Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Bình trong thời kỳ hội nhập

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (323.19 KB, 6 trang )

HUFLIT International Conference On Ensuring A High-Quality Human Resource In The Modern Age - Oct 16, 2020
doi: 10.15625/vap.2020.0089

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH
TỈNH QUẢNG BÌNH TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Dương Thị Mai Thương
Trường Đại học Quảng Bình

TĨM TẮT: Trong thời kỳ hội nhập kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực du lịch giữ vai trò quyết định đến sự phát triển ngành du
lịch. Tỉnh Quảng Bình có nhiều điều kiện để phát triển du lịch, và trong những năm qua, du lịch đã có những bước phát triển khả
quan. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực du lịch của tỉnh còn nhiều hạn chế và đặt ra yêu cầu ngày càng cao trong thời kỳ hội
nhập. Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Bình, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Từ khóa: Du lịch, nguồn nhân lực, chất lượng, Quảng Bình.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Hội nhập kinh tế quốc tế giúp
nâng cao sức cạnh tranh của kinh tế Việt Nam nói chung và ngành du lịch nói riêng, khẳng định vị thế quốc gia trên
trường quốc tế.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, du lịch có vai trị quan trọng, góp phần vào tiến trình hội nhập và thực hiện
đường lối đối ngoại, là “cầu nối” của các quốc gia, là “giấy thơng hành của hịa bình”. Thời kỳ hội nhập đặt ra yêu cầu
ngày càng cao đối với ngành du lịch của các quốc gia, các địa phương. Trong đó, nhân tố con người, nguồn nhân lực
đóng vai trị then chốt, là yếu tố quyết định đến sự phát triển của ngành.
Quảng Bình là tỉnh có tiềm năng lớn để phát triển du lịch. Trong những năm qua, du lịch tỉnh có những bước phát triển
đáng khích lệ. Tuy nhiên, sự phát triển du lịch vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có, chưa đem lại hiệu quả kinh
tế cao. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do nguồn nhân lực du lịch của tỉnh vừa thiếu về số
lượng và vừa yếu về chất lượng. Đây là nút thắt cần tháo gỡ để từng bước đưa du lịch tỉnh nhà phát triển tương xứng
với tiềm năng vốn có, bắt kịp với xu thế của thời đại. Việc nghiên cứu, tìm hiểu chất lượng nguồn nhân lực du lịch tỉnh
Quảng Bình trong thời kỳ hội nhập có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội của
tỉnh nói chung.


II. NỘI DUNG
A. Một vài nét tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1. Nguồn nhân lực du lịch
a) Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là tồn bộ q trình chun mơn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem
lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với
mục đích đem lại thu nhập trong tương lai (Begg et.al, 1995).
Theo Ngân hàng thế giới thì nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con
người hiện có hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng (WB, 2000).
b) Nguồn nhân lực du lịch
Nhân lực ngành du lịch bao gồm toàn bộ các nhân lực trực tiếp và gián tiếp tham gia vào quá trình phục vụ khách du
lịch (Mạnh và Chương, 2006). Trong đó, nhân lực trực tiếp là những người làm việc trong các cơ quan quản lý Nhà
nước về du lịch; các đơn vị sự nghiệp du lịch; các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch. Còn nhân lực gián
tiếp là bộ phận nhân lực làm việc trong các ngành, các quá trình liên quan đến hoạt động du lịch như văn hóa, hải quan,
giao thông, xuất nhập cảnh, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ cơng cộng, mơi trường, bưu chính viễn
thông, cộng đồng dân cư...
Như vậy, khái niệm nhân lực du lịch có độ “bao phủ” tương đối rộng và chất lượng của nó khơng chỉ tác động và đóng
vai trò quyết định đối với sự phát triển du lịch; mà cịn góp phần khơng nhỏ vào sự phát triển các ngành, các lĩnh vực
khác có liên quan.


248

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH TỈNH QUẢNG BÌNH TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

Chất lượng nguồn nhân lực du lịch được thể hiện trên nhiều phương diện, bao gồm trình độ văn hóa, trình độ đào tạo,
kiến thức, kỹ năng chun mơn nghiệp vụ, trình độ giao tiếp, ngoại ngữ, kỹ năng ứng dụng thông tin, sức khỏe... Cũng
bởi du lịch có tính liên ngành và tính xã hội hóa cao, cho nên, ngồi trình độ chun môn du lịch, người lao động phải
được đào tạo các chun mơn khác như văn hóa, ngoại ngữ, kinh tế, tài chính, địa lý...
Thế giới đã và đang trong quá trình hội nhập do đó, hàm lượng tri thức trong các sản phẩm du lịch cũng dần chiếm tỷ

trọng cao, nhiều sản phẩm du lịch mới đang hình thành, phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các đối
tượng khách. Điều này đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với nguồn nhân lực ngành du lịch, cần có tri thức phong phú
và tồn diện hơn cả về kiến thức, chuyên môn, tay nghề, kỹ năng và ngoại ngữ...
2. Hội nhập kinh tế và những yêu cầu đối với nguồn nhân lực du lịch
Hội nhập quốc tế mà trước hết là hội nhập kinh tế, là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc: một mặt, gắn nền
kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy
tự do hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khuvực và toàn cầu
[3].
Nhu cầu hội nhập quốc tế trong du lịch là tăng cường quan hệ để phát triển; tiếp thu kinh nghiệm; xác lập vị thế trên
trường quốc tế; phát triển du lịch và góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Hội nhập quốc tế trong du lịch sẽ theo
các bước sau đây: Tham gia các tổ chức quốc tế; thừa nhận và áp dụng các tiến bộ của công nghệ thông tin; tăng cường
tồn cầu hố trong khai thác, bảo vệ và phát triển tài nguyên du lịch; áp
dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong phát triển ngành du lịch; ký kết các hiệp định hợp tác song phương và đa phương về
phát triển du lịch; cam kết và mở cửa thị trường dịch vụ du lịch.
Để hội nhập quốc tế thành công, nhân lực ngành du lịch phải được đào tạo với kỹ năng, trình độ chuyên nghiệp được
thừa nhận rộng rãi; có thể di chuyển và tìm được việc làm trong khu vực; vươn tới tham gia chủ động vào quá trình
phân cơng lao động quốc tế, đảm bảo cho du lịch Việt Nam có vị trí xứng đáng trong chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch có
chất lượng của khu vực và thế giới. Nhân lực du lịch cần sẵn sàng tham gia vào q trình phân cơng lao động quốc tế
trong hoạt động du lịch, trước hết là trong khu vực. Đào tạo du lịch phải hướng tới tiêu chuẩn trình độ kỹ năng của khu
vực và quốc tế và được thừa nhận.
B. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Bình
1. Thực trạng phát triển ngành du lịch tỉnh Quảng Bình
Qua thời gian thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị khoá XII về phát triển du lịch trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn, Chương trình hành động số 13-CTr/TU ngày 12/5/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về
phát triển du lịch giai đoạn 2016 - 2020, hoạt động du lịch Quảng Bình đã có bước phục hồi mạnh mẽ sau sự cố môi
trường biển và đạt được những kết quả quan trọng, với nhiều dấu ấn mới, tiếp tục khẳng định vị thế là điểm đến du lịch
hấp dẫn hàng đầu tại Việt Nam và điểm sáng trong quảng bá thương hiệu du lịch ra quốc tế, từng bước đưa du lịch
Quảng Bình phát triển bền vững.
Trong những năm qua, ngành du lịch Quảng Bình đã đạt nhiều bước tiến trong đầu tư phát triển cơ sở vật chất, đa dạng
hóa sản phẩm, xây dựng điểm đến và các dịch vụ du lịch để thu hút du khách trong và ngồi nước. Đến nay, tồn tỉnh

có 370 cơ sở lưu trú du lịch, trong đó có 03 khách sạn 5 sao, 05 khách sạn 4 sao, 11 khách sạn 3 sao, 19 khách sạn 2
sao, 15 khách sạn 1 sao và hệ thống các nhà nghỉ du lịch, homestay, farmstay với khoảng 5.200 buồng, 10.200 giường.
Có 24 đơn vị lữ hành đăng ký hoạt động, trong đó có 15 đơn vị lữ hành quốc tế, 09 đơn vị lữ hành nội địa và nhiều
doanh nghiệp kinh doanh vận tải khách du lịch, thương mại, dịch vụ cũng tham gia hoạt động kinh doanh lữ hành với
hình thức đại lý hoặc văn phịng đại diện. Tồn tỉnh hiện có gần 3.000 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống cùng các cơ
sở, cửa hàng cung cấp các sản phẩm phục vụ du khách tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh, trong đó có 16 cơ sở
kinh doanh dịch vụ ăn uống đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch, 01 cơ sở kinh doanh dịch vụ mua sắm đạt tiêu chuẩn
phục vụ khách du lịch. Tồn tỉnh có khoảng 600 xe ô tô phục vụ khách du lịch, trong đó có khoảng 400 xe từ 24 đến 45
chỗ ngồi. Có 12 sản phẩm du lịch khám phá, mạo hiểm; 1 sản phẩm du lịch đường sông và khoảng 15 điểm tham quan
du lịch được nhiều du khách lựa chọn [5].
Nhờ cảnh sắc thiên nhiên nên thơ, lôi cuốn và kỳ vĩ, năm 2019, Quảng Bình đón 5 triệu lượt khách du lịch, tăng 28 %
so với năm 2018, khách quốc tế ước đạt 300.000 lượt, tăng gần 50 % so với năm 2018. Năm 2020, ngành du lịch
Quảng Bình dự kiến đón khoảng 5,5 triệu lượt khách, trong đó có khoảng 350.000 khách quốc tế với tổng thu từ khách
du lịch ước đạt 6.380 tỷ đồng. Dự ước, giai đoạn 2016-2020, ngành du lịch đón khoảng 19,7 triệu lượt khách, tốc độ
tăng trưởng bình quân 30,55 %/năm, trong đó có 1,06 triệu lượt khách quốc tế, tốc độ tăng trưởng 71 %/năm, tổng thu
từ khách du lịch khoảng 22.000 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 30,5 %/năm [5].
Trong kết quả chung đó, sự đóng góp của nguồn nhân lực trong lĩnh vực du lịch có tính chất quyết định đến chất lượng
dịch vụ du lịch.


Dương Thị Mai Thương

249

2. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Bình
a) Số lượng nguồn nhân lực du lịch
Cùng với sự phát triển khá nhanh của ngành du lịch tỉnh Quảng Bình, số lượng nguồn nhân lực du lịch ngày càng tăng
cao. Năm 2016, có khoảng 4.015 nhân lực trực tiếp và hơn 8.300 nhân lực gián tiếp trong lĩnh vực du lịch, đến nay có
khoảng 6.000 nhân lực trực tiếp, hơn 12.000 nhân lực gián tiếp. Nhân lực trong lĩnh vực lưu trú du lịch chiếm chủ yếu
(hơn 4.000 người), tiếp đến là nhân lực làm việc tài các khu, tuyến, điểm du lịch; cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, lữ

hành, vận chuyển khách du lịch. Tổng số hướng dẫn viên du lịch đang hoạt động trên toàn tỉnh là 297 người. Trong đó
có 110 hướng dẫn viên du lịch nội địa, 164 hướng dẫn viên du lịch quốc tế, 23 hướng dẫn viên du lịch tại điểm. Ngồi
ra cịn có một bộ phận nhân lực du lịch làm việc tại cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch, đơn vị sự nghiệp ngành du
lịch... [4].
b) Cơ cấu nguồn nhân lực du lịch
Cơ cấu nhân lực các lĩnh vực được điều tiết ngày càng hợp lý, bảo đảm tính hiệu quả kinh tế - xã hội. Cơ cấu nhân lực
tăng theo tỷ lệ tăng của ngành. Cơ cấu về độ tuổi, giới tính cũng được cải thiện và phù hợp với tính chất công việc.
Về độ tuổi, nhân lực du lịch phần lớn là trẻ tuổi: độ tuổi dưới 45 chiếm khoảng 88 %, dưới 25 tuổi chiếm 31 %; độ tuổi
45 trở lên chỉ chiếm 12 %, chủ yếu thuộc nhóm cán bộ quản lý, điều hành [4].
Về giới tính, nhân lực nữ chiếm khoảng 52 %, nam giới 48 %. Mức độ chênh lệch giới dao động tùy theo ngành nghề
cụ thể, những ngành đòi hỏi sự khéo léo, tỷ mỷ, cẩn thận, như các nghề thuộc nhóm ngành kinh doanh dịch vụ lưu trú,
nhà hàng, chăm sóc sức khỏe,... thì tỷ trọng nhân lực nữ cao hơn nam. Những nhóm ngành địi hỏi nhân lực du lịch
phải có sức khỏe, sức chịu đựng cao như lữ hành hay khu điểm du lịch (hướng dẫn du lịch, lái xe, bảo vệ...), nhân lực
là nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn [4].
c) Chất lượng nguồn nhân lực du lịch
Về trình độ, tỷ lệ nhân lực có trình độ văn hóa trung học phổ thông và chưa tốt nghiệp trung học phổ thông cao, chiếm
trên 50 % tổng số nhân lực của ngành. Tỷ lệ nhân lực du lịch có trình độ cao đẳng và trung cấp chiếm khoảng 32 %,
trình độ đại học chiếm khoảng 16 %, trình độ sau đại học chỉ chiếm khoảng 1 % [4].
Tuy vậy, tỷ lệ nhân lực du lịch được đào tạo đúng chuyên môn thấp, chỉ chiếm khoảng 36 %, nhân lực có chuyên môn
khác chiếm 64 %, riêng lĩnh vực nhà hàng số người làm khác chuyên môn được đào tạo chiếm tỉ lệ cao nhất. Trong 297
hướng dẫn viên du lịch đang hoạt động, trình độ trung cấp chiếm gần 50 %, cao đẳng chiếm 18 %. Số lượng hướng dẫn
viên được đào tạo bài bản về chuyên ngành hướng dẫn chỉ chiếm khoảng 15 %, còn lại chỉ qua đào tạo nghiệp vụ ngắn
hạn [4].
Về trình độ ngoại ngữ, nhân lực đã qua đào tạo ngoại ngữ chiếm khoảng 30 % tổng số nhân lực du lịch. Tuy nhiên, số
nhân lực có trình độ đại học về ngoại ngữ cịn ít, hầu hết chỉ có trình độ tiếng Anh chứng chỉ tiếng Anh A, B, C. Các
ngoại ngữ khác, như tiếng Trung Quốc, Hàn Quốc, Nga, Nhật Bản, Thái Lan, Pháp, Đức, Ý..., chỉ chiếm khoảng 2 %
tổng số nhân lực tồn ngành có khả năng sử dụng [4].
Về khả năng đáp ứng u cầu cơng việc, qua khảo sát tình hình, có 50 % - 70 % nhân lực đáp ứng yêu cầu công việc,
tùy vào từng lĩnh vực cụ thể, tuy nhiên có khoảng 15 - 20 % số nhân viên trong lĩnh vực lưu trú, gần 30 % số nhân viên
trong lĩnh vực lữ hành chưa đáp ứng được các yêu cầu công việc [4].

Về hiệu quả sử dụng nhân lực: Theo khảo sát từ các doanh nghiệp, tỷ lệ nhân lực có thể làm việc ngay sau khi tuyển
dụng còn chưa cao, số lượng nhân lực phải đào tạo lại chiếm tỷ lệ tương đối lớn. Tùy thuộc vào hiệu quả, vị trí cơng
việc mà thu nhập có sự khác nhau, nhìn chung mức thu nhập bình quân của nhân lực trong ngành du lịch khoảng 5
triệu đồng/tháng.
d) Đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch
Trong những năm qua, xác định công tác tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch là nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Bằng các
nguồn kinh phí từ Chương trình Du lịch, xã hội hóa…, tỉnh Quảng Bình đã tích cực đẩy mạnh cơng tác đào tạo, tập
huấn nguồn nhân lực du lịch.
Theo thống kê của Sở Du lịch Quảng Bình, trong các năm từ 2016 - 2019, tỉnh Quảng Bình đã tổ chức, liên kết tổ chức
44 lớp tập huấn, đào tạo nghề du lịch, Hội nghị phổ biến, giới thiệu Luật, Nghị định, Thông tư… với tổng số gần 3000
học viên tham dự, trong đó:
Liên kết đào tạo nghề du lịch theo tiêu chuẩn VTOS và cấp chứng chỉ nghề buồng, bàn, lễ tân, quản lý cơ sở lưu trú,
chế biến món ăn cho hơn 700 học viên tại các cơ sở lưu trú du lịch, nhà hàng đạt chuẩn phục vụ khách du lịch trên địa
bàn thành phố Đồng Hới và khu vực Phong Nha.


250

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH TỈNH QUẢNG BÌNH TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

Tập huấn và cấp giấy chứng nhận nghiệp vụ du lịch cho gần 1110 học viên. Bao gồm 50 người dân làm dịch vụ du lịch
tại xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch; 200 lái xe và nhân viên phục vụ trên xe ô tô vận tải khách du lịch; 60 người
điều khiển xe ô tô điện kinh doanh vận chuyển khách du lịch; 800 người điều khiển và nhân viên phục vụ trên phương
tiện thủy vận chuyển khách du lịch thuộc Đội thuyền Du lịch Phong Nha - Kẻ Bàng.
Tổ chức các khóa cập nhật kiến thức cho 107 hướng dẫn viên du lịch nội địa và hướng dẫn viên du lịch quốc tế, phục
vụ công tác đổi thẻ, nâng cao chất lượng hướng dẫn viên du lịch. Sở Du lịch Quảng Bình đã liên kết với Trường Đại
học Khoa học xã hội và Nhân văn tổ chức khoá đào tạo nghiệp vụ điều hành lữ hành quốc tế và nội địa cho 25 học
viên.
Tổ chức các lớp tập huấn nâng cao nhận thức về phát triển du lịch bền vững, du lịch cộng đồng; phố biến Luật Du lịch

số 09/2017/QH14 và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn một số điều của Luật Du lịch, Nghị định số 45/2019/NĐCP… cho gần 1000 học viên quản lý, nhân viên các cơ sở kinh doanh du lịch, lực lượng vũ trang, giảng viên các cơ sở
đào tạo du lịch, …trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh đó, nhiều đơn vị, doanh nghiệp đã thực sự quan tâm đến công tác tự đào tạo, đào tạo lại nhân lực tại cơ sở
mình, điển hình như: Cơng ty TNHH MTV Du lịch Trường Thịnh, Khách sạn Biển Vàng, Công ty TNHH MTV Chua
Me Đất, Công ty TNHH Oxalis Holiday, Khách sạn Sài Gịn - Quảng Bình…
3. Nhận xét chung về chất lượng nguồn nhân lực du lịch Quảng Bình trong thời kỳ hội nhập
Nhìn chung, nhân lực du lịch ở Quảng Bình có tăng về mặt số lượng nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Điều
này dẫn đến tình trạng thiếu hụt, khan hiếm và chuyển dịch lao động, nhất là nhân lực chất lượng cao như các vị trí
quản lý, điều hành, hướng dẫn viên du lịch. Đặc biệt, vào mùa cao điểm, thiếu hụt nhân lực trầm trọng.
Tỷ lệ nhân lực đã qua đào tạo và có chun mơn của tỉnh cịn thấp so với yêu cầu phát triển của ngành. Với tỷ lệ nhân
lực đã qua đào tạo và chun mơn cịn thấp thì đây chính là khó khăn lớn cho tỉnh trong việc phát triển, và còn một
khoảng cách rất xa để tỉnh có thể thực hiện mục tiêu tiến vào nền kinh tế tri thức và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế
giới. Mặt khác trong xu thế hội nhập, sự cạnh tranh diễn ra khốc liệt hơn trên phạm vi rộng và sâu hơn ở mọi góc độ,
với nhiều quốc gia có tiềm lực phát triển du lịch. Trong sự cạnh tranh đó, tỉnh phải vượt qua rất nhiều khó khăn, nhưng
khó khăn lớn nhất là việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì phần lớn các quốc gia trong khu vực và thế giới,
nhiều địa phương trong nước ta đều có một nguồn nhân lực hơn hẳn về số lượng và chất lượng. Do vậy, để có thể tồn
tại và phát triển, tỉnh cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mà thể hiện đầu tiên là phải nâng cao
tỷ lệ nhân lực đã qua đào tạo. Có như vậy tỉnh mới có cơ hội để khẳng định và thành cơng trong q trình hội nhập nền
kinh tế.
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu đặt ra cho nguồn nhân lực du lịch Quảng Bình ngày càng cao. Đặc biệt,
Quảng Bình may mắn được lọt top 4 điểm đến ở Việt Nam và top 52 điểm đến du lịch hấp dẫn nhất hành tinh và là
điểm đến hấp dẫn nhất Châu Á vào năm 2017. Đây là cơ hội để du khách quốc tế đến Quảng Bình ngày càng nhiều
hơn. Do đó, trình độ chun mơn nghiệp vụ, các kỹ năng cơ bản, trình độ ngoại ngữ của nguồn nhân lực du lịch là yếu
tố quan trọng mang đến sự hài lịng cho du khách quốc tế nói riêng và du khách nói chung. Nhân lực du lịch tỉnh
Quảng Bình chun môn nghiệp vụ, hiệu quả lao động, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử lý tình huống, chăm sóc khách
hàng, trình độ ngoại ngữ chưa cao đây là một thách thức lớn đặt ra cho du lịch tỉnh nhà. Trong đó, trình độ ngoại ngữ
của nguồn nhân lực là bài toán lớn cho các nhà quản lý, lực lượng chức năng, các cơ sở dịch vụ du lịch cũng như
nguồn nhân lực du lịch.
Trên thực tế, tình trạng nhân lực sau khi tốt nghiệp các cơ sở đào tạo (đặc biệt là sinh viên tốt nghiệp các trường đại
học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp) không thể đáp ứng được yêu cầu nhà tuyển dụng. Hiện tại, hơn 50 % sinh

viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng đều phải được nhà tuyển dụng đào tạo lại vì khơng đáp ứng được u cầu
chun mơn. Tình trạng này vừa gây sự lãng phí rất lớn cho xã hội về chi phí đào tạo, về thời gian và cơ hội nghề
nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp sử dụng nhân lực đều đánh giá nhân lực từ các cơ sở đào tạo nghề từ sơ cấp đến đại
học đều không làm đúng với nhu cầu chun mơn vì chương trình đào tạo không đúng với điều cần của doanh nghiệp.
Nhiều sinh viên ra trường không đáp ứng được công việc đúng chuyên môn đào tạo.
Hệ thống cơ sở đào tạo về du lịch trên địa bàn tỉnh cịn rất ít. Mối liên hệ giữa 3 nhà (Nhà nước - Nhà trường - Nhà sử
dụng lao động) vẫn còn rời rạc, chưa bài bản. Việc thông tin về định hướng phát triển nhân lực du lịch (nhất là thông
tin dự báo nhu cầu lao động, các tiêu chuẩn ngành, nghề) đến các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp chưa thực hiện thường
xuyên.
C. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Bình
Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị khố XII về phát triển du lịch trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn; Chương trình hành động số 13/CTr-TU ngày 12/5/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về phát triển du
lịch, giai đoạn 2016-2020 (bổ sung, sửa đổi); Kế hoạch số 1503/KH-UBND ngày 13/9/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh
về Thực hiện Chương trình hành động số 06/CTr-TU ngày 13/7/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển du lịch,


Dương Thị Mai Thương

251

giai đoạn 2016 - 2020, trong những năm vừa qua, tỉnh Quảng Bình ln xác định đào tạo, tập huấn, phát triển và nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Do đó, để nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực du lịch của tỉnh cần thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp:
Thứ nhất, nâng cao tính dự báo nguồn nhân lực du lịch
Cơ quan quản lý du lịch tỉnh Quảng Bình cần nắm bắt thực trạng nhân lực du lịch hiện tại và dự báo nhu cầu phát triển
nhân lực du lịch trong thời gian tới. Đặc biệt, cần đổi mới, làm tốt công tác dự báo cung - cầu lao động du lịch trên địa
bàn, trong đó xác định cụ thể số lượng, chức danh, tiêu chuẩn, thời gian dự kiến tuyển dụng. Việc dự báo chi tiết sẽ
giúp các cơ sở tổ chức đào tạo đáp ứng đúng nhu cầu thị trường, với chiến lược phát triển du lịch quốc gia, của địa
phương, tránh tình trạng thiếu hụt trong vài năm tới. Làm tốt điều này sẽ giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở
đào tạo, doanh nghiệp du lịch và các tổ chức, cá nhân có nhu cầu cập nhật thơng tin, từ đó có chiến lược phù hợp để

phát triển nhân lực cho ngành du lịch, thích ứng với mỗi giai đoạn hội nhập và phát triển.
Thứ hai, chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực du lịch
Tỉnh Quảng Bình cần xây dựng hệ thống cơ sở đào tạo du lịch trên địa bàn bao gồm dạy nghề, đào tạo các cấp từ trung
cấp đến đại học về du lịch phù hợp với yêu cầu phát triển ngành, có tham khảo hệ thống đào tạo ở những nơi có du lịch
phát triển để đảm bảo cơ cấu đào tạo du lịch ở các cấp là hợp lý, phù hợp với các chuẩn mực chung của khu vực và
quốc tế. Đây sẽ là cơ sở đào tạo đội ngũ lao động du lịch trình độ cao, có khả năng đảm nhận vai trò nòng cốt trong hội
nhập quốc tế của du lịch tỉnh nhà.
Các cơ sở đào tạo cần đổi mới yêu cầu trong giáo dục, xây dựng chương trình đào tạo nghề tiếp cận theo chuẩn đầu ra
– năng lực cốt lõi của mỗi vị trí việc làm gắn với thực tế thị trường lao động. Đồng thời, hướng đến tính “mở“, “linh
hoạt“, phù hợp cho việc áp dụng vào từng đối tượng, địa chỉ cụ thể.
Thay đổi phương pháp giảng dạy của giảng viên, học tập của sinh viên theo hướng tích cực, chủ động. Nội dung bài
giảng của giảng viên phải được thiết kế mang tính trực quan, sinh động và cụ thể với các mẫu, phiếu, biểu, hình ảnh,
phim… gắn với thực tế nghề nghiệp, gắn với doanh nghiệp. Tăng thời lượng dành cho thực hành nên chiếm tỉ lệ từ
50 % trở lên trong tổng thời gian học tập. Thay đổi phương pháp kiểm tra, đánh giá trên cơ sở đánh giá “năng lực“, bao
gồm cả 3 yêu cầu: kỹ năng, kiến thức, thái độ.
Đối với việc phát triển đội ngũ giảng viên và đào tạo viên du lịch cần đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, chuẩn
về chất lượng để đáp ứng nhu cầu đào tạo, tăng quy mô và nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng nhân lực
ngành du lịch. Có chính sách thu hút sự tham gia tích cực của nhà quản lý, các nhà khoa học có trình độ, các doanh
nhân có kinh nghiệm, các nghệ nhân, chuyên gia, kỹ thuật viên có kỹ năng nghề cao vào hoạt động đào tạo để nâng cao
tính thực tiễn của các chương trình đào tạo du lịch.
Có kế hoạch và tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nâng cao nhận thức cho nguồn
nhân lực du lịch về những điều mới mẻ, cập nhật xu hướng và đẩy mạnh hoạt động đào tạo nghề theo tiêu chuẩn
VTOS.
Thứ ba, tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường với các doanh nghiệp du lịch
Các cơ sở đào tạo cần chủ động trao đổi, tìm kiếm những lợi thế kết nối hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp, đặc biệt
là doanh nghiệp du lịch để dự báo nhu cầu nhân lực, xây dựng chuẩn đầu ra và đào tạo sinh viên có kỹ năng đáp ứng
yêu cầu ngành nghề.
Các doanh nghiệp vừa có vai trị hỗ trợ các hoạt động đào tạo về nghiệp vụ, vừa là nơi sử dụng nhân lực của các cơ sở
đào tạo cả trước mắt và lâu dài; là nơi thực hành, thực tập của cơ sở đào tạo; sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phần
mềm… của doanh nghiệp để đào tạo thực hành (thời gian đào tạo tại các doanh nghiệp ít nhất bằng tổng thời gian thực

hành, thực tập của chương trình đào tạo và khơng ít hơn 50 % tổng thời gian thực hiện chương trình đào tạo, doanh
nghiệp cử chuyên gia tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực hành, thực tập, đánh giá kết quả học tập của sinh viên...) trên
cơ sở đó đào tạo được nguồn nhân lực du lịch đáp ứng theo nhu cầu của khách du lịch theo chuẩn mực khu vực và quốc tế.
III. KẾT LUẬN
Chất lượng nguồn nhân lực du lịch là chìa khóa thành cơng cho sự phát triển của ngành du lịch. Tỉnh Quảng Bình có
nhiều tiềm năng để phát triển du lịch và ngành du lịch đã phát triển một cách khả quan, tuy nhiên chất lượng nguồn
nhân lực du lịch đang ở mức khiêm tốn. Do đó, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về xây dựng chiến lược, đào tạo
nguồn nhân lực, nâng cao trình độ nhận thức của nguồn nhân lực cũng như tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa nhà
trường với các doanh nghiệp du lịch, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, thúc đẩy ngành du lịch tỉnh
Quảng Bình phát triển mạnh mẽ hơn, xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.


252

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH TỈNH QUẢNG BÌNH TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Trường Lâm (2014), Phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch tỉnh Quảng Bình, Luận văn Thạc sĩ kinh tế,
Trường Đại học Đà Nẵng.
[2] Lê Thị Lệ (2019), Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong xu thế hội nhập và cuộc cách mạng công nghiệp
4.0, Tạp chí Khí tượng và Thủy văn.
[3] Phạm Trung Lương (2016), Đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch trong thời kỳ hội nhập, Tuyển tập Hội thảo
Brexit và cộng đồng kinh tế ASEAN dưới góc nhìn hội nhập, 88-96, Trường Đại học Văn Hiến.
[4] Sở Du lịch Quảng Bình (2020), Báo cáo Tình hình nhân lực du lịch giai đoạn năm 2016 – 2020 và Kế hoạch đào
tạo, tập huấn nhân lực du lịch năm 2020.
[5] Sở Du lịch Quảng Bình (2020), Báo cáo Tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2019 và kế hoạch năm 2020.
[6] Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Đình Hịa (2017), Địa lý du lịch cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, NXB
Giáo dục.
[7] Thủ tướng Chính phủ (2020), Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.


IMPROVING QUALITY OF TOURISM HUMAN RESOURCE
IN QUANG BINH PROVINCE IN THE INTERGRATION PERIOD
Duong Thi Mai Thuong
ABSTRACT: In the period of economic integration, the quality of tourism human resources plays a decisive role in the
development of the tourism industry. Quang Binh province has many conditions to developing tourism, and in the past years,
tourism has made positive developments. However, the quality of tourism human resources of the province is limited and imposes
increasingly higher requirements in the integration period. Based on the analysis of the current quality of tourism human resources
in Quang Binh province, the article suggests some solutions to improving the quality of tourism human resources, contributing to
developing the tourism industry into the province’s key economic sector of the province



×