Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

Điều tra cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào thái ở các xã châu phong, châu hoàn, diên lãm, huyện quỳ châu, tỉnh nghệ an

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.42 MB, 83 trang )


Ƣ






r c

Vinh – 2010


1


Ơ

Để hồn thành luận văn này tơi đã nhận đƣợc sự hƣớng dẫn, giúp đỡ và chỉ đạo
tận tình của thầy giáo PGS.TS Ngô Trực Nhã, tôi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới
thầy.
Qua đây tơi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo, ban chủ
nhiệm tổ Thực vật, khoa Sinh học, khoa Sau Đại Học - Trƣờng Đại Học Vinh cùng
bạn bè ngƣời thân đã giúp đỡ, ủng hộ, động viên, tạo điều kiện cho tôi trong thời
gian qua.
Đồng thời thông qua đây cho phép tôi gửi lời cảm ơn tới nhân dân các xã Châu
Phong, Châu Hoàn, Diên Lãm, huyện Quỳ Châu, đã tận tình giúp đỡ để tơi có thể
hồn thành đƣợc luận văn này.
Trong quá trình thực hiện đề tài do cịn hạn chế về thời gian, trình độ, kinh ph
nên luận văn không tránh khỏi nh ng thiếu sót. Tơi mong nhận đƣợc sự đóng góp
kiến qu báu của thầy cô giáo, các nhà khoa học và đồng nghiệp.




2
M
1



ín cấp t iết của đề tài
Việt Nam nằm trong vành đai kh hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Nhờ có yếu t về

đ a hình và kh hậu th ch hợp, có thảm thực vật phong phú và đa dạng, nguồn cây
làm thu c dồi dào. Việc bảo tồn và phát triển nguồn gen, gi ng cây làm thu c ngày
càng đƣợc chú

nhằm góp phần nâng cao sức khỏe nhân dân.

Có nhiều lồi cây, cỏ làm thu c có tác dụng ch a tr nhiều bệnh rất hiệu
nghiệm, đƣợc nhân dân ta sử dụng và để lại nhiều bài thu c dân gian qu giá.
Các đồng bào Dân Tộc miền núi s ng gắn bó với thiên nhiên, sử dụng cây cỏ có
s n phục vụ cho cuộc s ng và làm thuôc ch a bệnh, hàng nghàn đời nay đã t ch luỹ
đƣợc nhiều kinh nghiệm qu báu, là kho tàng tri thức của dân tộc, nh ng tri thức đó
chủ yếu tập trung ở nh ng ngƣời cao tuổi, các Ông Lang, à Mế và nh ng ngƣời bản
đ a nhƣ Già Làng, Trƣởng Bản, khi họ qua đời không đƣợc truyền lại cho con cháu là
một tổn thất lớn cho dân tộc.
Trong thời đại ngày nay với sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp, khoa
học kỹ thuật, nhiều sản phẩm tiêu dùng độc hại đã làm cho môi trƣờng s ng b ô
nhiễm, làm xuất hiện nhiều bệnh hiểm nghèo. Công nghiệp dƣợc phẩm với nhiều loại
thu c đƣợc sản xuất ra và điệu tr bệnh bằng phƣơng pháp mới hiện đại, tây Y đƣợc
sử dụng rộng rãi, đã làm cho thói quen sử dung cây thu c của đ a phƣơng ngày càng

mai một đi.
Việc sƣu tầm cây thu c và bài thu c cũng đã đƣợc nhiều nhà khoa học chú



đã có nhiều tác giả chuyên tâm nghiên cứu cây thu c nhƣ: GS – TS Đỗ Tất Lợi, TS
Võ Văn Chi. Đã cơng b nhiều cơng trình lớn về cây thu c, ở Nghệ An việc sƣu tầm
và nghiên cứu cây thu c cũng đƣợc sự quan tâm của nhiều tổ chức, và nhiều ngƣời
tâm huyết thực hiện, ngoài vệc điều tra cơ bản của viện dƣợc liệu, bộ

tế, sở y tế

Nghệ An thì nhiều đề tài khoa học của cán bộ và học viên cao học trƣờng Đại học
Vinh cũng đƣợc triển khai có kết quả nhƣ Ths Tơ Vƣơng Phúc (1996) với đề tài “
Điều tra cây thu c và kinh nghiệm sử dụng chúng của đồng bào dân tộc Thái xã ên
Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” tiếp đó là cơng trình nghiên cứu cây thu c
trên tồn huyên Con Cuông của Tiến Sỹ Nguyễn Th Hạnh (năm 2000) với đề tài
“Nghiên cứu các loài cây thu c của đồng bào dân tộc Thái huyện Con Cuông, Tỉnh
Nghệ An” đã thu thập đƣợc gần 600 loài cây thu c. Các luận văn Thạc sỹ ùi Hồng


3
Hải (2004), Lƣơng Hoài Nam (2004), Nguyên Th Kim Chi ( 2002), Trần Th Mai
Hoa (2007), Phạm Th Huệ (2009), thực hiện trên đ a bàn các huyện Ngh a Đàn, Quỳ
Hợp và vùng lân cận các huyện tây bắc Nghệ An.
Đặng Văn Hiếu (2009), Trần Th Hà phƣơng (2009) và nhiều cơng trình nghiên
cứu về cây thu c khác ở các huyện Tây Nam của Nghệ An nhƣ Kỳ Sơn, Tƣơng
Dƣơng của Nghệ An đã góp phần sƣu tập đƣợc nhiều loài cây thu c và kinh nghiệm
sự dụng cây thu c của các dân tộc miền núi của tỉnh Nghệ An.
Quỳ châu là một huyện miền núi chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu s sinh

s ng, đa s là đồng bào dân tộc Thái, kinh nghiệm sử dụng cây thu c của họ rất
phong phú và đa dạng, nhiều bài thu c có giá tr ch a bệnh t t, song từ trƣớc đến nay
mới chỉ có một s tác giả nghiên cứu nhƣ Đặng Quang Châu, ùi Hồng Hải(2003),
về điều tra cây thu c của đồng bào Thái Xã Châu Hạnh, việc nghiên cứu cây thu c
và các bài thu c ở Quỳ Châu chƣa đƣợc đề cập nhiều.
Ngay ở Châu Phong, Châu Hoàn và Diên lãm của Quỳ Châu là 3 xã có diện t ch
rừng lớn, tiếp giáp với Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu ng và Pù Hoạt có thảm thực
vật rất đa dạng và phong phú nhƣng chƣa có đề tài nào nghiên cứu về cây thu c và
kinh nghiệm sử dụng cây thu c ở đây.
Ch nh vì vậy chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
kin n

iệm s dn cõy t uc ca n bỏo

Hoàn, Diên LÃm, uyện Qu

âu t n



iều tra cây t uốc và

ái ở các x Ch©u Phong, Ch©u


n” nhằm góp phần thu thập các

loài cây cỏ làm thu c và các bài thu c của đồng bào dân tộc Thái để bảo tồn và phát
triển nh ng kinh nghiệm qu báu đó.
ục đíc của đề tài

- Thu thập các loài cây dùng làm thu c, xác đ nh thành phần loài và kinh
nghiệm sử dụng chúng của đồng bào Thái thuộc các xã Châu Phong, Châu Hoàn, và
Diên Lãm, huyên Quỳ Châu.
- Xây dựng danh lục các loài cây thu c và đánh giá t nh đa dạng nguồn tài
nguyên cây thu c tại đ a bàn nghiên cứu, để góp phần bảo tồn nguồn gen cây thu c
và giá tr sử dụng của chúng.


4
Chƣơng 1. Ổ
1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụn cây thuốc trên thế giới
L ch sử phát triển và tiến hố của lồi ngƣời gắn liền với việc sử dụng tài
nguyên thiên nhiên, trong đó cây cỏ đƣợc con ngƣời sử dụng sớm nhất để phục vụ
cuộc s ng, ch a bệnh và bảo vệ sức khỏe. Qua thời gian các kiến thức ch a bệnh
bằng cây cỏ đƣợc lƣu truyền từ đời này qua đời khác đã tạo nên kho tàng tri thức về
học cổ truyền. Cho đến nay đã có nhiều cơng trình nghiên cứu, và xuất bản sách về
cây thu c và các loài thu c để lại cho nhân loại.
Nhiều thế kỷ trƣớc công nguyên ngƣời Hy Lạp đã biết trồng cây làm thu c.
Thời Ai Cập cổ đại ngƣời ta đã sử dụng cây Lô hội (Aloe barbadensis) để ch a tr
vết thƣơng cho các chiến binh [25]. Các thổ dân da đỏ ở Trung Mỹ dùng để tr các
chứng viêm, sƣng và làm thu c trƣờng thọ [27]. Hay ngƣời Ai Cập cổ và ngƣời La
Mã thƣờng sử dụng loài Cúc (Chamomile recutita) đắp lên vết thƣơng cho chóng
lành sẹo.
Việc dùng Tỏi (Allium sativan) làm thu c cũng đã có hàng ngàn năm trƣớc đây,
khi xây dựng các kim tự tháp ngƣời Ai Cập ăn rất nhiều Tỏi để tăng cƣờng sức lực
ch ng lại bệnh tật, các binh s ăn nhiều tỏi để lấy dũng kh trƣớc khi ra trận [13] [16]
[40]. Nhân dân Trung Qu c dùng Tỏi để ch a bệnh đau màng óc và xơ v a động
mạch, ch a huyết áp cao và viêm nhiễm đƣờng ruột [1] [13]. Ở Trung Qu c, Nhân
sâm (Panax ginseng) từ 3000 năm trƣớc cơng ngun, đã đƣợc nói đến nhƣ một thần
dƣợc để tăng cƣờng sinh lực cơ thể, kéo dài tuổi thọ [33]. Ở châu Âu, ngƣời ta đã

dùng nƣớc sắc của quả

ạch dƣơng (Betula platyphylla) để bảo vệ sức khoẻ cho

công nhân [27]. Ngƣời Nhật sử dụng quả Anh đào (Polypodium fortunei Kze) để tr
đau nhức do phong thấp, tổn thƣơng do lạnh [34]. Đất nƣớc

ungari sử dụng cây

Hoa hồng (Rosa chinensis. Jacq.) để ch a tr nhiều bệnh, dùng hoa, lá, rễ làm thu c
tan huyết, ch ng sƣng phù, ngày nay khoa học đã xác đ nh trong cánh Hoa hồng có
chứa hoạt chất Tamin, Glucosid và lƣợng tinh dầu đáng kể [39].
Ngƣời Ấn Độ dùng lá cây Me rừng (Phyllanthus emblica L.) làm thu c mát lợi
tiểu, nhuận tràng, ngồi ra ngƣời ta cịn dùng quả Me rừng khô để tr s t xuất huyết,
tiêu chảy, lỵ, nƣớc lên men của quả Me rừng dùng để tr bệng vàng da, tr ho và ở
Thái Lan quả Me rừng cũng đƣợc chế biến thành thu c ch a long đờm, hạ nhiệt, lợi
tiểu [14] [15] [39].


5
Ở Malayxia ngƣời ta dùng cây Mùi tàu (Eryngium foetidum) ph i hợp với cam
thảo làm thu c lợi tiểu, ch a r i loạn tiêu hoá, ỉa chảy, giải độc, tr phong thấp [9]
[13] [14].
Ở Ấn Độ lá cây Đay (Hibicus Cannabinus) đƣợc dùng làm thu c bổ pha với
nƣớc để u ng, hoặc ở Malayxia ngƣời ta cũng sắc u ng tr kết lỵ, ngƣời ta đã chiết
xuất đƣợc từ lá Đay một loại Glucosid gọi là Capsulin [14] [16] [47]. Ở Trung Mỹ từ
lâu ngƣời Haiti và Dominic thƣờng dùng cây cỏ Lào (Eupatorium odoratum L.) để
ch a vết thƣơng nhiễm khuẩn, ch a cầm máu, tr vết loét lâu ngày không liền sẹo
[16] [49]. Ở Cu a ngƣời ta dùng bột Papain lấy từ mủ cây Đu Đủ (Carica papaya
L.) k ch th ch tổ chức cơ, tr vết thƣơng mau lành [27], ở Pêru ngƣời ta lấy hạt cây

này để ch a viêm bàng quang, viêm phế quản và đã chiết xuất đƣợc chất tromalit có
tác dụng kháng khuẩn cao [13] [25].
Nền

học Trung Qu c hình thành rất sớm và đƣợc xem là một cái nôi của nền

học cổ truyền thế giới, ở đây đã hình thành một hệ th ng chẩn đốn và ch a bệnh
có hiệu quả bằng sử dụng cây cỏ làm thu c, từ năm 3216 hoặc 3080 trƣớc công
nguyên, Thần Nông một nhà dƣợc học của Trung Qu c đã thử nghiệm các loài thảo
dƣợc bằng cách tự nếm thử để xem đặc t nh, để biết bản chất của mỗi loại thảo dƣợc
và ông đã dùng để ch a bênh cho dân chúng sau khi sử dụng thảo dƣợc ông đã ghi
chép nh ng hiểu biết của mình vào cu n “ Thần nông bản thảo” bao gồm 365 v
thu c rất có giá tr , và cu n sách thảo dƣợc đầu tiên tại Trung Qu c đƣợc đặt tên “
Thần Nông bản thảo kinh”. Vào thế kỷ thứ II ngƣời Trung Qu c đã biết dùng nƣớc
Chè đặc (Thea sinensis), C t kh củ (Polygonum cuspidatum) để ch a vết thƣơng
mau lành [23] [27] [49]. Theo

học Trung Qu c cây Lấu (Psychotria rubra Lour)

dùng toàn thân giã nhỏ ch a gãy xƣơng, ch a tiêu sƣng, mụt nhọt [39]. Trong cu n
sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã liệt kê một loạt các cây cỏ làm
thu c ch a bệnh nhƣ rễ cây Gấc (Momordica cochinesis) để ch a nhọt độc, viêm
tuyến hạch, hạt gấc tr sƣng tấy đau khớp, ch a vết thƣơng tụ máu [14] [48]. Các nhà
khoa học công nhận rằng tất cả các lồi cây đều có t nh kháng khuẩn, tác dụng kháng
khuẩn của các hợp chất tự nhiên thƣờng gặp trong cây cỏ là Phelnolic, Antoxian, các
dẫn xuất của Quinon, Ancaloid, Heterosid [42]. Trong quá trinh nghiên cứu các hoạt
chất hoá học thực vật ngƣời ta đã biết đƣợc trong cây thu c có các thành phần vơ cơ


6

nhƣ các mu i Kali, Canxi, các chât h u cơ có Acid silixic, các Acid h u cơ có
Glucosit, Tamin, và các tinh dầu chúng có vai trị lớn trong việc ch a bệnh [13] [16].
Tiến sỹ

harat Aggarwal cùng với cộng sự tại trƣờng đại học Texas đã tiến

hành chiết xuất thành công hoạt chất Curcumin từ củ cây Nghệ (Curcuma zedoaria)
chất này có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thƣ và kiềm chế quá
trình di căn của ung thƣ vú. Các nhà khoa học Phần Lan và Hồng Cơng phát hiện
chất Curcumin có tác dụng ngăn chặn hoạt t nh của gen gây bệnh Gan [13] [28].
Trong cây Suplơ xanh (Brasica cauliflora Lizg.) có hai hoạt chất là Sulforaphane và
Indol 3- carbinoe có khả năng phòng ch ng một s loại bệnh ung thƣ [26] [13].
Trong vịng 200 năm trở lại đây có khoảng 121 hợp chất hoá học tự nhiên mà con
ngƣời biết đƣợc, có thể dùng làm thu c nhƣ thành phần d ch lá của cây Nha đam (
Aloe vera) có chứa các vitamin

1,

B2, B6, Acid folic và các nguyên t vi lƣợng [62]

[49], hoặc nhƣ cây Chè xanh có chứa Cafein k ch th ch thần kinh trung ƣơng và có
các Flavonol, các khống chất và Acid h u cơ [14] [6]. Lucas và Lewis (1944) đã
chiết xuất thành cơng một hoạt chất có tác dụng với các vi khuẩn tả, mụn nhọt từ cây
Kim ngân(Lonicera japonica Thunb) [27]. Gotthall (1950) đã phân lập đƣợc các chất
chứa Glucosid,

arbaloin có tác dụng với vi khuẩn lao và tác dụng với

accilus


subtilic [37]. Gilliver (1946) đã chiết suất đƣợc erberin từ cây Hồng liên (Lonicera
japonica Thunb) có tác dụng ch a bệnh đƣờng ruột và kiềm chế một s vi khuẩn làm
hại cây c i, Schlederre (1962) cho rằng chất đó có thể ch a khỏi bệnh

ontond

orient [37] [25]
Theo tổ chức

tế Thế giới (WHO) (1985) thì hiện đã có khoảng 20.000 lồi

(trong s 250.000 loài thực vật bậc cao và bậc thấp đã biết) đƣợc trực tiếp sử dụng
làm thu c hoặc có xuất xứ cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thu c. Trong đó ở
Ấn Độ có trên 6.000 loài, Trung Qu c 5.136 loài. Do khai thác không chú

bảo vệ

tái sinh, cùng nạn phá rừng lấy đất canh tác và nhiều nguyên nhân khác, đã làm
nguồn tài nguyên cây thu c ở nƣớc ta giảm đi nhanh chóng.
Hầu hết các lồi cây thu c có giá tr sử dụng và giá tr kinh tế cao nhƣ: Đẳng
sâm (Codonopsis javanica

lume), Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflorum (Thunb.)

Haraldson.), Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus (L.) Merr.), Vằng đắng
(Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr.)… do khai thác quá mức, đã trở nên cạn
kiệt. Nghiêm trọng hơn là đ i với nh ng cây thu c v n vẫn đƣợc coi là qu hiếm,


7

nhƣ Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamense Ha et Grushv.), Sâm vũ diệp (P.
bipinnatifidus Seem.), một s

loài Hoàng liên (thuộc chi Coptis, Berberis,

Thalictrum), Hoàng tinh (chi Polygonatum và Disporopsis)… do b tìm kiếm khai
thác quá mức, nên đang đứng trƣớc nguy cơ b tuyệt chủng [23] [25] [37].
Cũng theo WHO thì Trung Qu c hàng năm tiêu thụ hết 700.000 tấn, sản phẩm thu c
(đạt 1,7 tỷ USD trong năm 1986), Ở Hàn Qu c trong năm 2009 nhập khẩu tới 19.650
tấn cây thu c, chiếm 78 % tổng lƣợng nhập khẩu. Tổng giá tr thu c từ thực vật trên
th trƣờng Châu Âu- Châu Mỹ và Nhật ản đạt 43 tỷ USD năm 1985, ở các nƣớc có
nền kinh tế phát triển tăng từ 335 triệu USD năm 1976 lên 551 triệu USD năm 1980
còn Nhật

ản nhập khẩu thảo dƣợc tăng từ 21.000 tấn (năm 1979) lên 22.640 tấn

(năm 1980) tƣơng đƣơng 50 triệu USD, ở Mỹ đạt 4,5% tổng giá tr GDP (tƣơng
đƣơng 75 triệu USD) thu đƣợc từ cây hoang dại làm thu c, Theo Alan Hamilton
(một chuyên gia thực vật) cho biết th trƣờng thu c thảo dƣợc ở ắc Mỹ và Châu Âu
trong thập kỷ qua tăng 10%. [23]. Điều này chứng tỏ ở các nƣớc công ngiệp phát
triển, cây thu c phục vụ cho

học cổ truyền phát triển nhanh, mạnh, cây thu c là

loài cây cung cấp nhiều hoạt chất có giá tr ch a bệnh, bảo vệ sức khoẻ cho con
ngƣời ( Theo Chieng – Mai Declararation, 1998).
Thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng đem lại nhiều nguồn lợi cho
con ngƣời nhất là trong việc ch a bệnh, nhƣng đã b khai thác một cách không hợp
lý, không chú ý bảo tồn và phát triển nên nhiều loài cây thu c trở nên khan hiếm và
có nguy cơ b tuyệt chủng, ƣớc t nh đến năm 2020 có khoảng 5 – 10% s loài sẽ biến

mất và s loài b tiêu diệt tăng lên là 25% vào khoảng năm 2025 [25]. Vì vậy việc
khai thác kết hợp với bảo tồn và phát triển các loài cây thu c là điều hết sức quan
trọng. Hiện nay các nƣớc trên thế giới đang hƣớng về chƣơng trình qu c gia kết hợp
sử dụng và phát triển bền v ng cây thu c [25].
1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụn cây thuốc ở Việt Nam
Dân tộc Việt Nam đã có trên 4000 năm l ch sử phát triển không ngừng qua
nhiều giai đoạn mỗi giai đoạn đều có nh ng kinh nghiệm và sử dụng cây cỏ làm
thu c để ch a bệnh, nh ng kinh nghiệm đó đƣợc đúc kết lại trong cuộc s ng, trong
quá trình đấu tranh với bệnh tật, và đã đƣợc ghi chép lại, tạo nên một kho tàng tri
thức vơ giá. Có nhiều kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thu c, có nhiều danh y


8
nổi tiếng nhƣ Tuệ T nh, Hải Thƣợng Lãn Ông, có nhiều sách thu c và phƣơng pháp
ch a bệnh, để lại cho các thế hệ sau.
Thời Kỳ Hùng Vƣơng dựng nƣớc khoảng 2900 năm Trƣớc Công Nguyên,

học

truyền miệng đã biết dùng cây cỏ để tr bệnh, phục vụ cuộc s ng nhƣ: ăn trầu, cau cho
ấm cơ thể, nhuộm răng để răng thêm chắc...
Qua các văn tự cịn sót lại và qua các truyền thuyết thì tổ tiên ta đã biết sử dụng
thảo dƣợc để ch a bệnh và làm gia v k ch thich ngon miệng [20] [21] [22].
Thời Kỳ trƣớc Công nguyên do sự giao lƣu với

học Trung Qu c, Các v

thu c của nƣớc ta đƣợc đƣa sang Trung Qu c nhƣ Trầm hƣơng, Tê giác... một s
thầy thu c Trung Qu c sang Việt Nam b c thu c, tr bệnh. Vào đầu thế kỷ thứ II
Trƣớc cơng ngun đã có hàng trăm v thu c từ đất Giao Chỉ nhƣ Ý d (Coix

lachryma-jobi L.), Hắc hƣơng (pogostemon cablin (Blanco) Benth.) đƣợc đƣa sang
Trung Qu c để giới thiệu sử dụng [21].
Thời Nhà L (1010-1224) có tổ chức Ty Thái

chăm lo sức khỏe cho Vua,

Quan trong triều, nhiều lƣơng y chuyên lo việc ch a bệnh cho dân chúng.
Để có nguồn dƣợc liệu phục vụ ch a bệnh ngoài việc thu hái trong tự nhiên thì đã tổ
chức trồng cây thu c dùng cho dân và quân đội, Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hƣng Đạo
Vƣơng xây dựng một vƣờn thu c lớn gọi là “ Sơn Dƣợc” tại xã Hƣng Đạo (Ch Linh,
Hải Hƣng). Nguyễn

á T nh (Tuệ T nh), đã viết nhiều sách thu c và các phƣơng

pháp ch a bệnh nhƣ “ Nam dƣợc thần hiệu” có 11 quyển với 496 v thu c trong đó
có 241 v có nguồn g c thực vật và “Hồng ngh a giác tƣ y thƣ” nêu cơng dụng của
130 lồi cây thu c ch a nhiều chứng bệnh khác nhau.
Vào thế kỷ 18, Lê H u Trác (Hải Thƣợng Lãn Ông) đã đề cập tới 329 v thu c
nam trong bộ sách "L nh nam bản thảo". Tuệ T nh và Hải Thƣợng Lãn Ông đã đƣợc
mọi ngƣời tơn vinh là nh ng " Ơng tổ " của nền y dƣợc học Việt Nam. Thời gian này
cịn có Nguyễn Văn Nho và Ngơ Văn T nh biên soạn bộ sách thu c “ Vạn phƣơng
tập nghiệm” gồm 8 quyền xuất bản năm 1763 [20] [25].
Thời Tây Sơn (1788-1802), dƣới triều vua Quang Trung và triều Nguyễn cũng
đã xuất hiện nhiều cơng trình về cây thu c nhƣ "Nam dƣợc" và "Nam dƣợc chỉ danh
truyền" của Nguyễn Quang Tuân đã ghi chép tỉ mỉ về 500 v thu c Nam theo kinh
nghiệm dân gian, hoặc cu n "Nam dƣợc tập nghiệm qu c âm" của Nguyễn Quang


9
Lƣợng, ghi các bài thu c giản thƣờng dùng [21], hay "Nam thiên đức bảo toàn thƣ"

của Lƣu Ðức Huệ, nêu 511 v thu c Nam và phƣơng pháp ch a bệnh [20] [23].
Thời Pháp thuộc (1884-1945), việc nghiên cứu cây thc gặp nhiều khó khăn,
chỉ có một s tác giả ngƣời Pháp (Charlet Crévost, Alfret Petelot, Charles Lemarié,
Perrol Hurrier) đã xuất bản bộ “Catalogue des produits de l’Indochine” (1928 –
1935) trong đó tập V (produits medicanaux, 1928) đã mơ tả 368 cây thu c và v
thu c của các lồi thực vật có hoa [25] [22]. Đến năm 1951 Petelo bổ sung thêm và
xây dựng thành bộ “ Les plantes medicinale du Cambodge, du Laos et du Viet Nam”
gồm 4 tập th ng kê 1482 v thu c thảo mộc có mặt ở 3 nƣớc Đơng Dƣơng.
Trong cuộc kháng chiến ch ng thực dân Pháp với phƣơng châm của Đảng đề ra
là tự lực cánh sinh, tự cung tự cấp thu c ch a bệnh, việc sử dụng cây thu c đã đƣợc
chú

nhiều, trong thời gian này đáng kể có cu n “ Toa căn bản” nêu các phƣơng

pháp ch bệnh bằng 10 v thu c thông thƣờng [59].
Với chủ trƣơng kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền, khai thác tri thức bản
đ a của các cộng đồng ngƣời dân tộc sử dụng cây cỏ làm thu c, ngay sau hịa bình
lập lại ở miền

ắc (1954) và giải phóng miền Nam, th ng nhất đất nƣớc (1975),

chúng ta đã có nhiều nỗ lực, điều tra, nghiên cứu về tài nguyên cây thu c nhằm khai
thác, sử dụng phục vụ sức khỏe cho nhân dân.
Theo kết quả điều tra trên phạm vi toàn qu c từ 1961-1985, Viện dƣợc liệu đã
ghi nhận đƣợc ở nƣớc ta có 1.836 lồi cây cỏ thuộc 263 họ sử dụng làm thu c, theo
Võ Văn Chi (2000), con s này đã lên tới gần 3.200 loài thuộc 1.200 chi trên 300 họ,
ngh a là hầu hết các họ trong hệ thực vật Việt Nam, t hoặc nhiều đều có một s lồi
có thể sử dụng làm thu c.
Từ năm 1960 đến nay, hàng năm có tới hơn 200 lồi cây thu c đƣợc đƣợc khai
thác với kh i lƣợng lên tới 100.000 tấn/năm. Một s đ a phƣơng Miền ắc nhƣ Phú

Thọ, V nh Phúc, thƣờng xuyên có cửa hàng thu mua nhiều loại dƣợc liệu nhƣ: Ba
kích, Sa nhân, Thiên niên kiện, Ngũ gia bì, Chân chim, Lạc tiên, Thổ phục linh, Dạ
cẩm, Thảo quyết minh, ch mẫu, Nhân trần,

ồ bồ. Không chỉ phục vụ nhu cầu các

đ a phƣơng trong nƣớc mà còn xuất khẩu qua Trung Qu c [1] [4].
Từ ngày hồ bình lặp lại ở Miền ắc và sau giải phóng Miềm Nam, nhà nƣớc
ta đã quan tâm đến dƣợc liệu, khuyến kh ch công tác điều tra và nghiên cứu nguồn
cây thu c. Trong thƣ gửi hội ngh ngành

tế (17/2/1955), Chủ t ch Hồ Ch Minh đề


10
ra đƣờng l i xây dựng nề
trên sự kết hợp gi a

học Việt Nam khoa học, “Dân tộc và đại chúng”, dựa

học cổ truyền và

học hiện đại, việc nghiên cứu cây thu c

phát triển mạnh mẽ. Tác giả GS- TS Đỗ Tất Lợi xuất bản 120 cơng trình nghiên cứu
về cây thu c, đáng chú

là bộ “ Dƣợc liệu học và các v thu c Việt Nam” (1957), từ

năm 1962 đến 1965 Đỗ Tất Lợi cho xuất bản bộ “ Nh ng cây thu c và v thu c Việt

Nam”, giới thiệu 500 v thu c có nguồn g c từ thảo dƣợc, động vật và khống vật,
năm (2003) Ơng mơ tả 792 lồi cây thu c theo các nhóm bệnh khác nhau [39]. Phó
Đức Thành và cộng sự (1963) cho xuất bản cu n “ 450 cây thu c Nam. Vũ Văn
Chuyên (1966) xuất bản cu n “ Tóm tắt đặc điểm các họ cây thu c” [17], nhƣ “ Sổ
tay

học” (1979) của Vũ Văn K nh gồm 500 bài thu c gia truyền [34]. “Sổ tay cây

thuôc Việt Nam” (1980) của Đỗ Huy

ch, ùi Xuân Chƣơng đã giới thiệu 519 lồi

cây thu c trong đó có 150 lồi mới phát hiện [3]. Viện Dƣợc liệu đã điều tra ở 2795
xã thuộc 351 huyện th xã của 47 tỉnh thành trong cả nƣớc, kết quả nghiên cứu đƣợc
đúc kết từ năm 1961 đến năm 1972 trong “Danh lục cây thu c miền ắc Việt Nam”,
“Danh lục cây thu c miền Nam Việt Nam”, đã cơng b Miền ắc có 1114 lồi cây
thu c, Miền Nam có 1119 lồi. Tồng hợp kết quả điều tra trong cả nƣớc đến năm
1985 là 1863 loài và dƣới loài, phân b trong 1033 chi, 236 họ, 101 bộ [2] [3].
Võ Văn Chi (1976), trong luận văn PTS của mình đã th ng kê đƣợc 1360 loài
cây thu c 192 họ trong ngành hạt k n ở miền

ắc. Đến năm 1991, trong báo cáo

tham gia hội thảo qu c gia về cây thu c lần thứ 2 tại thành ph Hồ Ch Minh Ông
giới thiệu 2280 loài thuộc 254 họ. Năm 2000 trong “Từ điển cây thu c Việt Nam”
Ông giới thiệu 3200 cây thu c, có sự mơ tả hình thái, nêu các bộ phận sử dụng, cách
bảo chế, và có các bài thu c đi kèm, ngồi ra Ơng cịn nghiên cứu cây thu c cho
nhiều đ a phƣơng khác trong cả nƣớc nhƣ “Hệ cây thu c Lâm Đồng” (1982), “Hệ
cây thu c Tây Nguyên” (1985) [15] [16]...vv
Ngoài ra Vƣơng Thừa Ân (1995) xuất bản cu n “ Cây thu c quanh ta” [1];

“Cây thu c trong trƣờng học” của Ngô Trực Nhã (1985),. Viện Dƣợc liệu với
cu n “Tài Nguyên Cây thu c Việt Nam”, Trần Đình L và cộng sự (1995) với
“1900 lồi cây có ch ở Việt Nam” [36]. Nguyễn Ngh a Thìn (1994), với cơng
trình nghiên cứu cây thu c ở Lâm Sơn – Lƣơng Sơn – Hà Sơn ình đã giới thiệu 112
lồi thuộc 50 họ [25] [49].


11
Năm 1990- 1995 tại hội thảo qu c tế lần thứ 2 về Dân tộc sinh học tại Côn
Minh - Trung Qu c tác giả cịn giới thiệu 2300 lồi cây thu c, thuộc 1.136 chi, 234
họ đƣợc sử dụng làm thu c và hơn 1000 bài thu c đã thu thập ở Việt Nam.
Ngoài điều tra tài nguyên các lồi cây thu c thì cơng tác chiết xuất các hoạt
chất hoá học từ cây thu c cũng đƣợc đẩy mạnh, nhƣ chiết xuất hoạt chất Taxol từ các
lồi Thơng đỏ (Taxus spp.) ở Đà Lạt có giá tr ch a tr ung thƣ, các nhà khoa học
Việt Nam đã chiết xuất thành cơng chất Rutin, Troxerutin có trong hoa Hòe (Sophora
japonica) – dùng để sản xuất thu c làm bền mạch máu, điều tr chứng xuất huyết
não. Chất Curcumin, Quercetin có trong Nghệ (Curcuma xanthorrhiza) để sản xuất
thu c ch ng kh i u, hỗ trợ điều tr ung thƣ dạ dày, s t xuất huyết) [14] [16] [29].
Nhóm nghiên cứu do TS Nguyễn Quyết, Viện Hoá học thuộc Viện Khoa học Công nghệ (KH&CN) Việt Nam đã nghiên cứu thành cơng quy trình chiết xuất Ax t
shikimic từ Hoa hồi (Llicium verum ). Viện công nghệ sinh học và viện Hố học Việt
Nam, đã thành cơng trong nghiên cứu và chiết xuất các chất có hoạt t nh sinh học
mạnh, nhƣ chất Artemisinin từ cây Thanh hao hoa vàng (Artemisia annua), chiết
xuất Apigenin từ vỏ hạt Đậu xanh (Phaseolas ayreus), chiết xuất strychin từ hạt Mã
tiền (Strychnos nux vomica), chiết xuất palmatin từ cây Hoàng Đắng (Fibraurea
recisa).
Hầu hết các lồi cây thu c qu hiếm có giá tr cao nhƣ: Đẳng sâm (Codonopsis
javanica lume), Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflorum (Thunb.) Haraldson), Ngũ gia bì
gai (Acanthopanax trifoliatus (L.) Merr.), Vằng đắng (Coscinium fenestratum
(Gaertn.) Colebr.)… Đặc biệt nh ng cây thu c qu đặc h u của Việt Nam, nhƣ Sâm
Ngọc Linh (Panax vietnamense Ha et Grushv.), Sâm vũ diệp (P. bipinnatifidus

Seem.), một s loài Hoàng liên (thuộc chi Coptis, Berberis, Thalictrum), Hồng tinh
(thuộc chi Polygonatum và Disporopsis)…có giá tr kinh tế cao nên b tìm kiếm khai
thác gắt gao, đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng [30].
Đầu năm 2001, một Danh lục Đỏ cây thu c đầu tiên của Việt Nam đƣợc cơng
b , với 114 lồi, thuộc 68 chi, 47 họ thực vật có mạch bậc cao đã đƣợc phân hạng
theo khung 1994 của IUCN. Trong đó, thuộc cấp CR có 23 lồi; EN: 42 lồi; VU: 48
loài và LR: 1 loài.
Sau nhiều năm điều tra nghiên cứu, bổ sung, hiện đã xác đ nh ở nƣớc ta có 144
lồi cây thu c thuộc 79 chi của 5 ngành thực vật đƣa vào Danh lục đỏ Việt Nam


12
Trong đó có 18 lồi thuộc diện đang cực kỳ b nguy cấp (CR), 42 loài đang b nguy
cấp (EN) và 74 lồi sẽ lâm vào tình trạng b nguy cấp (VU) [46].
Vì vậy chúng ta cần có một kế hoạch lâu dài trong việc sử dụng và khai thác
hợp l nguồn dƣợc liệu tự nhiên s n có [25].
1.3. Tình hình nghiên cứu và sử dụn cây thuốc ở Nghệ An
Nghệ An là một tỉnh có diện t ch tự nhiên rộng lớn, dân s đông gồm dân tộc
Kinh và có hơn 5 dân tộc anh em sinh s ng, Nghệ An có 10 huyện miền núi với thảm
thực vật phong phú, đa dạng, có các Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu ng, Pù Hoạt,
vƣờn qu c gia Pù Mát, với nhiều loài thực vật đƣợc nhân dân sử dụng làm thu c
ch a bệnh.
Nhƣng chƣa có cơng trình điều tra, nghiên cứu cây thu c nào đƣợc cơng b
rộng rãi. Ngồi các tài liệu sách do các tác giả trong nƣớc công b nhƣ Đỗ Tất Lợi,
Đỗ Huy

ch, ùi Xuân Chƣơng, Vũ Xuân Chuyên, và các nhà khoa học của Viện

Dƣợc Liệu,




tế, thì chƣa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu và công b về cây

thu c riêng của Nghệ An, mấy chục năn trƣớc đây sở

tế Nghệ An và Hội Đông

Nghệ T nh cho ra đời các tập san cây thu c nhƣ “ Kinh nghiệm ch a bệnh đông
của Nghệ T nh” (1978), giới thiệu các bài thu c ch a nhiều căn bệnh phổ biến, đƣợc
mọi ngƣời quan tâm [25] [49]. Hay “ Nhƣng phƣơng thu c hay – rau cỏ tr bệnh” của
Tạ Duy Chân (1998) d ch và giới thiệu 48 loài thực vật làm rau và làm thu c [7].
Nguyễn Văn Nhung – Đinh Sỹ Hoàn (1981) với cu n “ Sổ tay dùng thu c gia
đình” đã giới thiệu 36 loài cây thu c ch a 18 chứng bệnh với cá phƣơng thu c
truyền th ng.
Nh ng năm gần đây việc điều tra cây thu c các dân tộc miền núi của tỉnh Nghệ
An đã có một s cơng trình nghiên cứu của Giáo viên và học viên cao học trƣờng Đại
học Vinh nhƣ “ Điều tra cây thu c và kinh nghiệm sử dụng chúng của đồng bào dân
tộc Thái xã

ên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” của Tô Vƣơng Phúc (1996)

đã th ng kê đƣợc 223 loài cây, 81 họ với 113 bài thu c ch a 29 nhóm bệnh, kế tiếp
là Nguyễn Th Hạnh (1999), “Nghiên cứu các loài cây thu c của đồng bào dân tộc
Thái huyện Con Cuông, Tỉnh Nghệ An” đã công b 554 loài cây thuộc 336 chi, 121
họ của 4 ngành thực vật, ngồi ra cịn có 154 bài thu c ch a tr 16 nhóm bệnh khác
nhau [23].


13

TS Đặng Quang Châu và Nguyễn Th Kim Chi (2003) với đề tài “Đa dạng cây
thu c dân tộc Thổ 3 xã Ngh a Lâm, Ngh a

ên, Ngh a Mai, huyện Ngh a Đàn, tỉnh

Nghệ An”. Đặng Quang Châu và ùi Hồng Hải (2003) với cơng trình “Điều tra cây
thu c của đồng bào dân tộc Thái xã Châu Hạnh, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An” đã
th ng kê đƣợc 93 loài cây thu c thuộc 79 chi, 42 họ đƣợc sử dụng làm thu c [10].
Đặng Quang Châu, ùi Hồng Hải (2004) với đề tài “ Một s dẫn liệu về cây thu c
dân tộc Thổ xã Thọ Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An”, đã công b 82 loài cây
thuộc 79 chi, đƣợc đồng bào Thổ sử dụng ch a 15 nhóm bệnh [11].
Trần Th Mai Hoa (2007) với đề tài “Điều tra cây thu c và kinh nghiệm sử
dụng chúng của đồng bào thái xã Châu Thôn- Huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An”, đã
cơng b 169 lồi, 139 chi và 69 họ đƣợc nhân dân sử dụng làm thu c với 15 nhóm
bệnh [25].
Và trong năm 2009 sở

tế Nghệ An và Viện dƣợc liệu bộ

tế thực hiện một

đề tài cây thu c Nghệ An và công b trong tập “Cây thu c Nghệ An” đã mô tả và
nêu giá tr ch a bệnh của 300 loài cây thu c do nhà xuất bản Nghệ An ấn hành.
Tóm lại việc điều tra cây làm thu c đã có nhiều cơng trình nghiên cứu trên
phạm vi cả nƣớc nhƣng ở Nghệ An và nhất là các huyện miền núi cịn ít, chƣa hệ
th ng đặc biệt là huyện Quỳ Châu.


14
ƣơn

ƢỢ
2.1
ời ian địa điểm n

Ể ,


ƢƠ



iên cứu

Việc nghiên cứu đƣợc tiến hành từ tháng 7/2009 đến tháng 11/2010, đƣợc chia
thành 2 đợt tại ba đ a điểm thuộc 3 xã Châu Phong, Châu Hoàn, Diên Lãm huyện Quỳ
Châu - Nghệ An.
- Đợt 1: từ 6/7 đến 28 /7/2009.
- Đợt 2: từ 15/10 đến 15/3/2010.

2.2

iều kiện t n iên và x

2.2 1

ội k u v c n

iên cứu

iều kiện t n iên


2.2 1 1

ị trí địa lý

Huyện Quỳ Châu nằm trên qu c lộ 48, cách thành ph Vinh khoảng 145km về
ph a Tây ắc, có tọa độ đ a l từ 19006’ đến 19047’ v độ ắc, 1040542’ đến 105017’
kinh độ Đơng. Quỳ Châu có một v tr rất quan trọng về mặt qu c phòng, anh ninh,
kinh tế, xã hội do tiếp giáp với nhiều huyện:
+ Ph a ắc giáp huyện Quế Phong và huyện Thƣờng Xuân (Thanh Hoá).
+ Ph a Nam giáp huyện Quỳ Hợp và Con Cuông.


15
+ Ph a Đông giáp huyện Ngh a Đàn và huyện Nhƣ Xuân (Thanh Hoá).
+ Ph a Tây giáp huyện Quế Phong và huyện Tƣơng Dƣơng.
2.2 1

ịa ìn

địa mạo

Quỳ Châu là một trong 4 huyện miền núi với đồi núi chiếm 80% diện t ch tự
nhiên, đ a hình tƣơng đ i phức tạp, b chia cắt bởi con sông, su i nên hình thành các
dãy núi, các thung lũng nhỏ và hẹp nằm trong các đới kiến tạo, đới nâng Pù Hu ng,
phức nép lõm sông Hiếu nên đ a hình có nhiều lớp lƣợn sóng theo hƣớng từ Tây ắc
xu ng Đông Nam. Các khe su i đổ về sông Hiếu, chạy từ Tây sang Đông tạo thành
đ a hình lịng máng.
+ Dạng đ a hình thung lũng bằng phân b rải rác ở các bãi bồi dọc theo tuyến
các con sông và một s khe su i (xã Châu


nh, Châu Tiến, Châu ình), diện t ch t

chỉ chiếm 1% diện t ch tự nhiên của huyện.
+ Dạng đ a hình đồi: Diện t ch khoảng 25% diện t ch tự nhiên của huyện, phân
b chủ yếu dọc theo qu c lộ 48 và nằm ở triền núi. Phần lớn là dạng đồi lƣợn sóng
có độ cao 170 - 200m.
+ Dạng đ a hình núi chiếm 74% diện t ch tự nhiên tồn huyện, trong đó khoảng
75% là núi thấp từ 170 - 1.000m còn lại là núi cao trên 1.000m (đỉnh Pù Lu Cô
1.124m, đỉnh Pù Hu ng, đỉnh Pù Khạng 1.085m)
Nhìn chung, đ a hình Quỳ Châu chủ yếu là núi cao, độ d c tƣơng đ i lớn. Các
dịng sơng hẹp.
Dựa vào đặc điểm đ a hình, Quỳ Châu đƣợc chia thành 4 tiểu vùng sinh thái:
+ Vùng trên gồm các xã: Châu Thuận, Châu

nh, Châu Tiến, Châu Thắng.

+ Vùng gi a gồm xã Châu Hạnh và Th Trấn
+ Vùng dƣới gồm các xã: Châu Hội, Châu ình, Châu nga
+ Vùng trong gồm các xã: Châu Phong, Châu Hoàn, Diên Lãm

2.2.1.3. iều kiện đất đai
Theo tài liệu điều tra thổ nhƣỡng của tỉnh Nghệ An thì huyện Quỳ Châu có 14 loại
đất trên tổng s 32 loại đất toàn tỉnh. Tổng diện t ch điều tra thổ nhƣỡng là 103.963,22
ha chiếm 98,28% tổng diện t ch tự nhiên, không kể diện t ch sông su i núi.
Trong đó đất phù sa: Diện t ch 250 ha, đất này đƣợc hình thành chủ yếu do sự
bồi đắp của sông hiếu, phân b ở các xã Châu Tiến, Châu Hạnh, Châu

nh, Châu


Hội, Diên Lãm. Cịn các nhóm đất khác là các nhóm đất Feral t đỏ vàng phát triển


16
trên đá vôi diện t ch khoảng 3.605 ha chiếm khoảng 3% tổng diện t ch tự nhiên toàn
huyện phân b ở xã Châu Tiến,

nh, Hạnh; nhóm đất Feral t vàng đỏ phát triển trên

đá biến chất có diện t ch khoảng 2.583 ha chiếm khoảng 2% tổng diện t ch tự nhiên
phân b ở xã Châu Tiến,

nh,

ình; nhóm đất Feral t vàng đỏ phát triển trên đá

phiến thạch sét có diện t ch khoảng 2.217 ha chiếm khoảng 2% tổng diện t ch tự
nhiên phân b chủ yếu ở xã Châu ình, Châu Nga.
Tổng diện t ch tựnhiên là 105765.63 ha trong đó:
-

Đất nơng nghiệp: 5465.93 ha

-

Đất lâm nghiệp: 80531.79 ha

-

Đất ở: 540.33 ha


-

Đất chƣa sử dụng : 17108.4 ha
ản 2.1. Diện tíc đất 3 xã Châu phong, Châu Hoàn, Diên
m so với toàn uyện
Diện t ch ha

Loại đất

Tỷ lệ %

3 xã

Tồn huyện

3 xã

Tồn huyện

Đất sx nơng nghiệp

1704,21

5465,93

4,9

5.3


Đất lâm nghiệp

27644,26

80531,79

79,7

77,7

Đất ở

104,13

540,33

0,3

0,5

Đất chƣa khai thác

6970,78

17108,4

15,1

16,5


Tổng

34679.48

103646,45

100

100

3 xã vùng trong có tổng diện t ch 35180,62 ha trong đó, đất lâm nghiệp là
97.348 ha (trong đó dất lâm nghiệp có rừng là 76.190 ha, đất tr ng chƣa có rừng là
21.158 ha) tỷ lệ che phủ là 75,2% (năm 2008) rừng Quỳ Châu lớn về diện t ch,
phong phú về chủng loại. Rừng có nhiều gỗ qu nhƣ lát hoa, lim, sến, táu, sa mu,
dổi, kim giao, chò chỉ, de.... và cây quế đặc sản; cây dƣợc liệu nhƣ hoài sơn, thiên
niên kiện, san nhân, bách là điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn các loại lâm sản,
bảo tồn cây thu c nói chung.
2.2.1.4

í ậu t ời tiết

Kh hậu Quỳ Châu mang đặc điểm chung là nhiệt đới ẩm gió mùa có mùa nắng
nóng, mùa lạnh và ẩm.


17
- Chế độ nhiệt: Các yếu t kh hậu trung bình nhiều năm cho thấy: sự chênh
lệch nhiệt độ gi a các tháng trong năm khá cao. Từ tháng 11 đến tháng 4
năm sau, nhiệt độ khơng kh trung bình là 21- 230C, nhiệt độ cao nhất
410C, nhiệt độ thấp nhất 50C. Tổng s giờ nắng 581,5h, tổng t ch ôn

3.586,50C. Từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ không kh trung bình là
26,60C, nhiệt độ cao nhất 41,30C, nhiệt độ thấp nhất 10,60C. Tổng s giờ
nắng 1002,6h, tổng t ch ơn 4.902,590C.

ản 2

í ậu t ủy văn uyện

u

âu năm

đến

8

Tháng
tiêu

Nhiệt độ
khơng

ăm
1

2

3

4


5

6

7

8

9

10

11

12

2006

18,1

19,8

21,3

25,8

26,9

28,9


28,8

27,1

26,2

24,9

23,5

18,1

2007

16,7

21,7

23,4

24,1

26,1

28,5

28,4

27,6


26,1

23,6

18,9

20,1

khí trung
bình (0c)

2008

16,3

13,7

21,1

25,1

26,5

27,5

28

27,9


26,6

24,8

20,9

17,5

Độ ẩm

2006

84

88

85

80

82

81

81

89

83


88

84

86

trung

2007

85

83

85

81

83

83

85

87

87

89


85

88

bình

2008

87

84

84

84

83

87

85

87

88

91

85


85

Lƣợng

2006

2,3

13,1

14,2

120

297

107

109

424

231

206

0,6

11,7


mƣa

2007

3,4

12,6

14,4

91,8

189

197

290

162

327

516

7,5

18,2

(mm)


2008

67,6

15,2

101

87,6

179

240

151

128

280

444

275

34,1

2006

8,4


4,7

5,7

13,8

18,7

18,4

14,7

98

15,4

12,8

17

75

2007

6,5

10,4

5,8


10,6

16,3

20,3

22,1

13,1

13

79

14,1

5,3

2008

75

27

103

113

148


106

118

162

116

65

128

89

Tổng giờ
nắng

Trung

ổn

bình

trong

năm

năm

24,12


289,4

23,77

285,2

22,99

275,9

84,25

1011

85,08

1021

85,83

1030

127,9

1535,9

152,4

1828,9


166,8

2002,5

25,22

302,6

18,04

216,5

104,1

1250

( Nguồn số liệu do đài khí tượng thuỷ văn huyện Quỳ Châu cung cấp)
- Chế độ mưa: Là huyện có lƣợng mƣa trung bình so với các huyện khác ở
vùng miền núi Tây bắc. Lƣợng mƣa bình quân hàng năm giao động từ 800 –
1200mm/năm, chia làm hai mùa rõ rệt:
+ Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lƣợng mƣa 212,7 mm chỉ chiếm
12 – 15% lƣợng mƣa cả năm.
+ Mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 10, lƣợng mƣa 1453,8mm chiếm 85 – 90%
lƣợng mƣa cả năm, tháng mƣa nhiều nhất là tháng 8, tháng 9 có lƣợng mƣa từ 220 –
540 mm/tháng, mùa này thƣờng kèm theo gió bão.


18
- Độ ẩm khơng khí: Độ ẩm khơng kh có sự chênh lệch gi a các tiểu vùng và

theo mùa. Độ ẩm khơng kh trung bình năm giao động từ 85 – 90%. Chênh lệch gi a
độ ẩm trung bình tháng ẩm nhất và tháng khô nhất cao từ 2 -5%, vùng có độ ẩm cao
nhất là ph a bắc, vùng có độ ẩm thấp nhất là vùng núi ph a tây của huyện. Lƣợng b c
hơi bình quân hàng năm từ 300 – 400 mm.
- Chế độ gió: Nằm trong vùng ch u ảnh hƣởng một phần gió tây nam từ tháng
4 đến tháng 8 gây khơ nóng một s vùng
Là huyện có t c độ gió thấp nhất so với các huyện trong tỉnh, t b ảnh hƣởng
của bão mà chỉ có l c xốy cục bộ.
Nhìn chung, thời tiết kh hậu Quỳ Châu tƣơng đ i ôn hồ, nhiệt lƣợng, ánh
sáng dồi dào, thƣờng có lũ ở các sông su i, không b úng, nƣớc rút nhanh, nhờ độ
che phủ lớn nên lƣợng b c hơi thấp, độ ẩm cao hơn các vùng khác trong tỉnh.
Quỳ Châu nằm trong vùng kh hậu ắc miền trung nên tƣơng đ i ơn hồ, nhiệt
lƣợng, ánh sáng dồi dào thƣờng có lũ ở các sơng su i, khơng b úng, nƣớc rút nhanh,
nhờ độ che phủ lớn nên lƣợng b c hơi thấp, độ ẩm cao hơn các vùng khác trong tỉnh.
Với điều kiện kh hậu nhƣ vậy rất thuận lợi cho việc phục hồi , phát triển cây rừng.
iều kiện x

2.2
2.2

1

ội

ân số

Quỳ Châu có hai dân tộc anh em sinh s ng. Dân s t nh đến cu i năm 2008 là
54.468 ngƣời, trong đó dân tộc Thái có 43.485 ngƣời (chiếm 84.3% dân s ), dân tộc
Kinh có khoảng 8107 ngƣời ( chiếm 15.7% dân s ). Mật độ dân s bình quân 51
ngƣời/ km2 (bình quân chung cho cả tỉnh khoảng 182 ngƣời/km2). Trong đó dân s

của 3 xã Châu Phong, Châu Hồn và Diên Lãm có 10573 ngƣời trong đó có 10273
ngƣời Thái (chiếm 97%), dân tộc Kinh có khoảng 300 ngƣời (chiếm 3%) khơng có
dân tộc khác. ( Theo phòng thống kê huyện Quỳ Châu)
2.2.2.2. iều kiện x

ội của dân tộc

ái ở uyện

u

âu

Ngƣời Thái vào Nghệ An khoảng từ thế kỷ XV – XVII do nh ng nguyên nhân
khác nhau, từ nguồn g c các nhóm đ a phƣơng khác nhau, có thể chuyển từ Lào
sang, một bộ phận từ tây ắc hoặc từ Thanh Hóa vào. Trƣớc đây, ngƣời Thái ở Nghệ
An đƣợc gọi bằng nhiều tên khác nhau theo tên các nhóm đ a phƣơng. Sự lầm lẫn đó
đã làm cho việc th ng kê dân s sai lệch đáng kể.


19
Trong giao tiếp từ trƣớc đến nay ngƣời ta thƣờng dùng các tên gọi sau đây để
chỉ các nhóm ngƣời Thái: Tày Mƣờng (có nơi cịn gọi là Hàng Tổng, hoặc Tày
Chiềng), Tày Thanh (có nơi gọi là Man Thanh) và Tày Mƣời. Trong thời gian gần
đây, ngay cả trong nhiều văn bản của các cơ quan đ a phƣơng từ xã huyện lên tỉnh,
ngƣời ta vẫn còn dùng tên các nhóm nói trên nhƣ là tên dân tộc. Đồng bào tự gọi
mình là “Phủ Táy” (Cơng Táy - vùng Quế Phong) ngh a là ngƣời Thái. Nhƣng khi
giao tiếp ngƣời ta gọi tên dân tộc của mình theo nhóm nhƣ là sự phân biệt dân tộc:
Tày Mƣờng, Tày Thanh, Tày Mƣời.
Ngƣời Thái có mặt ở Quỳ Châu vào khoảng thế kỷ XIII – XV với ba nhóm

ch nh là Tày Mƣờng, Tày Thanh, Tày Mƣời. theo tên các nhóm đ a phƣơng nhƣng
họ rất tự hào về nh ng giá tr văn hóa truyền th ng của tộc ngƣời mình. Trải qua
hàng trăm năm chế ngự thiên nhiên và cải tạo xã hội ngƣời Thái ở Quỳ Châu đã bảo
lƣu, sáng tạo và phát triển.
Về cơ bản nh ng yếu t văn hoá truyền th ng trong đời s ng văn hoá vật chất
và các phƣơng thức sinh hoạt kinh tế của đồng bào Thái khơng có gì khác biệt lắm so
với nh ng ngƣời đồng tộc khác. Điều cần chú

là trên cơ sở thừa kế v n truyền

thông văn hố đó, khi vào Nghệ An đồng bào đã áp dụng nó trong nh ng điều kiện
vừa có t nh chất chung của núi rừng nhiệt đới vừa có nét khu vực đ a l riêng do ảnh
hƣởng xủa đ a hình và kh hậu, Ngƣời Thái là cƣ dân nông nghiệp biết dùng cày.
Việc biết sử dụng sức kéo của trâu bò vào việc canh tác ở vùng núi Nghệ An của
ngƣời Thái là điều kiện rất thuận lợi cho cộng đồng Thái hồn tồn có khả năng sinh
s ng ở một vùng có nhiều thung lũng rộng gi a núi rừng.
Ngƣời Thái có truyền th ng trồng lúa nƣớc đánh bắt cá ở sông, su i làm nguồn
thức ăn ch nh. Đồng thời ngƣời Thái cũng biết khai thác các nguồn thức ăn từ rừng
nhƣ hái lƣợm rong rêu, rau trong rừng để phục vụ cuộc s ng hàng ngày. Dân tộc
Thái có thói qen s ng với rừng, rừng cung cấp cho họ nhu cầu về cuộc s ng hàng
ngày, rừng đƣợc v nhƣ một mảnh vƣờn tự nhiên lớn của ngƣời dân, ngồi ra rừng
cịn là nơi cung cấp một lƣợng cây thu c ch a bệnh cho ngƣời dân, ch nh vì vậy cây
thu c từ rừng đã đƣợc biết đến từ lâu, do chủ yếu s ng phủ thuộc vào rừng nhƣng
việc bảo tồn và phát triển rừng vẫn chƣa đƣợc quan tâm và chú trọng, hiện nay do


20
khai thác các tài nguyên từ rừng quá mức và chƣa có

thức bảo vệ rừng nên tài


nguyên cây thu c đang b can kiệt và đe dọa nghiên trọng.
2.3. ối tƣợn và p ạm vi n

iên cứu

- Đ i tƣợng nghiên cứu: toàn bộ thực vật đƣợc đồng bào thái các xã Châu
Phong, Châu Hoàn, Diên Lãm, huyện Quỳ Châu sử dụng làm thu c.
- Phạm vi nghiên cứu: thực vật bậc cao có mạch trong phạm vi của 3 xã Châu
Phong, Châu Hoàn, Diên Lãm, huyện Quỳ Châu.
2.4. ội dun n

iên cứu

- Điều tra thu thập và lập danh lục các loài cây cỏ đƣợc đồng bào Thái các xã
Châu Phong, Châu Hoàn, Diên Lãm, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An sử dụng làm
thu c ch a bệnh.
- Phân t ch, đánh giá t nh đa dạng nguồn tài nguyên cây thu c
+ Đa dạng về bậc taxon: ngành, lớp, họ, chi, loài.
+ Đa dạng về dạng cây: bụi, leo, gỗ, thảo.
+ Đa dạng về môi trƣờng s ng: rừng, đồi, vƣờn, khe su i.
+ Đa dạng về bộ phận sử dụng: lá, thân, hoa, quả…
+ Đa dạng về nhóm bệnh ch a tr : bệnh tiêu hóa, bệnh phụ khoa, bệnh
ngoài da…
- Điều tra thu thập các bài thu c dân tộc Thái các xã Châu Phong, Châu Hoàn,
Diên Lãm, huyện Quỳ Châu thƣờng sử dùng để ch a tr bệnh của các Ông Lang, Bà
Mế và bà con dân bản.
- Nắm đƣợc tình hình khai thác cây thu c và các loài cây đang bi khai thác quá
mức có nguy cơ b tuyệt chủng và nguyên nhân gây ra thực trạng này để phục vụ cho
công tác bảo tồn.

2.5. Phƣơn p áp n

iên cứu

Để thực hiện đƣợc mục tiêu và nội dung mà đề tài đã đặt ra chúng tôi sử dụng
các phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ sau.
2.5.1.

ƣơn p áp kế t

a

Kế thừa nh ng kinh nghiệm sử dụng cây thu c của bà con dân bản các xã Châu
Phong, Châu Hoàn, Diên Lãm, huyện Quỳ Châu và các cơng trình nghiên cứu về cây
thu c cũng nhƣ các tài liệu liên quan đến đề tài có chọn lọc.


21
2.5.2.

ƣơn p áp điều tra p

n vấn

- Phỏng vấn phát hiện các bài thu c và cây thu c đƣợc sử dụng theo kinh
nghiệm của ngƣời Thái 3 xã Châu Phong, Châu Hoàn, Diên Lãm, huyện Quỳ Châu .
- Phỏng vấn tập trung các Ơng Lang,

à Mế có kinh nghiệm ch a bệnh bằng


cây thu c.
2.5.3.

ƣơn p áp t u ái xử lý và bảo quản m u

- Phƣơng pháp điều tra cây thu c và v thu c theo “Nh ng cây thu c và v
thu c Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi, 2003 [39].
- Phƣơng pháp điều tra thực vật theo “Phƣơng pháp nghiên cứu thực vật” của
R.M. Klein, D.T. Klein [36], và theo “Cẩm nang nghiên đa dạng sinh vật” của
Nguyễn Ngh a Thìn, 1997 [48].
- Quy trình điều tra dƣợc liệu theo “ Sổ tay thu c nam thƣờng dùng ở cơ sở” ộ
tế, 1993 [5].
- Phƣơng pháp làm tiêu bản thực vật theo “ Kỹ thuật thu hái và xủ l mẫu vật và
làm tiêu bản cây cỏ” của Nguyễn Văn Dƣỡng, Trần hợp, 1971 [18].
- Mẫu vật sau khi thu đƣợc cho vào cặp ép báo, có nhãn và ghi phiếu điều tra,
ghi chép các thôngtin cần thiết nhƣ tên dân tộc, đặc điểm hình thái, sinh thái, cơng
dụng, bộ phận sử dụng, liều lƣợng cũng nhƣ cách sử dụng cây thu c theo kinh
nghiệm của ngƣời dân.
Mẫu cây đƣợc đánh s hiệu và đƣợc đặt vào trong khổ giấy gấp 4, cho vào cặp
mắt cáo khoảng 20 đến 30 mẫu /cặp, sau đó đƣợc phơi nắng hàng ngày hoặc sấy
trong tủ sấy.
2.5.4.

ƣơn p áp iám địn n an

và c i n oài t iờn n iờn

Giám định nhanh họ và chi ngoài thiên nhiªn theo tài liệu “ Cẩm nang nghiên
cứu đa dạng sinh vật” của Nguyễn Ngh a Thìn, 1997 [38]. “Cẩm nang nghiên cứu và
nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam”, của Nguyễn Tiến ân, 1997 [2].

2.5.5.

ƣơn p áp xác địn tên k oa

c

Mẫu đƣợc xác đ nh dựa vào đặc điểm hình thái, so sánh theo các tài liệu của
các tác giả sau.
- “Cây cỏ thƣờng thấy ở Việt Nam” của Lê Khả Kế ( Chủ biên) (1969- 1976) [31]
- “Nh ng cây thu c và v thu c Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (1986- 2003) [39]
- “Cây cỏ việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1999- 2000) (3 tập) [26]


22
- “Từ điển cây thu c Việt Nam” Võ Văn Chi (2000) [15]
2.5.6. Phƣơn p áp c n lý tên k oa

c

Sau khi đ nh loại chúng tôi tiến hành kiểm tra và chỉnh l tên khoa học theo tài
liệu “Từ điển cây thu c Việt Nam” Võ Văn Chi (2007) [16].
2.5.7. Phƣơn p áp xây d n dan lục
Taxon đƣợc sắp xếp theo các sắp xếp của R.K. rumit (1992). Trật tự các loài
trong phạm vi từng chi, các chi trong từng họ đƣợc sắp xếp theo thứ tự A C. Danh
lục đƣợc trình bày theo thứ tự các cột nhƣ sau.
Cột 1: Thứ tự
Cột 2:Tên khoa học
Cột 3:Tên dân tộc
Cột 4: Tên phổ thông
Cột 5: Dạng thân

Cột 6: Môi trƣờng s ng
Cột 7: ộ phận sử dụng
Cột 8: Công dụng
Cột 9: Cách dùng
2.5.8. Phƣơng pháp đánh giá về đa dạn của cây làm t uốc
Các chỉ tiêu và phƣơng pháp đánh giá đa dạng theo Nguyễn Ngh a Thìn (1997) [48]
- Đánh giá t nh đa dạng phân loài
+ Sự đa dạng ở điạ bàn nghiên cứu so với hệ cây thu c của Việt Nam.
+ Sự đa dạng của các taxon bậc họ, chi loài gi a các nghành khác nhau
+ Sự đa dạng về s lƣợng loài và chi trong họ
- Đánh giá sự đa dạng về dạng thân
- Đánh giá sự đa dạng về bộ phận sử dụng của cây làm thu c.
- Đánh giá đa dạng về môi trƣờng s ng.
- Đánh giá về đa dạng các nhóm bênh ch a tr
- Đa dạng về các bào chế
Dựa vào kinh nghiện sử dụng của các Ông Lang, à Mế và ngƣời dân tại đ a
bàn nghiên cứu.
- Đánh giá về các loài nguy cấp. Dựa vào Sách đỏ Việt Nam ( Phần thực Vật)
(2007), Viện khoa học & công nghệ Việt Nam.


23
C ƣơn 3
3.1.



ác loài cây t uốc của đồn bào

m uyện u


âu

Ả NGHIÊ
ái các x

âu


on

âu oàn và iên

ệ n

Kết quả điều tra, thu thập các loài cây thu c đƣợc các Ông Lang, Bà Mế và bà
con dân tộc Thái ở các xã Châu Phong, Châu Hoàn và Diên Lãm, huyện Quỳ Châu
sử dụng làm thu c thể hiện ở bảng 4.1 gồm 217 loài, 174 chi, 76 họ thuộc 4 ngành.


24

Bản 3.1. an lục các loài cây t uốc mà đồn bào
TT

ên k oa

1

Selaginella delicatula (Desv.) Alst.


Dấm dái

2

Cibitium baromez (L). J. Sm.

Cụt h n

3
4

c

Dicranopteris dichotoma (Thunb.)
Bernh.
Dicranopteris linearis (Burm. f.)
Underw.

Tên
dân tộc

ên p ổ
ạn
thông
thân
I. Lycopodiophyta
àn t n đất
1. Selaginellaceae
quyển bá

Quyển bá
B
yếu
II. Polypodiophyta
àn dƣơn x
ớp dƣơn x
1. Dicksoniaceae
cu li
Cẩu t ch
Th
2. Gleicheniaceae
uột

ái ở

u

MT
sốn

âu sử dụn
BP
SD

Công
dụn

Cách dùng

Đ, R


L

Chứa rắn cắn

Giã đắp

N

L

Ch a sâu răng

Đâm ngậm

Cụt điu

Guột

Th

R

Re

Tiết niệu

Sắc u ng

Cụt điu quái


Guột cứng

Th

R

Re

Tr giun

Sắc u ng

R

Cả

Tr lỵ

Sắc u ng

Đ.R

Cả

Ch a phong

Giã đắp

5


Lindsaea orbiculata (Lam.) Mett. Ex
Kuhn.

Cut phi

6

Ligodium japonicum (Thunb.) Sw.

Cụt hƣơn

3. Lindsaeaceae
quạt xòe
Quạt xòe
Th
tròn
4. Lygodiaceae
bòn bon
Bòng bong
Le


×