PHẠM TRÙ MĨ HỌC CÁI CÁI BI
1. KHÁI NIỆM Cái bi là phạm trù mỹ học cơ bản chỉ sự thất bại hay cái chết
của cái đẹp trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng với lực lượng đối lập; là thắng
lợi của lực lượng phản động, lạc hậu trước các lực lượng cách mạng, tiến bộ; là những
hy sinh, tổn thất mà phía cách mạng phải gánh chịu trong cuộc đấu tranh với giai cấp
lạc hậu.
2. BẢN CHẤT THẨM MĨ CỦA CÁI BI
a. Cái bi là sự xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử với việc khơng đủ
khả năng thực hiện được u cầu đó trong thực tiễn. Bản chất thẩm mĩ của cái bi
là sự xung đột dẫn đến mất mát đau thương. Song, không phải mọi sự xung đột dẫn
đến mất mát đau thương đều là cái bi. Cơ sở để xem xét việc nảy sinh cái bi là sự
xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử với việc không đủ khả năng thực hiện
được yêu cầu đó trong thực tiễn (C. Mác). Như vậy, những xung đột thông thường của
đời sống không phải cơ sở nảy sinh cái bi. Chẳng hạn, những xung đột giữa những
anh chàng nghiện rượu, tranh giành đất đai để rồi chém giết nhau. Do đó, những chết
chóc đau khổ thường tình khơng nằm trong phạm trù cái bi của mỹ học. Nghệ sĩ Anh
thế kỷ XIX, John Ruskin phân biệt:Thơ chỉ có thể lên tiếng với nỗi buồn của cơ gái
khóc cho tình u trong trắng bị tan vỡ, chứ không thể viết về giọt nước mắt của kẻ
hà tiện đánh mất tiền. Ở đây có hai loại nước mắt, nước mắt cúa cái bi (nước mắt của
cô gái) và nước mắt của cái hài (nước mắt của anh chàng hà tiện). Chỉ thuộc về cái bi
những hy sinh tổn thất có ý nghĩa xã hội mang tính quy luật trong sự phát triển lịch
sử.
Bi kịch cá nhân xảy ra trong tình yêu, trong gia đình, ngồi xã hội cũng có thể là
cái bi, nếu đằng sau nó cũng chứa những xung đột xã hội, mang tầm vóc lịch sử.
Chẳng hạn bi kịch số phận Chí Phèo (trong Chí Phèo), Hămlét (trong Hămlét),
Mácbet (trong Mácbét), Lỗ Thị Phượng (trong Lôi vũ)... Các bi kịch xã hội như thoái
trào cách mạng, tổn thất lớn lao của cuộc chiến đấu của quần chúng cách mạng cũng
thuộc về cái bi. Chẳng hạn, phong trào Công xã Pari, 1871 ở Pháp.
(1). Cái bi trong xã hội
Trước hết, cái bi trong xã hội phản ánh những mâu thuẫn, sự xung đột tạm thời
nhưng chưa giải quyết được và cũng lànhững tình huống của cái đẹp, cái anh hùng,
cái cao thượng bị tiêu vong, còn gọi là bi kịch của cuộc sống. Chẳng hạn, cái chết của
Nguyễn Trãi hay còn gọi là “Vụ án vườn Lệ chi” đã tạo nên sự đồng cảm, đồng khổ
sâu sắc và to lớn của dân tộc Việt Nam. Đây là một bi kịch của lịch sử làm nhức nhối
tâm can của hàng triệu triệu con người Việt Nam. Vua Lê Thái Tơn sau khi duyệt binh
ở Chí Linh (Hải Dương), ghé thăm Nguyễn Trãi đang trí sỹ ở Cơn Sơn – thấy người tỳ
thiếp của Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ xinh đẹp có tài, bèn phong cho chức Lễ nghi
học sỹ và bắt theo hầu. Nhưng khi đến vườn Lệ Chi thuộc huyện Gia Bình thì vua đột
ngột mất. Đó vào tháng 7 năm nhân tuất 1442. Triều đình nhà Lê đã qui tội giết vua
cho Nguyễn Thị Lộ, vợ của Nguyễn Trãi, và tru di ba họ của Nguyễn Trãi. Trước
thảm kịch to lớn đó của lịch sử Việt Nam và chính ngay cả triều đình phong kiến nhà
Lê cũng khơng phải hồn tồn bất cơng. Chỉ 22 năm sau vua Lê Thánh Tông đã giải
tỏa vụ bi kịch khốc liệt đó.
Do những điều kiện lịch sử nhất định nào đó, mà cái hồn tồn mới bị thất bại,
do chưa gặp được những điều kiện lịch sử thật chín muồi để chiến thắng, Chẳng hạn
như Cơng xã Pari, của Nam kỳ khởi nghĩa.
Thứ hai, cái bi kịch của chính cái cũ chưa hết vai trị lịch sử. Nhân vật
Đơngkisốt có phần bi có phần hài. Lịng tốt của tầng lớp hiệp sỹ đã hết vai trò lịch sử
mà họ chưa chịu chấm dứt, đã nhận được sự đồng cảm, đồng khổ của lịch sử và cũng
nhận cả được tiếng cười phê phán. Bi kịch này là bi kịch của cái cũ nhưng khơng hồn
tồn cũ, chưa tiếp cận được cái mới, nên không đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ
của lịch sử. C.Mác đã đã nói về sự tiêu vong của tính bi kịch trong chế độ phong kiến
ở Anh và Pháp bởi vì nó tiêu vong khi vẫn đang còn sinh lực. C.Mác viết: “Lịch sử
của chế độ cũ là bi kịch, chứng nào nó cịn là cái quyền lực của thế giới tồn tại bao
nhiêu đời nay, còn trái lại tự do là cái tư tưởng ám ảnh một số người cá biệt, nói khác
đi chừng nào chính bản thân chế độ cũ tin và cần phải tin vào tính chất hợp lý của
nó”[1].
Thứ ba, bi kịch của sự lầm lẫn thường được nêu ra như những bài học xương
máu của đường đời, nó nhắc nhở con người một bài học cảnh giác. Chẳng hạn như An
Dương Vương mất loa thành phải giết con gái và tự tử vì mất cảnh giác. Ơtenlơ từ
một nơ lệ da đen, bằng cả cuộc đời dũng cảm và thơng minh của mình, trờ thành võ
tướng và lay động được tình yêu của một thiếu nữ da trắng, nhưng rồi đã giết người
u của mình khơng phải vì q ghen mà vì quá tin, thành ra bị kẻ địch lừa dối. Dạng
thức này chúng ta cũng thấy ở Việt Nam trong truyền thuyết về Mỵ Châu, Trọng
Thủy:
Tôi kể ngày xưa truyện Mỵ Châu
Trái tim lầm tưởng để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu
(Tố Hữu)
(2). Cái bi trong nghệ thuật
Cái bi trong nghệ thuật thể hiện ở nghệ thuật bi kịch trong lịch sử phát triển của
mỹ học, của nghệ thuật, nhưng xét cho cùng nó cũng phản ánh cái bi kịch của cuộc
sống, nhưng tùy theo những điều kiện lịch sử nhất định mà có những nội dung và hình
tượng thẩm mỹ về bi kịch cũng khác nhau.
Các nhà nghệ thuật cổ đại như Hơmerơ với thiên anh hùng ca Iliát và Ơđixê hoặc
Êsilơ với Prơmêtê bị xiềng đều có khát vọng là con người muốn nhận thức, muốn lý
giải nhưng xung đột gay gắt của cuộc sống bằng thẩm mỹ. Các anh hùng của nghệ
thuật bi kịch thời kỳ này đều mang đậm tính bi – hùng kịch thường bị thất bại thảm
thương, bị đọa đầy đau khổ, nhưng nó thể hiện tính bất tử của con người chân chính
biết hy sinh vị lợi ích của nhân dân. Chính vì vậy mà nghệ thuật bi kịch cổ đại đã biết
buộc cái chết, hy sinh để phục vụ cuộc sống.
Bi kịch thời kỳ trung cổ mang mầu sắc tôn giáo, phục vụ cho hệ thống giáo lý
nhà thời công giáo gắn với truyền thuyết phạm tội của Ông bà Ađam và Êva. Cho nên,
bi kịch phương Tây thời trung cổ khơng mỹ hố vẻ đẹp con người, mà chỉ mỹ hoá
thảm cảnh của con người, nó ca ngợi sự đau thương của con người bằng triết lý mỹ
học giả dối, ích kỷ phục vụ tôn giáo.
Bi kịch thời kỳ phục hưng là một bước tiến quan trọng, vì nó đặt ra một vấn đề
nhân sinh một cách trực tiếp. Mâu thuẫn bi kịch thời kỳ này phản ánh mâu thuẫn của
bước quá độ từ xã hội phong kiến sang chủ nghĩa tư bản. Nó xây dựng được những
mâu thuẫn điển hình giữa một bên với tính cách là những người khổng lồ muốn xố
bỏ cái cũ, muốn giải phóng con người nhất là cá nhân con người ra khỏi xiềng xích
của thần quyền tơn giáo với một bên muốn giữa lại những gì của cái cũ. Bi kịch thời
kỳ này gắn liền tên tuổi của Sếchpia với các tác phẩm nổi tiếng: Hămlét, Ôtenlô,
Rômêô và Giuyliét, Ma bét và Vua Lia.
Bi kịch thời kỳ này còn phản ánh những mâu thuẫn sâu sắc giữ lý tưởng nhân
văn, hướng về tự do muốn giải phóng con người với thực tại là con người đang rơi
vào sự trói buộc khơng chỉ của xiềng xích cũ, mà cịn xiềng xích mới đang hình thành
với những khát vọng, ham muốn tình dục tiền bạc của chủ nghĩa cá nhân mang tính
phổ biến.
Bi kịch của thời kỳ khai sáng đã hướng vào những vấn đề cơ bản của cuộc sống
nhằm giải quyết những mâu thuẫn, xung đột của xã hội. Điểm nổi bật nhất của tính
cách các nhân vật trong bi kịch thời kỳ này, là sự nồng nhiệt của những khát vọng, sự
đam mê, căm giận, kiêu hãnh, đau đớn, hy vọng, tuyệt vọng của tình yêu của tuổi trẻ.
Chẳng hạn như trong vở bi kịch: “Âm mưu và tình yêu” của Sinle là một ví dụ.
Bi kịch của phương Tây hiện đại dựa trên triết lý bi đát (chủ yếu là triết học – mỹ
học hiện sinh), để hình thành quan niệm về sự thỏa hiệp đau thương không tránh khỏi
của con người với thực tại nghiệt ngã và bạo tàn. Chính vì thế nghệ thuật phương Tây
hiện đại dựng lên những con người bị tha hoá như: con người vỡ mộng, con người
nhỏ bé. Chẳng hạn như tác phẩm “Buồn nôn”của J. Pônsắc trong mỹ học hiện sinh.
Bi kịch hiện thực xã hội chủ nghĩa lại chú trọng mối quan hệ giữa tính cách và
hồn cảnh và tính trong đại bên trong của nhân vật bi kịch. Ý thức đón nhận sự hy
sinh và tính lạc quan tin vào chiến thắng vì tư tưởng giải phóng con người và giải
phóng xã hội để xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn.
Trước hết cần khẳng định cái hài là một hiện tượng thẩm mỹ khách quan, nó là
một phạm trù nghiên cứu của mỹ học. Cái hài được xem là một trong những phương
tiện biểu hiện của tình cảm thẩm mỹ trong sự đối xứng có tính chất tương đối với cái
bi. Cái hài là tấm gương phản chiếu cái bi và ngược lại. Bên cạnh đó cái hài cịn được
thể hiện trong chức năng triết học của những hình thái ý thức xã hội bên cạnh sự mâu
thuẫn với cái bi. Cái hài có vai trị rất lớn trong mỹ học.Nó thể hiện kinh nghiệm
nhiều hình, nhiều vẻ của ý thức xã hội. Và nó phản ánh thực tiễn đời sống xã hội chủ
yếu dưới góc độ phủ định bên cạnh sự trợ giúp đắc lực của các triết lý triết học ẩn sâu
trong bản thân cái hài. Vai trò của cái hài trong đời sống xã hội lại có điểm khác hơn
so với trong mỹ học. Nó đi từ phản ánh khái quát những kinh nghiệm trong mý học
đến cụ thể xâm nhập vào từng lát cắt của đời sống. Nó trở thành phương tiện để phát
hiện những xung đột, những mâu thuẫn xã hội, giai cấp, nó là hình thái phê phán đặc
biệt có cảm xúc.Trong mỹ học, phạm trù cái hài được nghiên cứu ở cấp độ khái quát,
cấp độ ý nghĩa chung và “phổ cập chung”. Bằng cách đi vào nghiên cứu trên cơ sở
các bình diện nội hàm và ngoại diên của nó.Trong đời sống thực tiễn xã hội, cái hài
được biểu hiện rất phong phú đa dạng. Nó vừa là phương thức của cái khơi hài vừa
được bắt nguồn từ chính cơ sở khách quan là cái khôi hài. Cái hài lại một lần nữa
được chuyển tải đến đời sống bằng công cụ sắc bén là tiếng cười. Tiếng cười với
những sắc thái ý nghĩa khác nhau trong cường độ và tính chất của nó. Tiếng cười
trong vai trò biểu hiện sự giễu cợt, mỉa mai, sâu cay. Tất nhiên là có cái cười, tiếng
cười âu yếm và cũng có tiếng cười, cái cười mà thực chất khơng phải là “cười”. Nó là
lưỡi dao ngọt ngào thể hiện sự đả kích, trào phúng.
Cơ sở của cái hài cũng có thể nằm ngay trong những cái mới, cái tiến bộ , tích
cực. ví dụ như những biểu hiện đãng trí vụng về , thậm chí ngớ ngẩn của một người
tốt khiến người ta phải bật cười.
Ví dụ: Isacc Newton(1642- 1727) nhà bác học lớn của thế kỉ 18 .Một lần luộc
trứng để ăn sáng đã đảng trí bỏ luộc ln chiếc đồng hồ quả qt. Khi đến giảng
trường Đại học, lúc móc túi lấy đồng hồ để xem giờ thì hóa ra quả trứng chưa luộc,
cịn đồng hồ thì đang được nấu trong nồi trứng luộc ở nhà...
+ hình thái tiêu biểu điển hình nhất của cái hài là cái xấu, cái giả ,cái ác,về mặt đạo
đức,cái lạc hậu, tiêu cực về mặt chính trị(những cái đối lập với cái đẹp cái cao cả).
+ Tóm lại, cái hài là một phạm trù thẩm mĩ cơ bản dùng để nhận thức và đánh
giá về một loại hiện tượng của đời sống, đó là những cái xấu nhưng lại cố sức tỏ ra là
đẹp.khi mâu thuẫn này bị phát hiện đột ngột sẽ tạo ra tiếng cười tích cực, có ý nghĩa
phê phán, phủ định cái xấu nhân danh cái đẹp
+Ý nghĩa xã hội của hài hước: dùng để phê phán những thói xấu trong nội bộ
nhân dân. Tiếng cười hài hước là tiếng cười lạc quan xuất phát từ niềm tin đối với con
người.ở mức độ biểu hiện này, cái hài chưa bộc lộ ý nghĩa xã hội một cách sâu sắc.
Nó cịn có khả năng uốn nắn, sửa chữa những thói hư tật xấu của con người.
-hình thức cao nhất của cái hài là châm biếm đả kích: đối tượng của nó là kẻ thù của
cái đẹp ,là những tàn tích của cái cũ ,là những hiện tượng đã lỗi thời, tiêu cực ,phản
động khi nó tỏ ra nguy hiểm về mặt xã hội.
+Đặc điểm: tiếng cười trong trường hợp này là tiếng cười nhạo báng không
thương tiếc, là tiếng cười tố cáo, vạch trần bản chất xấu xa của đối tượng, là tiếng
cười cay độc không khoan nhượng với thái độ phê phán gay gắt, được biểu hiện thông
qua các phương tiện nghệ thuật.
+ Ý nghĩa xã hội của châm biếm, đả kích: nhằm tẩy chay, tiêu diệt các tệ nạn xã
hội, phủ định dứt khốt đối với những gì đi ngược lại với lý tưởng chính trị, đạo đức
và thẩm mỹ , tiên tiến của thời đại. đến đây, trong tiếng cười có pha lẫn niềm căm
ghét khinh bỉ. thậm chí, người ta có thể khơng cười được khi tính chất phê phán đạt
đến độ gay gắt nhất. tiếng cười trong trường hợp này thể hiện khuynh hướng xã hội
mạnh mẽ nhất.
+ Tóm lại, là những mức độ biểu hiện khác nhau của cái hài song châm biếm đả
kích cao hơn hài hước ở mức độ gay gắt và tính triệt để của sự phê phán. Nếu hài
hước thông qua sự phê phán để khẳng định phẩm chất tốt đẹp của đối tượng thì châm
biếm đả kích lại nhằm phủ định đối tượng từ trong bản chất của nó. Do vậy, ý nghĩa
xã hội mà chúng ta đem lại cũng không giống nhau.
+ Mĩ học Marx – Lê nin đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa xã hội của cái hài.
+ Thông qua việc phát hiện mâu thuẫn, tiếng cười trong cái hài có ý nghĩa xã hội
vơ cùng sâu sắc, và đó là tiếng cười tích cực, đem lại niềm vui, sự sảng khoái và sức
khỏe cho con người, là sự khẳng định những phẩm chất trí tuệ, đạo đức và năng lực
thẩm mĩ cao của con người.
+ Cái hài còn là một hình thức phê phán đặc biệt, phê phán bằng cảm xúc sáng
tạo tích cực, nhằm Phủ định cái xấu, cái cũ ,cái lạc hậu và khẳng định cái tốt,cái tích
cực. Cái cười chân chính bao giờ cũng thuộc về kẻ mạnh, thuộc về lực lượng chính
nghĩa. cái hài lại có ý nghĩa xã hội sâu sắc, có vai trò quan trọng trong việc giáo dục
tư tưởng, đạo đức và thẩm mĩ cho con người.
4. Cái hài trong cuộc sống và trong nghệ thuật
- Cái hài có mặt từ rất sớm trong xã hội loài người, xuất hiện đầu tiên trong
những hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian (folklor) của xã hội tiền giai cấp.
+ Cái hài trong cuộc sống: Trong cuộc sống, cái hài nảy sinh trong cuộc đối đầu
giữa cái đẹp với cái xấu.. Khi xã hội đang cịn cái xấu thì cái hài đang cịn lí do dể
xuất hiện.
+ Cái hài trong nghệ thuật: cái hài trong nghệ thuật là sự phản ánh cái hài trong
cuộc sống nhưng ở dạng tiêu biểu, tinh túy và ổn định hơn. Trong hầu hết các loại
hình nghệ thuật cái hài đều có mặt (chỉ trừ kiến trúc là một ngoại lệ). chẳng hạn :
tranh châm biếm đả kích trong hội họa, hài kịch trong sân khấu, thơ trào phúng,
truyện tiếu lâm trong văn học, phim hài trong điện ảnh... trong đó, hài kịch trong sân
khấu là một thể loại thể hiện được mọi đặc trưng bản chất của cái hài ở dạng điển hình
nhất.
“Cũng cờ,cũng biển, cũng cân đai.
Cũng gọi ơng nghè có kém ai
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng
Nét son điểm rõ mặt văn khôi
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá khoa danh thế mới hời
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh choẹ
Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi”
“Nguyễn Khuyến”
Nghệ thuật có khả năng thâm nhập sâu vào bản chất của cái hài, tập trung tô
đậm, khắc sâu những mâu thuẫn mang tính hài, khiến cho nó nổi bật hơn, tiếng cười
vì vậy nổ ra giịn giã, khối trá hơn, ý nghĩa phê phán cũng vì vậy mà thâm thía sâu
sắc hơn.
Vẻ đẹp đời sống mn hình vạn trạng. Đó là cái đẹp trong thiên nhiên, trong xã
hội và bản thân chủ nhân của thiên nhiên, xã hội – con người. Thiên nhiên là nơi khởi
nguyên của cái đẹp. Vẻ đẹp thiên nhiên là thước đo đầu tiên của vẻ đẹp trong đời
sống và trong nghệ thuật. Bản thân mối quan hệ mật thiết giữa thiên nhiên và nghệ
thuật đã khẳng định vai trò của cái đẹp trong tự nhiên. Từ bao đời nay, thiên nhiên là
một trong những đối tượng thể hiện hấp dẫn nhất của nghệ thuật. Đọc Truyện Kiều,
liệu có ai khơng nhớ câu thơ diễn tả cảnh đẹp mùa thu này:
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng
Cảm hứng nghệ thuật bắt nguồn từ đất trời, sông núi, cỏ cây, hoa lá… thật vô
cùng tận. Biết bao kiệt tác nghệ thuật được khởi nguồn từ đó. Và khơng chỉ có như
vậy, chính vẻ đẹp thiên nhiên đã từng là thước đo ban đầu của nghệ thuật. Đây chính
là cơ sở của quan niệm “bắt chước” khi giải thích bản chất của nghệ thuật trong các
học thuyết mỹ học Hy Lạp thời cổ đại. Âm nhạc là sự “bắt chước” âm thanh tự nhiên
của chim chóc, sơng suối… Hội họa thì là sự “bắt chước” sắc màu và đường nét của
cây cối, động vật…
Cái đẹp trong xã hội vơ cùng phong phú, đó là cái đẹp trong đời sống hàng ngày,
trong lao động và trong đấu tranh. Không nên xem thường cái đẹp bình dị hàng ngày
của cuộc sống đời thường. Một hành vi, một lối cư xử, một nếp sống, một thói quen…
trong gia đình và nơi cộng cộng đều cần được đánh giá theo tiêu chuẩn của cái đẹp.
Và cuộc đời của mỗi người cũng như cuộc sống của mỗi cộng đồng sẽ có ý nghĩa biết
bao nếu ở đâu, vào thời điểm nào, cái đẹp cũng luôn ngự trị trong ý thức cũng như
trong thực tế. Văn hóa thẩm mỹ chỉ được phát triển trong môi trường thẩm mỹ lành
mạnh và phong phú. Song nếu lao động là thước đo giá trị của con người, là tiêu
chuẩn xem xét ý nghĩa của một đời người thì cái đẹp thơng qua quá trình lao động và
ở thành quả lao động cần được đặc biệt coi trọng.
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm
(Hồng Trung Thơng)
Con người càng được tự do thì lao động càng khơng là việc làm khổ sai, nặng
nhọc. Họ tích cực tự giác cải tạo thiên nhiên vì mục đích của chính con người. Vẻ đẹp
trong lao động tạo ra những sản phẩm tinh thần cũng như vật chất khi ấy càng có điều
kiện lung linh chói sáng. Đấy là lý do giải thích vì sao mỹ học hiện đại lại tập trung
nghiên cứu mặt thẩm mỹ trong lao động nhiều đến như vậy. Tuy nhiên, muốn vươn
tới tự do, con người khơng chỉ cần được giải thốt ra khỏi sự lệ thuộc vào tự nhiên.
Nhiều thế lực và mối ràng buộc xã hội khác nhau luôn đe dọa con người, khiến con
người phải đứng lên giành và giữ cuộc sống và khát vọng tự do của mình.
Trên đời ngàn vạn điều cay đắng
Cay đắng chi bằng mất tự do
(Hồ Chí Minh)
Vẻ đẹp nảy sinh trong quá trình và thành quả đấu tranh xã hội chân chính xưa
nay được mỹ học đặc biệt đề cao. Vẻ đẹp khơng thể đứng ngồi cuộc xung đột giữa
chân và ngụy, thiện và ác, chính và tà. Đó cũng là sự khác biệt chủ yếu giữa cái đẹp
trong xã hội và cái đẹp trong thiên nhiên. Nói khác đi, nếu cái đẹp là một phạm trù giá
trị, thì giá thị thẩm mỹ trong đời sống của con người bao giờ cũng gắn chặt với giá trị
chính trị, giá trị nhận thức và giá trị đạo đức. Cái đẹp không bao giờ tách ra khỏi cái
tiến bộ, cái chân và cái thiện là vì thế!
Tiêu biểu cho vẻ đẹp trong xã hội là vẻ đẹp nơi con người. Tục ngữ có
câu “Người ta là hoa đất”. Nhà thơ dân tộc Giáy là Lị Ngân Sủn thì viết:
Người đẹp là ước mơ
Treo nước mắt mọi người…
Vẻ đẹp có ở khn mặt, vóc dáng, hình hài nơi con người. Thật may mắn cho
những người được trời phú cho một vẻ đẹp bề ngoài hấp dẫn. Câu “Cái nết đánh chết
cái đẹp” chỉ đúng khi có sự đắn đo, cân nhắc giữa “sắc” với “tài” và “đức”. Cịn
nhìn chung, khơng một ai có trí tuệ lành mạnh tích cực lại xem nhẹ vẻ đẹp của thân
xác con người. Những trí tuệ lành mạnh tích cực đồng thời đề cao vẻ đẹp của phẩm
chất bên trong con người. Trong trường hợp này, đi cùng với cái đẹp là cái duyên. Vẻ
đẹp bề ngồi có thể phơi phai theo năm tháng, riêng cái dun thì ít bị biến đổi hơn
nhiều.
Tất cả vẻ đẹp của thiên nhiên, xã hội và con người được tập trung trong nghệ
thuật – nơi hội tụ của cái đẹp. Đã đành ở đâu và trong bất cứ lãnh vực nào, con người
cũng mong muốn “sáng tạo theo quy luật của cái đẹp”. Song chỉ trong nghệ thuật,
con người mới có dịp tiếp xúc với cái đẹp rõ rệt và thường xuyên hơn cả. Vì đây là
một lĩnh vực sản sinh ra cái đẹp một cách có ý thức nhất, chuyên biệt nhất. Cái đẹp
trong tác phẩm nghệ thuật mang vẻ hoàn thiện, đẹp cả về nội dung lẫn hình
thức. Trong nội dung tác phẩm, dễ thấy hơn là đối tượng đẹp (con người đẹp, môi
trường đẹp, cảnh trí đẹp…). Thể hiện cái xấu cũng nhằm hướng tới cái đẹp.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng
Nét son điểm rõ mặt văn khơi
(Nguyễn Khuyến)
Mỉa mai “tiến sĩ giấy”, có danh mà khơng có thực, là một cách khẳng định vẻ
thực chất vốn xa lạ với mọi sự khoa trương, trống rỗng ở đời. Sâu xa hơn trong nội
dung tác phẩm nghệ thuật là vẻ đẹp tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ gửi gắm qua
hình tượng. Nghệ thuật khơng chỉ giải thích thế giới, nghệ thuật cịn nâng cao tầm
nhìn, mài sắc cái nhìn của con người vào thế giới. Tấm lòng và suy nghĩ của người
nghệ sĩ mới đáng nói và đáng chia sẻ hơn tất cả. Đó cũng là đặc điểm dễ thấy của cái
đẹp nghệ thuật so với cái đẹp ngoài đời sống. Tiếp xúc với cái đẹp trong nghệ thuật
con người không thể dửng dưng, ấy là bởi vẻ đẹp trong nghệ thuật thấm đậm cảm xúc
và tư tưởng của nhà sáng tạo. Cái đẹp trong nghệ thuật đặc biệt được bộc lộ qua chất
liệu và qua cách thức thể hiện nội dung. Trong nghệ thuật, nói cái gì cố nhiên là quan
trọng. Nói như thế, bằng cách nào quan trọng cũng khơng kém. Hồn tồn khơng
giống với các sản phẩm vật chất và tinh thần khác, tác phẩm nghệ thuật phải ngời tỏa
vẻ đẹp hình thức. Hiệu quả nghệ thuật tùy thuộc vào lao động nghệ thuật say mê và
cực nhọc. Tính hồn thiện hồn mỹ bao giờ cũng là mục tiêu phấn đấu của người
nghệ sĩ. Nhờ thế mà tác phẩm nghệ thuật chân chính mới sống mãi cùng thời gian.
Cha mẹ sinh ra nàng
Gọi nàng là người con gái
Nghệ thuật sinh ra nàng
Gọi nàng là Thần vệ nữ
Nàng sinh ra lần thứ nhất – để chết
Nàng sinh ra lần thứ hai – để sống mãi
(Lò Ngân Sủn)
Vậy là, khơng thể nói đến cái đẹp mà qn nói đến nghệ thuật. Tuy nhiên, cái
đẹp và nghệ thuật khơng phải là một. Cái đẹp khơng phải chỉ có trong nghệ thuật và
nghệ thuật khơng phải chỉ có nhiệm vụ sáng tạo ra cái đẹp. Đồng nhất giữa cái đẹp và
nghệ thuật sẽ sai lầm khơng kém việc hồn tồn tách biệt chúng, khơng thấy mối liên
hệ giữa chúng.
3. Cái cao cả, cái bi, cái hài
3.1. Cái cao cả
Hiện trong tiếng Việt có nhiều tên gọi khác nhau cho cùng một thuật
ngữ “sublime”. Mỗi cách gọi có mặt “ưu”, mặt “liệt” riêng. Giáo trình này gọi là “cái
cao cả”.
Cũng như cái đẹp, cái cao cả là một phạm trù thể hiện đối tượng thẩm mỹ khá
rộng rãi. Cái cao cả có trong các hiện tượng và q trình của tự nhiên, xã hội, con
người và nghệ thuật. Gần gũi với cái đẹp, cái cao cả có những phẩm chất và thuộc
tính gợi nên những cảm xúc tích cực và lành mạnh. Đó là cơ sở khiến Hegel gọi cái
cao cả là cái đẹp ở mức tuyệt đỉnh. Song muốn nhận biết ra bản chất của cái cao cả
không thể khơng chỉ ra sự khác biệt của nó với cái đẹp. Cái cao cả không giống cái
đẹp ở cả hai phương diện đối tượng và chủ thể. Về mặt đối tượng thẩm mỹ, cái cao cả
thường là những sự vật, hiện tượng, quá trình khách quan có tính khác thường. Có khi
chúng mang tầm vóc to lớn như biển động dữ dội trong giông bão, chiến công lẫy
lừng giành và giữ nền độc lập của nước nhà… Nhiều khi chúng có tính hào hùng, kỳ
vĩ như câu nói của Hồ Chí Minh “Khơng có gì quý hơn độc lập tự do”, hay lời tự bào
chữa của Phidel Castro “Lịch sử sẽ xóa án cho tơi”… Lại có khi chúng ẩn chứa vẻ
siêu việt, tao nhã như tình yêu giữa Marx và Gieny, sự thanh cao của ngơi Chùa một
cột… Về phía chủ thể thẩm mỹ, cái cao cả thường gợi lên những cảm xúc choáng
ngợp, ngưỡng vọng, sùng bái, đơi khi có phần chới với, bối rối và lo sợ. Sắc thái của
cảm xúc tùy thuộc vào tính chất của cái cao cả. Chẳng hạn, trước con người và cuộc
đời cao đẹp và trong sáng của Hồ Chí Minh, nhà thơ Tố Hữu từ sâu thẳm lịng mình
đã thốt lên :
Bác sống như trời đất của ta
Rồi:
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Phải dùng phép so sánh và lời nói như vậy mới diễn tả được phần nào vóc dáng
và phẩm chất của một nhân vật lịch sử đã đi vào huyền thoại, đã hoàn tồn chinh phục
được trái tim và khối óc của bất kỳ ai có lương tri trên trái đất này.
Rõ ràng, không nên đối lập cái cao cả và cái đẹp. Cũng khơng nên đồng
nhất chúng với nhau. Xóa nhịa ranh giới giữa cái cao cả và cái đẹp sẽ có nguy cơ làm
mất đi vẻ lạ lùng, siêu phàm của khơng ít hiện tượng và q trình của thực tế vốn là
cơ sở của đầu óc lãng mạn, của khát vọng cao đẹp nơi con người. Trái lại, việc đào
sâu hố ngăn cách giữa chúng lại dễ tạo ra thái độ ghê sợ, thậm chí khuất phục trước
những cái phi thường, kỳ vĩ trong đời sống và nghệ thuật. Sẽ hồn tồn khơng thuyết
phục nếu hạn chế lịng đam mê hướng thượng, thủ tiêu đầu óc táo bạo trong sáng tạo
và ước mơ, hoặc đẩy con người vào thế bị động, thu mình trước quyền uy của các lực
lượng tự nhiên siêu phàm và các thế lực lớn lao của xã hội. Điều này nói lên ý nghĩa
to lớn của cái cao cả trong đời sống thẩm mỹ và rộng ra trong đời sống tinh thần của
con người và xã hội.
Dựa vào tính chất của đối tượng thẩm mỹ và sắc thái của cảm xúc thẩm mỹ có
thể thấy cái cao cả tồn tại trong một số hình thái cơ bản sau:
Cái cao cả thanh cao
Đối tượng thẩm mỹ ở đây thường không nhất thiết phải to lớn, hùng vĩ, nhưng
bên trong lại hàm chứa một vẻ đẹp hoàn toàn tinh khiết và trong sáng. Ví như: căn
nhà sàn dùng làm nơi ở và làm việc của Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Ta không thể
không bùi ngùi cảm động khi dừng chân lại nơi đây. Mọi thứ trong ngôi nhà nhỏ nhắn
linh thiêng này đều phảng phất lối sống Đơng phương hịa quyện với thiên nhiên, đều
gợi nhớ đến cuộc đời bình dị hết lịng vì hạnh phúc của người khác.
- Cái cao cả huy hoàng
Đối tượng thẩm mỹ trong trường hợp này thường đồ sộ mang vẻ đẹp kỳ vĩ, tác
động mạnh tới tư tưởng và tình cảm của con người. Chẳng hạn: bình minh của một
ngày đẹp trời trên bãi biển Nha Trang. Trời cao rộng. Biển mênh mông. Một màu
xanh bích ngọc trải ra phía trước. Rồi mặt trời từ từ hiện ra ở đằng đông, tỏa muôn
ánh sáng rỡ ràng, chiếu rọi mn vật. Chứng kiến cảnh tượng chói lọi, bao la của biển
trời như vậy con người không thể không dâng trào một niềm cảm xúc lớn lao.
- Cái cao cả rợn ngợp
Đối tượng thẩm mỹ ở đây thường là những cảnh tượng, những biến động ghê
gớm của tự nhiên: cánh rừng già trầm lặng, mặt trời chói sáng, biển động dữ dội…
Trước cái cao cả rợn ngợp, con người thường nảy sinh ra cảm giác choáng ngợp và
lúng lúng. Cố nhiên, khơng có sự mất mát hoặc chết chóc. Nếu khơng, cái cao cả sẽ
vượt ra khỏi ranh giới đời sống thẩm mỹ.
Cái cao cả thán phục
Đối tượng thẩm mỹ trong trường hợp này là những hành động anh hùng, những
phẩm chất cao đẹp của con người trong những hoàn cảnh thật đặc biệt. Cái cao cả ở
đây thường gợi nên cảm xúc khâm phục, sùng bái nơi chủ thể thẩm mỹ. Ví dụ: hình
ảnh anh Trỗi nơi pháp trường. Đó là “cái chết hóa thành bất tử” là “những lời hơn
mọi bài ca” của “con người như chân lý sinh ra” (thơ Tố Hữu).
Cần nhấn mạnh là sự phân chia cái cao cả như trên chỉ là tương đối. Trong thực
tế, các hình thái khác nhau của cái cao cả gắn bó thậm chí hịa trộn vào nhau đến mức
khó tách rời.
3.2. Cái bi
Trong kịch bản văn chương có một thể tài xây dựng trên thuộc tính của cái bi –
đó là bi kịch. Song bản chất của cái bi với tư cách là một phạm trù thẩm mỹ bao quát
hơn nhiều.
Mặc dù có một vài phẩm chất gần gũi với cái đẹp, cái bi hoàn toàn khác biệt với
cái đẹp. Nếu cái đẹp tồn tại ở mọi lãnh vực thì cái bi chỉ có trong xã hội, chủ yếu
trong nghệ thuật. Riêng đối với nghệ thuật, có thể tìm thấy cái đẹp ở cả nội dung lẫn
hình thức của tác phẩm thì cái bi chỉ có ở mặt nội dung. Cái đẹp gắn liền với cảm xúc
êm dịu, thỏa mãn, vui tươi. Trong khi cái bi đi liền với mất mát, hy sinh gợi cảm xúc
đau buồn, thương tiếc nơi con người.
Tuy nhiên, không phải sự đau thương, mất mát nào cũng mang tính bi. Cái chết
của một kẻ đê tiện, sự thất bại của một phong trào phản quốc, việc tình u vị kỷ bị
tan vỡ… khơng làm cho chúng ta rơi lệ trong sự cảm phục và xót thương. Chỉ có
những tài năng lớn bị vùi dập, nhân cách cao thượng bị xúc phạm, khát vọng đẹp đẽ
bị đổ vỡ… mới gợi nên những cảm xúc gắn liền với bản chất của cái bi. Trong những
hoàn cảnh nảy sinh ra cái bi con người phải huy động mọi sức mạnh tinh thần và vật
chất tiềm ẩn trong mình, vượt qua mọi khó khăn và trở ngại trên đường dẫn đến mục
đích cao cả vì sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, cái đúng trước cái sai… Song
do những điều kiện chủ quan, nhất là những điều kiện khách quan, các nhân vật hiện
thân của cái bị chưa thể thành đạt và chiến thắng. Sự hủy diệt, thất bại ở những trường
hợp này tạo ra nỗi cảm thông, khâm phục sâu sắc. Rõ ràng từ bản chất cái bi gắn bó
với cái đẹp, cái cao cả và cái anh hùng.
Nói khác đi, cái bi chính là cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng trong mối xung
đột với những thế lực đối kháng. Khơng có xung đột giữa tự do và tất yếu sẽ khơng có
cái bi. Mối xung đột càng quyết liệt thì tính bi càng tăng và nỗi cảm thơng càng lớn.
Có cái bi cá nhân, đồng thời có cái bi lịch sử, cái bi cá nhân gắn với những xung đột
dẫn tới sự mất mát khổ đau của một người. Cái chết Nguyễn Trãi trong lịch sử là một
bi kịch cá nhân:
Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu
Tiếng gươm khua, tiếng thơ kêu xé lòng
(Tố Hữu)
Cái bi lịch sử gắn với những xung đột dẫn tới sự thất bại của cả một phong trào,
một lực lượng. Cuộc vận động cách mạng do các chí sĩ yêu nước lãnh đạo hồi đầu thế
kỷ là một ví dụ.
Ông cha ta từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời
Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa
(Chế Lan Viên)
Có điều loại bi nào, dầu là cá nhân hay lịch sử, cũng đều cần thấm nhuần tinh
thần xã hội rộng rãi. Xưa nay khơng ít người đi tìm nguồn gốc của những xung đột
gây ra cái bi. Có người tin vào định mệnh, số phận. Ấy là khi con người chưa đủ khả
năng lý giải cái bi từ những mối xung đột có thật ngồi đời. Họ khó tránh khỏi quan
điểm duy tâm. Các nhà duy vật thì khác hẳn. Họ nhận thấy nguyên do của cái bi từ
mối quan hệ đối kháng trong xã hội và từ những sức mạnh hủy diệt chưa khống chế
nỗi ngoài tự nhiên. Chính đây là cơ sở sinh ra “bi kịch lạc quan” trong cuộc sống
cách mạng và nghệ thuật cách mạng một thời. Cuộc đấu tranh vì những mục tiêu cao
cả và lớn lao không thể không căng thẳng và quyết liệt. Sự hy sinh, mất mát là khó
tránh khỏi. Trong nhiều tình huống bi kịch, con người bình thản đón nhận cái chết,
trong lịng hồn tồn tin tưởng vào thắng lợi tất yếu mai sau. Họ hiểu rõ giá trị của sự
đổ máu, hy sinh. Họ không mảy may buồn đau, run sợ. Ý nghĩa của “bi kịch lạc
quan” thật vô cùng to lớn.
Không riêng “bi kịch lạc quan”, cái bi nói chung bao giờ cũng có tác dụng khơi
dậy những tình cảm lành mạnh, kích thích những hành động mãnh liệt nhằm tích cực
cải tạo hồn cảnh, thúc đẩy cuộc sống đi về phía trước. Ý nghĩa giáo dục của cái bi
đặc biệt rõ rệt trong nghệ thuật. Khả năng “thanh lọc hóa” (catharsis) tâm hồn người
xem bi kịch đã được Arixtote nói tới từ lâu.
Ngồi ý nghĩa giáo dục, cái bi cịn có ý nghĩa nhận thức sâu sắc. Cái bi giúp cho
con người nhìn nhận cuộc sống với tất cả sự phong phú, phức tạp có thực của nó.
Khơng nên né tránh mâu thuẫn. Sự phát triển là gì nếu khơng phải là việc giải quyết
mâu thuẫn để tạo lập một thế cân bằng mới cao hơn. Với ý nghĩa ấy, trong xã hội phát
triển của tương lai, cái bi vẫn cịn có cơ sở xuất hiện. Khát vọng chinh phục thế giới ở
con người là vô hạn. Nhưng, đáng tiếc thay, khả năng để làm việc đó ở con người vào
một thời điểm nhất định lại chỉ có hạn mà thơi.
3. Cái hài
Cũng như cái bi, cái hài là một phạm trù thẩm mỹ chỉ có trong xã hội và trong
nghệ thuật. Tuy vậy, phạm vi thể hiện của cái hài cũng khá rộng. Văn hào người Pháp
Mơlie coi tình cảm và năng khiếu hài hước là một trong những đặc điểm quan trọng
nhất tạo nên sự khác biệt giữa người và vật. Không phải ngẫu nhiên mà những người
thông minh và từng trải lại ưa cời cợt, ngay cả khi họ rơi vào những tình cảnh chẳng
đáng cười chút nào. Họ chế nhạo người, và có khi họ chế nhạo chính mình dưới hình
thức tự trào. Đặc biệt, khơng có loại hình nghệ thuật nào lại khơng có thể loại hài.
Trong thơ thì có thơ trào phúng, đả kích; trong truyện có truyện cười, truyện tiếu lâm;
trong hội họa có tranh vui, tranh biếm họa, tranh đả kích; cịn trong sân khấu thì có
hài kịch, kịch vui… Cái hài góp phần làm tăng thêm vẻ sinh động và hấp dẫn của
nghệ thuật đối với con người.
Khác với cái bi, cái hài thuộc phạm trù thẩm mỹ tiêu cực. Đối tượng của cái hài
thường là những hiện tượng lố lăng, kệch cỡm, những sự trống rỗng, hình thức, những
kẻ xuẩn ngốc, hợm hĩnh… Đó là những cái xấu nhưng không tự biết và tự nhận là
xấu, lắm khi lại đội lốt cái đẹp, cái hùng. Thái độ trước cái hài là sự chế nhạo, khinh
khi. Chủ thể cảm thụ thẩm mỹ bật cười để chứng tỏ mình ln tỉnh táo làm chủ được
tình huống và có thể tách mình ra khỏi cái đáng cười. Nhờ thế mà con người trở nên
khơn ngoan và có sức mạnh hơn.
Cái hài vậy là bao giờ cũng gắn với cái cười: có khi là tiếng cười phá lên sảng
khối, hả hê và thích thú, nhiều khi đó lại là tiếng cười nụ, cười mỉm – thâm trầm,
chua cay và sâu sắc.
Muốn gây cười cần phải có đối tượng cười và chủ thể cười. Để trở thành đối
tượng cười, mọi hiện tượng khách quan phải có mâu thuẫn theo nghĩa là khơng cân
xứng, khơng hài hịa. Mâu thuẫn ở nhiều dạng: mâu thuẫn giữa bên trong và bên
ngoài, giữa các yếu tố bên trong với nhau. Mâu thuẫn tồn tại khách quan, và khi chủ
thể cười nhận ra mâu thuẫn thì cái cười xuất hiện.
Có điều, khơng phải cái cười nào cũng mang tính hài. Khi được thỏa mãn một
điều gì, người ta có thể cười. Đó cái cười sinh lý, bản năng. Cái hài là cái cười đi liền
với nhận thức, thấm nhuần trí tuệ. Do vậy ở những mức độ khác nhau, cái hài bao giờ
cũng có ý nghĩa xã hội rộng rãi. Đối với kẻ thù của giai cấp, của dân tộc và của tiến
bộ, cái hài trở thành vũ khí sắc bén. Đối với thói hư tật xấu trong nội bộ mình, cái hài
lại là cơng cụ giáo dục hữu ích, khơng thể thiếu. Trong thực tế, khơng phải ai cũng
thấy được sức mạnh của cái hài. Nhiều người sống quá nghiêm túc. Họ tự bỏ rơi một
trong những phương tiện để sống vui vẻ, lương thiện và thơng minh hơn. Cũng có
người ưa những nụ cười rẻ tiền, dễ dãi. Việc gia tăng chất trí tuệ và khuynh hướng xã
hội trong tiếng cười cần trở thành ý thức thường trực của mỗi người nhất là đội ngũ
văn nghệ sĩ, nếu chúng ta thực tâm mong mỏi cái hài ngày một sắc bén, giàu ý nghĩa.
Căn cứ vào tính chất của mâu thuẫn gây cười có thể chia thành nhiều kiểu dạng
hài khác nhau. Có hai loại chính:
- Cái hài đối kháng: Xuất hiện ở những thế lực thù địch với lợi ích giai cấp, dân
tộc hoặc đi ngược lại với xu hướng hịa bình và tiến bộ xã hội.
- Cái hài không đối kháng: Nảy sinh trong nội bộ cộng đồng với tất cả những
biểu hiện đa dạng và tinh tế của nó.
Nếu cái cười ở trường hợp đầu mang khuynh hướng chối bỏ thù nghịch, thì cái
cười ở trường hợp sau lại có xu hướng nâng đỡ và nhiều lúc nước mắt trào rơi ngay
khi nụ cười vừa tắt. Cái hài gắn với cái bi trong tiếng cười ra nước mắt.
Tương ứng với cái hài đối kháng và khơng đối kháng ngồi đời sống là hai hình
thức đả kích và châm biếm của cái hài trong nghệ thuật. Nhìn chung đả kích thường
dùng cho kẻ thù, cịn châm biếm thì dành cho nội bộ mình. Tuy nhiên, sắc điệu hài
phong phú hơn nhiều. Có người cịn nói tới cái hài hước, cái dí dỏm nghĩa là những
tiếng cười nhẹ nhàng, thoải mái hơn sự châm biếm. Nghệ thuật do đòi hỏi của cuộc
sống và của cơng chúng mà ln có chỗ đứng cho mọi sắc thái hài khác nhau. Không
nên xem thường hoặc bỏ qua cái hài hước, cái dí dỏm. Nhưng cũng nên coi trọng sử
dụng những tiếng cười mạnh mẽ, đích đáng.
Thơng qua tiếng cười
Bạn hãy nhìn và học
Căm ghét kẻ thù
Tới tận đáy sâu
(Maiacôpxki)
Trọng trách đè lên vai các nghệ sĩ. Vinh quang lớn cũng đi liền với chức phận
nặng nề.
Bản chất của nghệ thuật
nghệû thuật là một hình thái ý thức xã hội thuộc thượng tầng kiến thức, nảy sinh
từ cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định, đồng thời, có tác dụng năng động với cơ
sở hạ tầng. Xem nghệû thuật là một hình thái ý thức xã hội thuộc thường tầng kiến
trúc và lý giải nó trong mối quan hệ biện chứng giữa cơ sơ hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng, lần đầu tiên trong lịch sử mỹ học nhân loại, mỹ học Mác -Lê nin đã đem
đến cho nhân loại một kiến giải duy nhất đúng đắn về bản chất của nghệ thuật. Và,
cũng chính nhờ quan niệm đúng đắn và khoa học đó, mỹ học Mác- Lê nin đã có khả
năng thâm nhập sâu vào bản chất, quy luật, đặc trưng của nghệ thuật.