Tải bản đầy đủ (.pdf) (60 trang)

Quy trình sản xuất thức ăn cho lợn thịt và giải pháp đề xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.08 MB, 60 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH

KHOA HÓA HỌC
===  ===

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

QUY TRÌNH SẢN XUẤT THỨC ĂN CHO
LỢN THỊT VÀ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT
NHẰM HẠ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

GVHD: TS. Trần Đình Quang
SVTH : Nguyễn Thị Thảo
Lớp: 47K – Cơng nghệ thực phẩm

Vinh, tháng 12/2010


LỜI CẢM ƠN !

Trƣớc tiên em gửi lời cám ơn chân thành sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong
trƣờng Đại học Vinh nói chung và các thầy cơ giáo trong khoa Hóa học, bộ mơn
Hóa học thực phẩm nói riêng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho em những kiến
thức, kinh nghiệm quí báu trong suốt thời gian qua.
Đặc biệt em gửi lời cám ơn đến thầy Trần Đình Quang, đã tận tình giúp đỡ,
trực tiếp chỉ bảo, hƣớng dẫn em trong suốt quá trình làm đồ án tốt nghiệp. Trong
thời gian làm việc với thầy, em không ngừng tiếp thu thêm nhiều kiến thức bổ ích
mà cịn học tập đƣợc tinh thần làm việc, thái độ nghiên cứu khoa học nghiêm túc,
hiệu quả. Đây là những điều rất cần thiết cho em trong quá trình học tập và công tác
sau này.
Đồng thời em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các cô chú, anh chị trong


Nhà máy thực phẩm gia súc Con Heo Vàng đã tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất
giúp em có môi trƣờng tốt để thực hiện đề tài.
Sau cùng nhƣng không kém phần quan trọng, em gửi lời cảm ơn chân thành tới
gia đình, bạn bè đã động viên, đóng góp ý kiến và giúp đỡ trong q trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành đồ án tốt nghiệp!
Vinh, ngày 15/11/2010
Sinh viên

Nguyễn Thị Thảo


MỤC LỤC
Đề mục

Trang

Trang bìa

i

LỜI CÁM ƠN

ii

MỤC LỤC

iii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ


iv

LỜI MỞ ĐẦU

1

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỨC ĂN CHO LỢN

3

1.1. Khái niệm về thức ăn gia súc

3

1.2. Bộ máy tiêu hoá và sự tiêu hoá của lợn

8

1.3. Các loại nguyên liệu thƣờng sử dụng trong thức ăn cho lợn

10

1.4. Tiêu chuẩn và khẩu phần ăn của lợn

18

CHƢƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

24


2.1. Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

24

2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu

24

2.3. Xử lí số liệu

29

CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

30

3.1. Qui trình cơng nghệ chế biến thức ăn hỗn hợp cho lợn thịt

30

3.2. Công thức phối trộn một số sản phẩm của Nhà máy

47

3.3. Kết quả phân tích hàm lƣợng protein thô, lipid thô và xơ thô

48

3.4. Các giải pháp đề xuất để giảm giá thành sản phẩm


51

KẾT KUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

54

TÀI LIỆU THAM KHẢO

55


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ TRONG LUẬN VĂN
NỘI DUNG

Trang

Bảng 1.1. Tỷ lệ tiêu hóa cám gạo của lợn (%)
Bảng 1.2. Ảnh hƣởng của aflatoxin đối với lợn
Bảng 1.3. Ví dụ tổ hợp cơng thức thức ăn
Bảng 3.1. Thành phần và tỉ lệ phối trộn của sản phẩm SH 151

11
15
20
47

Bảng 3.2. Thành phần và tỉ lệ phối trộn của sản phẩm SH 99

47


Bảng 3.3. Lƣợng HCl sử dụng khi phân tích hàm lƣợng protein thơ
Bảng 3.4. Kết quả hàm lƣợng nitơ trong thức ăn cho lợn

48
48

Bảng 3.5. Kết quả hàm lƣợng protein thô trong thức ăn cho lợn
Bảng 3.7. Kết quả cân mẫu, mẫu sau khi thủy phân, mẫu sau khi nung

49
50

Bảng 3.8. Kết quả hàm lƣợng xơ thô có trong thức ăn cho lợn
Bảng 3.9. Thức ăn chăn nuôi của một số nhà máy áp dụng từ ngày
10/12/2010
Bảng 3.10. Thành phần hoá học của một số loại bột cá
Bảng 3.11. Thành phần axit amin của một số loại bột cá

50
51

Hình 3.1. Qui trình cơng nghệ chế biến thức ăn hỗn hợp cho lợn thịt
Hình 3.2. Sơ đồ quy trình sản xuất thức ăn gia súc đậm đặc dạng bột
Hình 3.3. Sơ đồ quy trình sản xuất thức ăn gia súc hỗn hợp dạng viên
Hình 3.4. Sơ đồ máy đập má
Hình 3.5. Sơ đồ máy nghiền trục - kiểu cắt nghiến
Hình 3.6. Sơ đồ máy nghiền kiểu búa
Hình 3.7. Máy nghiền 2 cặp trục
Hình 3.8. Máy nghiền, bộ phận thu bột và quạt gió
Hình 3.9. Máy trộn đứng

Hình 3.10. Máy trộn ngang có vít trộn dạng ruy băng
Hình 3.11.Máy trộn ngang dạng trống quay
Hình 3.12. Sơ đồ hoạt động của máy ép viên
Hình 3.13. Máy ép đùn ƣớt
Hình 3.14. Máy ép đùn khơ
Hình 3.15. Máy ép viên

30
31
32
34
35
36
37
38
40
41
41
42
43
44
44

52
53


LỜI MỞ ĐẦU
Chăn ni lợn nói riêng và chăn ni gia súc nói chung là nghề sản xuất
truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất

của ngành chăn nuôi nƣớc ta. Ngồi việc cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dƣỡng
cao, ngành chăn ni cịn là nguồn cung cấp ngun liệu không thể thiếu cho một số
ngành công nghiệp. Ở những nƣớc tiên tiến, giá trị sản xuất chăn nuôi chiếm trên
50% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp (, truy cập ngày
16/11/2009).
Sản phẩm chăn nuôi là nguồn thực phẩm quan trọng của con ngƣời. Muốn
cho sản phẩm chăn nuôi có giá trị dinh dƣỡng cao thì lợn phải đƣợc cung cấp đầy
đủ thức ăn cả về số lƣợng và chất lƣợng. Thức ăn tốt thì sản phẩm chăn ni tốt và
ngƣợc lại.
Chẳng hạn, vào mùa đơng thiếu cỏ, bị sữa phải ăn cỏ khơ, sữa bị trong mùa
này thƣờng nghèo caroten hơn sữa mùa mƣa, nếu trẻ uống sữa loại này trẻ sẽ bị
thiếu vitamin A và caroten. Cây cỏ ở vùng núi thƣờng thiếu iôt, tỷ lệ bệnh bƣớu cổ
(do thiếu iôt) của ngƣời sống ở vùng núi thƣờng cao hơn vùng ven biển. Mặt khác,
khi thức ăn gia súc bị nhiễm các chất độc hại nhƣ thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, các
kim loại nặng nhƣ chì, thuỷ ngân, asen... thì các chất này cũng sẽ tích tụ lại trong
sản phẩm chăn nuôi và cuối cùng đi vào cơ thể ngƣời tiêu dùng. Nhƣ vậy, giữa thức
ăn chăn ni và thực phẩm có mối quan hệ mật thiết, nếu ngƣời chăn nuôi chạy theo
lợi nhuận đơn thuần, tăng năng suất sản phẩm chăn nuôi bằng mọi cách, không
quan tâm đến tác hại của dƣ lƣợng thuốc bảo vệ thực vật cũng nhƣ các hoá chất độc
hại dùng để kích thích tăng trọng, kích thích tiết sữa hoặc đẻ trứng thì có hại cho
tồn xã hội. Từ những lí do đó, ngƣời ta thƣờng nhấn mạnh rằng: giữ gìn vệ sinh an
tồn thực phẩm phải bắt đầu từ chuồng nuôi và thức ăn chăn nuôi.
Năng suất chăn nuôi trƣớc hết phụ thuộc vào việc cung cấp đúng thức ăn cho
gia súc, gia cầm. Việc cung cấp thức ăn đúng có nghĩa là phù hợp với nhu cầu chức
năng của gia súc với mức tiêu thụ thức ăn ít nhất nhƣng lại cho sản lƣợng có ích lớn
nhất. Thức ăn cho gia súc phải đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng tiêu hóa tốt, khơng
chứa những chất độc hại cho q trình tiêu hóa và sức khỏe làm ảnh hƣởng đến chất
lƣợng sản phẩm gia súc.
Thức ăn ở dạng tự nhiên chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu dinh dƣỡng đa dạng
theo chức năng và lứa tuổi của gia súc, cho nên phải tiến hành chế biến và phối trộn

thành thức ăn hỗn hợp nhằm đáp ứng những yêu cầu trên. Nhƣ vậy, thức ăn hỗn hợp


cho gia súc là hỗn hợp thức ăn đã làm sạch và nghiền nhỏ đến độ nhỏ yêu cầu, trộn
với nhau theo một tỉ lệ xác định, có thể ở dạng viên hoặc dạng bột, chứa đủ số
lƣợng và chất lƣợng các thành phần dinh dƣỡng cần thiết cho vật ni.
Trong chăn ni, yếu tố dinh dƣỡng có vai trị quyết định đến việc thành bại
của ngƣời chăn ni vì thức ăn chiếm tới 70 – 80% tổng chi phí để sản xuất ra sản
phẩm thịt (, 27/08/2008). Cho nên muốn tăng hiệu
quả kinh tế thì phải làm thế nào để chi phí vào đầu tƣ vào thức ăn thấp nhất mà vẫn
đảm bảo chất lƣợng.
Xuất phát từ thực tế trên, em mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Quy trình sản xuất
thức ăn cho lợn thịt và giải pháp đề xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm”.
Mục tiêu của đề tài:
- Hiểu về thức ăn gia súc và nhà máy sản xuất thức ăn gia súc.
- Hiểu về thức ăn cho lợn và qui trình sản xuất thức ăn cho lợn thịt.
- Tìm hiểu cơng thức phối trộn một vài loại thức ăn cho lợn.
- Phân tích giá trị dinh dƣỡng của thức ăn cho lợn thịt.
-

Tìm giải pháp hạ giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo giá trị dinh dƣỡng.

Nội dung của đề tài:
- Tìm hiểu về thức ăn gia súc thông qua tổng hợp tài liệu.
- Tham quan, thực tập tại nhà máy sản xuất thức ăn gia súc.
- Mơ tả qui trình sản xuất thức ăn hỗn hợp cho lợn thịt tại Nhà máy thức ăn gia
súc Con Heo Vàng.
- Mô tả các nguyên liệu và tỉ lệ phối trộn của một số sản phẩm thức ăn cho lợn thịt
-


của Nhà máy Con Heo Vàng.
Phân tích giá trị dinh dƣỡng của thức ăn lợn thịt đƣợc sản xuất tại Nhà máy Con
Heo Vàng.
Đề xuất giải pháp hạ giá thành sản phẩm thông qua việc sử dụng nguồn nguyên
liệu thay thế.


Chƣơng 1
TỔNG QUAN
1.1. Khái niệm về thức ăn gia súc
Với sự phát triển của nền kinh tế, khái niệm về thức ăn gia súc có sự biến
đổi. Trong giai đoạn chăn nuôi du mục, cỏ tự nhiên trên bãi đƣợc coi là thức ăn gia
súc, đến khi con ngƣời biết trồng trọt, sản xuất ra lƣơng thực thì khái niệm về thức
ăn gia súc đƣợc mở rộng. Thức ăn gia súc bao gồm không phải chỉ là cây cỏ tự
nhiên mà còn là các sản phẩm trồng trọt và các phụ phẩm, rồi sau đó là các sản
phẩm nguồn gốc động vật, vi sinh vật và chất khoáng. Ngày nay cịn có những sản
phẩm hố học, cơng nghệ sinh học nhƣ vitamin, enzym, axit amin, các thuốc phòng
bệnh, các chất tạo màu, tạo mùi, các chất bảo quản... cũng đƣợc đƣa vào làm thức
ăn cho động vật ni. Vì thế khái niệm về thức ăn đƣợc mở rộng nhƣ sau:
Thức ăn chăn ni là những sản phẩm có nguồn gốc thực vật, động vật, vi
sinh vật, khoáng vật, những sản phẩm hố học, cơng nghệ sinh học..., những sản
phẩm này cung cấp các chất dinh dƣỡng cần thiết cho con vật theo đƣờng miệng,
đảm bảo cho con vật khoẻ mạnh, sinh trƣởng, sinh sản và sản xuất bình thƣờng
trong một thời gian dài (Lê Đức Ngoan và cs, 2004).
Việc phân loại thức ăn gia súc giúp cho ngƣời chăn nuôi lựa chọn và định
hƣớng sử dụng thích hợp từng loại thức ăn cho từng đối tƣợng nuôi để mang lại
hiệu quả kinh tế cao. Có nhiều phƣơng pháp phân loại thức ăn khác nhau, căn cứ
vào nguồn gốc, đặc tính dinh dƣỡng, tính chất thức ăn (Lê Đức Ngoan và cs, 2004).
Căn cứ vào nguồn gốc thức ăn đƣợc chia thành các nhóm sau:
- Thức ăn có nguồn gốc từ thực vật

Trong nhóm này gồm các thức ăn xanh, thức ăn rễ, củ, quả, thức ăn hạt các
sản phẩm phụ của ngành chế biến nông sản: dây lang, rau muống, bèo, sắn, khoai
lang, các loại cám, khô dầu (do các ngành chế biến dầu), bã bia, rƣợu, sản phẩm
phụ. Nhìn chung, loại thức ăn này là nguồn năng lƣợng chủ yếu cho ngƣời và gia
súc, ngồi ra nó cịn cung cấp vitamin, protein thơ, các loại vi khống, kháng sinh,
hợp chất sinh học.
- Thức ăn có nguồn gốc từ động vật
Gồm tất cả các loại sản phẩm chế biến từ nguyên liệu động vật nhƣ bột cá,
bột tôm, bột thịt, bột sữa và bột máu. Hầu hết thức ăn động vật có protein chất
lƣợng cao, có đủ các axit amin thiết yếu, các nguyên tố khoáng và một số vitamin
A, D, E, K, B12…, tỷ lệ tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dƣỡng trong thức ăn động


vật cao hay thấp phụ thuộc vào cách chế biến. Đây là nguồn thức ăn bổ sung protein
quan trọng trong khẩu phần của gia súc, gia cầm.
- Thức ăn có nguồn gốc vi sinh vật
Probiotics và Prebiotics có thể khơi phục sự cân bằng của vi khuẩn trong
đƣờng tiêu hóa.
a. Probiotics
Probiotic đƣợc định nghĩa là chất bổ sung thực phẩm có vi khuẩn sống, nó có
ảnh hƣởng tốt đến sự cân bằng vi sinh vật trong đƣờng ruột từ đó ảnh hƣởng tốt cho
động vật (Fuller, 1998). Cách thức hoạt động của probiotics là loại trừ cạnh tranh
('competitive exclusion'), nghĩa là cạnh tranh bám váo màng nhầy thành ruột, qua
đó tạo nên một hàng rào vật lý bảo vệ sự tấn công của các khuẩn gây bệnh (Fullar,
2005). Chúng cũng sản xuất ra hoạt chất chống khuẩn và men kích thích hệ thống
miễn dịch. Vì thế việc bổ sung lợi khuẩn Probiotics sẽ giúp cân bằng hệ miễn dịch,
kiềm chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh trong ruột, phịng chống bệnh tật.
Probiotics là những vi khuẩn có lợi đƣợc tìm thấy ở nhiều loại thực phẩm
khác nhau. Khi sử dụng Probiotics (ăn) sẽ tạo ra những ảnh hƣởng có lợi lên sức
khỏe con ngƣời đặc biệt là hệ tiêu hóa. Thí dụ điển hình về Probiotics là những vi

khuẩn thuộc chủng Lactobacillis và Bifidobacterium.
Giống nhƣ Lactobacilli thì vi khuẩn Probiotic đƣợc tìm thấy một cách ngẫu
nhiên trong các thực phẩm lên men nhƣ: dƣa bắp cải và sữa chua. Một số thức ăn sẽ
tạo ra Probiotics là thành phần có lợi, tốt cho q trình tiêu hóa và hấp thụ các chất
dinh dƣỡng.
Hình thành thói quen bổ sung Probiotics cho cơ thể thơng qua các thực phẩm
chính là một cách đơn giản để mỗi ngƣời tự củng cố cho “thành lũy” sức đề kháng
của mình.
b. Prebiotics
Prebiotics, đƣợc Marcel Roberfroid tìm ra và đặt tên năm 1995, là các thành
phần thức ăn khơng tiêu hố có ảnh hƣởng có lợi cho vật chủ bằng cách kích thích
sinh trƣởng và hoạt động của một hay một số vi khuẩn trong kết tràng (Gibson và
Roberfroid, 1995). Loại prebiotics thông dụng nhất là oligosaccharides, là các
Cacbonhydrate khơng tiêu hóa. Prebiotics.đƣợc xem là một thực phẩm chức năng.
Trong Tạp chí Dinh dƣỡng năm 2007, Roberfroid đã đƣa ra một định nghĩa
đầy đủ hơn. Ông khẳng định:“ Một prebiotics là một thành phần lên men chọn lọc
cho phép sự thay đổi cụ thể cả về thành phần và hoạt động trong hệ vi sinh đƣờng
ruột, sống hữu ích trong đƣờng ruột vật chủ”.


Prebiotics là những thành phần trong thực phẩm không bị tiêu hóa vì vậy mà
Oligosaccharides duy trì trong hệ tiêu hóa và kích thích sự tăng trƣởng của vi khuẩn
có lợi. Oligosaccharides có thể tìm thấy ở trong trái cây, rau đậu, sữa chua và ngũ
cốc. Fructo-oligosaccharides (một loại đƣờng của trái cây) có thể đƣợc dùng nhƣ là
một sự bổ sung vào thực phẩm.
Thông thƣờng, Prebiotics là các loại cacbon hydrat. Dạng phổ biến nhất của
prebiotics là loại chất xơ hịa tan có giá trị về mặt dinh dƣỡng. Những nguồn thức
ăn có chứa prebiotic thƣờng gặp là đậu nành, yến mạch thơ, lúa mì ngun cám và
lúa mạch ngun cám, hành, chuối, tỏi, a-ti-sơ, nho…
Prebiotic kích thích sự tăng trƣởng của vi khuẩn hữu ích đã hiện diện trong

đƣờng ruột. Prebiotic ít bị tiêu hóa ở dạ dày và ruột non, trở thành nguồn thức ăn
cho vi sinh vật có lợi của ruột già. Prebiotic cịn có vai trị nhƣ một chất xơ trong
tiêu hóa. Trong một chừng mực nào đó, nhiều dạng chất xơ trong chế độ ăn kiêng
cũng tạo ra đƣợc những hiệu quả nhất định.
- Thức ăn nguồn khống chất
Gồm các loại bột sị, đá vơi và các muối khống khác nhằm bổ sung các chất
khoáng đa và vi lƣợng.
Dựa vào hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng trong thức ăn: protein, lipit, gluxit,
nƣớc… để chia thành các nhóm:
- Thức ăn giàu protein
Tất cả những loại thức ăn có hàm lƣợng protein thơ chiếm trên 20% (tính
theo vật chất khơ) thì đƣợc gọi là những loại thức ăn giàu protein.
- Thức ăn giàu lipit
Gồm các loại thức ăn mà hàm lƣợng lipit chiếm trên 20%. Mục đích sử dụng
thức ăn này là cung cấp một lƣợng lipit thích hợp trong khẩu phần đã đủ hàm lƣợng
vật chất khơ nhƣng giá trị năng lƣợng cịn q thấp.
- Thức ăn giàu gluxit
Là loại thức ăn trong đó có hàm lƣợng gluxit 50% trở lên, gồm các loại hạt
ngũ cốc, ngơ, thóc cám, bột khoai, bột sắn. Thức ăn này chiếm tỷ lệ rất lớn trong
khẩu phần thức ăn của lợn, nó là nguồn năng lƣợng dễ tiêu hóa, hấp thu và ít gây tai
biến trong q trình sử dụng mà giá thành rẻ.
- Thức ăn nhiều nước
Gồm các loại thức ăn có hàm lƣợng nƣớc từ 70% trở lên. Ví dụ: thức ăn củ
quả, bã rƣợu, bia, rau xanh, bèo...
- Thức ăn nhiều xơ


Gồm các loại thức ăn mà hàm lƣợng xơ thô 18% trở lên. Loại thức ăn này là
sản phẩm chế biến của ngành trồng trọt, nhƣ dây lang, rau muống...
- Thức ăn giàu khoáng

Gồm các loại muối khoáng, bột xƣơng, muối ăn, bột sò...
- Thức ăn giàu vitamin
Gồm những loại vitamin hoặc những loại thức ăn giàu vitamin nhƣ: bột rau
xanh, dầu gan cá...
- Thức ăn bổ sung khác
Gồm các loại thức ăn có nguồn gốc đặc biệt nhƣ kháng sinh, các hợp chất
chứa nitơ, các chất chống mốc, chất chống oxy hóa, các chất tạo màu, tạo mùi...
Theo đƣơng lƣợng tinh bột, ngƣời ta phân thức ăn thành 2 loại: thức ăn tinh và thức
ăn thô.
- Thức ăn thô
Bao gồm các loại thức ăn có đƣơng lƣợng tinh bột dƣới 45% nghĩa là trong
100 kg thức ăn có giá trị không quá 45 đơn vị tinh bột.
- Thức ăn tinh
Bao gồm các loại thức ăn có đƣơng lƣợng tinh bột trên 45% (trong vật chất
khô) nhƣ các hạt ngũ cốc, bột củ quả, các hạt khô dầu. Trong thức ăn tinh còn phân
ra thức ăn giàu protein, gluxit, lipit...
Ngƣời ta còn căn cứ vào độ pH của sản phẩm chuyển hóa cuối cùng để chia
thức ăn thành toan hay kiềm. Thƣờng những thức ăn có chứa nhiều P, Cl, S thì sản
phẩm cuối cùng của sự chuyển hóa mang tính axit. Ví dụ: P cho H3PO4, S, H2SO4,
Cl, HCl, cịn loại thức ăn nhiều Ca, K, Na, Mg thì sản phẩm chuyển hóa cuối cùng
mang tính kiềm.
Cơng thức xác định một loại thức ăn toan tính hay kiềm tính là:
X=

97P  62S  28Cl
50Ca  26K  43Na  83Mg

- Nếu X > 1: Thức ăn đó thuộc nhóm toan tính
- Nếu X < 1: Thức ăn đó thuộc nhóm kiềm tính
Ví dụ: Trong cỏ khơ có chứa P: 2,1 g; K: 19,2 g; Na: 2,46 g; S: 2,05 g; Cl:

2,17 g; Ca: 17,7 g; Mg: 2,28 g.
Thay vào cơng thức ta có:
X=

97P  62S  28Cl
= 0,23
50Ca  26K  43Na  83Mg

Trƣờng hợp này X < 1 nên thức ăn thuộc nhóm kiềm tính.


Những loại thức ăn kiềm tính gồm: thức ăn xanh, củ quả, thức ăn ủ xanh...
những loại thức ăn này thích hợp cho gia súc sinh sản, tác dụng tốt đối với kích
thích tiết sữa.
Trong khi, những loại thức ăn toan tính nhƣ: các loại thức ăn động vật, hạt
họ đậu và một vài loại thức ăn giàu protein lại thích hợp với gia súc đực, gia súc
đực sinh sản nhất là trong thời gian lấy tinh.
Các loại thức ăn hỗn hợp chăn nuôi phổ biến:
Thức ăn hỗn hợp là loại thức ăn đã đƣợc chế biến sẵn, có ít nhất từ ba loại
nguyên liệu phối hợp với nhau theo những công thức nhất định, đáp ứng nhu cầu
dinh dƣỡng cho từng đối tƣợng vật nuôi, độ tuổi, năng suất sản phẩm khác nhau.
Đặc điểm của thức ăn hỗn hợp là tổng hợp từ nhiều nguồn nguyên liệu và
đều qua chế biến nên hàm lƣợng dinh dƣỡng cao, dễ tiêu hóa, hấp thu, hợp vệ sinh
và tiện lợi trong bảo quản, vận chuyển và sử dụng, hiệu quả chăn nuôi cao khi sử
dụng thức ăn hợp lý.
Kết quả thu đƣợc trong chăn nuôi trên thế giới và trong nƣớc đã cho thấy
việc sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn hỗn hợp đậm đặc đã tăng
năng suất các sản phẩm chăn nuôi đồng thời hạ thấp mức chi phí thức ăn trên
một đơn vị sản phẩm. Chăn nuôi bằng thức ăn hỗn hợp sản xuất theo các cơng
thức đƣợc tính tốn có căn cứ khoa học là đƣa các thành tựu và phát minh về

dinh dƣỡng động vật vào thực tiễn sản xuất một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất.
- Thức ăn hỗn hợp giúp cho con giống có đặc điểm di truyền tốt thể hiện
đƣợc tính ƣu việt về phẩm chất giống mới.
- Sử dụng thức ăn hỗn hợp tận dụng hết hiệu quả đầu tƣ trong chăn nuôi.
- Sử dụng thức ăn hỗn hợp thuận tiện, giảm chi phí sản xuất trong các
khâu cho ăn, chế biến, bảo quản và giảm lao động, sử dụng ít thức ăn nhƣng cho
năng suất cao đem lại hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi.
- Chế biến thức ăn hỗn hợp cho gia súc, gia cầm sẽ liên quan đến nhiều
ngành (sản xuất nguyên liệu, chế tạo cơ khí, động lực, điện...). Vì vậy, phát triển
thức ăn hỗn hợp sẽ kéo theo sự phát triển đa ngành, tạo ra sự phân công lao động,
giải quyết công ăn việc làm cho nhiều ngƣời.
- Thức ăn hỗn hợp có giá trị dinh dƣỡng phù hợp với tuổi gia súc, phù
hợp với hƣớng sản xuất của gia súc, gia cầm thỏa mãn các yêu cầu về quản lý
và kinh tế chăn ni góp phần thay đổi cơ cấu nơng nghiệp, hiện đại hố nền sản
xuất nơng nghiệp.
Hiện nay có hai nhóm loại thức ăn hỗn hợp: hỗn hợp hồn chỉnh, hỗn hợp
đậm đặc (hỗn hợp bổ sung).


Thức ăn hỗn hợp hồn chỉnh (cịn gọi là thức ăn tinh hỗn hợp hoặc thức
ăn hỗn hợp) là hỗn hợp thức ăn hoàn toàn cân đối các chất dinh dƣỡng cho gia
súc, gia cầm, nó duy trì đƣợc sự sống và sức sản xuất của con vật mà không cần
thêm một loại thức ăn nào khác (trừ nƣớc uống). Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh sản
xuất dƣới hai dạng: Thức ăn hỗn hợp dạng bột và dạng viên. Hiện tại ở nƣớc ta có
trên 240 nhà máy sản xuất thức ăn hỗn hợp với quy mô khác nhau (nguồn: Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
Thức ăn hỗn hợp đậm đặc gồm 3 nhóm chính: protein, khống, vitamin,
ngồi ra cịn có thuốc phịng bệnh. Thức ăn hỗn hợp đậm đặc nhằm bổ sung vào
khẩu phần các chất dinh dƣỡng thƣờng thiếu nhƣ đã đề cập ở trên.
Thức ăn đậm đặc, theo hƣớng dẫn ghi ở nhãn hàng hóa, ngƣời chăn ni

có thể đem phối hợp với các nguồn thức ăn giàu năng lƣợng (tinh bột) thành thức
ăn hỗn hợp hoàn chỉnh. Thức ăn đậm đặc rất tiện lợi cho việc sử dụng, vận
chuyển và chế biến thủ công ở quy mơ chăn ni gia đình hay trang trại nhỏ
nhằm tận dụng nguồn thức ăn tại chỗ để hạ giá thành.
1.2. Bộ máy tiêu hoá và sự tiêu hoá của lợn
Trong quá trình sống mọi động vật đều phải lấy thức ăn từ bên ngoài vào và
nhờ hoạt động của các cơ quan tiêu hoá, các dịch tiêu hoá (các men tiêu hóa) và ở
một số lồi vật ni cịn nhờ cả các vi sinh vật mà các thức ăn đƣợc tiêu hoá chuyển
thành các chất dinh dƣỡng. Trong quá trình thức ăn đi qua đƣờng tiêu hố thì các
chất dinh dƣỡng sẽ đƣợc hấp thu vào máu để đƣa đi ni cơ thể hoặc dự trữ.
Để có đƣợc các chất dinh dƣỡng phục vụ cho sự sống của chính bản thân
chúng và sản xuất các sản phẩm nhƣ: thịt, trứng, sữa… thì chúng đã có bộ máy tiêu
hố. Bộ máy tiêu hoá bao gồm: miệng, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu
môn. Đồng thời để giữ cho q trình tiêu hố - hấp thu các chất dinh dƣỡng chúng
cịn cần đến các dịch tiêu hố đƣợc sản xuất tại tuyến tiêu hố và tiết ra khi cần
thiết.
Nhóm gia súc nhỏ nhƣ lợn, có dạ dày đơn và có thể tiêu hố nhiều loại thức
ăn khác nhau, đặc biệt là có thể tiêu hố một hỗn hợp thức ăn tinh và thô (cám, gạo,
rau, bèo, cỏ non, bột cá, khơ dầu…), vì vậy chúng đƣợc gọi là nhóm ăn tạp.
Tiêu hóa là q trình phân giải các chất dinh dƣỡng trong thức ăn từ dạng
phức tạp đến dạng đơn giản để cơ thể hấp thu đƣợc. Chẳng hạn:
+ Protein phân giải thành axit amin, có thể hấp thu đƣợc.
+ Tinh bột phân giải thành đƣờng glucose.
+ Lipit phân giải thành axit béo và glyxerin.


+ Xơ phân giải thành axit lactic và axit béo bay hơi.
Lợn là lồi ăn tạp, nó có thể tiêu hóa đƣợc nhiều loại thức ăn, nhiều dạng
thức ăn. Bộ máy tiêu hố của các lồi vật ni đƣợc khởi đầu là miệng – nơi tiếp
nhận thức ăn từ ngoài vào. Tại khoang miệng có 2 bộ phận chính là lƣỡi và răng.

Lƣỡi giúp cho vật nuôi lấy thức ăn đƣa vào khoang miệng và đẩy vào thực quản.
Miệng còn là nơi tiếp nhận nƣớc uống.
Khi thức ăn đã đƣợc đƣa vào khoang miệng thì vật ni dùng răng cử động
để cắt thức ăn, răng nanh xé thức ăn và răng hàm nghiền thức ăn. Tại khoang miệng
trong khi thức ăn đƣợc nghiền thì đồng thời nó cũng đƣợc thấm nƣớc bọt làm trơn,
sau đó tạo thành viên để dễ nuốt vào thực quản (Nguyễn Kim Đƣờng, 2008).
Nƣớc bọt chứa phần lớn là nƣớc (khoảng 99%) trong đó có enzym amylase
có tác dụng tiêu hố tinh bột, tuy nhiên thức ăn trơi xuống dạ dày rất nhanh nên việc
tiêu hố tinh bột xảy ra nhanh ở miệng, thực quản và tiếp tục ở dạ dày khi thức ăn
chƣa trộn với dịch dạ dày.
Dạ dày lợn trƣởng thành có dung tích khoảng 8 lít, chức năng nhƣ là nơi dự
trữ và tiêu hoá thức ăn. Thành dạ dày tiết ra dịch dạ dày chứa chủ yếu là nƣớc với
enzym pepsin và axit chlohydric (HCl). Enzym pepsin chỉ hoạt động trong môi
trƣờng axit và dịch dạ dày có độ pH khoảng 2,0. Enzym pepsin giúp tiêu hoá
protein và sản phẩm tiêu hoá protein ở dạ dày là polypeptit và một ít axit amin.
Thức ăn sau khi đƣợc tiêu hoá ở dạ dày chuyển xuống ruột non đƣợc trộn với
dịch tiết ra từ tá tràng, gan và tụy - thức ăn chủ yếu đƣợc tiêu hoá và hấp thụ ở ruột
non với sự có mặt của mật và dịch tuyến tụy. Mật đƣợc tiết ra từ gan chứa ở các túi
mật và đổ vào tá tràng bằng ống dẫn mật giúp cho việc tiêu hố mỡ. Tuyến tụy tiết
dịch tụy có chứa enzym trypsin giúp việc tiêu hoá protein, enzym lipase giúp cho
tiêu hố mỡ và enzym diastase giúp tiêu hố carbohydrate. Ngồi ra ở phần dƣới
của ruột non còn tiết ra các enzym maltase, sacharase và lactase để tiêu hoá
carbohydrate. Ruột non cũng là nơi hấp thụ các chất dinh dƣỡng đã tiêu hố đƣợc,
nhờ hệ thống lơng nhung trên bề mặt ruột non mà bề mặt tiếp xúc và hấp thu chất
dinh dƣỡng tăng lên đáng kể.
Ruột già đóng vai trị quan trọng trong tái hấp thu chất dinh dƣỡng, chất điện
giải và nƣớc. Ruột già chỉ tiết chất nhầy không chứa enzym tiêu hố. Chỉ ở manh
tràng có sự hoạt động của vi sinh vặt giúp tiêu hoá carbohydrate, tạo ra các axit béo
bay hơi, đồng thời vi sinh vật cũng tạo ra các vitamin K, B...
Hàng ngày con vật đều đƣa vào cơ thể một lƣợng thức ăn nhƣng trong q

trình tiêu hóa và hấp thụ thức ăn, một phần thức ăn ăn vào nhƣng không đƣợc hấp
thu làm ảnh hƣởng đến hiệu quả tiêu hóa và gây lãng phí thức ăn. Ngồi ra nếu nhƣ


việc chế biến, phối trộn thức ăn không hợp lý thì có thể sẽ gây ra các hiện tƣợng
nhƣ:
- Thiếu hoặc thừa một số yếu tố dinh dƣỡng
- Trong thức ăn có nhiều loại kháng dinh dƣỡng là các chất ức chế enzym
(protease, lectin, saponin,...) chẳng hạn nhƣ anti – trypsin có trong đậu tƣơng, lạc.
Tất cả những điều này tùy theo mức độ mà ảnh hƣởng không tốt đối với cơ thể vật
ni, nhìn chung là làm giảm năng suất chăn ni.
Bên cạnh đó, khi cho vật ni sử dụng thức ăn hỗn hợp thì sẽ rút ngắn đƣợc
cho vật ni khâu cắt, xé, nghiền thức ăn vì đặc điểm của thức ăn hỗn hợp là có
dạng viên hoặc dạng bột. Mặt khác nhƣ đã nói ở trên thức ăn hỗn hợp đƣợc tổng
hợp từ nhiều nguồn nguyên liệu và đều đã qua chế biến nên hàm lƣợng dinh dƣỡng
cao, dễ tiêu hóa, dễ hấp thu nên hiệu quả chăn nuôi cao khi sử dụng hợp lý.
1.3. Các loại nguyên liệu thƣờng sử dụng trong thức ăn cho lợn
1.3.1. Nguyên liệu cung cấp năng lượng
Theo Lê Đức Ngoan và cs (2004), nguyên liệu sản xuất thức ăn cho lợn gồm:
1.3.1.1. Ngô
Là loại nguyên liệu quan trọng nhất dùng trong thực phẩm chăn ni. Hạt
ngơ bao gồm phần vỏ ngồi mỏng, lớp cám, lớp phôi nhũ rồi đến phôi (gần đầu nhỏ
của hạt). Ngô dùng trong chăn nuôi chủ yếu là ngơ vàng, ngơ trắng có thành phần
dinh dƣỡng tốt nhƣng thiếu sắc tố nên ít dùng.
Giống nhƣ các loại thức ăn hạt cốc khác, ngô là loại thức ăn có tỷ lệ tiêu hóa
năng lƣợng cao, giá trị protein thấp và thiếu cân đối axit amin. Mặc dù tỷ lệ protein
thấp nhƣng ngô là thức ăn cung cấp năng lƣợng chủ yếu do có chứa một lƣợng
đƣờng dễ tiêu và một số axit béo không no. Tinh bột trong ngơ có độ tiêu hóa cao.
Hàm lƣợng chất béo của ngơ khoảng 4%, trong đó có nhiều axit béo chƣa no thiết
yếu, các axit béo này rất quan trọng trong trao đổi chất của động vật và đƣợc tiết ra

trong các nang lơng nên lợn có lớp da bóng, lơng mƣớt.
Hàm lƣợng protein của ngô khoảng 8 – 13% với hàm lƣợng lysine rất thấp.
Protein của ngô tồn tại dƣới 2 dạng chính: zein và glutelin. Ngồi ra ngơ cịn chứa
các sắc tố thuộc nhóm carotenoid nhƣ -caroten, xanthophyll. Sắc tố này có liên
quan tới màu sắc của mỡ, thịt khi vỗ béo gia súc.
Ngơ cịn có tính chất ngon miệng với lợn. Lysine và tryptophan là hai loại
axit amin hạn chế của ngô khi dùng nuôi lợn. Khi dùng ngơ làm thức ăn chính cho


lợn thƣờng gây hiện tƣợng mỡ nhão ở lợn. Ngô thƣờng đƣợc xem là loại thức ăn
năng lƣợng để so sánh với các loại thức ăn khác.
Sử dụng ngô làm thức ăn gia súc địi hỏi chi phí giá thành cao, vì vậy xu thế
chung là thay thế ngơ bằng các loại nguyên liệu hay các phế phụ phẩm sẵn có của
địa phƣơng để góp phần làm giảm chi phí thức ăn.
1.3.1.2. Thóc
Thóc là loại hạt cốc chủ yếu của vùng Đơng Nam Á. Cây lúa rất thích hợp
với khí hậu ẩm và bán nhiệt đới và cũng đƣợc trồng một ít ở Bắc Âu. Hạt thóc có 2
phần: vỏ trấu bên ngoài, lớp vỏ mỏng bên trong (cám) bao quanh hạt gạo. Thóc
đƣợc dùng chủ yếu cho lồi nhai lại và ngựa, gạo, cám dùng cho ngƣời, lợn và gia
cầm. Vỏ trấu chiếm 20% khối lƣợng của hạt thóc, nó rất giàu silic và thành phần
chủ yếu là cellulose. Cám gạo chứa khoảng 11 - 13% protein thô và 10 - 15% lipit.
Trong chăn ni có khi ngƣời ta dùng cả lúa nguyên hạt (cả vỏ trấu) nghiền mịn
dùng làm thức ăn cho gia súc. Tuy nhiên, những mảnh vỏ trấu trong thức ăn nghiền
có cạnh sắc gây thƣơng tổn niêm mạc đƣờng tiêu hóa của gia súc, ảnh hƣởng tới tỷ
lệ tiêu hóa.
1.3.1.3. Cám, tấm gạo
Lƣợng cám chiếm khoảng 10% khối lƣợng lúa. Cám gạo bao gồm một số
thành phần chính nhƣ vỏ cám, hạt phơi gạo, trấu và một ít tấm. Chất lƣợng của cám
thay đổi tùy thuộc vào hàm lƣợng trấu trong cám. Tuỳ mức độ trấu trong cám mà
ngƣời ta chia ra cám loại 1 hay loại 2, ngồi ra cịn có cám lau là sản phẩm của việc

lau bóng gạo, tuy nhiên cám lau khó sử dụng trong thức ăn cơng nghiệp vì có độ ẩm
cao, mau đóng vón và mau bị oxy hố do hàm lƣợng axit béo khơng no cao.
Cám gạo có hàm lƣợng chất béo cao nhƣng hàm lƣợng xơ thô cao nên hàm
lƣợng năng lƣợng trao đổi thấp hơn so với ngơ. Cám là nguồn B1 phong phú, ngồi
ra cịn có cả vitamin B6 và biotin.
Tỷ lệ sử dụng cám gạo trong thức ăn khơng nên q 30% vì lƣợng phospho
dƣới dạng phytin cao sẽ ức chế tiêu hoá protein, khống vi lƣợng. Hạn chế này có
thể khắc phục bằng cách bổ sung enzyme phytase.
Bảng 1.1. Tỷ lệ tiêu hóa cám gạo của lợn (%)

Cám
Cám mịn

Protein



Mỡ

68,9
79,5

51,6
50,6

85,8
88,9

Dẫn xuất
ME (Mkcal/kg)

không đạm
79,2
3,0
85,0
3,58
(Nguồn: Lê Đức Ngoan, 2004)


Trong cám cũng nhƣ các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật có chứa các chất
đƣờng khơng phải là tinh bột (NSP). Đây là những đƣờng đa do các đƣờng đơn tạo
nên bởi các liên kết β-1,4 và β-1,6 glucoside nên lợn khơng tiêu hố đƣợc.
Tấm gạo cũng là phụ phẩm từ lúa có giá trị dinh dƣỡng gần tƣơng đƣơng với
ngơ nhƣng khơng có sắc tố nên khơng đƣợc ƣa chuộng trong thức ăn của gà. Tấm
có thể sử dụng trong thức ăn của lợn con vì nó dễ tiêu hố.
1.3.1.4. Sắn
Sắn sử dụng trong thức ăn chăn ni dƣới dạng lát, bã, bột lá sắn. Củ sắn khô
chứa khoảng 83% chất bột đƣờng, chủ yếu là tinh bột, 3% protein và 3,7% xơ thô.
Sắn là nguồn cung cấp năng lƣợng rất tốt nếu thức ăn có bổ sung đầy đủ các vitamin
và các axit amin thiết yếu. Tuy nhiên đối với lợn thịt ở giai đoạn cuối nếu sử dụng
nhiều sắn sẽ dễ dẫn đến tình trạng nhiều mỡ, quày thịt nhợt nhạt.
Sử dụng sắn trong thức ăn cần lƣu ý đến hàm lƣợng HCN. HCN trong sắn
tồn tại dƣới dạng glycoside, khi gia súc tiêu hoá sẽ đƣợc enzyme phân giải tạo ra
gốc CN - (cyanide) tự do rất độc đối với sự hô hấp của tế bào.
Các biện pháp xử lý nhƣ ngâm nƣớc, phơi nắng, sấy sẽ làm gốc CN - bay hơi
làm giảm độc tính. Cơ thể động vật có thể giải độc các cyanide này với sự tham gia
của methionine, B12 để chuyển hố cyanide thành thiocyanate ít độc hơn và thải ra
ngồi.
1.3.1.5. Cám mỳ
Lúa mỳ thƣờng đƣợc trồng phổ biến ở các nƣớc ôn đới. Cám mỳ là phụ
phẩm của lúa mỳ giống nhƣ cám gạo.

Cám mỳ có 2 loại: cám mỳ thơ có hàm lƣợng protein thơ (16%) cao hơn cám
mỳ mịn (14%). Cám mỳ có hàm lƣợng NSP cao nên khó tiêu hố, vì thế khi sử
dụng cám mỳ nên bổ sung ezyme tiêu hoá NSP.
1.3.1.6. Dầu và mỡ
Dầu là chất béo của thực vật và mỡ là chất béo của động vật. Ở nhiệt độ
thƣờng, dầu có dạng lỏng và mỡ có dạng đặc. Dầu chứa chủ yếu là axit béo chƣa no
và mỡ chứa chủ yếu axit béo no.
Dầu, mỡ chứa năng lƣợng tiêu hoá gấp 2,5 lần so với chất bột đƣờng, nên
chúng là nguồn cung cấp năng lƣợng khá quan trọng. Do các axit béo no có khả
năng hấp thu kém nên mỡ thƣờng có giá trị năng lƣợng hơi thấp hơn dầu. Dầu sử
dụng trong thức ăn nhƣ dầu dừa, cọ, đậu nành, đậu phộng, gan cá. Dầu cọ và dầu
dừa chứa ít axit béo khơng no hơn các loại dầu khác.
Các loại dầu có chứa nhiều axit béo khơng no nên có đặc tính tốt về dinh
dƣỡng liên quan đến hàm lƣợng cholesterol trong máu, nhƣng vì có nhiều axit béo


khơng no nên chúng dễ bị ơi do oxy hố vào các nối đơi tạo ra các peroxyde có mùi
và ảnh hƣởng xấu đến độ ngon miệng của thức ăn. Để ngăn ngừa sự oxy hố này thì
ngƣời ta thƣờng sử dụng vitamin E, santoquin,…
Tuỳ theo nhu cầu năng lƣợng trong thức ăn, ta có thể sử dụng 3 – 5% chất
béo trong khẩu phần. Khẩu phần chứa nhiều axit béo không no không nên dùng cho
lợn giai đoạn sắp xuất chuồng vì nó làm cho mỡ ở qy thịt bị mềm.
1.3.1.7. Phụ phẩm của sữa
Thuộc loại cung cấp năng lƣợng là sữa gầy (Whey powder), đây là loại sữa
đã đƣợc lấy béo và protein. Bột sữa gầy chứa 70 – 75% lactose và 12 – 13% protein
thô. Sản phẩm này rất thích hợp làm chất thay thế sữa cho lợn con.
1.3.2. Nguyên liệu cung cấp Protein
1.3.2.1. Bột cá
Bột cá là loại thức ăn bổ sung hoàn hảo cho gia súc, gia cầm, là loại thức ăn
giàu protein, chất lƣợng protein cao. Loại bột cá tốt chứa 50 - 60% protein, tỷ lệ axit

amin cân đối, có nhiều axit amin chứa lƣu huỳnh, giàu vitamin B12, B1 ngồi ra cịn
có vitamin A và D.
Tuy vậy, chất lƣợng bột cá còn phụ thuộc rất nhiều vào loại cá và các bộ
phận của cá đem chế biến. Nếu bột cá chế biến từ loại cá nhỏ hoặc đầu cá, vây cá
thì hàm lƣợng protein rất thấp từ 20 - 25%, trong khi đó bột cá đƣợc chế biến từ cá
lớn, hàm lƣợng protein trên 50%.
1.3.2.2. Bột đầu tơm
Sản phẩm này ít đƣợc sử dụng trong chăn ni lợn vì có hàm lƣợng khống
tổng số cao khó cân đối trong khẩu phần. Bột đầu tơm có chứa chitin (một loại
polysaccharide hỗn hợp có chứa protein) khơng có giá trị tiêu hố đối với lợn, gà.
Vì vậy khi tính tốn khẩu phần thì cần hiệu chỉnh lƣợng protein hữu dụng bằng
khoảng 60% so với protein tổng số.
1.3.2.3. Bột thịt, bột thịt xương
Đây là sản phẩm từ lò mổ gia súc, bao gồm tất cả các phần cịn lại của động
vật khơng làm thức ăn cho ngƣời.
Hàm lƣợng protein của bột thịt xƣơng biến động từ 30 – 50%. Bột thịt,bột
xƣơng là nguồn cung cấp Ca (7 – 10%) và P hữu dụng (3,8 – 5%). Một số thành
phần nguyên liệu của bột thịt,bột xƣơng có giá trị sinh học của protein khơng cao
nhƣ colagen trong gân, keratin trong lơng, sừng, móng khó tiêu hố.
Hai loại thức ăn này thƣờng đƣợc bổ sung vào khẩu phần của gia súc, gia
cầm để làm cân bằng axit amin trong đó và có thể sử dụng mức tối đa cho lợn và gia
cầm tới 15% trong khẩu phần. Cần bảo quản tốt để mỡ khỏi ôi và mất vitamin. Việc


sử dụng bột thịt xƣơng phải chú ý tránh các mầm bệnh còn hiện diện nhƣ
salmonella, E.coli, mad cow (bò điên).
1.3.2.4. Bột huyết
Bột huyết đƣợc sản xuất từ máu lấy ở các lị mổ. Bột huyết chứa 80% protein
thơ, giàu lysine. Tuy nhiên khả năng tiêu hoá bột huyết thấp vì protein và axit amin
đã bị huỷ hoại một phần trong quá trình xử lý nhiệt.

Bột huyết tƣơng cũng là sản phẩm từ lị mổ nhƣng có giá trị cao hơn bột
huyết. Bột huyết tƣơng có chứa khoảng 78% protein dễ tiêu hoá do chủ yếu là
albumin và globulin, tỷ lệ axit amin rất cân đối, rất phù hợp cho thú non.
Giá trị sinh học và tính ngon miệng của bột máu không cao, nên chỉ phối hợp
cho lợn và gia cầm dƣới 5% khối lƣợng khẩu phần, nếu trên mức này sẽ làm cho
con vật ỉa chảy. Khi dùng bột máu để thay thế protein cần bổ sung thêm Ca, P.
1.3.2.5. Bột sữa béo (skim milk)
Bột sữa béo là sản phẩm từ sữa sau khi đã lấy chất béo làm bơ. Bột sữa béo
chứa 33% protein, một phần lactose và ít chất béo (0,3%). Bột sữa béo có thành
phần axit amin rất cân đối, rất phù hợp cho lợn con.
1.3.2.6. Đậu nành và khô dầu đậu nành
Hạt đậu nành có hàm lƣợng protein cao (38%), nhiều béo (18%). Trong hạt
đậu nành có nhiều chất độc hại:
Protease inhibitor hay cịn gọi là anti - trypsin vì chúng ức chế hoạt động của
enzym trypsin và chymotrypsin của tuyến tụy. Anti - trypsin chỉ mất hoạt tính khi
đƣợc xử lý ở nhiệt độ cao (105 oC trong 30 phút). Nếu xử lý ở nhiệt độ cao quá mức
sẽ xuất hiện phản ứng đƣờng hóa các axit amin. Các nhóm amin tự do trong cơ chất
sẽ kết hợp với đƣờng để tạo ra các hợp chất cao phân tử kết tủa dẫn đến làm mất giá
trị tiêu hóa axit amin.
Để kiểm tra anti-trypsin, ngƣời ta sử dụng phản ứng kiểm tra urease. Trong
đậu nành có chứa men urease (chuyển urea thành amoniac). Do urease và anti trypsin đều bị khử ở cùng nhiệt độ, do đó khi kiểm tra khơng cịn urease tức là
khơng cịn anti - trypsin. Ngƣời ta cho dung dịch urea và chất chỉ thị màu vào đậu
nành, khi đó lƣợng urease sẽ làm urea chuyển thành NH3 làm tăng pH của mẫu,
dung dịch thử chuyển từ màu vàng thành màu đỏ nhạt. Tùy theo mức độ đậm hay
nhạt của mẫu mà ta xác định sự có mặt của urease nhiều hay ít, tức là lƣợng anti trypsin nhiều hay ít.
Phytoestrogen, goitrogen trong đậu nành thƣờng có tác dụng khơng tốt cho tăng
trƣởng của lợn con. Chính vì vậy khi sử dụng đậu nành cho lợn con cần chú ý, với
lợn con tập ăn nên sử dụng các sản phẩm ly trích từ đậu nành.



Glycinin và conglycinin trong đậu nành có thể gây dị ứng cho thú, làm hạn
chế sự phát triển của nhung mao, gây rối loạn hấp thu chất dinh dƣỡng
Khô đậu nành có hàm lƣợng protein thơ từ 43 – 49% tùy theo cơng nghệ xử
lý cịn cả vỏ hay đã tách vỏ, giàu axit amin thiết yếu, nhất là lysine. Ngày nay ngƣời
ta sử dụng phổ biến khô dầu đậu nành để cung cấp protein trong thức ăn gia súc.
Các sản phẩm từ đậu nành còn phải kể đến đậu nành trích ly hay đậu nành ép đùn
có giá trị cao trong sản xuất thức ăn, đặc biệt đối với lợn con.
1.3.2.7. Khơ dầu lạc
Là phụ phẩm của q trình ép dầu từ lạc. Tùy theo công nghệ ép mà có khơ
dầu cơng nghiệp hay khơ dầu thủ cơng. Khơ dầu lạc có hàm lƣợng protein khá cao,
khoảng 45% (khơ dầu nhân) và 30 – 35% (khô dầu cả vỏ). Tuy nhiên, khô dầu lạc là
loại mang độc tố aflatoxin lớn (Bảng 1.2) nên ít sử dụng trong chăn ni. Đối với
khơ dầu ép thủ cơng có lƣợng chất béo khá cao (8 – 10%) nên dễ gây ôi, tạo mùi
khó chịu. Tuy nhiên, nếu khơ dầu mới ép đƣợc sử dụng ngay khơng bị mốc thì đây
là nguồn đạm khá rẻ tiền, có mùi thơm nên gia súc thích ăn.
Bảng 1.2. Ảnh hƣởng của aflatoxin đối với lợn
Nồng độ trong khẩu phần (mg/kg thức ăn)
0,26
0,86
2-4

Bộ phận tác động
Giảm tốc độ sinh trƣởng
Hệ miễn dịch suy yếu
Chết thể cấp
(Nguồn: Lê Đức Ngoan, 2004)

1.3.2.8. Khô dầu bông
Hạt bông vải chứa khoảng 23% protein thô, 23% béo và 17% xơ. Khô dầu
bông vải trích ly chứa 40% protein thơ và 12% xơ thơ. Protein của khơ dầu bơng có

ít lysine và methionine.
Khó sử dụng khô dầu bông trong thức ăn cho lợn, gà vì độ ngon miệng kém
và cịn có độc tố gossypol. Khi sử dụng cho lợn, gà chúng sẽ gây ảnh hƣởng xấu
nhƣ lịng đỏ trứng gà có màu xanh, làm giảm thức ăn tiêu thụ, giảm tăng trƣởng. Sử
dụng kéo dài sẽ gây tổn thƣơng tim, sƣng phổi, thiếu máu. Nếu sử dụng làm thức ăn
cho lợn, gà thì không nên quá 9% trong khẩu phần.
1.3.2.9. Khô dầu dừa
Là sản phẩm của q trình sản xuất dầu dừa. Khơ dầu dừa chứa 20 – 24%
protein thô, khoảng 10% xơ thơ. Khơ dừa có mùi thơm nên dễ kích thích khẩu vị
của lợn. Tuy nhiên sử dụng nhiều khô dừa (trên 10%) thƣờng gặp trở ngại về mùi
do sự ôi hóa, hoặc gây tiêu chảy ở lợn và làm cho mỡ lợn bị mềm.


1.3.3. Nguyên liệu cung cấp khoáng
Khoáng là nguyên liệu chủ yếu trong quá trình trao đổi chất, hình thành nên
tế bào xƣơng. Khoáng bổ sung gồm hai loại: khoáng đa lƣợng và vi lƣợng.
Khoáng đƣợc bổ sung bằng nhiều nguồn khác nhau nhƣ đá vôi, bột xƣơng, muối ăn,
bột vỏ trứng, Bột photphorit [Ca3(PO4)2], Canxi hydro photphat [CaHPO4. H2O],
Natridihydro photphat [NaH2PO4.2H2O], Amoni hydro photphat [(NH 4)2H PO4],
FeSO4.7H2O,…
1.3.3.1. Bột xương
Bột xƣơng chứa 19 - 21% Ca và 11% P. Lƣợng P này có giá trị tiêu hóa gần
100% đối với gia súc dạ dày đơn.
1.3.3.2. Bột sị, bột đá vơi, bột vỏ trứng
- Bột sò chứa khoảng 32% Ca
- Bột đá vôi chứa khoảng 34% Ca
- Bột vỏ trứng chứa khoảng 30 - 32% Ca
1.3.3.3. Các loại hóa chất
- DCP (dicalcium phosphate), MCP (monocalcium phosphate), L-Lysine,
DL- methionine ...

- Các chất điện giải cung cấp Na, K, Cl.
1.3.4. Premix
Premix bao gồm các chất bổ sung Vitamin, acid amin, nguyên tố vi lƣợng,
các chất chống oxy hoá, các loại thuốc Trung dƣợc liệu phòng bệnh... bổ sung dinh
dƣỡng cho gia súc, gia cầm, động vật thuỷ hải sản, sinh trƣởng, sinh sản... Căn cứ
công thức khoa học các loại khẩu phần ăn, chọn các nguyên liệu giàu năng lƣợng,
giàu protein, chất khoáng... đúng tiêu chuẩn nguyên liệu chế biến phối trộn. Sử
dụng các loại premix từ 0,1 đến dƣới 1% hoặc loại 4%, 5% premix để phối chế thức
ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, bảo đảm chất lƣợng, đồng thời đảm bảo giá thành và giá
bán sản phẩm đủ sức cạnh tranh, mang lại hiệu quả.
Do các nguyên tố vi lƣợng (sắt, đồng, kẽm, mangan, iod, selen…) và các loại
vitamin cần thiết cho gia súc chiếm số lƣợng rất nhỏ trong thức ăn. Chính vì vậy
trong thực tế phải trộn trƣớc các chất này với chất phụ gia để làm tăng khối lƣợng
lên rồi mới đƣa trộn chung với nguyên liệu chính để đảm bảo độ đồng đều. Thông
thƣờng premix đƣợc trộn vào thức ăn với tỷ lệ khoảng 0,25%.
1.3.5. Chất bổ sung
Là những chất đƣợc sử dụng trong thức ăn với hàm lƣợng thấp (thƣờng dƣới
1%), không chứa hoặc chứa không đáng kể năng lƣợng và protein thô. Tác dụng


chính là hỗ trợ q trình trao đổi chất của vật nuôi, cải thiện chất lƣợng thức ăn
hoặc tăng cƣờng một tính năng đặc biệt nào đó.
Hiện nay, có rất nhiều sản phẩm phụ của nông nghiệp và công nghiệp chế
biến thực phẩm đƣợc dùng làm chất bổ sung cho thức ăn chăn ni , trong đó mật rỉ
là một trong những chất bổ sung đƣợc ƣa chuộng nhất và đƣợc sử dụng rộng rãi.
Mật rỉ là sản phẩm phụ của cơng nghiệp chế tạo đƣờng, nó gồm có đƣờng mía,
khống chất, vitamin và các chất dinh dƣỡng cùng mùi vị đặc trƣng mà động vật
cần có.
1.3.5.1. Chất hỗ trợ tăng trưởng
- Enzym

Hiện nay những sản phẩm của enzyme có tiềm năng giống nhƣ những chất
phụ gia trong thức ăn của lợn ở Tây Canada bao gồm: Xylanase, b-glucanase,
protease và phytase.
- Kháng sinh
Ngày 28/5/1999, Ủy ban điều phối khoa học của châu Âu (Scientific Steering
Committee) đã đƣa ra khuyến cáo: đối với tất cả các loại kháng sinh mà hiện đang
còn đƣợc sử dụng làm thức ăn bổ sung trong chăn ni thuộc nhóm/loại kháng sinh
dùng điều trị cho ngƣời và vật nuôi bắt buộc phải đƣa vào giai đoạn hạn chế sử
dụng (phase out) càng sớm càng tốt, để cuối cùng là rút bỏ hoàn toàn trong thức ăn
chăn nuôi. Trong giai đoạn phase out, mọi cố gắng phải làm là tìm ra các chất an
tồn để thay thế kháng sinh, đồng thời thay đổi phƣơng thức chăn nuôi để vẫn đảm
bảo đƣợc sức khỏe và quyền vật nuôi (animal welfare). Thụy Điển đã cấm sử dụng
tất cả các loại kháng sinh làm kích thích sinh trƣởng trong chăn ni lợn từ năm
1986. Châu Âu đã cấm hồn tồn việc sử dụng kháng sinh làm thức ăn bổ sung
(feed additives) có tính chất kích thích sinh trƣởng trong chăn nuôi từ tháng 01 năm
2006.
Ngày nay, trong các bảng hƣớng dẫn Quy trình phịng dịch cho gia súc, gia
cầm, ngƣời ta khơng cịn thấy nội dung trộn thuốc kháng sinh vào thức ăn hay nƣớc
uống cho vật nuôi nữa. Các nhà khoa học khuyến cáo, chỉ nên dùng kháng sinh khi
điều trị mà thôi.
1.3.5.2. Chất bảo vệ sức khỏe
- Thuốc và hóa chất
- Các chất bảo vệ mơi trƣờng.
1.3.5.3. Chất bảo quản thức ăn
- Chất chống mốc


Sau khi mốc phát triển đƣợc trên cơ chất (thức ăn chăn nuôi) sẽ tạo ra độc tố
làm ảnh hƣởng tới chất lƣợng sản phẩm. Vì vậy, thức ăn chăn ni cần sử dụng
những chất bổ sung có tác dụng diệt hoặc ngăn ngừa không cho mốc phát triển và từ

đó sẽ hạn chế nguy cơ thức ăn có độc tố mốc. Chất chống mốc thƣờng là một hoặc
hỗn hợp các loại acid hữu cơ nhƣ acid propionic, acid sorbic, sodium diacetate, acid
phosphoric. Điều quan trọng là chất chống mốc phải có tác dụng diệt mốc và đồng
thời khơng làm giảm độ ngon miệng của thức ăn đối với vật ni (do các acid hữu
cơ thƣờng có vị cay nồng).
Các chất chống mốc thƣờng đƣợc sử dụng trong thức ăn chăn nuôi là: Mold
– Nil dry, Liptomold, Liptomold M, Liptomold – spain…
- Chất chống oxy hóa
Thức ăn chăn ni thƣờng sử dụng chất chống oxy hóa tổng hợp nhƣ
Santoquin (Ethoxyuin), BHT (Butyl hydroxy toluene), BHA (Butyl hydroxy
anisole). Lƣợng sử dụng tùy thuộc tính chất thức ăn (nhiều chất béo, có vitamin cần
bảo vệ,...) và sự có mặt của các tác nhân gây oxy hóa.
- Chất kết dính
Để làm thức ăn dạng viên có độ kết dính tốt thì ngồi việc đƣa vào cơng thức
một số ngun liệu có hàm lƣợng tinh bột cao nhƣ khoai mì lát, ngƣời ta có thể
dùng đến các chất kết dính. Chất kết dính có thể là đất sét trắng (bentonite), phụ
phẩm của công nghiệp tơ sợi nhƣ hemicellulose, lignin sulfonate. Một số sản phẩm
tự nhiên cũng cho độ kết dính cao nhƣ bột lá cây gòn.
1.4. Tiêu chuẩn và khẩu phần ăn của lợn
1.4.1. Tiêu chuẩn ăn
Tiêu chuẩn ăn đƣợc xác định dựa trên nhu cầu các chất dinh dƣỡng. Nhƣ đã
biết, nhu cầu dinh dƣỡng là khối lƣợng chất dinh dƣỡng mà con vật cần để duy trì
hoạt động sống và tạo sản phẩm (tăng trọng, tiết sữa, cho trứng...) trong ngày đêm.
Tiêu chuẩn đƣợc xây dựng trên cơ sở nhu cầu. Vì vậy, có thể khái niệm tiêu chuẩn
ăn là khối lƣợng các chất dinh dƣỡng (đƣợc tính bằng đơn vị khối lƣợng hoặc tính
bằng phần trăm trong thức ăn hỗn hợp) mà con vật yêu cầu trong một ngày đêm.
Tiêu chuẩn ăn có thể hiểu nhƣ sau:
Tiêu chuẩn ăn = Nhu cầu + Số dƣ an toàn
Số dƣ an toàn là số lƣợng chất dinh dƣỡng cần thêm vào ngoài nhu cầu của
gia súc đƣợc xác định thông qua các thực nghiệm. Trong thực tế, xác định nhu cầu

dinh dƣỡng đƣợc tiến hành trong phịng thí nghiệm (on-station) với nhiều cá thể và
giá trị thu đƣợc là trung bình số học của các quan sát. Giá trị về nhu cầu dinh dƣỡng


(ví dụ: 14,7 MJ ME) là giá trị trung bình của các giá trị thu đƣợc trên hoặc dƣới giá
trị trung bình nói trên (có thể 12 - 16 MJ ME). Có nghĩa, nếu áp dụng giá trị trung
bình trên để xác định nhu cầu thì một số vật ni không đáp ứng nhu cầu chất dinh
dƣỡng (những quan sát trên 14,7 MJ ME). Do đó, ngƣời ta mới sử dụng khái niệm
số dƣ an toàn.
Tiêu chuẩn ăn đƣợc qui định bởi một số chỉ tiêu cơ bản, những chỉ tiêu này
phụ thuộc vào sự phát triển chăn nuôi của mỗi nƣớc.
Nội dung tiêu chuẩn ăn:
- Nhu cầu năng lƣợng: Biểu thị bằng kcal (Mcal) hay kJ (MJ) của DE, ME,
NE tính cho một ngày đêm hay tính cho 1 kg thức ăn. Khi nhu cầu năng lƣợng tính
trên 1 kg thì gọi là mật độ năng lƣợng hay mức năng lƣợng. Ví dụ: nhu cầu cho lợn
thịt là 3200 kcal ME/kg, thì hiểu là mật độ năng lƣợng trao đổi là 3200 kcal.
- Nhu cầu protein và axít amin: Nhu cầu protein có thể thể hiện bằng khối
lƣợng (g/kg) cho một ngày đêm hay tỷ lệ (%) protein thô hay protein tiêu hóa trong
khẩu phần.
Axit amin cũng đƣợc tính theo khối lƣợng (g) cho một ngày đêm hay tỷ lệ
(%) so với vật chất khô hoặc tỷ lệ (%) so với protein. Một số nƣớc (Anh, Mỹ,
Australia…) đã sử dụng axit amin tiêu hóa tồn phần hoặc tiêu hóa hồi tràng (tỷ lệ
tiêu hóa biểu kiến hoặc tỷ lệ tiêu hóa thực) để biểu thị nhu cầu axit amin cho lợn và
gia cầm.
- Nhu cầu mỡ và axit béo: Nhiều nƣớc đã sử dụng các axit béo thiết yếu
trong tiêu chuẩn ăn của vật nuôi (Anh, Mỹ, Australia...)
- Nhu cầu các chất khoáng:
+ Khoáng đa lƣợng: Ca, P, Mg, Na, Cl ,K, S (g/con ngày hoặc % thức ăn).
+ Khoáng vi lƣợng: Fe, Cu, Co, Mn, Zn… (mg/con ngày).
- Nhu cầu vitamin: A, D, E (UI), VTM nhóm B, C, K (mg); B12 (μg).

1.4.2. Khẩu phần ăn
1.4.2.1. Định nghĩa
Để hiển thị tiêu chuẩn ăn bằng các loại thức ăn cụ thể thì ngƣời ta sử dụng
khái niệm “khẩu phần ăn”. Khẩu phần ăn là khối lƣợng các loại thức ăn cung cấp
cho con vật để thoả mãn tiêu chuẩn ăn. Khẩu phần ăn đƣợc tính bằng khối lƣợng
trong một ngày đêm hoặc tỷ lệ phần trăm trong thức ăn hỗn hợp.
Nhu cầu dinh dƣỡng hay tiêu chuẩn ăn của động vật nuôi tƣơng đối ổn định
nhƣng khẩu phần thức ăn thay đổi tuỳ thuộc nguồn thức ăn có thể có ở các vùng
sinh thái hay khí hậu khác nhau.


1.4.2.2. Nguyên tắc phối hợp khẩu phần
Nguyên tắc khoa học
- Khẩu phần ăn phải đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dƣỡng, thoã mãn đƣợc tiêu
chuẩn ăn. Đảm bảo đƣợc sự cân bằng các chất dinh dƣỡng: axit amin, khoáng,
vitamin...
- Khối lƣợng khẩu phần ăn phải thích hợp với sức chứa của bộ máy tiêu hoá.
Để khống chế khối lƣợng khẩu phần ăn ngƣời ta dùng lƣợng thức ăn (% vật chất
khơ) có thể thu nhận tính theo tỷ lệ khối lƣợng cơ thể .
Nguyên tắc kinh tế
Khẩu phần ăn phải có giá cả hợp lý và rẻ. Để khẩu phần thức ăn vừa đảm bảo
nhu cầu dinh dƣỡng cho động vật vừa tối ƣu về mặt kinh tế cho ngƣời chăn nuôi khi
lập khẩu phần phải chú ý các vấn đề sau đây:
+ Tính sẵn có, chất lƣợng và giá cả của nguồn nguyên liệu thức ăn
+ Đặc tính sinh học, tính năng sản xuất và năng suất, tuổi của giống
+ Mục tiêu nuôi dƣỡng động vật (nuôi lấy thịt, trứng hay làm giống...)
+ Đặc điểm cơ bản của hệ thống nuôi dƣỡng, ăn tự do hay hạn chế
+ Nhiệt độ, độ ẩm của môi trƣờng nuôi dƣỡng...
Bảng 1.3. Ví dụ tổ hợp cơng thức thức ăn
Ngun liệu Tỷ lệ dự kiến

ME
Ngô
50
1675
Cám gạo
15
372.3
Sắn
10
320
Dầu đậu nành
1
84
Khô nành
20
676
Bột cá
4
118
Cộng
100
3245.30
Nhu cầu
100
3200
So sánh
+ 45.3

Protein
4.3

1 845
0.2
0
9.4
1.8
17.55
15
+2.55


1.15
1.65
0.2
0
1.2
0
4.20
4
+ 0.2

Canxi
0.01
0.0105
0.012
0
0.068
0.16
0.26
0.9
- 0.64


Phospho
0.12
0.1545
0.004
0
0.138
0.16
0.58
0.6
- 0.02

(Nguồn: Lê Đức Ngoan, 2004 )

1.4.3. Phương pháp xây dựng khẩu phần thức ăn cho lợn
Muốn xây dựng khẩu phần ăn cho vật nuôi một cách khoa học và hợp lý
chúng ta cần biết:
- Tiêu chuẩn ăn của gia súc gia cầm về các chất dinh dƣỡng nhƣ: năng lƣợng,
protein, axit amin, hàm lƣợng xơ, khoáng...
- Thành phần hoá học và giá trị dinh dƣỡng (Bảng 1.3), giá cả của các loại
thức ăn dự kiến sẽ sử dụng trong khẩu phần (chú ý giới hạn tối đa % của từng loại


nguyên liệu). Giá cả của các nguyên liệu làm thức ăn có thể tính cho 1 kg hay cho
1000 kcal năng lƣợng (tiêu hoá hay trao đổi) và 100 gam protein thơ trong thức ăn.
1.4.3.1. Phương pháp tính tốn đơn giản
Phƣơng pháp này áp dụng tính tốn cho các khẩu phần thức ăn chỉ bao gồm
một vài nguyên liệu và yêu cầu tính một vài chất dinh dƣỡng chủ yếu trong khẩu
phần.
a. Lập cơng thức theo phương pháp đại số

Ví dụ: Ta cần lập công thức phối trộn thức ăn cho lợn sinh trƣởng từ 20 – 50
kg với yêu cầu trong 1 kg thức ăn phải có 3200 Kcal ME, 15% protein, 4% xơ,
0,9% Ca, 0,6% P (Bảng 3).
Nhƣ vậy ta lại tiếp tục điều chỉnh tỷ lệ các nguyên liệu cho hợp lý, riêng hàm
lƣợng canxi thiếu nhiều nhƣ vậy thì ta sẽ bổ sung bột sị vào cho đủ.
b. Lập cơng thức theo phương pháp ơ vng
Ví dụ: Ta cần phối trộn hai nguyên liệu là ngô và khơ nành để đƣợc hỗn hợp
có 15% protein thì ta làm nhƣ sau:
Ngô (8,6% Pr)
32
Hỗn hợp (15% Pr)
Khô nành (47% Pr)

6.4
Cộng: 38,4

Nguyên tắc: Trừ chéo, kết luận ngang
Nhƣ vậy để có một hỗn hợp thức ăn có 15% protein thì ta cần trộn 83,3%
ngơ (32/38,4) với 16,7% khơ nành (6,4/38,4)
Nếu tổ hợp công thức gồm nhiều loại nguyên liệu thì ta phân theo nhóm
cung cấp năng lƣợng và nhóm cung cấp protein (Pr) sau đó tiếp tục phối hợp các
nhóm đó với nhau để ra đƣợc cơng thức theo ý muốn
Ví dụ: ta muốn lập cơng thức gồm 4 loại nguyên liệu là ngô (8,6% Pr), cám
gạo (12% Pr), khô nành (47% Pr) và bột cá (45% Pr) để đƣợc hỗn hợp có 20%
protein thì trƣớc tiên ta phối hợp theo nhóm.
- Nhóm cung cấp năng lƣợng là ngơ và cám gạo, dự tính trong nhóm này ngơ
sẽ chiếm 70% và cám gạo chiếm 30%. Nhƣ vậy hỗn hợp ngơ và cám (HH 1) sẽ có
9,62% Pr [(70% ngơ x 8,6% Pr) + (30% cám x 12% Pr)]
- Nhóm cung cấp protein là khô nành và bột cá, dự tính trong nhóm này khơ
nành chiếm 80% và bột cá chiếm 20%. Nhƣ vậy hỗn hợp khô nành và bột cá (HH 2)

sẽ có 46,6% Pr [(80% khơ nành x 47% Pr) + (20% bột cá x 45% Pr)]


×