Tải bản đầy đủ (.docx) (96 trang)

Luận văn, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình từ thực tiễn thành phố hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (400.78 KB, 96 trang )

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát thanh, truyền hình (PTTH) là phương tiện truyền thơng đại chúng
nhanh chóng và kịp thời phản ánh thông tin tới nhân dân các thông tin sự
kiện từ thời sự đến kinh tế - xã hội. Một trong những đặc điểm riêng biệt của
PTTH so với các loại hình báo chí khác đó là độ chính xác và tin cậy cao,
thơng tin chính thống và trung thực, tác động đến nhận thức và hành động
của con người.
Trước khi các công nghệ truyền thông đa phương tiện phát triển, đài
phát thanh là phương tiện hiệu quả, phổ cập toàn cầu nhất để truyền tải thơng
tin tới thính giả đặc biệt là những khu vực nghèo, cơ sở vật chất không đầy
đủ, khu vực nông thơn và những khu vực khó tiếp cận. Đối với những người
thường xuyên phải di chuyển thì phát thanh cũng đặc biệt quan trọng để họ
có cơ hội tiếp cận thông tin. Ra đời từ năm 1945, phát thanh đã phát huy vai
trị truyền thơng, thơng tin cho qn và dân ta trong suốt hai cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ trường kì của dân tộc.
Truyền hình Việt Nam phát sóng chương trình đầu tiên vào năm 1970
với cơng nghệ đen trắng, có khả năng thu nhận tín hiệu sóng vơ tuyến cũng
như truyền dẫn các tín hiệu điện mang hình ảnh và âm thanh được mã hóa,
được phát dưới dạng sóng vơ tuyến hoặc thơng qua cáp quang, đáp ứng cùng
lúc hai chức năng nghe và nhìn. Hình ảnh được chiếu trên màn hình và âm
thanh phát trên hệ thống loa. Truyền hình có mặt sau phát thanh nhưng có
sức thu hút lớn với khán giả. Truyền hình khiến đời sống nhân dân phong
phú và tươi mới hơn. Nhất là vào những năm 90 khi các phương tiện truyền
thông chưa được phổ cập rộng rãi, chiếc vô tuyến là phương tiện chính của
các hộ gia đình để nắm bắt thông tin.

1


Khi xã hội ngày càng phát triển, các dịch vụ trong lĩnh vực PTTH


ngày càng nhiều để khách hàng có sự lựa chọn phù hợp. Những năm vừa
qua, lĩnh vực PTTH đạt được nhiều thành tựu quan trọng về doanh thu của
Đài PTTH, công ty cung cấp dịch vụ PTTH, chất lượng ngày càng được cải
tiến nâng cao và thời lượng của chương trình PTTH được cải thiện. Hiện cả
nước có 72 đài PTTH và đơn vị hoạt động truyền hình Trung ương và địa
phương với 283 kênh phát thanh, truyền hình gồm:
- 02 đài quốc gia (Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt
Nam);
- 01 Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC (trực thuộc Đài Tiếng nói Việt
Nam);
- 64 đài PTTH địa phương (62 đài PTTH của các tỉnh/thành phố trực
thuộc TW; riêng TP.HCM có hai đài Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí
Minh và Đài Tiếng nói nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hoạt động độc
lập).
- 05 đơn vị hoạt động truyền hình khơng có hạ tầng phát sóng truyền
hình riêng gồm: Truyền hình Quốc hội, Truyền hình Nhân dân, Truyền hình
Thơng tấn (VNews), Truyền hình Cơng an nhân dân (ANTV), Truyền hình
Quốc phịng (QPVN).
Đây là những cơ quan báo hình được hình thành phục vụ yêu cầu
tuyên truyền của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ mới. Doanh thu (trong đó
có doanh thu quảng cáo) tồn ngành PTTH khoảng trên: 11.079 tỷ đồng;
trong đó, doanh thu của 64 đài PT-TH địa phương là: 6.189 tỷ đồng. Tính
đến hết năm 2019, tổng doanh thu thuê bao truyền hình trả tiền ước đạt
8.300 tỷ đồng, tăng khoảng 2,5 % so với cùng kỳ năm 2018 (khoảng 8.100
tỷ đồng)...[10]

2


Cùng với đó, só lượng cơng ty hoạt động trong lĩnh vực này khá lớn

nhằm cung cấp các dịch vụ về PTTH nên tạo nên sự cạnh tranh trong việc
đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao, chinh phục khách hàng khó tính. Dưới
góc độ kiểm sốt của pháp luật, hiện nay vẫn cịn tồn tại những doanh
nghiệp, các cơng ty truyền thơng có hành vi vi phạm hành chính (VPHC) và
đã được xử phạt. Cụ thể là hành vi chưa tuân thủ hoặc thực hiện nghiêm các
quy định trong giấy phép hoạt động, giấy phép sản xuất kênh chương trình
đã được cấp; vi phạm trong các nội dung các kênh chương trình: thơng tin
chưa được kiểm chứng, gây ảnh hưởng tới uy tín, danh dự của tổ chức cá
nhân, gây bức xúc xã hội,...
Hiện nay, có nhiều các nền tảng truyền hình, dịch vụ mới xuất hiện,
phù hợp với sự phát triển trên thế giới, bắt kịp của cuộc cách mạng cơng
nghiệp
4.1.

Ví dụ, nền tảng phim Netflic - dịch vụ xem video trực tuyến của Mỹ,

nội dung chủ yếu là phim và các chương trình truyền hình nước ngồi thơng
qua kết nối internet. Một trong những hình thức chiếu phim mới này ảnh
hưởng rất lớn đến nền truyền hình truyền thống trong nước bởi các trang
phim có đa dạng các thể loại. Tuy nhiên, hiện chưa có chế tài xử phạt VPHC
với các hành vi vi phạm của Netflic cũng như các trang tương tự của nước
ngoài tràn vào Việt Nam khiến môi trường kinh doanh không công bằng,
doanh thu dịch vụ PTTH trong nước giảm sút. Một số phim được phát không
hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam, ảnh hưởng rất lớn tới nhận thức và
hành động của giới trẻ đặc biệt là trẻ em. Khi công nghệ càng phát triển thì
các hành vi phạm tội ngày càng tinh vi và khó phát hiện hơn, gây khó khăn
trong việc áp dụng chế tài xử phạt, thẩm quyền xử phạt. Xử phạt VPHC nói
chung và xử phạt VPHC trong lĩnh vực PTTH nói riêng là cơng cụ quan
trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm duy trì sự ổn định và phát


3


triển trong hoạt động quản lý hành chính của nhà nước, tạo lập môi trường
kinh doanh trong sạch và công bằng, ngăn chặn hành vi phạm tội.
Thủ đô Hà Nội là trung tâm văn hóa chính trị của đất nước, là nơi
chung chuyển các phương tiện giao thông trong nước và quốc tế. Thủ đô nơi
thu hút các doanh nghiệp tập trung, các công ty truyền thông, đơn vị cung
cấp các dịch vụ PTTH. Chính vì vậy, trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng
xảy ra khơng ít các trường hợp vi phạm hành chính đã được xử lý. Căn cứ xử
phạt hiện nay chủ yếu là Nghị định số 159/2013/NĐ-CP (Nghị định 159)
ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo
chí xuất bản. Tính từ 01/12/2020 nghị định 159 sẽ hết hiệu lực và được thay
thế bằng nghị định 119/2020/NĐ-CP (Nghị định 119) ngày 07/10/2020 của
Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí,
hoạt động xuất bản. Nghị định 159 phát huy được khả năng quản lý hành
chính nhà nước trong lĩnh vực PTTH trong những năm vừa qua, tuy nhiên đã
bộc lộ một số khó khăn trong quá trình xử phạt như một số hành vi bị
nghiêm cấm trong Luật Báo chí năm 2016 đang khơng có chế tài xử phạt,
một số hành vi xử phạt quá nhẹ, mức phạt tiền thấp hơn so với tình hình kinh
tế ngày càng phát triển,...
Xuất phát từ những lý do trên, tơi chọn đề tài: “Xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình - từ thực tiễn Thành phố Hà
Nội ” làm đề tài Luận văn thạc sĩ ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính,
góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xử phạt VPHC trong lĩnh vực PTTH
từ thực tiễn thành phố Hà Nội.
2. . Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Hiện nay, lĩnh vực PTTH nhận được sự quan tâm của Đảng và nhà
nước. Những người làm khoa học và công tác lý luận cũng đã nghiên cứu
vấn đề này ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. Trong thời gian qua, đã có


4


khá nhiều các cơng trình nghiên cứu liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề
tài luận văn, cụ thể:
- “Bình luận các quy định về xử phạt vi phạm hành chính ”, Cao Vũ
Minh, Nguyễn Nhật Khanh, Nxb. Lao động - xã hội, 2019.
-

“Bình luận khoa học Luật xử lý vi phạm hành chỉnh năm 2012

”, PGS.TS Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt
Nam, 2017.
-

Luận văn “Quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình từ

thực tiễn tỉnh Quảng Nam ”, thạc sĩ Trần Thị Bích Uyên, Học viện Khoa học
xã hội,
2019.

Luận văn nêu lên các vấn đề cơ bản trong lĩnh vực quản lý nhà nước,

quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình trên địa bàn tỉnh, dưới góc độ là
nhà quản lý. Từ thực trạng quản lý của tỉnh Quảng Nam, nêu lên những
thuận lợi, hạn chế trong công tác quản lý và đưa ra những giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về phát thanh, truyền hình trên địa bàn
tỉnh Quảng Nam.
-


Luận án “Phát triển nguồn nhân lực phát thanh - truyền hình

Việt Nam đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế ”, tiến sĩ Kim
Ngọc Anh, Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội, 2014. Luận án tập
trung làm rõ thực trạng về nguồn nhân lực phát thanh, truyền hình ở Việt
Nam nói chung và đưa ra các đề xuất để nguồn nhân lực có thể đáp ứng
được yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế. Đây cũng là một vấn đề quan
trọng, nhằm hoàn thiện hệ thống nhân lực hoạt động trong lĩnh vực này đồng
thời góp phần đưa ra phương án xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ có
năng lực, trình độ và bắt nhịp với sự phát triển của các quốc gia trên thế giới.

5


-

Luận văn “Quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí trên

địa bàn tỉnh Bình Dương”, thạc sĩ Trần Minh Khiêm, Học viện Hành chính
quốc gia,
2020.

Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận để làm rõ quan niệm về báo

chí; quản lý nhà nước và quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí nói
chung. Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động báo chí và công tác quản lý
nhà nước đối với hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Tác giả đã
đề xuất ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước đối với hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

-

Luận văn “Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh-

truyền hình từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ”, thạc sĩ Hà Thị Lan Anh, Học
viện Khoa học xã hội, 2020. Nối tiếp luận văn của Thạc sĩ Trần Thị Bích
Uyên, tác giả Lan Anh cũng lựa chọn một khía cạnh khác khơng phải dưới
góc độ quản lý mà rộng hơn đó là thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát
thanh - truyền hình từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam. Tác giả đã thể hiện rõ việc
thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này thế nào, phân tích được những hạn
chế và nêu nguyên nhân trong thực hiện pháp luật, từ đó, đề xuất các giải
pháp để việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình ở
tỉnh Quảng Nam được hiệu quả.
-

Luận văn “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh,

trật tự, an toàn xã hội tại địa bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình ”, thạc
sĩ Lê Thị Thủy, Đại học Luật Hà Nội, 2014. Tác giả đã làm sáng tỏ một số
vấn đề lý luận về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực an ninh, trật tự, an tồn xã hội, phân tích được thực trạng, tìm ra
ngun nhân, hạn chế trong hoạt động xử phạt, đưa ra đề xuất để nâng cao
hiệu quả hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật
tự, an toàn xã hội tại địa bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

6


Các cơng trình khoa học đã được cơng bố ở trên phần nào đã đề cập
tới quản lý nhà nước trong hoạt động báo chí nói chung, vi phạm hành chính

và xử phạt VPHC. Lĩnh vực PTTH cũng có được đề cập tới dưới khía cạnh
nào đó, tuy nhiên, chưa có cơng trình nào đi sâu vào nghiên cứu một cách
toàn diện cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc xử phạt VPHC trong lĩnh
vực PTTH và đưa ra các giải pháp góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động
xử phạt VPHC trong lĩnh vực phát thanh truyền hình trên phạm vi một tỉnh/
thành phố cụ thể.
Trên cơ sở kế thừa các thành quả nghiên cứu của các cơng trình
nghiên cứu khoa học đã được cơng bố về VPHC và xử phạt VPHC, lĩnh vực
PTTH, luận văn tập trung đi sâu về xử phạt VPHC trong lĩnh vực PTTH trên
địa bàn thành phố Hà Nội trên cả hai phương diện: phương diện lý luận và
thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
-

Mục đích:

Mục đích của luận văn là nghiên cứu hoạt động xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình trên địa bàn thành phố Hà Nội
trong một số năm gần đây. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hồn thiện các
quy định của pháp luật, bảo đảm hoạt động xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực phát thanh truyền hình từ thực tiễn thành phố Hà Nội.
-

Nhiệm vụ:

+ Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về vi phạm hành chính và xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng, tìm ra nguyên nhân, hạn chế trong
hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình
trên địa bàn thành phố Hà Nội.


7


+ Đưa ra đề xuất nhằm bảo đảm hoạt động xử phạt VPHC trong lĩnh
vực phát thanh truyền hình từ thực tiễn thành phố Hà Nội
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
-

Đối tượng nghiên cứu: Việc xử phạt VPHC trong lĩnh

vực PTTH tại thành phố Hà Nội.
-

Phạm vi nghiên cứu : Trong khn khổ có hạn, Luận văn

chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản của hoạt động xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực PTTH trên địa bàn thành phố Hà
Nội, dưới góc độ khoa học Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, với số
liệu chủ yếu từ chủ thể quản lý là
Cục Phát thanh, Truyền hình và Thơng tin điện tử - Bộ Thông tin và Truyền
thông từ năm 2017 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
-

Phương pháp luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ

nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, về tuyên truyền, giáo dục thực hiện
pháp luật.

-

Phương pháp nghiên cứu : Luận văn sử dụng các phương pháp

khoa học của Luật Hiến pháp và Luật Hành chính một cách linh động, đa
dạng và cụ thể là một số các phương pháp sau:
Phương pháp so sánh, đánh giá: Phương pháp này chủ yếu nhằm đưa
ra các nhận xét, so sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật về vi phạm
hành chính, xử phạt VPHC trong lĩnh vực PTTH, đánh giá hoạt động xử phạt
qua các năm trên địa bàn thành phố Hà Nội để đúc rút khó khăn, vướng mắc
và đề xuất phương hướng giải quyết.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: phương pháp này được sử dụng
xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn. Phương pháp có tác

8


dụng hệ thống hóa các quy định pháp luật, hệ thống được các cơng trình
nghiên cứu làm tài liệu tham khảo và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về xử phạt
VPHC trong lĩnh vực PTTH, làm rõ thực trạng xử phạt trên địa bàn thành
phố Hà Nội để chỉ ra các kết quả đạt được, bất cập và nguyên nhân. Từ đó,
luận văn đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt VPHC trong
lĩnh vực PTTH.
Phương pháp nghiên cứu các tài liệu thứ cấp: Từ những nguồn tài
liệu đã có, liên quan trực tiếp và gián tiếp tới đề tài luận văn, tác giả luận văn
đã trực tiếp nghiên cứu, tham khảo các vấn đề khác nhau trong lĩnh vực phát
thanh, truyền hình như về quản lý PTTH, nguồn nhân lực PTTH, số liệu vi
phạm lĩnh vực PTTH,...Phương pháp này nhằm phục vụ cho việc tổng hợp,
phân tích những khía cạnh khác nhau trong hoạt động xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực PTTH để đưa ra những góc nhìn mới về lĩnh vực này,

đề xuất được các giải pháp phù hợp với thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
-

Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần xây dựng, làm

phong phú một số vấn đề lý luận về xử phạt VPHC trong lĩnh vực
PTTH cũng như thực tiễn xử phạt VPHC trong lĩnh vực PTTH nói
chung và địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng.
-

Ý nghĩa thực tiễn:
+ Luận văn góp phần đánh giá thực trạng vi phạm và xử phạt VPHC

trong lĩnh vực PTTH trên địa bàn thành phố Hà Nội.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm hoạt động xử phạt VPHC
trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
+ Luận văn là tài liệu tham khảo để nghiên cứu chuyên ngành và liên
ngành về xử phạt VPHC trong lĩnh vực PTTH.

9


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố cục thành 03
chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình.
Chương 2: Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phát
thanh, truyền hình trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình - từ thực tiễn thành phố Hà Nội.
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VựC PHÁT
THANH, TRUYỀN HÌNH
1.1.

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình
1.1.1. Khái niệm phát thanh, truyền hình và vai trị của phát

thanh, truyền hình
1.1.11. Khái niệm phát thanh
Phát thanh chưa có một khái niệm cụ thể, có ý kiến cho rằng: “Phát
thanh là phương tiện truyền thơng tức thì. Thính giả có thể nghe thơng tin
thời sự khắp nơi: ở nhà, ngồi phố, tại văn phịng, ngồi đồng ruộng, trên xe,
khi đi du lịch, chỉ cần một máy thu đơn giản có lắp pin là bạn sẽ được kết nối
trực tiếp với thế giới”.
Cũng có ý kiến khác cho rằng: “Phát thanh là loại hình báo chí sử
dụng ngơn ngữ âm thanh tổng hợp, bao gồm lời nói, tiếng động, âm nhạc, tác
động trực tiếp vào thính giác của đối tượng tiếp nhận. Trong ba thành tố của
ngôn ngữ phát thanh, lời nói đóng vai trị then chốt. Lời nói cung cấp thơng

1
0


tin, chuyên chở tư tưởng, khơi dậy cảm xúc, là cầu nối hữu hiệu giữa đài
phát thanh và công chúng thính giả. [33]
Hay “Báo phát thanh là loại hình báo chí sử dụng kỹ thuật sóng điện

từ và hệ thống truyền thanh, truyền đi âm thanh, trực tiếp tác động vào thính
giác của đối tượng tiếp cận”. [36]
Phát thanh chưa có một định nghĩa cụ thể trong văn bản pháp luật, tuy
nhiên, từ các cách hiểu khác nhau, ta có thể tóm lược đó là một trong những
thể loại báo chí đời đầu tiên gần gũi và thân thuộc với nhân dân trên khắp
mọi miền thế giới. Bằng cách đan dệt ngôn từ thành câu, thành bài, bằng khả
năng sử dụng giọng đọc, giọng nói truyền cảm, nhà báo phát thanh có thể vẽ
lên trong tâm trí thính giả một thế giới hiện thực vơ cùng sống động, phong
phú, có thể đưa người nghe đến bất cứ nơi đâu, gặp gỡ bất kỳ ai,...
Phát thanh tác động đến thính giả bằng âm thanh, lời nói, tiếng động,
âm nhạc và kích thích trí tưởng tượng, nhằm cung cấp những thơng tin mới
nhất, cập nhật tình hình về con người, sự vật, hiện tượng,.. .đã, đang và sẽ
xảy ra. Không chỉ ở thành thị, nơi có đầy đủ trang thiết bị, cơ sở vật chất tốt
mà ngay cả những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa thiếu thốn thì một
chiếc đài phát thanh là khơng thể thiếu đối với mỗi gia đình. Phát thanh
khơng chỉ phục vụ mục đích phục vụ cho việc thương mại, quảng cáo, chính
trị xã hội,. mà cịn phục vụ cho lợi ích chung của đơng đảo quần chúng nhân
dân. Hiện nay, dưới sự phát triển của khoa học công nghệ mới, phát thanh
ngày càng hiện đại hơn, có sự đổi mới hấp dẫn để thu hút thính giả, đặc biệt
là những người do yêu cầu công việc phải di chuyển nhiều.
1.11.2. Khái niệm truyền hình
Truyền hình là hệ thống điện tử viễn thơng có khả năng thu nhận tín
hiệu sóng và tín hiệu qua đường cáp để truyền tài hình ảnh, âm thanh và là
một loại máy phát hình truyền tải chủ yếu bằng hình ảnh sống động và âm

1
1


thanh kèm theo, máy truyền hình là máy nhận tín hiệu đó qua hệ thống thu

qua đó phát bằng hình ảnh.
Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông
đại chúng càng thêm hùng mạnh, khơng chỉ về số lượng và cịn tăng về chất
lượng. Với các ưu thế về kỹ thuật và công nghệ truyền hình đã khiến cuộc
sống thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức và phong phú hơn về nội dung.
Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải có truyền hình sóng (wireless TV)
và truyền hình cáp (CATV). Xét dưới góc độ thương mại có truyền hình
cơng cộng (public TV) và truyền hình thương mại (commercical TV). Xét
theo tiêu chí mục đích nội dung, có thể chia thành truyền hình giáo dục,
truyền hình giải trí,...
Truyền hình sóng: (vơ tuyến truyền hình- Wireless TV) được thực
hiện theo nguyên tắc kỹ thuật như sau: hình ảnh và âm thanh được mã hóa
dưới dạng các tín hiệu sóng và phát vào khơng trung. Các máy thu tiếp nhận
các tín hiệu rồi giải mã nhằm tạo ra hình ảnh động và âm thanh trên máy thu
hình (ti vi). Cịn sóng truyền hình là sóng phát thẳng, vì thế ăngten thu bắt
buộc phải ''nhìn thấy'' được ăngten máy phát và phải nằm trong vùng phủ
sóng thì mứoi nhận được tín hiệu tốt. Từ những đặc điểm kỹ thuật trên,
truyền hình sóng chỉ có khả năng đáp ứng nhu cầu của cơng chúng bằng các
chương trình cho các đối tượng; khơng có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu
hay dịch vụ cá nhân.
Truyền hình cáp: (hữu tuyến - CATV- viết tắt tiếng Anh là Community
Antenna Television) đáp ứng nhu cầu phục vụ tốt hơn cho công chúng.
Ngun tắc thực hiện của truyền hình cáp là tín hiệu được truyền trực tiếp
qua cáp nối từ đầu máy phát đến từng máy thu hình. Ngồi ra truyền hình
cáp cịn phục vụ nhiều dịch vụ khác mà truyền hình sóng khơng thể thực
hiện được.

1
2



Sự khác biệt lớn nhất giữa phát thanh và truyền hình là ở chỗ: Phát
thanh chỉ có thể tác động đến thính giác của con người thì truyền hình lại tác
động tới thị giác của con người. Trong truyền hình, cơng chúng khơng cịn
phải tưởng tượng ra bối cảnh, địa điểm, thể chất của nhân vật vì được xem
chương trình bằng cả thính giác và thị giác trực tiếp. Trên cơ sở âm thanh,
phát thanh có khả năng ảnh hưởng mạnh đến trí tưởng tượng và sự sáng tạo
nơi thính giả. Truyền hình kế thừa ở Phát thanh việc sử dụng âm thanh
(Tiếng động hiện trường, tiếng động giả, âm nhạc và giọng nói của người
dẫn chương trình.)
Có thể nói hệ thống PTTH trong cả nước hiện nay đang phát triển
nhanh cả về nội dung, chất lượng chương trình, hạ tầng kỹ thuật và phương
thức truyền dẫn, phát sóng, góp phần tích cực vào sự phát triển KT-XH của
đất nước. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh, mạnh của hệ thống PTTH đang đặt
ra những thách thức trong công tác quản lý nhà nước.
PTTH là loại hình báo chí mang tính đặc thù, đòi hỏi sự gắn kết giữa
nội dung, kỹ thuật và hạ tầng. Vì vậy, quản lý nhà nước về PTTH địi hỏi sự
thống nhất, mang tính đồng bộ cao cả về nội dung và kỹ thuật. Để PTTH
phát triển, phát huy tối đa vai trò là cầu nối giữa nhân dân với Đảng, Nhà
nước, cần tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với lĩnh vực này.
11.1.3. Vai trị của phát thanh, truyền hình
Thứ nhất, vai trò hay nhiệm vụ hàng đầu của phát thanh, truyền hình
đó chính là thơng tin.
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu cập nhật, tiếp cận thơng tin
càng cao, nên cả phát thanh và truyền hình đều đảm nhiệm trách nhiệm
không nhỏ trong việc truyền tải thông tin đến nhân dân một cách nhanh
chóng, thời sự và mới mẻ. Trong thời đại của sự bùng nổ internet, sự cạnh
tranh giữa các loại hình báo chí vơ cùng khắc nghiệt, liên quan đến sự sống

1

3


cịn của một thể loại báo chí. PTTH tương tự, sự thành công và phát triển của
PTTH phụ thuộc vào số lượng khán, thính giả, số tiền mà họ bỏ ra mua các
kênh truyền hình, sử dụng các dịch vụ của PTTH,... Đặc biệt phát thanh phù
hợp với các cộng đồng vùng sâu vùng xa và vô cùng hiệu quả trong việc tiếp
cận tới những người dân bị ảnh hưởng bởi thảm họa, trong khi các phương
tiện truyền thông khác đang bị gián đoạn. Phát thanh mặt đất cũng đóng vai
trị hữu ích trong việc cung cấp kịp thời những thơng tin thực tế và có liên
quan cho các cộng đồng đang trong vùng bị hoảng loạn, hay ảnh hưởng bởi
thiên tai. Nhanh chóng và hợp thời là hai yếu tố làm nên giá trị thơng tin báo
chí. Nếu thơng tinh nhanh và đảm bảo tính hợp thời sẽ đem lại hiệu quả tác
động lớn.
Thứ hai, vai trị cơng tác tư tưởng, tuyên truyền.
Bất cứ thông tin nào trên đài phát thanh cũng như truyền hình đều
phải phù hợp với hệ thống giá trị văn hóa và đạo lý của dân tộc. Các thơng
tin trên truyền hình nhằm vào việc định hướng dư luận, thái độ, nhận thức và
hành vi cho công chúng. Phát thanh trao cho tất cả mọi người, khơng kể
trình độ học vấn hay địa vị kinh tế xã hội những cơ hội để tưởng tượng, giải
trí và tham gia vào những cuộc tranh luận, tương tác trên kênh phát sóng.
Các chương trình nhà đài có thể là giải đáp thắc mắc, các chính sách pháp
luật, sức khỏe, những vấn đề bức xúc của cuộc sống. Từ đó, định hướng cho
thính giá một hướng đi, cách làm hay đơn giải là một lời khuyên từ chuyên
gia trong các ngành cụ thể. Truyền hình với những lợi thế đặc biệt về âm
thanh và hình ảnh có khả năng tuyên truyền, thể hiện một lượng thông tin
lớn sinh động cho khán thính giả của truyền hình và có tác dụng trong việc
giáo dục tư tưởng cho người xem, từ đó quyết định hành vi của họ. Vì thế,
thơng tin phải hết sức khách quan, trung thực, thẳng thắn để đem đến cho
khán giả nhận thức đúng đắn, phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước.


1
4


Báo chí nước ta hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của
Nhà nước, nên mọi thông tin đều phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu thông tin
của công chúng, cũng như nhu cầu tuyên truyền. Truyền hình ln bám sát
đời sống thực tiễn, tập trung phản ánh những điển hình trong xã hội, đồng
thời phê phán những tiêu cực trong xã hội.
Thứ ba, vai trò khai sáng, giải trí.
Cuộc sống càng hiện đại thì nhu cầu giải trí càng cao. Nhờ vào khoa
học kỹ thuật - cơng nghệ ngày càng hiện đại, người dân có thể ngồi tại nhà
và chọn lựa tất cả những kênh truyền hình mà họ u thích. Nếu như phát
thanh mới chỉ đáp ứng được yêu cầu về mặt âm thanh thì truyền hình đáp
ứng cả âm thanh và hình ảnh. Ca nhạc, phim ảnh. tất cả những loại hình
nghệ thuật đáp ứng nhu cầu giải trí và nâng cao kiến thức của con người.
Đây là một ưu điểm đặc biệt mà khơng phải loại hình báo chí nào cũng có
được. Chính vì vậy, mặc dù xuất hiện sau các loại hình báo chí khác nhưng
truyền hình đã nhanh chóng khẳng định được vị trí và có được một lượng
khán giả đơng đảo. Thơng qua truyền hình, sự giao lưu văn hố với các nước
trong khu vực và trên thế giới đã trở nên dễ dàng hơn. Người xem có điều
kiện mở rộng tầm mắt, cho dù ngồi ở nhà, họ vẫn được xem những hình ảnh
mới nhất, sống động động nhất về nhiều nơi trên thế giới. Đây là một yếu tố
quan trọng đối với việc phát triển văn hoá qua truyền hình.
Có thể lấy ví dụ rất đơn giản về những chương trình trị chơi truyền
hình vừa giúp khán giả giải trí, vừa cho họ có cơ hội học tập thêm như
chương trình: “Ai là triệu phú” của Đài Truyền hình Việt Nam, “Vượt qua
thử thách” của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội, “Rồng vàng” của Đài
Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh.. .đó là những chương trình trò chơi

kiến thức đang thu hút được sự theo dõi của khán giả xem truyền hình. Hiện
nay, Đài Truyền hình Việt Nam đã có những kênh chuyên biệt để tạo sự

1
5


thuận lợi cho người xem. Kênh VTV1 là chương trình thời sự, VTV2 là kênh
khoa học, giáo dục và kênh VTV3 là kênh thể thao giải trí, thơng tin kinh tế.
Khán giả xem truyền hình có thể lựa chọn bất kỳ kênh truyền hình nào họ
thích.
Thứ tư, vai trị giám sát, quản lý xã hội.
Giám sát là một trong các chức năng cơ bản của báo chí. Đảng ta quan
niệm rằng, báo chí là vũ khí sắc bén của Đảng và Nhà nước, là công cụ lợi
hại trong cuộc đấu tranh phị chính trừ tà, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước
và là diễn đàn của nhân dân. Trong Nghị quyết Trung ương 6 (khoá VIII) lần
2, Đảng ta xác định báo chí là một trong 4 hệ thống giám sát xã hội quan
trọng. Đặc thù giám sát của báo chí là giám sát bằng dư luận xã hội, bằng tai
mắt của nhân dân, mọi nơi, mọi lúc. Do đó để báo chí làm tốt chức năng
giám sát xã hội của mình, cần chú ý một số vấn đề:
-

Tuyên truyền rộng khắp trong nhân dân về đường lối chủ

trương chính sách, luật pháp của Đảng và Nhà nước.
-

Nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân để họ thực sự có thể là

người có năng lực làm chủ, tham gia tích cực các hoạt động kinh tế, văn hố,

xã hội;
-

Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở và mở rộng tiến trình dân

chủ hố đời sống xã hội, bảo đảm để mọi người và mọi tổ chức kinh tế - xã
hội đều hoạt động theo pháp luật, giữ nghiêm kỷ cương phép nước; xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
-

Nâng cao năng lực, đạo đức, phẩm chất chính trị, phẩm chất

nghề nghiệp của người làm báo.
Trong quá trình thực hiện chức năng giám sát xã hội, nhấn mạnh vai
trò đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, phanh phui các vụ việc khơng
lành mạnh ra cơng luận. Điều đó thể hiện sự bức xúc của dư luận xã hội

1
6


trong tình hình hiện nay. Tuy nhiên, chức năng giám sát được hiểu bằng cả
việc kịp thời biểu dương các hiện tượng tích cực, phát hiện cổ vũ nhân tố
mới.
1.1.2. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực phát thanh,
truyền hình
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực PTTH là một loại hành vi diễn ra
khá phổ biến trong đời sống xã hội hiện đại, bởi vậy, để phòng ngừa, ngăn
chặn một cách có hiệu quả những tác hại của những hành vi này, việc xác
định dấu hiệu đặc trưng của hành vi VPHC trong lĩnh vực PTTH là vô cùng

cần thiết. Việc xử phạt VPHC chỉ được tiến hành khi có hành vi VPHC của
cá nhân, tổ chức do pháp luật quy định.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực PTTH cũng giống như các hành vi
vi phạm hành chính nói chung. Tuy mức độ nguy hiểm thấp hơn so với tội
phạm hình sự, hành vi VPHC là những hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa tới
lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân cũng như lợi ích chung của
cộng đồng. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tội phạm nảy sinh trên các
lĩnh vực của đời sống xã hội là nếu như không được ngăn chặn ngay từ đầu
và có hình thức xử lý kịp thời. Chính vì thế, cơng tác đấu tranh trong phịng
và chống vi phạm hành chính nói chung và VPHC trong lĩnh vực PTTH nói
riêng ln được xã hội quan tâm.
Tính tới thời điểm hiện tại, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp
luật quy định về VPHC và biện pháp xử lý đối với loại vi phạm này.
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 (Pháp lệnh năm 1995),
khái niệm “vi phạm hành chính” khơng được định nghĩa cụ thể mà được
định nghĩa một cách gián tiếp, thơng qua khái niệm “xử phạt vi phạm hành
chính” tại khoản 2 Điều 1:“Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối
với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý

1
7


nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định
của pháp luật phải bị xử phạt hành chính ”. [37,tr.1]
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (Pháp lệnh năm 2002)
cũng định nghĩa “vi phạm hành chính” một cách gián tiếp, thơng qua khái
niệm “xử phạt vi phạm hành chính” tại khoản 2 Điều 1: “Xử phạt vi phạm
hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi
chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định

của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy
định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính ”. [38,tr.1]
Hiện nay, khái niệm “vi phạm hành chính” được thể hiện rõ tại khoản
1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, theo đó: “Viphạm hành
chính là hành vi có lôi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải tội phạm và theo quy định
của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính [42, tr.1]
Có thể thấy, định nghĩa về vi phạm hành chính tại các pháp lệnh năm
1995, 2002 và Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 tuy có sự khác
nhau về cách diễn đạt nhưng đều thống nhất về những dấu hiệu bản chất của
loại vi phạm pháp luật.
Trên cơ sở quy định của pháp luật chung về VPHC, có thể hiểu vi
phạm hành chính trong lĩnh vực PTTT như sau: Vi phạm hành chính trong
lĩnh vực phát thanh, truyền hình là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ
chức vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực
phát thanh, truyền hình mà khơng phải là tội phạm và theo quy định của
pháp luật phải bị xử phạt hành chỉnh.
VPHC trong lĩnh vực PTTH có đặc điểm:
-

VPHC trong lĩnh vực PTTH phải là hành vi trái pháp luật, xâm

phạm các quy tắc quản lý của nhà nước về lĩnh vực PTTH. Điều này được

1
8


hiểu, hành vi thể hiện dưới dạng hành động bị pháp luật hành chính ngăn
cấm.

-

Hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện được coi là chủ thể của

vi phạm.
-

Hành vi này đã được thực hiện (đã xảy ra) dưới dạng hành

động hoặc khơng hành động và có để lại hậu quả, chứ khơng phải chỉ tồn tại
trong ý chí hoặc dự định.
-

Hành vi này là hành vi có lỗi , do chủ thể có năng lực trách

nhiệm hành chính thực hiện.
1.1.3. Cấu thành của vi phạm hành chính trong lĩnh vực phát thanh,
truyền hình
Các dấu hiệu pháp lý và yếu tố cấu thành VPHC trong lĩnh vực PTTH,
gồm: mặt chủ thể, chủ quan, khách thể, khách quan.
- Chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực phát thanh, truyền
hình:
Chủ thể của VPHC trong lĩnh vực PTTT bao gồm: Mọi cá nhân, tổ
chức Việt Nam, hoặc cá nhân, tổ chức nước ngồi có năng lực trách nhiệm
hành chính.
Cá nhân là chủ thể vi phạm hành chính bao gồm cơng dân Việt Nam
và nước ngoài (trừ những người được hưởng ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và
lãnh sự) mà thực hiện hành vi vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt Nam,
vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp lãnh hải. Những người này có năng
lực trách nhiệm hành chính (tức là không mắc các bệnh tâm thần hoặc bệnh

khác tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của
mình) và đạt độ tuổi nhất định theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành
chính năm 2012 (từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về

1
9


mọi hành vi vi phạm hành chính, từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu
trách nhiệm hành chính đối với hành vi vi phạm do cố ý).
Chủ thể vi phạm là tổ chức: cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, các đơn
vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác
có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật.
Cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng là chủ thể vi phạm hành chính theo
quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế Việt Nam
ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Những chủ thể này VPHC trong lĩnh vực PTTH trên phạm vi lãnh thổ
Việt Nam, mà vi phạm của họ không phải là tội phạm. Vi phạm hành chính
hay tội phạm hình sự đều là hành vi vi phạm, xâm hại trật tự pháp luật được
đặt ra bởi Nhà nước. Vi phạm hành chính bị xử lý bằng các chế tài hành
chính, còn tội phạm bị xử lý bằng các chế tài hình chính.
Đa phần, xử phạt VPHC trong lĩnh vực PTTH thì lỗi thuộc về cơng ty,
doanh nghiệp, khơng mang tính chất cá nhân bởi phục vụ lợi ích chung cho
cơng ty, cho đài truyền hình, các kênh truyền hình, dịch vụ về lĩnh vực này
cho người dân, tổ chức,...
- Mặt chủ quan của vi phạm hành chỉnh trong lĩnh vực phát thanh,
truyền hình:
Thể hiện ở yếu tố lỗi của người/ tổ chức vi phạm. Lỗi là dấu hiệu pháp
lý bắt buộc của VPHC, có hai hình thức lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý.
Lỗi cố ý là người thực hiện hành vi VPHC nhận thức được tính chất

nguy hại của hành vi đối với xã hội nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hoặc để
mặc cho hậu quả của hành vi đó xảy ra.
Lỗi vơ ý thể hiện ở chỗ chủ thể khơng nhận thức được tính chất nguy
hại của hành vi mặc dù có thể hoặc cần phải nhận thức được hoặc nhận thức

2
0


được nhưng cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hậu
quả xảy ra.
Đối với riêng lĩnh vực PTTH, khi xử phạt VPHC cần xác định tổ chức
này có hành vi VPHC hay khơng và theo quy định pháp luật bị xử phạt bằng
các biện pháp xử phạt nào. Nếu như người thuộc tổ chức có hành vi VPHC
trong lĩnh vực này thì tổ chức phải chịu trách nhiệm và có nghĩa vụ chấp
hành quyết định xử phạt.
Mục đích và động cơ trong VPHC khơng phải là dấu hiệu bắt buộc
trong mặt chủ quan của mọi VPHC. Mục đích của việc VPHC là cái đích
trong ý thức của đối tượng vi phạm, hướng hành vi của mình đạt tới. Động
cơ VPHC là động lực thúc đẩy tổ chức vi phạm. Ví dụ một kênh truyền hình
đăng tin sai sự thật do không xác định đúng nguồn tin nhưng mục đích để
phục vụ cập nhật tin tức đến người dân một cách nhanh nhất, “nóng” nhất.
Nên có thể trong một số trường hợp vi phạm do thiếu thận trọng, vơ tình coi
nhẹ các nghĩa vụ pháp lý để gây ra thiệt hại. Do vậy, động cơ và mục đích
khơng là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của VPHC.
-

Mặt khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực phát

thanh, truyền hình:

Bất kì hành vi trái pháp luật nào cũng đều xâm hại tới quan hệ xã hội
được pháp luật bảo vệ, làm tổn hại, rối loạn, đe dọa sự phát triển bình
thường của các quan hệ đó. VPHC trong lĩnh vực PTTH là xâm hại đến quản
lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực PTTH đc pháp luật hành chính bảo
vệ. Vì thế, khách thể của VPHC trong lĩnh vực PTTH là quản lý về thông tin
đăng, phát truyền hình, quy định cấp phép của cơng ty hoạt động trong lĩnh
vực này,...
-

Mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực phát

thanh, truyền hình:

2
1


Mặt khách quan của VPHC trong lĩnh vực PTTH là tổng hợp các dấu
hiệu bên ngoài của VPHC, bao gồm: hành vi trái pháp luật, hậu quả và mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả cùng một số dấu hiệu khác như
công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm.
1.1.4.

Phân loại hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phát

thanh, truyền hình
Nghị định 159 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động
báo chí, xuất bản. Các hành vi vi phạm bị xử phạt VPHC trong lĩnh vực
PTTH bao gồm 05 nhóm dưới đây: [21]
-


Nhóm 1: Vi phạm quy định về giấy phép: được quy định tại

Điều 5 Nghị định 159. Các đơn vị về PTTH hoạt động khơng có giấy phép,
khơng đúng các chương trình đã đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, vi phạm các quy định về thành lập cơ quan đại diện, cơ quan thường
trú, xuất bản bản tin khơng có giấy phép, làm giả giấy tờ để hoạt động,.
-

Nhóm 2: Vi phạm quy định về nội dung thơng tin: được quy

định tại Điều 8 Nghị định 159, đăng phát tin sai sự thật, không viện dẫn
nguồn tin, không ghi rõ tác giả, tiết lộ bí mật đời tư, đăng phát thơng tin sai
gây ảnh hưởng nghiêm trọng, kích động, đồi trụy, đăng, phát thông tin xuyên
tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự, uy tín của cá nhân, tổ chức,.
-

Nhóm 3: Vi phạm về cải chính: được quy định tại Điều 10 Nghị

định 159, cải chính khơng đúng về vị trí, diện tích, thời lượng, cỡ chữ, khơng
cải chính theo đúng thời gian quy định; khơng đăng, phát nội dung kết luận
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về nội dung thông tin đã đăng, phát sai
sự thật trên báo chí.
-

Nhóm 4: Vi phạm quy định về quản lý hoạt động truyền hình

trả tiền và thu tín hiệu truyền hình trực tiếp từ vệ tinh, quy định tại Điều 16
Nghị định 159, cụ thể như: Sửa chữa, tẩy xóa giấy phép, giấy chứng nhận


2
2


trong hoạt động truyền hình trả tiền và thu tín hiệu truyền hình trực tiếp từ vệ
tinh; Hành vi cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền khơng có giấy phép,...
-

Nhóm 5: Vi phạm quy định về liên kết trong hoạt động sản xuất

chương trình phát thanh, truyền hình, quy định tại Điều 17, Nghị định 159:
Thực hiện không đúng nội dung quy định của Giấy chứng nhận đăng ký liên
kết; Hành vi không thực hiện đăng ký kênh, chương trình thời sự, chính trị;
Thực hiện hoạt động liên kết nhưng không ký hợp đồng liên kết; Thực hiện
hoạt động liên kết với đối tác không đủ điều kiện theo quy định; Thực hiện
hoạt động liên kết đối với chương trình phát thanh, truyền hình thời sự, chính
trị;
Như vậy, thơng qua 05 nhóm VPHC trong lĩnh vực PTTH, nhóm Vi
phạm quy định về quản lý hoạt động truyền hình trả tiền và thu tín hiệu
truyền hình trực tiếp từ vệ tinh chứa nhiều hành vi vi phạm nhất và thực hiện
đủ hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả. Hình thức xử
phạt nhẹ nhất là cảnh cáo, số lượng vi phạm cảnh cáo ít hơn so với quy định
các hành vi vi phạm khác. Hình thức phạt tiền bao quát mọi vi phạm với mức
độ nặng nhẹ khác nhau mà số tiền nộp phạt có giá trị từ 200.000 đồng cho tới
100.1.

000 đồng. Hình thức phạt bổ sung chủ yếu là 02 hình thức: Tịch

thu tang vật hành chính; tước quyền sử dụng giấy phép, giấy chứng
nhận. Biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm 03 biện pháp: Buộc thu

hồi số lợi bất hợp pháp; Buộc thu hồi giấy phép; Buộc cải chính, xin
lỗi.
Nghị định 119 có sự thay đổi so với Nghị định 159, các nhóm vi phạm
được bóc tách thành các nhóm vi phạm nhỏ hơn, có quy định rõ ràng các
hình thức xử phạt với từng hành vi: [22]
Nhóm 1: Vi phạm quy định về giấy phép có quy định cụ thể hơn với
lĩnh vực PTTH quy định tại Điều 5 Nghị định 119: Thay đổi biểu tượng kênh

2
3


phát thanh, kênh truyền hình nhưng khơng có văn bản chấp thuận của Bộ
TT&TT; Thay đổi thời lượng phát sóng, thời lượng chương trình tự sản xuất
của kênh phát thanh, kênh truyền hình được quy định trong giấy phép hoạt
động phát thanh, giấy phép hoạt động truyền hình, giấy phép sản xuất kênh
chương trình phát thanh trong nước, giấy phép sản xuất kênh chương trình
truyền hình trong nước; Thay đổi tên gọi cơ quan chủ quản báo chí; tên gọi
cơ quan báo chí; tên gọi kênh phát thanh, kênh truyền hình; địa điểm phát
sóng; địa điểm trụ sở gắn với trung tâm tổng khống chế; phương thức truyền
dẫn, phát sóng quy định trong giấy phép hoạt động phát thanh, giấy phép
hoạt động truyền hình nhưng khơng được Bộ TT&TT cho phép.
Nhóm 2: Vi phạm trong hoạt động cải chỉnh (Điều 10 Nghị định 119)
và Nhóm 3: Vi phạm trong hoạt động đăng, phát nội dung thông tin (Điều 8
Nghị định 119) tương tự như quy định về nội dung thông tin trong Nghị định
159, tuy nhiên số tiền phạt được quy định trong Nghị định 119 cao hơn so
với Nghị định 159, tùy từng hành vi vi phạm.
Nhóm 4: Nhóm vi phạm quy định về quản lý, cung cấp dịch vụ PTTH
(Điều 17 Nghị định 119) được tách từ Nhóm 04: Vi phạm quy định về quản
lý hoạt động truyền hình trả tiền và thu tín hiệu truyền hình trực tiếp từ vệ

tinh.
Nhóm 5: Vi phạm quy định về cung cấp kênh truyền hình nước ngồi
trên dịch vụ PTTH (Điều 18). Nhóm quy định này được tách từ Nhóm 04: Vi
phạm quy định về quản lý hoạt động truyền hình trả tiền và thu tín hiệu
truyền hình trực tiếp từ vệ tinh. Cơ bản các hành vi vi phạm không có thay
đổi nhiều, chỉ tăng về số tiền phạt, dễ dàng hơn đối với cơng tác xử phạt
Nhóm 6: Vi phạm quy định trong hoạt động liên kết báo chí (Điều 19
Nghị định 119): ngoài những hành vi vi phạm đã nêu, Nghị định mới đã quy
định các hoạt động liên kết sản xuất chương trình PT, TH trong nước và kịch

2
4


bản nước ngồi khơng được Việt hóa, khơng phù hợp với thuần phong mỹ
tục của Việt Nam cũng sẽ bị xử phạt VPHC.
Nhóm 7: Vi phạm quy định về chế độ báo cáo trong hoạt động cung
cấp dịch vụ PTTH (Điều 21 Nghị định 119), cụ thể: báo cáo, giải trình khơng
đúng nội dung, thời hạn hoặc khơng chính xác theo yêu cầu của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, không thông báo khi xuất bản phụ trương quảng cáo,
thay đổi văn phịng đại diện,...
Nhìn chung, trong thời gian chuyển giao giữa 02 Nghị định, tác giả
nghiên cứu tập trung vào Nghị định 159 bởi gắn liền với số liệu vi phạm đề
cập tại Chương 2 Luận văn cũng như những ưu điểm, hạn chế trong hoạt
động xử phạt và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xử
phạt VPHC trong lĩnh vực PTTH trong tương lai.
1.2. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phát thanh,
truyền
hình
1.2.1. Khái niệm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phát

thanh, truyền hình
Khi VPHC xảy ra, Nhà nước tiến hành áp dụng các biện pháp xử phạt
hành chính. Việc áp dụng các biện pháp xử phạt VPHC nhằm mục đích giáo
dục, răn đe các đối tượng vi phạm nói riêng và mọi người nói chung cần có ý
thức chung chấp hành tuân thủ pháp luật. Xử phạt nhằm bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, lợi ích của các cá nhân, tổ chức có liên quan, góp phần giữ vững
trật tự, an ninh, an toàn xã hội.
Xử phạt VPHC là hoạt động cưỡng chế hành chính cụ thể mang quyền
lực nhà nước, phát sinh khi có vi phạm hành chính, biểu hiện ở việc áp dụng
chế tài hành chính mang tính trừng phạt những đối tượng bị áp dụng do gây

2
5


×