được Bộ Nội vụ
triển khai xây dựng thông qua Quyết định số 2640/QĐ-BNV phê duyệt Đề án “Đo lường
sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước
giai đoạn 2017 – 2020”. Thơng qua đó, các cơ quan hành chính nhà nước nắm bắt được
yêu cầu, mong muốn của người dân, tổ chức để có những biện pháp cải thiện chất lượng
phục vụ và cung cấp dịch vụ của mình nhằm nâng cao sự hài lịng và lợi ích của người
dân, tổ chức.
Đánh giá "Chỉ số hài lịng về sự phục vụ hành chính" của Bình Định năm 2018 đạt
8,68 điểm thấp hơn mức chung cả nước là 9,98 điểm và nằm trong nhóm 5 tỉnh chót bảng.
Đánh giá chung:
Các chỉ số về PCI, PAPI, SIPAS năm sau tăng hơn năm trước đã cho thấy sự quan
tâm, nỗ lực của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh trong việc cải thiện môi trường đầu
tư, khởi nghiệp, xây dựng nền hành chính liêm chính, minh bạch, hoạt động có hiệu lực,
hiệu quả, để phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân và tổ chức. Tuy nhiên, kết
quả xếp hạng Chỉ số CCHC (PAR INDEX) do Bộ Nội vụ công bố hàng năm tỉnh đều ở thứ
hạng thấp, không ổn định. Đặc biệt, năm 2017 giảm 18 bậc so với năm 2016, xếp vị trí
thứ 59/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó cải cách TTHC và hiện đại
hóa nền hành chính là 02 lĩnh vực cịn nhiều tồn tại, hạn chế, ảnh hưởng đến môi trường
đầu tư kinh doanh, sự hài lòng của người dân và tổ chức đối với sự phục vụ của các cơ
quan HCNN trên địa bàn tỉnh.
Theo kết quả tính tốn trụ cột Thể chế đạt 53,59/100 điểm, được đánh giá ở mức
trung bình, thấp hơn trụ cột đặc điểm địa phương. Kết quả này phản ảnh từ những yếu tố
chính sau: cải cách thủ tục hành chính, thực thi pháp luật, cải thiện mơi trường và thái
độ phục vụ người dân của cán bộ, cơng chức đều được chính quyền địa phương thực hiện
khá nghiêm túc và có hiệu quả bước đầu. Tuy nhiên, chính quyền chưa chủ động (phần
lớn là bị động) và tích cực trong việc giải quyết các vướng mắc về thủ tục hành chính, tạo
cơ chế thuận lợi hơn cho người dân, DN trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Do đó,
người đứng đầu các cấp chính quyền địa phương cần chủ động nâng cao năng lực lắng
nghe và thấu hiểu để giải quyết nhanh chóng, hiệu quả mọi vấn đề phát triển kinh tế và
dân sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.
Như vậy, tổng hợp chỉ số HNKTQT của tỉnh Bình Định trong năm 2017 chỉ
đạt 46,33/100 điểm, ở mức dưới trung bình. Đây là kết quả cịn rất khiêm tốn đối với một
địa phương có khơng ít thế mạnh về nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú, thời tiết và khí
hậu có phần thuận lợi, có di sản văn hóa và sản phẩm đặc trưng cùng với trật tự - an ninh
– an toàn xã hội tốt và giữ vững ổn định. Tuy nhiên, chưa khai thác hiệu quả tiềm năng
vốn có của tỉnh, do cịn nhiều vướng mắc trong thu hút đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng,
chính sách nhân dụng...
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu trong nước:
[1] Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, 2005. Quyết định số 2614/QĐ-CTUBND ngày
29/8/2005 về việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển GTVT tỉnh Bình Định đến năm 2010
và tầm nhìn đến năm 2020.
[2] Cơng ty Cổ phần tư vấn Quản trị HKT (HKT Consultant, 2015. Báo cáo đánh giá
năng lực hội nhập kinh tế quốc tế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2015. Hà Nội.
[3] Đảng bộ tỉnh Bình Định, 2016. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ
XIX về phát triển khoa học và cơng nghệ tỉnh Bình Định giai đoạn 2016-2020.
[4] Tỉnh ủy Bình Định, 2016. Chương trình hành động số 07-CTr/TU ngày 20/10/2016
của Tỉnh ủy về phát triển khoa học và cơng nghệ tỉnh Bình Định giai đoạn 2016 – 2020.
[5] Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế của Việt Nam, 2013. Báo cáo năng lực hội
nhập kinh tế quốc tế tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Hà Nội.
[6] Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định, 2012. Quyết định số 102/QĐ-UBND ngày 05/3/2012
của UBND tỉnh Bình Định về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Bình Định
giai đoạn 2011-2020, định hướng đến 2025.
[7] Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định, 2017. Quyết định số 584/QĐ-UBND ngày
01/3/2017 của UBND tỉnh Bình Định về việc triển khai kế hoạch thực hiện Chương trình hành
động số 07-CTr/TU.
Tài liệu nước ngoài:
[1] Bo Chen & Yuen Pau Woo, 2008. A composite Index of Economic Integration in the
Asia – Pacific Region. Pacific Economic Cooperation Council’s State of the Region Project.
[2] Bo Chen & Yuen Pau Woo, 2009. A Composite Index of Economic Integration in the
Asia-Pacific. Online at: />[3] Bo Chen & Yuen Pau Woo, 2010. Measuring Economic Integration in the AsiaPacific Region: A Principal Components Approach. Asian Economic Papers, Vol. 9, Issue 2,
p.121-143.
[4] Dennis, D.J. và Yusof, A.Z, 2003. Developing indicators of ASEAN integration - A
preliminary survey for a road map. Final report.
[5] Iván Arribas, Francisco Pérez and Emili Tortosa-Ausina, 2009. Measuring
international economic integration: theory and evidence of globalization. World Development,
Vol. 37, issue 1, 127-145.
[6] Ram C. Acharya, Someshwar Rao và Gary Sawchuk, 2002. Building a North
American Economic Integration Index: An Exploratory Analysis' Microeconomic Policy Analysis
Brand. Canada.
[7] UNECA, 2002. Annual Report on Integration in Africa 2002. UN Economic
Commission for Africa, Addis Ababa.
[8] Watanabe Toshio, 2004. The Path toward East Asia Market Integration. Keisoshobo,
Tokyo.