Tải bản đầy đủ (.docx) (14 trang)

Kinh tế chính trị:Lí luận về xuất khẩu tư bản của Lênin trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền. Phân tích thực trạng về đầu tư nước ngoài của Lotte ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (217.13 KB, 14 trang )

BÀI TẬP LỚN

Họ và tên :
Lớp :
Mã sinh viên :
Môn học : Kinh tế chính trị
Giáo viên : Đỗ Thị Kim Hoa


Lời mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Trong nền kinh tế mở hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ và lực lượng sản xuất, các cơng ty xun quốc gia có thể thâm nhập vào các
thị trường ngồi dễ nước dàng hơn để tìm kiếm nguồn nhân công năng động và dồi
dào cũng như tạo được thị trường mới cho mình. Các cơng ty là lực lượng chủ chốt
trong truyển tải khoa học, kỹ thuật và công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế thế giới và
là mẫu hình thực hiện kiểu tổ chức sản xuất hàng hóa hiện đại. Việt Nam là một
trong những nền kinh tế chuyển đổi đầy tiềm năng được các cơng ty tìm hiểu và
đầu tư vào. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng
khích lệ trong phát triển kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm,
tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu… Tuy nhiên cũng như các nước đang phát triển
khác, Việt Nam cũng gặp rất nhiều thách thức trong q trình phát triển như thiếu
vốn, thiếu cơng nghệ, thị trường,.. Và Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct
Investment – FDI) là một lựa chọn tốt để giải quyết các vấn đề trên. Đầu tư trực
tiếp nước ngoài và đi kèm với nó là sự chuyển giao về vốn, công nghệ, thị trường
đáp ứng nhu cầu của các nước đang phát triển, đồng thời góp phần tạo việc làm
cho người lao động. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo việc làm cho hàng vạn lao
động, góp phần vào tăng GDP và kim ngạch xuất khẩu. Việt Nam đã và đang tiến
hành từng bước hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới.
Xuất phát từ những điều trên em xin chọn đề tài “Vận dụng quan điểm của
V.I.Lênin về xuất khẩu tư bản trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền phân tích


thực trạnh đầu tư nước ngoài của Lotte ở Việt Nam”
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu những vấn đề cơ bản như :
- Những vấn đề lí luận về xuất khẩu tư bản của Lênin trong thời kỳ chủ nghĩa tư
bản độc quyền.
-

Phân tích thực trạng về đầu tư nước ngoài của Lotte ở Việt Nam


I.

Những vấn đề lí luận về xuất khẩu tư bản của V.I.Lênin
trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền.
I.1.

Thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền

Chủ nghĩa tư bản độc quyền (Monopoly Capitalism) là chủ nghĩa tư bản trong
đó ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế tồn tại các tổ chức tư bản
độc quyền và chúng chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
C.Mác và Ph.Awngghen đã dự báo rằng “ Tự do cạnh tranh sẽ dẫn đến tích tụ
và tập trung sản xuất, tích tụ và tập trung sản xuất phát triển đến một mức độ
nào đó sẽ dẫn đến độc quyền”. Sự độc quyền hay sự thống trị của tư bản độc
quyền là cơ sở của chủ nghĩa tư bản độc quyền.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tư bản độc quyền là do :
Một là, sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ khoa
học kỹ thuật, đòi hỏi các doanh nghiệp phải ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật
mới vào sản xuất kinh doanh. Vì vậy, các doanh nghiệp phải đẩy nhanh q
trình tích tụ và tập trung sản xuất hình thành các doanh nghiệp có quy mơ lớn.
Hai là, những thành tựu khoa học kỹ thuật mới xuất hiện, một mặt làm làm

xuất hiện những ngành sản xuất mới đòi hỏi các doanh nghiệp phải có quy mơ
lớn; mặt khác thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng khả năng tích lũy, tích tụ
và tập trung sản xuất.
Ba là, trong điều kiện phát triển của khoa học kỹ thuật, cùng với sự tác động
của các quy luật kinh tế thị trường như quy luật thặng dư, quy luật tích lũy,…
ngày càng mạnh mẽ, làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội theo hướng tập
trung sản xuất quy mô lớn.
Bốn là , cạnh tranh gay gắt làm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản
hàng loạt, còn các doanh nghiệp lớn tồn tại được nhưng cũng bị suy yếu, để
tiếp tục phát triển họ phải tăng cường tích tụ, tập trung sản xuất và liên kết với
nhau thành các doanh nghiệp với quy mô ngày càng to lớn.


Năm là, do cuộc khủng hoảng kinh tế lớn năm 1873 trong toàn bộ thế giới tư
bản chủ nghĩa làm phá sản hàng loạt doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doành
nghiệp lớn bị suy yếu.
Sáu là, sự phát triển của hệ thống tín dụng trở thành địn bẩy mạnh mẽ thúc
đẩy tập trung sản xuất, nhất là việc hình thành, phát triển các công ty cổ phần,
tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền.
I.2.

Bản chất của xuất khẩu tư bản

Xuất khẩu tư bản là đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền. Xuất
khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngồi (đầu tư tư bản ra nước ngồi)
nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác ở các
nước nhập khẩu tư bản. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xuất khẩu tư bản
trở thành tất yếu vì:
Một là, một số ít nước phát triển đã tích lũy được một khối lượng tư bản lớn
và có một số “tư bản thừa” tương đối, nghĩa là lượng tư bản này nếu đầu tư ở

trong nước thì lợi nhuận thấp, nên họ cầm tìm nơi đầu tư ra nước ngồi có
nhiều lợi nhuận cao hơn.
Hai là, nhiều nước lạc hậu về kinh tế bị lôi cuốn vào sự giao lưu kinh tế thế
giới nhưng lại rất thiếu vốn để phát triển kinh tế, giá cả ruộng đất tương đối hạ,
tiền lương lại thấp, nguyên liệu rẻ, nên tỷ suất lợi nhuận cao, rất hấp dẫn đầu tư
nước ngoài.
Ba là, chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì mâu thuẫn kinh tế - xã hội càng
gay gắt. Xuất khẩu tư bản trở thành biện pháp làm giảm mức gay gắt đó.
I.3.

Các hình thức của xuất khẩu tư bản

Xét về hình thức, xuất khẩu tư bản được thực hiện dưới hai hình thức chủ
yếu: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
-

Đầu tư trực tiếp là hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng những xí nghiệp
mới hoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tư để trực
tiếp kinh doanh thu lợi nhuận cao, biến nó thành một chi nhánh của “công ty


mẹ” ở chính quốc. Các xí nghiệp mới hình thành thường tồn tại dưới dạng hỗn
hợp song phương hoặc đa phương, nhưng cũng có những xí nghiệp tồn bộ vốn
là của cơng ty nước ngồi.
-

Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc cho vay để thu lợi tức, mua
cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khốn
và thơng qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực
tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

Xét về chủ thể xuất khẩu, thì xuất khẩu tư bản được chia thành: xuất khẩu tư
bản tư nhân và xuất khẩu tư bản nhà nước.

-

Xuất khẩu tư bản nhà nước là nhà nước tư bản độc quyền dung nguồn vốn từ
ngân quỹ của mình, tiền của các tổ chức độc quyền để đầu tư vào nước nhập
khẩu tư bản; hoặc viện trợ có hồn lại hay khơng hoàn lại để thực hiện những
mục tiêu về kinh tế, chính trị và quân sự nhất định của chúng.
+ Về kinh tế, xuất khẩu tư bản nhà nước thường hướng vào các ngành thuộc kết
cấu hạ tầng để tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư của tư bản tư nhân.
+ Về chính trị, “viện trợ” của các nước tư bản thường nhằm duy trì và vảo vệ
chế độ chính trị “thân cận” đã bị lung lay ở các nước nhập khẩu tư bản, tăng
cường sự phụ thuộc của các nước đó vào các nước tư bản phát triển thực hiện
chủ nghĩa thực dân mới, tạo điều kiện cho tư nhân đẩy mạnh xuất khẩu tư bản.
+ Về quân sự, “viện trợ” của nhà nước tư bản nhằm lôi kéo các nước phụ thuộc
vào khối quân sự hoặc buộc các nước nhận viện trợ phải cho các nước xuất
khẩu tư bản lập các căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình hoặc đơn thuần để
bán vũ khí…

-

Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức xuất khẩu do tư bản tư nhân thực hiện.
Hình thức này có đặc điểm cơ bản là thường được đầu tư vào những ngành kinh
tế có vịng quay vốn ngắn và thu được lợi nhuận độc quyền cao, dưới hình thức
các hoạt động cắm nhánh của các công ty xuyên quốc gia. Xuất khẩu tư bản tư


nhân là hình thức chủ yếu của xuất khẩu tư bản, có xu hướng tăng nhanh,
chiếm tỷ lệ cao trong tổng tư bản xuất khẩu.

Xuất khẩu tư bản là sự mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra nước
ngồi, là cơng cụ chủ yếu để bành trướng sự thống trị của tư bản tài chính trên
phạm vi toàn thế giới.
I.4.

Những biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản trong giai đoạn phát
triển của chủ nghĩa tư bản

Hiện nay, xuất khẩu tư bản có những biểu hiện mới, cụ thể:
Thứ nhất, trước kia luồng tư bản xuất khẩu chủ yếu từ các nước tư bản phát
triển sang các nước kém phát triển. Nhưng những thập kỷ gần đây, đại bộ phận
dòng đầu tư lại chảy qua lại giữa các nước tư bản phát triển với nhau. Do ở các
nước tư bản phát triển đã phát triển các ngành có hàm lượng khoa học – kỹ
thuật cao và hàm lượng vốn lớn, nên đầu tư vào đây thu được lợi nhuận cao.
Còn ở các nước đang phát triển lại có kết cấu hạ tầng lạc hậu, tình hình chính
trị kém ổn định, nên đầu tư có phần rủi ro và tỷ suất lợi nhuận của tư bản đầu tư
không còn cao như trước đây.
Thứ hai, chủ thẻ xuất khẩu tư bản có sự thay đổi lớn, trong đó vai trị của các
cơng ty xun quốc gia (Transnational Corporation – TNCs) trong xuất khẩu tư
bản ngày càng to lớn, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct
Investment – FDI). Mặt khác, đã xuất hiện nhiều chủ thể xuất khẩu tư bản từ
các nước đang phát triển.
Thứ ba, hình thức xuất khẩu tư bản đa dạng, đan xen giữa xuất khẩu tư bản và
xuất khẩu hàng hóa tăng lên. Như trong đầu tư trực tiếp xuất hiện những hình
thức mới như: xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT); xây dựng –
chuyển giao (BT) … Sự kết hợp giữa xuất khẩu tư bản với các hợp đồng bn
bán hàng hóa, dịch vụ, chất xám,… khơng ngừng tăng lên.
Thứ tư, sự áp đặt mang tính chất thực dân trong xuất khẩu tư bản đã được gỡ
bỏ dần và nguyên tắc cùng có lợi trong đầu tư được đề cao.



I.5.
-

Ảnh hưởng của xuất khẩu tư bản

Mặt tốt: Có những tác động tích cực đến nền kinh tế các nước nhập khẩu tư bản
như thúc đẩy quá trình chuyển biến từ cơ cấu kinh tế thuần nông sang nông –
công nghiệp.; làm cho các quan hệ tư bản chủ nghĩa được phát triển và mở rộng
ra trên toàn thế giới, góp phần thúc đẩy nhanh chóng q trình phân cơng lao
động; làm cho q trình cơng nghiệp hố và tái cơng nghiệp hố, hiện đại hố ở
các nước nhập khẩu tư bản phát triển nhanh chóng;…

-

Mặt xấu: Sự mở rộng quan hệ sản xuất ra nước ngồi là cơng cụ để bành
chướng sự thống trị, bóc lột, nơ dịch của tư bản tài chính trên phạm vi tồn thế
giới; để lại cho các quốc gia nhập khẩu tư bản, nhất là với các nước đang phát
triển những hậu quả nặng nề như: nền kinh tế phát triển mất cân đối và lệ
thuộc, nợ nần chồng chất do bị bóc lột quá nặng nề.
I.6.

Ứng dụng của xuất khẩu tư bản trong việc phân tích đầu tư nước
ngồi của LOTTE vào thị trường Việt Nam

Ta có thể thấy việc đầu tư nước ngồi của Lotte ở Việt Nam là hình thức đầu
tư trực tiếp với việc xây dựng những xí nghiệp mới nhận đầu tư trực tiếp kinh
doanh và trở thành một chi nhánh của tập đoàn Lotte.
Về xuất khẩu tư bản thì đây là hình thức xuất khẩu tư bản tư nhân do tư bản
tư nhân thực hiện.



II.

Thực trạng đầu tư nước ngoài của tập đoàn Lotte ở Việt
Nam
II.1. Giới thiệu tổng quan về tập đoàn Lotte
Tập đồn LOTTE là tập đồn đa quốc gia có trụ sở tại Hàn Quốc và Nhật
Bản. Tập đoàn LOTTE do ông Shin Kyuk-ho sáng lập vào tháng 6 năm 1948
tại Tokyo, Nhật Bản, tiền thân là Cơng ty LOTTE. Ơng Shin Kyuk-ho sinh
ngày 04 tháng 10 năm 1922 tại Hàn Quốc nhưng ông sống, học tập và làm việc
tại Nhật Bản. Tháng 4 năm 1967, ông Shin Kyuk-ho mở rộng kinh doanh về thị
trường Hàn Quốc bằng việc thành lập Cơng ty Bánh kẹo LOTTE tại Seoul.
Tập đồn LOTTE gồm hai nhánh: Tập đoàn LOTTE Nhật Bản và Tập đoàn
LOTTE Hàn Quốc. Chủ tịch đương thời của tập đoàn LOTTE Hàn Quốc là ông
Shin Dong Bin – con trai ông Shin Kyuk-ho. Hiện nay, tập đồn LOTTE Hàn
Quốc có mặt tại 22 quốc gia trên thế giới và là tập đồn có tổng tài sản đứng
thứ 5 tại Hàn Quốc.
Tên gọi LOTTE được nhà sáng lập Shin Kyuk-ho đặt ra, lấy cảm hứng từ nữ
anh hùng Charlotte xinh đẹp, tài giỏi và được nhiều người yêu mến trong tiểu
thuyết Nỗi đau của chàng Werther (1774) của nhà văn Đức Johann Wolfgang
von Goethe. Với mong muốn tập đoàn LOTTE sẽ nhận được sự yêu mến, tín
nhiệm của mọi người giống như nhân vật chính trong truyện, nàng Charlotte
xinh đẹp, tài giỏi.
Tập đoàn LOTTE hoạt động trên 6 lĩnh vực:
-Thực phẩm: LOTTE Confectionery, LOTTE Chilsung Beverage, LOTTE
Foods, LOTTERIA, Angel-in-us Coffee, …
-Bán lẻ: LOTTE Department Store, LOTTE Mart, LOTTE Super, LOTTE
Home Shopping, LOTTE Hi-mart, LOTTE.com, …



-Du lịch/ Dịch vụ: LOTTE Hotel, LOTTE Duty Free, LOTTE Cinema, LOTTE
Logistic, LOTTE Asset Development, LOTTE Data Communication, …
-Hoá chất/ Xây dựng/ Sản xuất: LOTTE Chemical, LOTTE E&C, LOTTE
Aluminium, Korea Fujifilm, Canon Korea Business Solution, …
-Tài chính: LOTTE Card, LOTTE Insurance, LOTTE Capital, …
-Nghiên cứu phát triển/ Hỗ trợ: LOTTE R&D Center, LOTTE Academy,
LOTTE Scholarship Foundation, …
Một số công ty của tập đồn LOTTE Hàn Quốc hiện đã có mặt tại Việt Nam:
LOTTERIA (1998), LOTTE Mart (2008), LOTTE Cinema (2008), Angel-in-us
Coffee (2008), LOTTE Rental (2008), LOTTE-Sea Logistic (2009), LOTTE
Data Communication – LDCC (2009), LOTTE Coralis (2009), LOTTE E&C
(2009), LOTTE Asset Development (2009), LOTTE DatViet Homeshopping
(2012), LOTTE Hotel (2013), LOTTE Department store (2014), LOTTE ECommerce (2016), LOTTE.vn (2016), LOTTE Duty Free (2017), LOTTE
Finance (2018).
II.2. Lí do và mục tiêu tập đồn Lotte lựa chọn đầu tư vào Việt Nam
2.2.1 Lí do tập đoàn lotte chọn đầu tư vào Việt Nam
Việt Nam là thị trường mới nổi mà các nhà đầu tư không thể không chú ý.
Với dân số 97,17 triệu người năm 2020, Việt Nam đang trở điểm đến hấp dẫn
với lợi thế cạnh tranh khu vực. Lúc trước hầu hết các tập toàn đều chọn Trung
Quốc là nơi để đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất, nhưng mấy năm gần đây
tình hình lao động ở Trung Quốc đang xấu đi, việc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trở nên ác liệt, chỗ đứng của các doanh nhiệp này đang dần thu hẹp nên
họ đang chiến lược chuyển hướng tập trung đầu tư vào Việt Nam.
Với điểm mạnh được đánh giá là có nguồn lao động với chất lượng cao, chi
phí lao động, chi phí sản xuất thấp, cộng thêm thị trường tiềm năm trong nước
nên Việt Nam đã thu hút được sự đầu tư của nhiều tập đoàn.


Vị trí địa lí thuận lợi của Việt Nam cũng là yếu tố quan trọng thu hút các nhà

đầu tư như là quốc gia giáp với Trung Quốc, quốc gia đơng dân nhất thế giới;
có đường biên giới dài, tiếp giáp với nhiều các quốc nên được giao lưu, tiếp xúc
với nhiều nền văn hóa khác nhau, tiếp giáp với biển Đông (là địa bàn chiến
lược quan trọng đối với cả châu Á- Thái Bình Dương và châu Mỹ),… giao
thơng thuận lợi về đường biển. Là một quốc gia sôi động trên thị trường nên
Việt Nam đã gây được sự chú ý đến các nhà đầu tư.
Thêm vào đó, Việt Nam là đất nước có nền chính trị - xã hội ổn định so với
các nước trên thế giới nên các nhà đầu tư có thể yên tâm phát triển hoạt động
đầu tư của mình. Đi kèm với đó là các ưu đãi của chính phủ. Chính phủ Việt
Nam ln có những chính sách hỗ trợ, chế độ ưu đãi đặc biệt đối với các nhà
đầu tư, chú trọng cải cách thủ tục hành chính để tạo mơi trường đầu tư thuận lợi
và bình đẳng cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Hơn thế nữa, Việt Nam gia nhập WTO và Hiệp định tự do thương mại Hàn
Quốc – ASEAN; tham gia nhiều liên kết kinh tế quốc tế như CPTPP, FTA,… đã
góp phần đưa Việt nam trở thành một thị trường quan trọng của các nhà đầu tư,
trong đó khơng loại trừ tập đồn Lotte.
2.2.2 Q trình đầu tư nước ngồi của tập đồn Lotte ở Việt Nam
Cơng ty TNHH TTTM LOTTE VIETNAM SHOPPING (LOTTE Mart) trực
thuộc tập đoàn LOTTE của Hàn Quốc. Có mặt tại Việt Nam từ năm 2008 với
sự ra đời của LOTTE Mart Nam Sài Gòn (Quận 7, Tp.HCM), LOTTE Mart
được xem là một trong những nhà bán lẻ nước ngồi đầu tiên góp mặt tại Việt
Nam và phát triển thành công đến ngày nay. Năm 2008, Lotte mới khai trương
trung tâm thương mại đầu tiên tại quận 7 thành phố Hồ Chí Minh thì đến cuối
2013, con số này đã tăng lên 6. Doanh số năm 2013 của Lotte tại thị trường
Việt Nam là 2.540 tỷ đồng. Chỉ tính tới tháng 9/2014 thì ngồi trung tâm
thương mại Lotte 65 tầng tại Liễu Giai thì 60 cửa hàng Lotte đã được mở tại Hà
Nội.


Lotte ra mắt Lotte Mart đầu tiên ở tòa nhà The Everich, quận 10, TP HCM

vào năm 2008. Hơn 3 năm sau, siêu thị Lotte Mart thứ 2 mới đi vào hoạt động
ở quận 7. Theo nhận định của giới bán lẻ cho rằng, những ràng buộc trong quy
định xem xét về kiểm tra nhu cầu kinh tế của Việt Nam khi mở điểm bán lẻ thứ
2 đối với nhà đầu tư nước ngồi chính là rào cản cho kế hoạch phát triển chuỗi
Lotte Mart. Nhưng một thách thức khác lớn hơn nhiều đó là mặt bằng, khi tìm
khn viên diện tích từ 10.000-15.000 m2 trở lên là khơng hề đơn giản.
Chiến lược mở rộng thị trường tại Châu Á của tập đồn Lotte là tìm kiếm
những vị trí có thể cho phép triển khai nhiều loại hình kinh doanh như siêu thị,
cửa hàng tiện lợi, khách sạn và cả chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh Lotteria. Việt
Nam được đánh giá là 1 trong 3 thị trường quan trọng của Lotte Mart tại châu
Á, bên cạnh Trung Quốc và Ấn Độ. Tiếp đó Lotte bắt đầu mở rộng thị trường
kinh doanh qua nhiều lĩnh vực. Cụ thể: Đầu tư vào Eco Smart City (1,9 tỷ
USD) là khu phức hợp kinh doanh - giải trí Eco Smart City quy mơ 100.000 m2
do Công ty Lotte Asset Development (Lotte Group) bắt tay với một số nhà đầu
tư Nhật Bản. Eco Smart City bao gồm trung tâm thương mại, các cao ốc văn
phòng, khách sạn, căn hộ dịch vụ bên cạnh căn hộ để bán. Tiếp đó khai trương
Tổ hợp trung tâm thương mại Lotte Center Hà Nội trị giá 500 triệu USD vào
năm 2014, là “dự án mang tính biểu tượng” của tập đồn Lotte tại Việt Nam.
Rồi tiếp đó là Lotte Cinema từ 18-36 triệu USD. Hệ thống cửa hàng thức ăn
nhanh Lotteria. Với số vốn đầu tư ban đầu vào khoảng 20 triệu USD, Lotteria
đã mở được 200 cửa hàng tại Việt Nam. Tính đến năm 2015 cơng ty đã mở tại
khu vực phía Bắc, bao gồm 60 cửa hàng Lotteria ở Hà Nội, khu vực miền
Trung bao gồm Đà Nẵng, Huế với 9 cửa hàng và khu vực miền Nam gồm 131
cửa hàng ở Tp. Hồ Chí Minh,…
Tuy nhiên bên cạnh đó Lotte cũng phải đối diện với những khó khăn khi tấn
cơng vào thị trường Việt Nam khi đánh giá cao tiềm năng của thị trường bán lẻ
nhưng lại khơng hiểu thói quen mua sắm của người Việt dẫn đến thua lỗ suốt 11
năm. Tập đoàn Lotte Hàn Quốc đã cơng bố báo cáo tài chính năm 2017, trong
đó cho thấy Lotte Việt Nam đã báo lỗ năm thứ 11 liên tiếp dù tăng trưởng



doanh thu 12%, đạt trên 5.000 tỷ đồng. Từ năm 2008 đến năm 2018, Tập đoàn
Hàn Quốc này đã đầu tư gần 9.000 tỷ đồng để xây dựng 13 trung tâm thương
mại, mỗi trung tâm thương mại lớn như vậy cần tới 5-8 năm kể từ ngày khai
trương mới đạt điểm hòa vốn. Trong khi nhiều trung tâm thương mại chưa đạt
điểm hòa vốn, Lotte lại tiếp tục mở thêm những trung tâm mới. Do đó dẫn đến
thua lỗ. Thêm vào đó các trung tâm thương mại lớn như Lotte gặp khó khăn
trong thu hút khách do thói quen người tiêu dùng chưa thay đổi nhiều, các cửa
hàng tiện lợi lại được đánh giá là mảng có lợi thế lớn hơn. Nhưng tập đoàn
Lotte vẫn cam kết đầu tư lâu dài tại Việt Nam, “Lotte chấp nhận lỗ trong ngắn
hạn nhằm đạt được mục tiêu dài hạn”
2.2.3 Tác động của đầu tư nước ngoài của Lotte đối với Việt Nam
Mặt tích cực:
-

Đầu tư nước ngồi của Lotte góp phần tác động thúc đẩy chuyển dịch, cơ cấu
lại nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; thúc đẩy cải cách thể
chế, chính sách kinh tế, mơi trường đầu tư kinh doanh, phát triển nền kinh tế thị
trường hiện đại và hội nhập, tăng cường quan hệ đối ngoại, hợp tác và hội nhập
quốc tế của Việt Nam.

-

Việc đầu tư đã chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến ở một số
ngành, lĩnh vực tới một số doanh nghiệp trong nước, qua đó góp phần nâng cao
trình độ công nghệ và quản trị của nền kinh tế Việt Nam hơn.

-

Góp phần chuyển đổi khơng gian phát triển, hình thành các khu đơ thị mới, các

khu cơng nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế… ở Việt Nam.

-

Tập đoàn Lotte đầu tư ở Việt Nam đóng góp trong tạo việc làm, giúp hàng
nghìn người lao động có việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cải
thiện chất lượng nguồn nhân lực.
Mặt hạn chế:

-

Việc cạnh tranh trực tiếp với một tập đoàn lớn như Lotte khiến cho nhiều các
doanh nghiệp nhỏ lẻ, yếu trong nước gặp khó khăn khi đối mặt. Dẫn đến bị


giảm doanh thu, thua lỗ, thậm chí là phá sản do khơng có đủ sức để cạnh tranh
với đối thủ lớn.
2.2.4 Tác động của đầu tư nước ngoài của Lotte đối với chính Hàn Quốc
Mặt tích cực:
-

Mở rộng quan hệ hợp tác, hữu nghị, đoàn kết với các quốc gia trong khu vực và
toàn thế giới giúp nâng cao uy tín của Hàn Quốc trên trường thế giới.

-

Tăng thêm nguồn doanh thu từ nước ngồi góp phần làm phát triển thêm nền
kinh tế.

-


Giúp quảng bá thương hiệu, văn hóa, đất nước Hàn Quốc đến các quốc gia khác
và trên toàn thế giới.
Mặt hạn chế:

-

Nếu không thận trọng trong việc phê duyệt các thương vụ đầu tư, các nước có
thể để mất cơng nghệ quan trọng về tay quốc gia khác.

-

Có thể có rủi ro thua lỗ cao nếu khơng tìm hiểu kỹ và có chiến lược cụ thể khi
tấn cơng vào một thị trường mới.


III. Một số ý kiến của bản thân sau khi nghiên cứu đầu tư của
tập đoàn Lotte ở Việt Nam

Qua việc tìm hiểu đầu tư của tập đồn Lotte vào Việt Nam và nghiên cứu lý
luận về xuất khẩu tư bản trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền. Ta có thể
hiểu được phần nào quan điểm của V.I.Lênin về xuất khẩu tư bản. Thêm vào đó
là những lợi ích của đầu tư trực tiếp. Đầu tư trực tiếp nước ngồi đóng góp một
phần khơng nhỏ vào q trình tăng trưởng của Việt Nam nói chung và các nước
trên thế giới. Đầu tư đem lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế, đặc biệt là các
nước đang phát triển như Việt Nam như: Đem lại nguồn vốn để phát triển kinh
tế, thu hút được đầu tư của các nước có khoa học cơng nghệ tiến tiến góp phần
nâng cao năng suất lao động, thu hút các chuyên gia nước ngoài tạo điều kiện
cho lao động trong nước được học hỏi, nâng cao trình độ tay nghề; Tạo việc
làm cho người lao động, nâng cao mức sống;…

Bên cạnh việc thấy được những lợi ích của đầu tư nước ngồi thì chúng ta
cũng cần phải xem xét, cân nhắc kỹ trước khi đầu tư vào một thị trường nước
ngoài. Cần phải tìm hiểu kỹ về thói quen, phong tục của thị trường mình hướng
tới để có thể có những phương án kinh doanh thích hợp để đem lại lợi nhuận
cao, tránh thua lỗ.



×