MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và những người
cộng sản trên thế giới đã đưa ra những quan điểm sâu sắc về vấn đề thời đại.
Theo đó, nội dung của thời đại mới – thời đại ngày nay – là xóa bỏ chủ nghĩa
tư bản, đồng thời thiết lập những cơ sở của xã hội mới là xã hội xã hội chủ
nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Tức là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Đây là một quá trình lịch sử lâu
dài, được bắt đầu từ nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, và sau
đó là nhiều nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, từ đầu thập kỷ 1980 cho đến
nay, chúng ta đã chứng kiến những biến đổi sâu sắc trên thế giới về mặt kinh
tế, chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật, trong đó có nhiều chấn động bất ngờ,
nhiều sự kiện biến hóa khơn lường, đầy kịch tình. Trong đó, có việc các thể
chế xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Lợi dụng
những điều này các thế lực thù địch đã cơng kích, xuyên tạc chủ nghĩa Mác Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại hòng làm tiêu tan lý
tưởng cộng sản trong tâm trí nhân loại.
Phải khẳng định rằng tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay và thời
gian tới dù có nhiều thay đổi, có khi là thay đổi khôn lường nhưng bản chất
của thời đại khơng thay đổi. Nhưng có một thực tế khơng thể chối bỏ là hiện
nay nhịp độ chuyển biến của thế giới nhanh chóng đến mức khó hình dung.
Q trình đó làm cho tính chất của thời đại càng phức tạp thêm bởi những
biểu hiện mới của nó. Điều này đặt ra địi hỏi phải có sự nhận thức sâu sắc
hơn về vấn đề thời đại và những biến đổi của thế giới trong giai đoạn hiện nay
để nắm bắt khuynh hướng phát triển và quy luật xoay vần của nhân loại. Từ
đó, lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử, dự báo
được những thách đố phức tạp và tránh được những vấp váp sai lệch trên
1
đường đi, từ đó sẽ khơng bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp
của đời sống thế giới.
Là một bộ phận của thế giới, Việt Nam khơng thể nằm ngồi các xu
hướng biến đổi của thế giới và thời đại. Đặc biệt khi chúng ta đang hội nhập
ngày càng sâu rộng với thế giời ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì
vậy, việc nghiên cứu “Những xu hướng biến đổi của thế giới trong thời đại
ngày nay” là vấn đề cần thiết để tiếp tục đưa nước ta vững bước trên con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thời đại và những xu hướng biến đổi của thời đại là những vấn đề quan
trọng, đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và những
người quan tâm. Liên quan đến đề tài ở nhiều mức độ khác nhau đã có nhiều
cơng trình nghiên cứu, tiêu biểu như:
Nguyễn Đức Bình (Chủ biên): Những đặc điểm lớn của thế giới đương
đại, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2007.
Vũ Văn Hiền: Nhận thức về thời đại ngày nay, Trang thông tin điện tử
Đài tiếng nói Việt Nam (VOV.VN), ngày 3/1/2011.
Vũ Văn Hiền: Chủ nghĩa Mác và thời đại ngày nay, Trang thông tin
điện tử Đài tiếng nói Việt Nam (VOV.VN), ngày 25/11/2011.
Vũ Văn Hiền: Nhận thức về thời đại ngày nay, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, năm 2010.
Hội đồng biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác –
Lênin: Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại hiện nay, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 1996.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Đề tài tìm hiểu một số những biến đổi quan trọng trong thời đại ngày
nay và những ảnh hưởng của nó đến Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ
2
Để thực hiện mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ tìm hiểu một số vấn đề
lý luận cơ bản về thời đại; phân tích những xu hướng biến đổi chủ yếu trong
thời đại ngày nay và những ảnh hưởng của những xu hướng đó với Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Đề tài nghiên cứu những xu hướng biến đổi của thế giới
trong thời đại ngày nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lớn của thời đại
gắn chặt với q trình từ khi nước ta thực hiện cơng cuộc đổi mới đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Tiểu luận được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đang ta về thời đại và
những vấn đề của thời đại ngày nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp logic, lịch sử; phân tích, tổng hợp, so
sánh nghiên cứu tài liệu…
6. Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo tiểu luận
gồm 2 chương 4 tiết.
3
NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI CỦA THẾ GIỚI
TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
1.1. Khái niệm thời đại
Lịch sử phát triển của xã hội loài người thường được đo bằng những
thiên niên kỷ, thế kỷ, thập kỷ, năm tháng, ngày giờ. Nhưng còn một cách đo
khác sâu sắc hơn và có ý nghĩa hơn nhiều là xác định sự phát triển xã hội
bằng những chuyển biến, những thay đổi có tính bước ngoặt được bắt đầu từ
những sự kiện đặc biệt báo hiệu sự chuyển hóa về chất của đời sống xã hội.
Đó là cách phân định xã hội bằng thời đại, là việc dựa vào những tiêu chí nhất
định để phân kỳ lịch sử và đặt tên cho nó.
Sự phân chia các thời đại trong lịch sử nhân loại là một công việc
không đơn giản, xuất phát từ những cơ sở, tiêu chí khác nhau. Có nhiều cách
phân chia và cách hiểu về thời đại. Cách phân chia thời đại dựa trên những
tiêu chí kỹ thuật như thời đại đồ đá, thời đại đồ đồng, thời đại cối xay gió,
thời đại máy móc hơi nước, thời đại tên lửa, vũ trụ và thời đại tin học… Phân
chia dựa vào những yếu tố đặc thù của xã hội như thời kỳ (thời đại) mông
muội, dã man, gia trưởng, văn minh. Phân chia thời đại theo nền văn minh.
Như văn minh phương Tây, văn minh Khổng giáo (nho giáo), văn minh Nhật
Bản, văn minh Mỹ la-tinh, văn minh Châu Phi. Cũng có quan điểm chia lịch
sử loài người thành 3 nền văn minh kế tiếp nhau tương ứng cới các thời đại:
Văn minh nông nghiệp, văn minh cơng nghiệp và văn minh hậu cơng nghiệp.
Nhìn chung, những cách phân chia nêu trên đều có sự khái quát cao, đều có
những căn cứ và có những yếu tố hợp lý nhất định, nhưng tất cả đều là cách
nhình phiến diện, mới chỉ nhấn mạnh được một vài khía cạnh của sức sản
xuất, khơng chỉ ra được tính chất tổng hòa của đời sống xã hội và đặc biệt là
khơng nêu được động lực chính của sự phát triển lịch sử xã hội.
4
Dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử để phân tích xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lê-nin đã xem
xét vấn đề thời đại một cách khoa học, phù hợp với sự vận động phát triển của
lịch sử loài người. Các ơng đã coi hình thái tồn tại của thực tế xã hội là hình
thái kinh tế - xã hội và quá trình phát triển của xã hội là sự thay thế hình thái
kinh tế - xã hội từ thấp đến cao. Theo Mác và Ăng-ghen, lịch sử phát triển xã
hội loài người cho đến thế kỷ XIX là các hình thái: cộng sản ngun thủy,
chiếm hữu nơ lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa. Từ đó, các ông đã rút ra kết
luận là hình thái kinh tế -xã hội cộng sản chủ nghĩa tất yếu sẽ thay thế hình
thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa.
Từ cách tiếp cận như trên, có thể hiểu thời đại theo nghĩa rộng và nghĩa
hẹp.
Theo nghĩa rộng, thời đại là một khái niệm chính trị - kinh tế - xã hội
khái quát tiến trình phát triển của lịch sử loài người, là thời gian rất dài để chỉ
sự phân kỳ lịch sử xã hội và để phân biệt những nấc thang phát triển của hình
thái kinh tế - xã hội mà theo đó nấc thang cao hơn, tiến bộ hơn sẽ phủ định
nấc thang cũ, lạc hậu để mở đường cho sự phát triển một thời đại mới. Sau
cách mạng tháng Mười Nga, nhân loại bắt đầu một thời đại mới, thời đại quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Thời đại theo nghĩa hẹp là khái niệm về thời gian để chỉ xu thế và nội
dung phát triển trên các phương diện kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật,
công nghệ…
1.2. Những xu thế biến đổi chủ yếu của thế giới trong giai đoạn hiện
nay
Tình hình thế giới hiện nay đang đan xen những yếu tố phức tạp, phát
triển và suy thoái, hợp tác và đấu tranh, ổn định và mất ổn định. Tuy vậy, sự
xuất hiện của những vấn đề toàn cầu, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng
khoa học và công nghệ, sự gia tăng hợp tác giữa các quốc gia, nhu cầu hòa
5
bình, ổn định và phát triển vẫn là những xu thế chủ đạo trong giai đoạn hiện
nay.
1.2.1. Sự xuất hiện những vấn đề toàn cầu và xu thế dân chủ hóa
đời sống quốc tế
Khi thế giới cịn tồn tại trật tự hai cực, các vấn đề quốc tế chủ yếu do
các nước lớn, đặc biệt là hai nước đứng đầu hai cực là Liên Xô và Mỹ chi
phối. Tuy vậy, ý thức độc lập tự chủ của các nước ở cả hai khối cũng ngày
càng phát triển. Khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các lớn tư bản chỉ
nghĩa, đứng đầu là Mỹ đã lợi dụng cơ hội để đưa thế giới hướng về một cực
duy nhất là Mỹ nhưng với những cuộc chiến tranh đơn phương do mình tiến
hành, trật tự một cực mà Mỹ muốn thiết lập khơng thể duy trì được lâu. Thế
giới thật sự đã thay đổi và có xu hướng dân chủ hơn. Các nước đang phát
triển chiếm khoảng 3/4 số nước trên thế giới đang có địa vị ngày càng cao
trên các diễn đàn quốc tế cũng như trong việc xử lý các vấn đề hệ trọng của
thế giới. Ngay cả các nước phát triển cũng đã phải thừa nhận những đóng góp
ngày càng quan trọng của các nước đang phát triển vào việc giải quyết các
cộng việc quốc tế, tháo gỡ những bế tắc cho việc tự do hóa thương mại, vì vậy
các nước lớn cần phải thường xuyên đối thoại với những nước đang phát
triển.
Hiện nay nhân loại đang đứng trước những vấn đề có tính tồn cầu,đó
là: tình trạng bùng nổ dân số ở các nước nghèo; sự nghèo đói ở các nước
chậm phát triển; tình trạng ơ nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên đang đe
dọa cuộc sống của hang tỷ người trên trái đất; tình trạng buôn lậu ma túy,
buôn lậu quốc tế, bênh tật hiểm nghèo, chủ nghĩa khủng bố, và những vấn đề
an ninh phi truyền thống đang có xu hướng gia tăng gây hậu quả nặng nề cho
nhiều quốc gia trên thế giới.
Những vấn đề này chỉ riêng từng nước hay một số nước lớn khơng thể
tự mình giải quyết được, mà phải nhờ đến sự hợp tác của các nước vừa và
nhỏ, cùng các tổ chức phi chính phủ. Vì vậy, địi hỏi các quốc gia trên thế
6
giới, khơng phân biệt chế độ chính trị, sắc tộc, tôn giáo đều phải cùng nhau
hợp lực để giải quyết có hiệu quả những vấn đề nêu trên nhằm duy trì sự tồn
tại và phát triển của thế giới. Hơn nữa, các nhà nước cũng khơng có đủ nguồn
lực và khả năng chuyên môn để giải quyết các vấn đề toàn cầu ở từng quốc
gia, các khu vực và trên tồn thế giới. Các tổ chức phi chính phủ ngày càng
phát triển mạnh mẽ và tham gia tích cực vào việc giải quyết những vấn đề
toàn cầu.
1.2.2. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại
Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang phát triển hết sức
mạnh mẽ,với trình độ ngày càng cao, tạo ra điều kiện tăng nhanh năng lực sản
xuất. Điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ là ở chỗ phát
minh khoa học ra đời chuyển hố thành cơng nghệ và đưa công nghệ vào sản
xuất. Hai yếu tố này không tách rời về không gian và thời gian, ngày càng
thống nhất trong một q trình.
Khoa học và cơng nghệ là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển nhảy vọt, đồng thời bản thân nó ngày càng trở thành lực lượng sản xuất
nòng cốt và trực tiếp của xã hội. Nhờ cách mạng khoa học và công nghệ,
trung bình cứ 10 đến 15 năm của cải nhân loại lại tăng gấp đơi. Từ đó tạo ra
những thay đổi trong nhiều quan niệm của đời sống xã hội từ kinh tế đến
chính trị, văn hóa… Nó buộc các quốc gia phải thay đổi cơ chế quản lý, phải
cải cách hành chính, từ bỏ cơ chế, mơ hình quản lý khơng thích hợp. Đồng
thời, tạo ra xu hướng tồn cầu hóa trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội,
dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng; khoảng cách
sự phân hóa giàu nghèo giữa các nước ngày càng lớn.
Những tiến bộ về khoa học và công nghệ, đặc biệt về công nghệ thông
tin ngày càng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, tức là nền
kinh tế chủ yếu dựa vào khoa học và tri thức, sản phẩm làm ra có hàm lượng
trí tuệ cao, giá trị. Hiện nay,thế giới đang bước vào nền kinh tế tri thức,và
vòng đua của nhân loại trong thế kỉ 21 là vòng đua vào nền kinh tế tri thức.
7
1.2.3. Xu thế tồn cầu hố
Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về tồn cầu hố, nhưng xét về bản
chất đây là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự tác động lẫn
nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc
trên tồn thế giới. Tồn cầu hố đang tạo ra những ưu thế nhất định và có thể
tóm tắt ưu thế đó trên mấy điểm như sau: thứ nhất, nó tạo ra khả năng phát
triển, phổ cập cơng nghệ thông tin và các phương tiện viễn thông; thứ hai, nó
thúc đẩy sự phát triển kinh tế, thương mại và tạo ra khả năng thực thi các luật
lệ kinh tế khách quan trong một khơng gian tồn cầu rộng lớn; thứ ba, nó tạo
điều kiện cho việc giao lưu văn hố và tư tưởng rộng rãi, làm cho con người
xích lại gần nhau hơn; cuối cùng, tồn cầu hố đem lại khả năng giải quyết
một số vấn đề chung đang đối mặt với tồn cầu hố kinh tế và sự phát triển xã
hội.
Tồn cầu hố khơng phải là hiện tượng mới diễn ra gần đây. Ra đời
cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường và chủ nghĩa tư bản, q trình
tồn cầu hố đã trãi qua ba làn sóng: làn sóng thứ nhất từ năm 1870 đến 1914,
làn sóng thứ hai từ năm 1945 đến 1980; làn sóng thứ ba từ thập niên 1980 trở
lại đây với sự tăng vọt về tốc độ, quy mô và số chủ thể tham gia.
Ngày nay, bản chất khách quan của toàn cầu hoá được quy định bởi bốn
yếu tố chủ yếu là:
Thứ nhất, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tác động mạnh mẽ
đến tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại hoá và xã
hội hố, quốc tế hố cao;
Thứ hai, sự phân cơng lao động quốc tế tuy đã xuất hiện từ cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX, nhưng chỉ bắt đầu phát triển cả về bề sâu và bề rộng từ
một hai thập niên gần đây và được phản ánh bởi các mối quan hệ kinh tế quốc
tế đa tầng, đa dạng, đan xen, chồng chéo và phụ thuộc lẫn nhau;
8
Thứ ba, sự phát triển mạnh mẽ và phổ biến của kinh tế thị trường làm
chấm dứt cục diện khu biệt, co cụm của nền kinh tế thế giới, làm cho sản
xuất, kinh doanh có quy mơ tồn cầu;
Thứ tư, sự hiện diện của những vấn đề tồn cầu địi hỏi có sự phối hợp
các nguồn lực đa phương.
1.2.4. Xu thế hồ bình, hợp tác và phát triển
Từ những hậu quả của các cuộc chiến tranh trên thế giới, các quốc gia
đều nhận thấy tầm quan trọng của hịa bình, ổn định để phát triển. Trong thực
tế khơng có một nước nào có thể phát triển được trong hồn cảnh có chiến
tranh, do vậy, hịa bình đã trở thành nhu cầu bức xúc của các dân tộc trên thế
giới. Hòa bình gắn với phát triển. Có hịa bình mới có điều kiện thu hút nguồn
vốn đầu tư nước ngoài, mới huy động được sức người, sức của trong nhân dân
để phát triển đất nước. Đất nước phát triển mới bảo vệ được nền hịa bình.
Nhưng phát triển phải theo hướng tiến bộ, vì lợi ích của nhân dân, chứ khơng
phải vì lợi ích của một số nhà đại tư bản.
Cùng với đó, những vấn đề cụ thể trong các lĩnh vực khác nhau khiến
cho các nước đều muốn hướng tới hịa bình:
Thứ nhất, sự tồn tại của vũ khí giết người hàng loạt và sức mạnh huỷ
diệt khủng khiếp của nó làm cho bất cứ giới cầm quyền nào cũng phải tính
tốn kỹ trong vấn đề chiến tranh và hồ bình.
Thứ hai, cục diện thế giới tiếp tục có những thay đổi quan trọng. Mỹ
tiếp tục là siêu cường duy nhất có sức mạnh vượt trội về các mặt so với các
cường quốc khác, nhưng các cường quốc khác đang vươn lên mạnh làm đối
trọng với sức mạnh của Mỹ. Xu hướng đa cực hoá, đa dạng hoá trong quan hệ
quốc tế đang phát triển. Quan hệ giữa các nước lớn diễn ra phức tạp, nhưng
vẫn trong khuôn khổ vừa hợp tác, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau. Hợp tác,
nhưng không dẫn tới liên minh mới; đấu tranh nhưng tránh xung đột và đối
đầu.
9
Thứ ba, sự phụ thuộc lẫn nhau, nhất là về kinh tế trong bối cảnh tồn
cầu hố giữa các quốc gia rất sâu sắc, khiến sự đụng đầu quân sự sẽ làm đỗ vỡ
toàn bộ nền kinh tế thế giới, gây thiệt hại cho tất cả các quốc gia.
10
Chương 2
SỰ BIẾN ĐỔI CÁC XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỜI ĐẠI VÀ
YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆT NAM
2.1. Cơ hội và thách thức trước thời đại
2.1.1 Về cơ hội
Trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học, lãnh đạo Việt Nam đã
nghiên cứu và chỉ ra những tác động của tình hình thế giới đối với kinh tế, xã
hội, chính trị và văn hoá của Việt Nam.
Về kinh tế, các xu thế của thời đại, đặc biệt là toàn cầu hóa đã và đang
tạo ra những cơ hội cho các nước có nền kinh tế đang phát triển hội nhập vào
nền kinh tế thế giới để trên cơ sở đó, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và
đổi mới công nghệ.
Việt Nam từ khi mở cửa, hội nhập, phát triển nền kinh tế hàng hố
nhiều thành phần, có nhiều cơng ty nước ngồi vào đầu tư, thương mại phát
triển xuyên biên giới,…. Đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hoá, Việt Nam gia
nhập các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực như BTA, AFTA, WTO… Đây là
cơ hội mà để ngành kinh tế Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp có điều
kiện phát triển và có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Về xã hội, những biến đổi của thế giới mang lại nhiều cơ hội cho Việt
Nam giao lưu với các nước trên thế giới, mở rộng quan hệ kinh tế, chính trị,
ngoại giao.
Sự giao lưu quốc tế rộng rãi trên cơ sở của phát triển kinh tế tồn cầu
cũng có những tác động khơng nhỏ tới lĩnh vực văn hóa. Cùng với việc phục
hồi, phát huy các giá trị văn hoá; nền văn hố Việt Nam có điều kiện tiếp thu
các giá trị mới của nền văn hoá thế giới và ngày càng trở nên đa dạng, phong
phú.
2.1.2. Thách thức
Về chính trị - an ninh, q trình tồn cầu hố đặt ra những vấn đề phải
xử lý liên quan đến độc lập, chủ quyền, sự ổn định chính trị, sự tồn tại các
11
thiết chế chính trị, hệ thống nhà nước và các ý thức hệ là nền tảng tư tưởng
của các quốc gia. Tính độc lập của mỗi quốc gia bị thu hẹp lại bởi sự phụ
thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các nước, sự hạn chế về thẩm quyền và
khả năng hành xử theo ý muốn riêng của mỗi nước. Tồn cầu hố cịn bị chủ
nghĩa tư bản lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ, xâm nhập và thâu
tóm đời sống kinh tế và chính trị của các dân tộc trên thế giới.
- Về mặt xã hội, các thách thức đặt ra rất đa dạng, thể hiện qua nguy cơ
gia tăng thất nghiệp và xáo trộn công ăn việc làm của một bộ phận do chuyển
đổi kinh tế và cạnh tranh; nguy cơ suy yếu các giá trị cơ bản của cộng đồng,
nền văn hoá và bản sắc dân tộc; các vấn đề an ninh phi truyền thống gia tăng;
nguy cơ an ninh con người liên quan tới sự bảo vệ các quyền cơ bản, vấn đề
dân chủ, nhân quyền…
- Về kinh tế, do tồn cầu hố đòi hỏi các quốc gia phải mở cửa thị
trường, dỡ bỏ các biện pháp thuế quan, phi thuế quan cũng như những rào cản
thể chế khác nhau ở các nền kinh tế kém phát triển hơn, sản xuất kinh doanh
trong nước sẽ phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ hàng hố, dịch vụ, cơng
nghệ, nhập khẩu, cũng như dễ bị tác động bởi các cú sốc kinh tế từ bên ngồi,
nhất là các chấn động về tài chính - tiền tệ, như cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á năm 1997 – 1998.
Tuy phải đối phó với rất nhiều thách thức do tồn cầu hố đặt ra, nhưng
xây dựng nền kinh tế thị trường mở và hội nhập kinh tế quốc tế vẫn phải là
đòi hỏi khách quan đối với tất cả các quốc gia muốn phát triển được. Nếu
khơng hội nhập được thì sẽ bị loại ra khỏi cuộc đua kinh tế toàn cầu với tất cả
hậu quả của nó. Mặt khác, cũng phải thấy rằng, những cơ hội, thách thức nêu
trên có mối quan hệ tác động qua lại, có thể chuyển hố lẫn nhau. Cơ hội
không tự phát huy tác dụng mà tuỳ thuộc vào khả năng tận dụng cơ hội của
mỗi nước. Tận dụng tốt cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua thách
thức, tạo ra cơ hội lớn hơn. Ngược lại, nếu không nắm bắt, tận dụng thì cơ hội
có thể bị bỏ lỡ, thách thức sẽ tăng lên, lấn át cơ hội, cản trở sự phát triển.
12
Thách thức tuy là sức ép trực tiếp, nhưng tác động đến đâu cũng còn tuỳ
thuộc vào nỗ lực và khả năng vượt qua của từng quốc gia dân tộc.
2.2. Những yêu cầu đối với Việt Nam
Nhận thức rõ những xu thế của thời đại, Đại hội lần thứ X của Đảng
Cộng sản Việt Nam chỉ rõ, cần chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế,
đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác, nêu rõ tiến trình
phát triển đất nước hội nhập kinh tế quốc tế trên các lĩnh vực khác, nêu rõ tiến
trình phát triển đất nước hội nhập kinh tế quốc tế phải giữ vững độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ; hội nhập vì lợi ích đất nước, giữ vững định hướng
xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khoá X) tháng 12/2007
cũng đã nhấn mạnh: nếu tích cực chuẩn bị, có biện pháp đối phó hiệu quả,
vươn lên nhanh trước sức ép của các thách thức thì khơng những chúng ta sẽ
vượt qua được thách thức mà cịn có thể biến thách thức thành động lực phát
triển.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, dựa vào sự phân tích khoa học
những sai lầm trong xây dựng chủ nghĩa xã hội của các đảng anh em và của
bản thân, Đảng ta đã xác định những phương hướng cơ bản xây dựng chủ
nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở nước ta nhằm đạt tới mục tiêu: độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội
cơng bằng, dân chủ, văn minh. Đó là: Phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa; thực hiện cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước; xây dựng
một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động hội nhập quốc tế; xây dựng
nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; thực hiện tốt các chính sách xã
hội; chăm lo bồi dưỡng con người và phát huy nhân tố con người; xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; xây dựng
chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; đoàn kết dân tộc
là động lực chủ yếu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
13
Đảng ta cũng đã nhận thức đầy đủ những nguy cơ gây cản trở lớn đến
cơng cuộc đổi mới. Đó là sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong
khu vực và trên thế giới; sự chệch hướng xã hội chủ nghĩa trong công cuộc
xây dựng; nạn tham nhũng và tệ quan liêu của cán bộ trong bộ máy quản lý;
“diễn biến hồ bình” do các thế lực thù địch gây ra. Cuộc đấu tranh giai cấp,
đấu tranh dân tộc, đấu tranh chống các tiêu cực xã hội trong giai đoạn cách
mạng hiện nay đã và đang diễn ra xoay quanh việc chống lại những nguy cơ
ấy. Trong thực tiễn cách mạng nước ta, những phương hướng cơ bản trên đây
mà Đảng ta xác định, và đang được tổ chức thực hiện và đưa lại những thành
quả to lớn: tình hình chính trị được ổn định; an ninh quốc phịng được giữ
vững; kinh tế, văn hố, xã hội có bước phát triển tốt, tạo thuận lợi cho cơng
cuộc cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước.
Thực tiễn cũng cho thấy, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa hiện nay đang đòi hỏi cao bản chất cách mạng và khoa học của
Đảng. Khơng có ý chí kiên cường, quyết tâm sắt đá, lập trường kiên định,
lịng trung thành vơ hạn với lý tưởng, với sự nghiệp của nhân dân thì khơng
thể vượt qua khó khăn, thử thách trên con đường phấn đấu để đi đến mục tiêu
cách mạng. Nhưng sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa cịn địi hỏi Đảng ta phải có tầm cao trí tuệ, thật sự khoa học
mới có thể đưa đất nước thốt khỏi tụt hậu, khơng để cơng cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội đi chệch hướng, không để tệ tham nhũng và các tệ nạn xã hội
khác hồnh hành, khơng để cho các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “diễn
biến hồ bình”, bạo loạn lật đổ…
Trong thời gian qua, trước những biến động nhanh chóng của tình hình
thế giới và khu vực, Đảng ta khơng ngừng trau dồi bản lĩnh cách mạng và trí
tuệ khoa học. Đó là sự kiên định con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, kiên
định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quyết tâm sắt đá đưa đất
nước ra khỏi nghèo nàn lạc hậu, không lung lay trước những diễn biến phức
tạp trên thế giới, trước sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở nhiều nơi. Đó là sự
14
tài tình trong việc đề ra mục tiêu đúng đắn cho từng chặng đường, tìm ra biện
pháp thích hợp để đi tới mục tiêu, luôn luôn phát huy sức mạnh tổng hợp,
đoàn kết toàn dân, huy động nỗ lực của mọi thành viên trong xã hội, phát huy
mọi nguồn lực của đất nước vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó
là chính sách đối ngoại đúng đắn, khôn khéo lợi dụng thời cơ mà thời đại đã
đưa đến để khai thác nguồn lực bên ngoài phục vụ đất nước, đồng thời nắm
chắc bản chất của kẻ thù, nâng cao cảnh giác cách mạng, sẵn sàng đập tan âm
mưu “diễn biến hồ bình” của các thế lực thù địch cũng như mọi kiểu chiến
tranh mà chúng có thể gây ra.
Tất cả các vấn đề nói trên khơng chỉ địi hỏi ý chí và quyết tâm, mà cịn
địi hỏi tư duy khoa học của Đảng ta. Đây không phải là việc làm dễ dàng,
nhưng với truyền thống cách mạng và kinh nghiệm đã có, chắc chắn Đảng ta
sẽ thực hiện tốt, đưa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa tới thành công.
15
KẾT LUẬN
Hiện nay, nhịp độ chuyển biến của thế giới nhanh chóng đến mức khó
hình dung. Q trình đó làm cho tính chất của thời đại càng phức tạp thêm bởi
những biểu hiện mới của nó. Song, thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ
chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng
Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Đó là thời đại đấu tranh cho thắng lợi của
hịa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội gắn liền với cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại, tạo ra những tiền đề vật chất - kỹ thuật
ngày càng đầy đủ cho việc chuyển lên chủ nghĩa xã hội.
Chính trong bối cảnh thế giới phức tạp như vậy, các dân tộc càng phải
độc lập, tự chủ và không ngừng sáng tạo, càng hội nhập thì càng cần phải phát
huy bản sắc dân tộc, giá trị chuẩn mực của dân tộc “hội nhập mà khơng hồ
tan”. Đúng là thế giới phát triển theo quy luật của nó, nhưng cách thức phát
triển và bước đi là vô cùng phong phú, đa dạng. Mỗi nước phải tìm ra định
hướng phát triển cho mình trên cơ sở những xu hướng vận động của thời đại.
Vì vậy, nhận thức đúng và làm rõ nội dung, tính chất của thời đại ngày
nay là cơ sở quan trọng để chúng ta hoạch định đúng đắn đường lối và sách
lược của chúng ta và “chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản
của một thời đại, chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của
nước này hay nước nọ” như V.I.Lênin đã từng khẳng định.
16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Đức Bình (Chủ biên): Những đặc điểm lớn của thế giới đương
đại, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2007.
2. Vũ Văn Hiền: Nhận thức về thời đại ngày nay, Trang thông tin điện tử
Đài tiếng nói Việt Nam (VOV.VN), ngày 3/1/2011.
3. Vũ Văn Hiền: Chủ nghĩa Mác và thời đại ngày nay, Trang thơng tin
điện tử Đài tiếng nói Việt Nam (VOV.VN), ngày 25/11/2011.
4. Vũ Văn Hiền: Nhận thức về thời đại ngày nay, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, năm 2010.
5. Hội đồng biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác –
Lênin: Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại hiện nay,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 1996.
6. Viện Chính trị học (Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh): Chính trị học những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản
Chính trị - hành chính, Hà Nội – 2009.
17
MỤC LỤC
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6. Kết cấu tiểu luận
Nội dung
Chương 1: Một số vấn đề lý luận xu hướng biến đổi của thế giới
trong thời đại ngày nay
1.1. Khái niệm thời đại
1.2. Những xu thế biến đổi chủ yếu của thế giới trong giai đoạn hiện
nay
Chương 2: Sự biến đổi các xu hướng phát triển của thời đại và yêu
cầu đối với Việt Nam
2.1. Cơ hội và thách thức trước thời đại
2.2. Những yêu cầu đối với Việt Nam
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
18
Trang
1
1
2
2
3
3
3
4
4
4
5
11
11
13
16
17