Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

Bài tiểu luận môn đại cương truyền thông đại chúng, học viện ngoại giao (17)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (287.64 KB, 20 trang )


HỌC VIỆN NGOẠI GIAO VIỆT NAM
KHOA TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HĨA ĐỐI NGOẠI
-------***-------

ĐẠI CƯƠNG TRUYỀN THƠNG ĐẠI CHÚNG
Đề bài

Thuyết Sử dụng và Hài lòng (Uses and Gratifications)

Giảng viên

Thầy Phan Văn Kiền

Nhóm sinh viên thực hiện

Lê Thu Phương

TA46C-080-1923

Từ Tuệ Sa

TA46C-083-1923

Nguyễn Quỳnh Trang

TT46C-099-1923

Hà Nội, tháng 6 năm 2021



DANH SÁCH THÀNH VIÊN
STT

Họ và tên

Mã sinh viên

Phụ trách

1

Lê Thu Phương

TA46C-080-1923

Lược sử ra đời

2

Từ Tuệ Sa

TA46C-083-1923

Nội dung cơ bản

3

Nguyễn Quỳnh Trang

TT46C-099-1923


Ứng dụng truyền
thông

MỤC LỤC


I, Lược sử ra đời

1

Những năm 1940

1

Những năm 1950 và 1960

2

Những năm 1970

3

Những năm 1980 và 1990

5

II, Nội dung cơ bản

5


1, Khái quát

5

2, Hướng tiếp cận

6

3, Nội dung của Thuyết Sử dụng và Hài lịng

7

4, Mơ hình

8

5, Ưu điểm và Nhược điểm

8

III, Ứng dụng truyền thông

9

1, Một số ứng dụng của thuyết sử dụng và hài lòng vào phương tiện truyền
thông truyền thống
10
2, Ứng dụng hiện đại của thuyết sử dụng và hài lịng vào phương tiện truyền
thơng hiện đại

IV, Tài liệu tham khảo

12
15


I, Lược sử ra đời
Những nghiên cứu về lý thuyết “Sử dụng và hài lòng” bắt đầu được giới thiệu vào
những năm 40 của thế kỉ XX ở Mỹ khi các chuyên gia quan tâm nhiều hơn đến vấn đề
nghiên cứu hành vi tiếp xúc phương tiện truyền thông của cơng chúng và lý giải lí do
tại sao mọi người chọn sử dụng các phương tiện truyền thông khác nhau. Người đặt
nền tảng cho lý thuyết này là nhà tâm lý học Herta Herzog. Trong vài thập kỷ tiếp
theo, các nghiên cứu chỉ chủ yếu tập trung vào sự hài lịng mà người dùng phương tiện
truyền thơng tìm kiếm. Đến những năm 1970 và 1980 thì các nhà nghiên cứu mới tập
trung chú ý đến hiệu quả của việc sử dụng các phương tiện truyền thông với khán giả
và các nhu cầu xã hội mà các phương tiện truyền thông đáp ứng. Ngày nay lý thuyết
này được ghi nhận là cơng trình của Jay Blumler và Elihu Katz vào năm 1974 trong
bài báo: "Công dụng của Truyền thông đại chúng: Quan điểm hiện tại về nghiên cứu
sự công nhận" và tập trung sự chú ý của nó vào vai trị của người sử dụng phương
tiện. 1
Những năm 1940
Vào thập niên 40 của thế kỉ XX, tỉ lệ phổ cập radio ở các gia đình Mỹ đã đạt trên
80%. Tuy nhiên, những số liệu điều tra thính giả giai đoạn đầu lại cho thấy rằng những
chương trình “hay” với mục đích giáo dục và nâng cao nhận thức lại khơng có nhiều
thính giả đón nghe, trong khi những chương trình giải trí như hài kịch, kịch phát thanh
dài tập và những trị chơi dự đốn… có số lượng thính giả đơng đảo hơn. Hiện tượng
này đã kích thích Herta Herzog, chuyên gia của Trung tâm Nghiên cứu Phát thanh Đại học Columbia, đi tìm lý do tại sao mọi người lại tương tác với các phương tiện
khác nhau, đặc biệt là người nghe đài. Ơng đã phỏng vấn sâu 11 thính giả về chương
trình phát thanh với tên gọi: “Cuộc thi tìm hiểu kiến thức chuyên gia” và phát hiện ra
rằng, cùng một chương trình, nhưng động cơ đón nghe chương trình và sự hài lịng

của thính giả khác nhau. Ơng đã chỉ ra ba nhu cầu tâm lý cơ bản khiến thính giả thích

1 Cynthia Vinney. (2019, 04 19). What Is Uses and Gratifications Theory? Definition and Examples.
thoughtco.com. Retrieved 06 16, 2021, from />
1


đón xem các chương trình thi tìm hiểu kiến thức đó là: nhu cầu tâm lý cạnh tranh, nhu
cầu học hỏi kiến thức mới và nhu cầu tự đánh giá bản thân.2
Hầu hết các học giả đều đồng ý rằng nghiên cứu ban đầu có ít tính thống nhất về mặt
lý thuyết và chủ yếu là theo chủ nghĩa hành vi và chủ nghĩa cá nhân trong khuynh
hướng phương pháp luận của nó (McQuail, 1994). Các nghiên cứu sơ khai khơng tìm
ra được mạch liên kết giữa sự hài lịng với nguồn gốc tâm lý và xã hội học khi nhu cầu
được thỏa mãn. Đồng thời, các nhà nghiên cứu cũng khơng tìm ra được mối tương
quan giữa các chức năng của phương tiện truyền thông khác nhau, , về mặt định lượng
hoặc khái niệm, để phát hiện ra cấu trúc tiềm ẩn của các chức năng truyền thông.
Những năm 1950 và 1960
Vào những năm 50 và 60, các nhà nghiên cứu đã phát hiện và chỉ ra những biến số
trong khía cạnh xã hội và tâm lý đã dẫn đến khác biệt trong sự hài lòng khi sử dụng
các phương tiện truyền thông. Những nghiên cứu trong giai đoạn này đã phản ánh sự
thay đổi trong nghiên cứu phương tiện truyền thông đại chúng từ hiệu ứng truyền
thống sang quan điểm chức năng hơn. 3
Chuyên gia truyền thông nổi tiếng của Mỹ Wilbur Schramm phát hiện ra rằng,
hành vi tiếp xúc với truyền hình của thanh, thiếu niên có mối liên hệ mật thiết với mơi
trường gia đình, nhà trường của đứa trẻ. Những đứa trẻ sống trong hoàn cảnh gia đình
khơng thuận lợi ln có khuynh hướng thích xem những chương trình nhiều bạo lực,
đánh đấm, giàu tính kích thích, chủ yếu là được “thỏa mãn” qua sự căng thẳng sau khi
xem các tình tiết hoặc cảnh quay mạo hiểm. Đối với những em có mối quan hệ hịa
thuận với bạn bè, được hưởng tình thân ấm áp từ gia đình lại thích xem những chương
trình vui vẻ, nhẹ nhàng, hài hước. Đặc biệt, trong quá trình tiếp nhận thông tin qua các

phương tiện truyền thông, các em thích liên tưởng tới việc làm thế nào để ứng dụng
chương trình đó vào các trị chơi với bạn bè. Thực tế cho thấy, nếu trẻ phải sống trong
gia đình bố mẹ quá nghiêm khắc hoặc không cảm nhận được hơi ấm của gia đình, bị
2 PGS,TS Nguyễn Thành Lợi. (2016, 07 10). Báo chí truyền thơng hiện đại nhìn từ lý thuyết “Sử dụng
và hài lòng”. nguoilambao.vn. Retrieved 06 16, 2021, from />3 Thomas E. Ruggiero. (2000). Uses and Gratifications Theory in the 21st Century. MASS
COMMUNICATION & SOCIETY, 3(1), 3-37.

2


bạn bè kỳ thị, cô lập… đều dẫn đến hiện tượng sự “ham muốn” của trẻ khơng được
thỏa mãn. Tình hình này khơng được cải thiện trong cuộc sống hiện thực, trẻ sẽ “trốn
vào” “thế giới ảo” để tìm kiếm sự “thỏa mãn thay thế”, và các chương trình truyền
hình hay các bộ phim hoạt hình chính là đối tượng cung cấp cho trẻ một thế giới như
thế. (Nguyễn Thành Lợi,2016)
Klapper (1963) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân tích hậu quả của
việc sử dụng thay vì chỉ nghiên cứu việc sử dụng như các nhà nghiên cứu trước đó đã
làm. Mendelsohn (1964) đã xác định một số lợi ích hay chức năng của nghe radio:
thay đổi tâm trạng, chống lại sự cô đơn, cung cấp thông tin, cho phép sự tương tác và
hỗ trợ xã hội,...4
Trong công trình nghiên cứu với tên gọi Cá nhân sử dụng truyền thông đại chúng
công bố năm 1969, nhà nghiên cứu truyền thông Elihu Katz và các cộng sự của ông đã
khái quát hành vi tiếp xúc với công chúng là một quá trình chuỗi nhân quả “nhân tố xã
hội + nhân tố tâm lý → kỳ vọng truyền thông → tiếp xúc truyền thông → nhu cầu
được thỏa mãn”, đồng thời đưa ra mơ hình cơ bản của q trình “sử dụng và hài lòng”.
(Nguyễn Thành Lợi,2016)
Từ những năm 50 trở đi, việc hợp tác giữa các nhà tâm lý học và các học giả thuyết
sử dụng và hài lòng đã tạo ra nhiều thành quả nghiên cứu trong việc con người tương
tác với truyền thông.
Những năm 1970

Cho đến những năm 1970, nghiên cứu của thuyết sử dụng và hài lịng tập trung vào
sự hài lịng được tìm kiếm và sự hài lòng được thỏa mãn (Rayburn, 1996). Các nhà
nghiên cứu đã tìm hiểu động cơ của khán giả và phát triển các mơ hình bổ sung về
việc mọi người sử dụng phương tiện truyền thông để đáp ứng nhu cầu xã hội và tâm
lý. 5 Các nghiên cứu trên dựa trên ý tưởng rằng khán giả truyền thông chủ động hơn là
bị động, có nghĩa là họ khơng chỉ nhận thơng tin mà cịn cố gắng hiểu thơng điệp một
4 Thomas E. Ruggiero. (2000). Uses and Gratifications Theory in the 21st Century. MASS
COMMUNICATION & SOCIETY, 3(1), 3-37.
5 nt
3


cách vô thức tùy thuộc ngữ cảnh của riêng họ (Peirce, 2007). Như vậy, thay vì tập
trung vào nội dung truyền thơng thì các nghiên cứu chuyển sang khán giả truyền
thơng.
Ví dụ, Rosengren (1974), cố gắng định nghĩa lại về mặt lý thuyết của thuyết sử dụng
và hài lòng, cho rằng các nhu cầu cơ bản nhất định tương tác với các đặc điểm tính
cách và mơi trường xã hội của cá nhân để tạo nên các vấn đề các giải pháp nhận thức
được. Những vấn đề và giải pháp là nguồn cơn cho những động cơ khác nhau của
hành vi hài lòng, đến từ việc sử dụng các phương tiện truyền thông hoặc các hoạt
động khác. Việc sử dụng phương tiện truyền thông hoặc các hành vi khác cùng nhau
cũng tạo ra sự hài lịng (hoặc khơng). Điều này lại có tác động đến cá nhân hoặc xã
hội, do đó bắt đầu lại q trình sử dụng và hài lịng mới.
Như vậy khán giả truyền thơng sẽ đưa ra lựa chọn tùy thuộc vào nhu cầu, sự thỏa mãn
và động cơ của họ. Họ sẽ chọn một hình thức truyền thơng nhất định, cho dù đó là một
phương tiện (truyền hình hoặc đài phát thanh) hoặc một chương trình cụ thể (chương
trình truyền hình chẳng hạn) thay vì một hình thức khác để đáp ứng nhu cầu hoặc
mong muốn (Peirce, 2007). Kết quả là, khán giả của một chương trình cụ thể sẽ có
cùng nhu cầu, sở thích và thị hiếu tương tự và sẽ tìm kiếm sự hài lòng giống nhau.
Nghiên cứu những năm 1970 còn chỉ ra rằng khán giả có trách nhiệm liên kết sự hài

lịng với sự lựa chọn phương tiện truyền thông cá nhân của họ. Các phương tiện
truyền thơng có khả năng cạnh tranh với nhau để đạt được sự hài lòng của khán giả.
Ví dụ, chúng cạnh tranh với các nguồn khác của sự hài lịng có thể có được từ nội
dung của một phương tiện (ví dụ: xem một chương trình cụ thể), từ sự quen thuộc với
một thể loại trong phương tiện đó (ví dụ: xem xà phịng opera), từ sự tiếp xúc chung
với phương tiện (ví dụ như xem TV ), và từ ngữ cảnh xã hội mà nó được sử dụng (ví
dụ: xem TV với gia đình). Khán giả là nguồn thông tin đáng tin cậy cho phương tiện
truyền thông nhận biết được các xu hướng sử dụng phương tiện thông tin đại chúng
hiện tại (Peirce, 2007).
Blumler đã phát triển bốn loại lý do tại sao mọi người sử dụng các phương tiện
truyền thơng: chuyển hướng hoặc thốt ly; đồng hành và phát triển các mối quan hệ cá
nhân; củng cố giá trị và khám phá bản sắc cá nhân; và giám sát hoặc nhận thông tin về
4


thế giới. Katz lại đưa ra những động cơ khác trong sử dụng phương tiện truyền thông:
nhu cầu nhận thức, nhu cầu tình cảm và nhu cầu hịa nhập xã hội (Peirce, 2007). Sự
hài lịng của khán giả có thể xuất phát từ ít nhất ba nguồn khác nhau: nội dung trên
phương tiện truyền thông, sự tiếp xúc với phương tiện truyền thông và bối cảnh xã hội
mà một người tiếp xúc với phương tiện truyền thông (Perse, 2014).
Những năm 1980 và 1990
Các học giả giai đoạn này đã coi việc sử dụng phương tiện thông tin đại chúng như
một phương pháp tích hợp truyền thơng và hiện tượng xã hội.
Ví dụ, Windahl (1981) đã tìm cách thúc đẩy về mặt lý thuyết khi lập luận rằng sự
khác biệt cơ bản giữa phương pháp tiếp cận hiệu ứng truyền thống và phương pháp
tiếp cận U&G: trong khi một nhà nghiên cứu hiệu ứng truyền thông thường xem xét
truyền thông đại chúng từ quan điểm của người gửi, thì nhà nghiên cứu U&G sử dụng
khán giả như một điểm khởi hành. Tin rằng việc nhấn mạnh những điểm tương đồng
có lợi hơn sự khác biệt, Windahl đã đặt ra thuật ngữ “ảnh hưởng” và sự tổng hợp hai
cách tiếp cận. Phương pháp tiếp cận của Windahl dùng để liên kết phương pháp tiếp

cận U&G trước đó với nghiên cứu gần đây hơn. Với mong muốn nâng cao giá trị lý
thuyết của các yếu tố quyết định cấu trúc.
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng tái đánh giá lại về khái niệm khán giả chủ động.
Windahl (1981) đã lập luận rằng, các cá nhân khác nhau có xu hướng có các loại và số
lượng hoạt động khác nhau trong các môi trường giao tiếp khác nhau và tại các thời
điểm khác nhau trong q trình truyền thơng.
II, Nội dung cơ bản
1, Khái quát
Thuyết sử dụng và Hài lòng là lý thuyết cho rằng người dùng chủ động trong
việc sử dụng và kết hợp các phương tiện truyền thông đại chúng vào đời sống của họ.
Khác với những lý thuyết khác tập trung vào nội dung truyền thơng, Thuyết sử dụng
và Hài lịng lấy người dùng truyền thông làm trung tâm, đồng thời, tập trung vào việc
việc người dùng sử dụng truyền thông đại chúng nhằm thỏa mãn những nhu cầu cụ thể
của họ.
5


2, Hướng tiếp cận
Thuyết Sử dụng và Hài lòng dựa trên hai nguyên tắc chính về người dùng. Đầu
tiên, người dùng chủ động trong việc lựa chọn phương thức truyền thông họ sử dụng.
Thứ hai, người dùng nhận thức được lý do lựa chọn các loại hình truyền thơng khác
nhau, nhằm đáp ứng những nhu cầu cá nhân của mình. Dựa trên những nguyên tắc cơ
bản này, Thuyết Sử dụng và Hài lòng được tiếp cận theo năm phần sau6:
Đầu tiên, Người dùng chủ động trong việc sử dụng truyền thông: Như đã đề
cập ở trên, Thuyết Sử dụng và Hài lòng cho rằng người dùng chủ động trong việc sử
dụng các phương tiện truyền thơng. Nói cách khác, người dùng vừa chủ động trong
việc tiếp nhận thông tin, vừa tự tiếp nhận được thơng tin theo hồn cảnh riêng của họ.
Thứ hai, người dùng nắm quyền lựa chọn phương thức truyền thông phù
hợp với nhu cầu cá nhân cụ thể: Thuyết sử dụng và hài long tìm hiểu về cách người
dùng chọn phương tiện truyền thông, nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân khác nhau. Bao

gồm nhu cầu nâng cao kiến thức, nhu cầu thư giãn, nhu cầu tương tác xã hội / tìm sự
đồng hành và nhu cầu đa dạng hóa hoặc trốn thốt 7. Đồng thời, thuyết cũng cho rằng
người dùng chịu trách nhiệm chọn ra phương tiện truyền thông để thỏa mãn nhu cầu
của họ để đạt được sự hài lịng.
Thứ ba, truyền thơng tác động lên hành vi con người bị ảnh hưởng bới môi
trường xã hội và môi trường tâm lý: Thuyết Sử dụng và Hài lịng được nhận định là
một thuyết truyền thơng tâm lý, bởi thuyết tập trung vào việc sử dụng truyền thông đại
chúng của người dùng nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân 8. Chính vì vậy, tính cách và
hồn cảnh xã hội tác động lên sự lựa chọn về phương thức truyền thông của mỗi cá
nhân và cách hiểu của người dùng đối với mỗi thông điệp truyền thông.
Thứ tư, các phương tiện truyền thông đang cạnh tranh với các nguồn thông
tin khác nhằm lôi kéo sự quan tâm của người dùng: Theo Thuyết Sử dụng và Hài
lòng, người dùng sẽ lựa chọn phương thức truyền thông phù hợp với nhu cầu cá nhân
của mình, có thể là Truyền thơng đại chúng, như TV, Radio, hoặc một chương trình cụ
6 Elihu Katz, Jay G. Blumler, Michael Gurevitch (1973 - 1974) Uses and Gratifications Research.
7 Rubin, A, (2002) The uses-and-gratifications perspective of media effects.
8 Rubin, A, (2002) The uses-and-gratifications perspective of media effects.
6


thể, như Phim Tài liệu9. Chính vì vậy, nên người quan tâm của cùng một lồi hình
truyền thơng khả năng cao sẽ có nhu cầu và sở thích giống nhau.
Cuối cùng, con người không bị ảnh hưởng bởi truyền thông. Thay vào đó, có
quyền kiểm sốt nó.
Nói tóm lại, Thuyết Sử dụng và Hài lòng nhấn mạnh vào sức mạnh của con
người so với sức mạnh của truyền thông. Sự khác nhau của mỗi cá nhân ảnh hưởng
đến mối quan hệ của họ với truyền thông và sức ảnh hưởng của truyền thông đối với
họ. Điều này lý giải rằng, cùng một thông điệp, nhưng sức ảnh hưởng và nội dung của
thông điệp với mỗi người không hề giống nhau.
3, Nội dung của Thuyết Sử dụng và Hài lòng

Thuyết Sử dụng và Hài lòng bàn luận nhiều vào lý do tại sao người dùng
thường đưa ra quyết định dựa trên kỳ vọng và mong muốn của họ. Các nghiên cứu đã
chỉ ra rằng sự hài lịng của khán giả có thể xuất phát từ ít nhất ba nguồn khác nhau:
Nội dung trên phương tiện truyền thông, Sự tiếp xúc với phương tiện truyền thơng và
Hồn cảnh xã hội tại thời điểm người đó tiếp xúc với phương tiện truyền thơng 10.
Thuyết Sử dụng và Hài lịng cũng giải thích sự kết hợp của các thuộc tính nào trong
nội dung truyền thông dẫn đến sự thỏa mãn nhu cầu của khán giả. Các phương tiện
khác nhau cung cấp nhiều loại nội dung đặc trưng (chủ đề), phương thức truyền tải (in
ấn hoặc phát sóng) và địa điểm hiển thị (tại nhà, ngồi đường, v.v.) để khán giả tiếp
xúc, do đó, dẫn đến nhu cầu dành cho các phương tiện truyền thông cung cấp càng
nhiều sự hài lịng cho cơng chúng càng tốt.
Cho dù một khán giả chọn sử dụng phương tiện truyền thơng như một phương
tiện giải trí khỏi cuộc sống hàng ngày, hay để chia sẻ trải nghiệm cá nhân, hoặc để tìm
hiểu thơng tin về thế giới, thì tất cả người dùng thường sẽ vô thức tiếp thu những
thông điệp mà họ chọn. Thay vì tìm hiểu về thơng điệp truyền thông một cách thụ
9 Peirce, K. (2007). Uses and Gratifications Theory. Encyclopedia of Children, Adolescents, and the
Media />%7CCX3470400454&v=2.1&u=psucic&it=r&p=GVRL&sw=w
&asid=c5074e498be9ec0f170f115e3d9f52e5
10 Perse, E. (2014, January 30). Uses and Gratifications.
/>
7


động, Thuyết Sử dụng và Thỏa mãn giải thích cách người nghe và người xem tìm cách
đáp ứng nhu cầu của họ thông qua các phương tiện mà họ chủ động tiếp xúc. Thuyết
Sử dụng và Hài lòng làm nổi bật mối quan hệ giữa người gửi và thông điệp cũng như
cách nhu cầu và sự hài lòng thúc đẩy hành động của con người liên quan đến phương
tiện truyền thơng.
4, Mơ hình
Mơ hình dưới đây của Elihu Katz và Jay.G.Blumler mơ tả các yếu tố và ý tưởng

chính cấu thành nên Thuyết Sử dụng và Hài lòng11:

5, Ưu điểm và Nhược điểm
a.

Ưu điểm

Cho đến nay, Thuyết Sử dụng và Hài lòng vẫn là một lý thuyết phổ biến trong
nghiên cứu truyền thơng. Một trong những lợi ích lớn nhất của Thuyết Sử dụng và Hài
lịng là những đóng góp cho sự cải thiện của trải nghiệm người dùng trên các
phương thức truyền thông đại chúng và nền tảng mạng xã hội.
Nghiên cứu cũng đã được tiến hành để khám phá những niềm vui được tìm
kiếm và có được thơng qua việc sử dụng mạng xã hội. Ví dụ, một nghiên cứu khác
được công bố trên CyberPsychology & Behavior12 đã phát hiện ra bốn nhu cầu tham
11 Katz, E., Blumler, J. G., & Gurevitch, M.. (1973). Uses and Gratifications Research. The Public
Opinion Quarterly, />12 Nghiên cứu tại CyberPsychology & Behavior:
/>ment_Facebook_Groups_Uses_and_Gratifications_and_Social_Outcomes

8


gia nhóm Facebook. Những nhu cầu đó bao gồm tương tác xã hội bằng cách giữ liên
lạc và gặp gỡ mọi người, giải trí thơng qua việc sử dụng Facebook, tìm kiếm vị thế
bản thân bằng cách duy trì hình ảnh cá nhân và tìm hiểu về các sự kiện và sản phẩm.
Trong nghiên cứu tương tự, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng người dùng
Twitter thỏa mãn nhu cầu cá nhân bằng mạng xã hội. Việc tăng cường sử dụng, cả về
lượng thời gian một người hoạt động trên Twitter và về số giờ mỗi tuần một người sử
dụng Twitter, đã làm tăng sự hài lòng của nhu cầu này.
b.


Nhược điểm

Đầu tiên, lý thuyết hạ thấp tầm quan trọng của phương tiện truyền thông.
Theo Thuyết Sử dụng và Hài lịng, mọi nội dung và thơng điệp truyền thơng đều được
con người tiếp thu, thậm chí là theo một cách vô thức. Mức độ tiếp thu phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác nhau. Tuy nhiên, hướng tiếp cận này được đánh giá rằng đã đánh giá
thấp sức ảnh hưởng của truyền thông đối với vô thức của con người.
Thứ hai, người dùng khơng phải lúc nào cũng có thể chủ động trong việc sử
dụng phương thức truyền thông. Cũng như yếu tố trên, sự lựa chọn phương thức
truyền thông có thể bị tác động một cách vơ thức, thay vì theo như Thuyết chỉ ra rằng,
“Người dùng chủ động trong việc lựa chọn phương thức truyền thông họ sử dụng”.
Cuối cùng, một số nhà phê bình cho rằng Thuyết Sử dụng và Hài lòng quá
rộng để được coi là một lý thuyết. Do đó, chỉ nên được coi là một cách tiếp cận để
nghiên cứu phương tiện truyền thông.
III, Ứng dụng truyền thông
Đầu tiên, thuyết Sử dụng và hài lòng được sử dụng để nghiên cứu trong phạm
vi các phương tiện truyền thơng truyền thống như: Báo, truyền hình, đài phát thanh.
Cùng với sự phát triển của công nghệ thơng tin, internet, thuyết Sử dụng và hài lịng
đã nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về dịch vụ cung cấp
thông tin như: Website, các mạng xã hội, trong các trò chơi trực tuyến, trong học trực
tuyến. Thuyết Sử dụng và hài lòng đang nổi lên trong số các lý thuyết về sử dụng
truyền thông được các nhà nghiên cứu đồng thuận và đề xuất ứng dụng trong việc tìm
hiểu các phương tiện truyền thơng. Cơ sở lý thuyết của thuyết Sử dụng và hài lòng
9


cung cấp một nền tảng tuyệt vời và thích hợp cho các nghiên cứu và thực tiễn sử dụng
truyền thông xã hội và thông qua tổng hợp tài liệu, thuyết Sử dụng và hài lịng đã
chứng minh tính hữu ích trong việc vận hành các thành phần lý thuyết khi sử dụng
internet và các phương tiện giao tiếp điện tử.

1, Một số ứng dụng của thuyết sử dụng và hài lịng vào phương tiện truyền
thơng truyền thống
a, Báo in
Báo in là một trong những phương tiện truyền thông lâu đời nhất, qua đó có
nhiều thế hệ trải qua việc sử dụng và hài lòng với chúng. Báo in là phương tiện dễ sử
dụng, dành cho mọi lứa tuổi (biết chữ), có sự tiếp cận với thơng tin khá kịp thời, tuy
nhiên độc giả lại không dễ dàng trong việc đánh giá và trao đổi thông tin trực tiếp với
mọi người. Chính vì vậy, sử dụng thuyết sử dụng và hài lịng nhằm nghiên cứu nhóm
cơng chúng sử dụng báo như thế nào và hành vi của họ ra sao. Case:
Bernard Berelson - nhà khoa học Mỹ là người tiến hành đầu tiên về cách thức
sử dụng phương tiện truyền thông in ấn của công chúng. Năm 1949, Bernard Berelson
công bố kết quả đề tài nghiên cứu Khơng có báo in thì thế nào, ơng đã tổng kết 6 cách
sử dụng báo in của con người như sau:
Thứ nhất: Là nguồn cung cấp thơng tin - nếu khơng có báo in sẽ mất đi kênh
tìm hiểu thế giới bên ngồi;
Thứ hai, là công cụ của đời sống hàng ngày - không xem được giới thiệu
chương trình phát thanh, khơng nắm bắt được những thông tin về thời tiết, giao thông,
mua sắm, khiến mọi sinh hoạt trong cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn;
Thứ ba, là hình thức để giải trí - trong quá trình đọc báo, con người sẽ được
nghỉ ngơi và n tĩnh;
Thứ tư, là hình thức để có được uy tín trong xã hội - nếu thường xuyên đưa ra
thông tin hoặc kiến thức đọc được trên báo, người đọc sẽ được những người xung
quanh kính trọng hơn;

10


Thứ năm, là hình thức xã giao - báo chí có thể cung cấp những chủ đề phong
phú, giúp đời sống xã giao trở nên đa dạng hơn;
Thứ sáu, đọc báo mỗi ngày đã trở thành thói quen của cơng chúng, khơng có

báo đọc, cuộc sống sẽ trống trải, vơ vị;13
Trong cuộc điều tra đó, Bernard Berelson đã phát hiện ra một số người “nghiện
đọc báo” thậm chí họ cịn giở báo cũ ra đọc để bù đắp thiếu hụt khơng có báo. 14 b,
Phát thanh
Có thể nói, phát thanh là phương tiện truyền thơng tiện lợi, giúp thính giả có
thể tiếp nhận thơng tin trong khi làm việc khác. Phát thanh tuy là một phương tiện
truyền thông truyền thống, song sẽ khơng bao giờ có thể bị thay thế. Case:
Năm 1944, Herta Herzog chuyên gia của Trung tâm Nghiên cứu Phát thanh Đại học Columbia (Mỹ) đã phỏng vấn sâu 11 thính giả về chương trình phát thanh với
tên gọi: “Cuộc thi tìm hiểu kiến thức chuyên gia”. Herta Herzog cho rằng, có ba nhu
cầu tâm lý cơ bản khiến thính giả thích đón xem các chương trình thi tìm hiểu kiến
thức:
Thứ nhất, nhu cầu tâm lý cạnh tranh - thông qua việc giành quyền trả lời khiến
bản thân họ và những khách mời có mặt trong chương trình hoặc thính giả đang đón
xem ở trong trạng thái “thi đua” và nhận được niềm vui qua cuộc cạnh tranh đó;
Thứ hai, nhu cầu học hỏi kiến thức mới - thơng qua chương trình phát thanh,
giúp bản thân hiểu biết hơn;
Thứ ba, nhu cầu tự đánh giá bản thân - thơng qua việc trả lời câu hỏi để phán
đốn vốn hiểu biết của mình, xác định năng lực của bản thân.
Đánh giá: Nghiên cứu của Herzog giúp phản ánh tính đa dạng trong động cơ
của công chúng, chứng tỏ kịch phát thanh có nhiều chức năng khác nhau, cho thấy
thuyết sử dụng và hải lòng hỗ trợ rất nhiều trong nghiên cứu tâm lý thính giả.
c, Truyền hình Case:

13 Nguoilambao.vn: Báo chí và truyền thơng nhìn nhận từ thuyết “Sử dụng và hài lòng”
14 Lowery, Shearon A. And DeFleur, Melvin L;, Milestones in Mass Communication: Media Effects, Third
Edition, Longman Publishers USA, 1995, P 93-111.
11


Những điều tra của chuyên gia truyền thông người Anh Denis McQuail - Giáo

sư trường Đại học Amsterdam, Hà Lan.
Thứ nhất, hiệu quả chuyển đổi tâm trạng - chương trình truyền hình có thể cung
cấp các hoạt động tiêu khiển, giải trí, giúp con người “chạy trốn” những áp lực, gánh
nặng của cuộc sống thường nhật và được giải phóng về tinh thần.
Thứ hai, hiệu quả quan hệ giữa con người với con người gồm hai loại: Một là,
mối quan hệ giữa con người với con người “ảo”, nghĩa là khán giả có cảm giác như
được gặp “người quen” hoặc bạn bè đối với các nhân vật xuất hiện trong chương trình,
người dẫn chương trình; Hai là, quan hệ giữa con người với con người trong thực tế,
tức là thông qua quá trình bàn luận về nội dung chương trình, có thể khiến mối quan
hệ trong gia đình trở nên hài hòa hơn, mở rộng các mối quan hệ xã giao.
Giáo sư Denis McQuail cho rằng, mối quan hệ giữa con người “ảo” vẫn có thể
thỏa mãn nhu cầu tâm lý tương tác với xã hội của con người trên hai phương diện:
Thứ nhất, là hiệu quả xác nhận bản thân - tức là các nhân vật, sự kiện, tình huống,
phương pháp giải quyết mâu thuẫn, xung đột trong chương trình truyền hình…, có thể
cung cấp cho cơng chúng khung tham khảo tự đánh giá bản thân. Qua đó, khán giả có
thể tự kiểm điểm và đánh giá về hành vi của mình. Thứ hai, là hiệu ứng giám sát mơi
trường - thơng qua việc đón xem các chương trình truyền hình, cơng chúng có thể thu
thập được các thơng tin có mối liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với bản thân, kịp thời
nắm bắt những thay đổi của môi trường…15
Đánh giá: Nghiên cứu của Denis McQuail cho thấy con người tiếp xúc với
phương tiện truyền thông đều căn cứ vào những nhu cầu cơ bản của họ, cho thấy
thuyết sử dụng và hài lịng coi việc có đáp ứng được nhu cầu của công chúng hay
không là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá hiệu quả truyền thông, từ đó có ý nghĩa vơ
cùng quan trọng.

15 Denis Mc Quail, Sociology of Mass Communication, Penguin Books, London, 1972, Chapter
2, P.59.
12



2, Ứng dụng hiện đại của thuyết sử dụng và hài lịng vào phương tiện truyền
thơng
hiện đại Internet
Internet cung cấp những nguồn thông tin mới và đi sâu hơn trong việc đo lường
và khám phá Thuyết sử dụng và hài lòng. Về cơ bản nhu cầu sử dụng mạng Internet
của con người vẫn có nhiều nét tương đồng với nhu cầu sử dụng các phương tiện
truyền thơng truyền thống, có thể khái quát như sau:
Thứ nhất, sự chuyển đổi tâm trạng. Internet đóng vai trị là một khơng gian
“ảo”, nhờ đó, có thể giúp con người giao tiếp với nhau hoặc tìm hiểu, tiếp xúc với
nguồn thơng tin mà khơng bị lộ thân phận. Nhờ đó, người ta có thể dùng Internet như
một nơi để xả áp lực; Phương pháp giảm áp lực của con người trên mạng Internet bao
gồm: Tiếp xúc với các thơng tin bổ ích nhằm xoa dịu tâm trạng; Thông qua các blog,
diễn đàn, mạng xã hội để bày tỏ suy nghĩ thực với tư cách nặc danh.
Thứ hai, quan hệ giữa con người với con người. Mặc dù mạng Internet là không
gian “ảo”, nhưng sự giao lưu giữa người dùng mà nó đem lại lại là thực. Cụ thể, mọi
người thân có thể nhắn tin, gọi điện với nhau, cơng chúng có thể giao lưu trực tiếp với
phóng viên, biên tập viên, người dẫn chương trình qua email hoặc các diễn đàn, mạng
xã hội…
Thứ ba, xác nhận bản thân. Có thể nói, sự thỏa mãn của mạng Internet đối với
nhu cầu “xác nhận bản thân” của công chúng không rõ nét như các phương tiện truyền
thơng truyền thống. Chương trình thời sự hoặc các chương trình khác trên các phương
tiện truyền thơng truyền thống đều có quan niệm giá trị rõ nét và được xã hội công
nhận, đồng thời cung cấp cho công chúng một sự tham khảo rõ ràng để họ tự xác nhận
bản thân. Trong môi trường Internet, các quan niệm giá trị đều có khả năng được
truyền bá, con người sống trong mơi trường hết sức phức tạp, khiến họ khó phán đoán
được hành vi hoặc quan niệm nào đáng được tham khảo. Tuy nhiên, Internet lại là một
công cụ đắc lực để con người xác nhận bản thân một cách nhanh chóng với một nhóm
cơng chúng cụ thể, bởi tính tương tác tức thì của nó.

13



Thứ tư, giám sát môi trường. Mạng Internet ngày nay khơng chỉ là một kênh
truyền bá thơng tin, mà cịn là một khơng gian sống “ảo”. Con người có thể thực hiện
những hoạt động trong đời sống thường nhật trên mạng Internet như giao tieps, trao
đổi thông tin, mua sắm, kết bạn,… Điều này khiến mạng Internet trở thành một phần
của môi trường “thực” - mặc dù “không gian” này phải dựa trên nền tảng số. Nói cách
khác, mạng Internet không chỉ là công cụ giám sát, mà bản thân nó đã trở thành mơi
trường truyền thơng mới.
Đánh giá: Việc nghiên cứu lý thuyết sử dụng và hài lòng đối với mạng internet
cho thấy hành vi tiếp xúc với truyền thông của công chúng là hoạt động lựa chọn
những nội dung trên phương tiện truyền thông dựa trên nhu cầu của cơng chúng, sự
lựa chọn này có “tính linh hoạt” nhất định, điều này có lợi cho việc điều chỉnh quan
điểm “cơng chúng hồn tồn bị động” trong các phương tiện truyền thơng trước đây
thành “cơng chúng là người hồn tồn chủ động” tiếp nhận thơng tin trong mơi trường
truyền thông hiện đại.

14


IV, Tài liệu tham khảo
1.

Cynthia Vinney. (2019, 04 19). What Is Uses and Gratifications Theory? Definition
and
Examples.
thoughtco.com.
Retrieved
06
16,

2021,
from
/>
2.

PGS,TS Nguyễn Thành Lợi. (2016, 07 10). Báo chí truyền thơng hiện đại nhìn từ lý
thuyết “Sử dụng và hài lòng”. nguoilambao.vn. Retrieved 06 16, 2021, from
/>
3.

Sarah Turney. (n.d.). Uses and Gratifications Theory and its Connection to Public
Relations.

sites.psu.edu.

Retrieved

06

16,

2021,

from

/>
4.

Thomas E. Ruggiero. (2000). Uses and Gratifications Theory in the 21st Century.
MASS COMMUNICATION & SOCIETY, 3(1), 3-37.


5.

Klapper, J. T. (1963). Mass communication research: An old road resurveyed.
Public Opinion Quarterly, 27, 515–527

6.

Mendelsohn, H. (1964). Listening to the radio. In L. A. Dexter & D. M. White
(Eds.), People, society and mass communication (pp. 239–248). New York:
Free Press.

7.

McQuail, D. (1994). The rise of media of mass communication. In D.
McQuail (Ed.), Mass communication theory: An introduction (pp. 1–29).
London: Sage.

8.

Peirce, K. (2007). Uses and Gratifications Theory. In Encyclopedia of
Children, Adolescents, and the Media (Vol. 2, pp. 841-843). Thousand Oaks,
CA: SAGE
Reference.

Retrieved

from />
%7CCX3470400454&v=2.1&u=psu
cic&it=r&p=GVRL&sw=w&asid=c5074e498be9ec0f170f115e3d9f52e5

9.

Rayburn, J. D. (1996). Uses and gratifications. In M. B. Salwen & D. W.
Stacks (Eds.), An integrated approach to communication theory and research
(pp. 97– 119). Mahwah, NJ: Lawrence Erlbaum Associates, Inc.

15


10. Rosengren, K. E. (1974). Uses and gratifications: A paradigm outlined. In J.
G. Blumler & E. Katz (Eds.), The uses of mass communications: Current
perspectives on gratifications research (pp.269–286). Beverly Hills, CA: Sage.
11. Peirce, K. (2007). Uses and Gratifications Theory. In Encyclopedia of
Children, Adolescents, and the Media (Vol. 2, pp. 841-843). Thousand Oaks,
CA: SAGE
Reference.

Retrieved

from

/>cic&it=r&p=GVRL&sw=w&asid=c5074e498be9ec0f170f115e3d9f52e5
12. Windahl, S. (1981). Uses and gratifications at the crossroads. Mass
Communication Review Yearbook, 2, 174–185.
13. Elihu Katz, Jay G. Blumler, Michael Gurevitch (1973 - 1974) Uses and
Gratifications Research.
14. Rubin, A, (2002) The uses-and-gratifications perspective of media effects.
15. Rubin, A, (2002) The uses-and-gratifications perspective of media effects.
16. Peirce, K. (2007). Uses and Gratifications Theory. Encyclopedia of Children,
Adolescents,


and

the

Media

/>cic&it=r&p=GVRL&sw=w&asid=c5074e498be9ec0f170f115e3d9f52e5
17. Perse, E. (2014, January 30). Uses and Gratifications.
18. />19. Katz, E., Blumler, J. G., & Gurevitch, M.. (1973). Uses and Gratifications Research.
The Public Opinion Quarterly, />
20. Lowery, Shearon A. And DeFleur, Melvin L;, Milestones in Mass

Communication: Media Effects, Third Edition, Longman Publishers
USA, 1995, P 93-111
21. Denis Mc Quail, Sociology of Mass Communication, Penguin Books,

London, 1972, Chapter 2, P.59.

16



×