Bài học kinh nghiệm phát triển du lịch tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
MỘT SỐ KHUY N NGHỊ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI
CÁC VƢỜN QUỐC GIA VÀ CÁC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
TS. HUỲNH VĂN KÉO
Chủ tịch Hội KHKT Lâm nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo chủ trương của nhà nước Việt Nam và xu hướng quốc tế về phát triển du lịch trong rừng đặc dụng
(RĐD) là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, có tính giáo dục về mơi trường, góp phần bảo
tồn thiên nhiên và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực vai trị cộng đồng điạ phương. Do vậy, nếu trong
quá trình tổ chức nếu chúng ta chưa thấy rõ mối quan hệ giữa phát triển du lịch với bảo tồn, vơ tình sẽ đánh mất cái
giá trị to lớn của giá trị bảo tồn đa dạng sinh học mà trách nhiệm của những nhà quản lý khó có thể bồi hồn lại
hàng thập kỷ sau.
Thực trạng phát triển DLST các khu RĐD, theo thông kê đến cuối năm 2017, có 61 khu rừng đặc dụng
có tổ chức các hoạt động DLST (trong đó có các 25/34 VQG, 36/133 KBTTN), với các hình thức tự tổ chức 37
khu, liên kết, liên doanh 11 khu và cho thuê mơi trường rừng 13 khu và đón tiếp được khoản 1.575.000 lượt khách.
Tuy nhiên, qua kiểm tra, trong quá trình tổ chức các hoạt động DLST, hầu hết các khu RĐD kể cả đơn vị trực thuộc
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và trực thuộc địa phương chưa thực hiện theo đúng quy định của Nghị
định 117/NĐ của Chính phủ và Thơng tư 78/TT-BNNPTNT của Bộ Nơng nghiệp và Phát triển nông thôn. Hầu hết
công tác lập quy hoạch, đề án phát triển DLST, đề án cho thuê dịch vụ môi trường rừng của các khu RĐD đều phê
duyệt chậm, hoặc cá biệt nhiều khu RĐD chưa triển khai xây dựng Đề án phát triển du lich. Việc thẩm định và phê
duyệt các dự án phát triển DLST, dự án bảo tồn và phát huy giá trị di tích văn hóa ở các khu RĐD cịn điều chỉnh
bởi các Luật Di sản, Luât Du lịch,… Thực tế, trong những năm qua, hầu hết các khu RĐD có triển khai các hoạt
động du lịch theo các hình thức lồng ghép: tự tổ chức, liên kết liên doanh, cho thuê mơi trường rừng nhưng cịn gặp
rất nhiều khó khăn, thủ tục hành chính cịn nhiều vướng mắc, rườm rà, nhiều nơi chưa tháo gỡ được. Đặc biệt trong
thời gian gần đây, Chỉ thị 13-CT-TW của Ban Bí thư, thì việc chuyển đổi mục đích sử dụng ở các khu RĐD cho
việc kinh doanh du lịch lại càng khó khăn hơn. Do vậy, nhiều nhà đầu tư không mặn mà đối với liên kết liên doanh,
thuê môi trường rừng tổ chức kinh doanh du lịch ở các khu RĐD. Trong khi đó, thực trạng đầu tư cơ sở hạ tầng
phục vụ tổ chức du lịch ở các khu RĐD trong thời gian qua còn nhiều hạn chế và nghèo nàn, chưa đáp ứng công
năng phục vụ du lịch do cơ chế chính sách chưa đồng bộ, nguồn ngân sách đầu tư chỉ tập trung vào công tác quản
lý bảo tồn, chưa chú trọng đến sự kết hợp giữa đầu tư cho bảo tồn và phát triển DLST.
Xuất phát từ những những thực trạng trên, tơi xin có tám khuyến nghị cụ thể để phát triển DLST bền vững
ở các khu RĐD trong thời gian tới là:
(1) Khuy n nghị thứ nhất: Phải đặt vị trí vai trị phát triển DLST trong khu RĐD như là một giải pháp
bảo tồn tổng hợp xuyên suốt trong quá trình xây dựng, bảo vệ tài ngun đa dạng sinh học ở nơi đó. Vì nó là hoạt
động mang lại nguồn tài chính bền vững, lâu dài phục vụ cho công tác quản lý bảo tồn; là hoạt động trực tiếp về
giáo dục nâng cao nhận thức bảo tồn cho cộng đồng và du khách; là hoạt động mang lại lợi ích cải thiện phát triển
sinh kế cho cộng đồng địa phương; là hoạt động hợp tác, dịch vụ nghiên cứu khoa học và giám sát đa dạng sinh học
thường xuyên tại khu rừng.
Mục tiêu khuy n nghị này là: làm cho nhà quản lý phải xác định chức năng nhiệm vụ công tác bảo tồn
trong khu RĐD phải biết lồng ghép các hoạt động để hỗ trợ cùng phát triển bền vững.
(2) Khuy n nghi thứ hai: Cần hồn thiện cơ chế chính sách đầu tư phát triển DLST trong các khu RĐD.
Đây là thời gian có cơ hội để phát huy vai trị, trách nhiệm tham gia của chủ rừng, nhà quản lý, các cấp các ngành
từ trung ương đến địa phương góp ý kiến sửa đổi các điều khoản của các Nghị định, Thông tư hướng dẫn phù hợp
thực tiển trong lĩnh vực phát triển DLST khi Luật Lâm nghiệp có hiệu lực (1/1/2019).
Mục tiêu của khuy n nghi này là:
- Đơn giản bớt các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian từ khi lập, thẩm định, phê duyệt đến triển khai
thực hiện các Quy hoạch, Đề án cho thuê Môi trường rưng, Đề án tự tổ chức, Đề án liên kết liên doanh, Dự án đầu
tư về DLST,…
- Giải quyết vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất đầu tư xây dụng cơ sở hạ tầng trong phân khu hành
chính dich vụ nhằm thu hút đầu tư (khuyến nghị với Chính phủ đối với Chỉ thị 13-CT-TW).
35
Bài học kinh nghiệm phát triển du lịch tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
(3 Khuy n nghi thứ a Định hướng mới về tư duy quy hoach thiết kế các tuyến, điểm trong đề án phát
triển DLST theo xu hướng MỞ phát triển như mô hình các VQG/KBTTN trên thế giới.
Mục tiêu của khuy n nghị là: làm cho nhà quản lý xây dựng Đề án phát triển DLST theo hình thức khám
phá thiên nhiên, tùy thuộc vào địa hình mà bố trí cung đường đi bộ khám phá thiên nhien cả đi lẫn về khơng cùng
trên một tuyến, điểm. Có như vậy, du khách cảm thấy không nhàm chán và thú vị hơn khi mỗi bước chân họ được
thỏa thích khám phá sự mới lạ và phong phú đa dạng sinh học của thế giới tự nhiên.
(4) Khuy n nghị thứ bốn:
Yêu cầu du khách thực hiện nghiêm túc 3 KHÔNG (Brecon Beacons, Bạch Mã, 1997)
- Khơng lấy gì chỉ lấy những bức ảnh đẹp (Take nothing but photos)
- Khơng để lại gì chỉ để lại dấu chân (Leave nothing but footprints)
- Không giết gì chỉ giết thời gian (Kill nothing but time)
Mục ti u của huy n nghi n y l : phát triển DLST kết hợp phải bảo vệ được chuẩn mực hệ sinh thái,
bảo vệ các cấp độ đa dạng về gen, lồi và hệ sinh thái (ví dụ; chỉ cần mang theo một ít trái cây như như vải, nhãn,
dưa hấu, xồi, bơ,… nếu du khách vơ tình để lại tai khu rừng hạt của các lồi này, thì tương lai ít năm sau, khu vực
này sẽ phát tán rất nhiều cây ngoại lai lấn chiếm hệ sinh thái chuẩn mực, ảnh hưởng các cấp độ của đa dạng sinh
học của khu RĐD; hoặc mang rác thải, túi nilon vào rừng nếu khơng đưa ra thì nguy cơ rất lớn về ơ nhiểm, mầm
mống gây bệnh cho các lồi động vật hoang dã; nếu rác thải đưa về khách sạn, hoặc về khu dân cư sẽ có cơng nghệ
xử lý: tái chế, tái sử dụng…).
(5 Khuy n nghị thứ n m nghiêm cấm các hoạt động cho động vật hoang dã ăn của du khách khi đến
tham quan, một ví dụ ở vườn quốc gia Khao Yai, Thái Lan, mọi du khách vào cổng vườn đã có những khuyến cáo
“No feeding wild animals” nếu du khách cho động vật hoang dã ăn sẽ bị phạt tiền 500 Baht. Trong khi đó, ở ta có
một số ban quản lý khu RĐD cho ph p bán thức ăn cho động vật hoang dã để tăng thêm nguồn doanh thu, ở đây tôi
đã chứng kiến hàng trăm chú khỉ vàng (Macaca mulatta) lớn, b đã vây quanh đoàn du khách chờ sự ban bố thức
ăn, nếu khơng có chúng tím mọi cách cào x , giật túi xách, điện thoại,… xem như là cuôc chiến tranh cướp thức ăn
để sinh tồn của các loài động vật hoang dã này từ du khách, thật tế chúng ta khơng thể chấp nhận đáp ứng tính hiếu
kỳ của du khách đối với hoạt động phi bảo tồn này.
Mục ti u huy n nghị này là: lưu ý cho người quản lý các khu RĐD phải có cách tiếp cận cơ bản về kiến
thức bảo tồn đa dạng sinh học một cách tổng quát để xây dựng chương trình hành động phát triển DLST khỏi chệch
hướng về mục tiêu bảo tồn, ảo vệ được ản năng sinh tồn của các loài trong tự nhiên
(6) Khuy n nghị thứ sáu: nên phát huy mặt tích cực của tơn giáo gắn với sự nghiệp bảo tồn và phát triển
DLST, mọi tơn giáo thuần túy đều có mục tiêu giáo huấn cho con người tốt đời, đẹp đạo, hướng tới “Chân - Thiện
Mỹ”. Như sinh thời Bác Hồ đã dạy: “Tơi ngun làm học trị nhỏ của các vị Khổng Tử, Giê-Su, Mác, Tôn Dật
Tiên”, Bác khuyên chúng ta nên làm theo lịng đại từ bi của Phật Thích Ca. Cụ thể mơ hình ở Hồ Truồi Bạch Mã,
Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã đã thống nhất với Ban quan lý vườn: Khuyên dạy đạo hữu, du khách phải bảo vệ
chim mng, khơng chặt cây, đốt rừng; Khơng phóng sinh động vật chim, cá, như trước đây, từ đây du khách đã
ngộ ra rằng: phóng sinh thật tế là tiếp tay với sát sinh, vì phải thơng qua các hoạt động săn bắt động vật hoang dã
trái phép ở ngoài tự nhiên rồi tái thả vào vùng không phải môi trường sinh sống của chúng.
Mục tiêu của khuy n nghị này là: định hướng lâu dài phải biết phát triển DLST gắn với du lich tâm linh
là một loại hình du lịch thành công trong sự nghiệp bảo tồn về lĩnh vực giáo dục nâng cao nhận thức bảo tồn, bảo
vệ động vật hoang dã như ở một số nước Thái Lan, Ấn Độ, Nepan,…
(7) Khuy n nghị thứ bảy: Nên có định hướng lâu dài quy hoach các cơng trình nhà hàng, khách sạn, nhà
nghỉ homestay ở vùng đệm thuộc khu RĐD, trong vùng lõi chỉ nên quy hoạch xây dựng các cơng trình quản lý bảo
tồn, nghiên cứu khoa học, các trung tâm nghiên cứu học tập ưu tiên cho sinh viên, học sinh, nhà khoa học lưu trú,
hoặc có quy định của nhà hàng trong vùng lõi khơng được ph p bán đồ uống có cồn (Khao Yai, Thái Lan), không
ăn thịt rừng (Bạch Mã)…
Mục tiêu của khuy n nghị này là: nhằm từng bước giảm sức ép trong vùng lõi của khu RĐD, tạo điều
kiện cho cộng đồng dân cư và các nhà doanh nghiệp tham gia hoạt động du lich sinh thái ở khu vực vùng đệm, tạo
nên mơi trường n tỉnh cho các lồi sinh sống, tránh được ô nhiễm tiếng ồn, rác thải, các chất độc hại,…
(8) Khuy n nghị thứ tám: Nên thiết kế cơng trình có cơng năng lồng ghép giữa quản lý bảo tồn và phục
vụ du lịch (ví dụ: chịi quan sát lửa rừng có cơng năng quan sát động vật hoang dã cho khách du lịch); trung tâm du
khách và giáo dục môi trường, các nhà quản lý, trạm kiểm lâm làm cơ sở đón tiếp, làm việc của các nhà nghiên cứu
khoa học hiện trường,...
36
Bài học kinh nghiệm phát triển du lịch tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
Mục tiêu khuy n nghị này là: để tận dụng công năng sử dụng của các cơng trình quản lý bảo tồn, xây
dựng phương án tự chủ tài chính một phần của đơn vị sự nghiệp có thu thơng qua các hoạt động dịch vụ cho thuê
khoán mặt bằng phục vụ du lịch, nghiên cứu, học tập,…
Trong bài viết này, với tinh thần trách nhiệm của mình đã có dun nợ gắn bó cuộc đời mình với sự
nghiệp bảo tồn gần 30 năm, tôi xin mạnh dạn chỉ ra một số hoạt động đã và đang diễn ra ở các vườn quốc gia, khu
bảo tồn ở trong và ngoài nước, những khuyến nghị, hoặc những ví dụ có thể có thể thành cơng, chưa thành cơng,
đó chỉ là những gợi mở, để mỗi chúng ta, thậm chí có nhiều vấn đề cần phải được các cấp các ngành từ Trung ương
đến địa phương vào cuộc mới hy vọng có những kết quả tốt đẹp như mong muốn. Do đó, khi chia sẻ những khuyến
nghị này, tùy điều kiện thực tế của khu rừng, những thơng tin này khơng mang tính áp đặt, nên chúng ta có thể
tham khảo để xây dựng kế hoạch hành động cho chương trình phát triển du lịch sinh thái bền vững phù hợp với đơn
vị mình quản lý.
37