Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Khảo sát ảnh hưởng của gọt tỉa vết loét lên năng suất và chất lượng sữa trong điều trị bệnh chân móng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (271.2 KB, 6 trang )

KHẢO SÁT ẢNH HƢỞNG CỦA GỌT TỈA VẾT LOÉT LÊN
NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƢỢNG SỮA TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH
CHÂN MÓNG
Đặng Hoàng Đạo, Dƣơng Nguyên Khang*
Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao KHCN, Đại học Nơng Lâm thành phố Hồ Chí Minh
*

Email: duongnguyenkhang@gmail. com

TÓM TẮT
Nghiên cứu nhằm khảo sát ảnh hưởng của gọt tỉa vết loét ở móng để cải thiện năng suất và chất lượng sữa
trong điều trị bệnh móng bò sữa tại Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ, Đại học
Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 8 năm 2018. Khảo sát được bố trí theo
kiểu khối hồn tồn ngẫu nhiên trên 10 bị bị bệnh chân móng được phân ngẫu nhiên vào 2 lô, mỗi lô 5 bò
đồng đều về giống, chu kỳ và năng suất cho sữa, mức bệnh chân móng. Kết quả ghi nhận sự thay đổi về
sản lượng và chất lượng sữa cũng như khả năng sinh sản. Đi lại và điểm thể trạng ở bị gọt tỉa móng tốt
hơn ở bị khơng gọt tỉa móng là 0,5. Khi gọt tỉa vết loét trên móng đã cho thấy kết quả điều trị hiệu quả
đáng kể, bị được gọt móng cho số lần phối thấp hơn là 2 lần so với bị khơng được gọt móng là 2,75 lần.
Tất cả bị gọt móng đều lên giống 100%. Thời gian phối và chờ phối giảm đáng để là 89 ngày đối với
nhóm khơng gọt móng là 92 ngày. Sản lượng sữa tăng so với bị khơng được gọt móng. Nhóm bị được gọt
tỉa vết lt trên móng cho năng suất sữa tăng 2,45 kg/con/ngày. Chất lượng sữa được cải thiện đáng kể,
đặc biệt là số lượng tế bào soma trong sữa giảm đáng kể. Hàm lượng chất khô, đạm và béo tăng lần lượt là
0,22; 0,11 và 0,13% so với khơng gọt móng.
Từ khóa: Gọt tỉa, năng suất, chất lượng sữa, tế bào soma, sinh sản, điểm thể trạng.

ABSTRACT
The study aims to investigate the effect of hoof trimming on lameness prevention of dairy cows at
Research and Technology Transfer Center, Nong Lam University of Ho Chi Minh City from June 6 2017
to August 2018. The experiment arranged in a completely randomized design on 10 dairy cows with
lameness were randomly completely to 2 blocks, each block of 5 cows was uniform within breed, lactation
period, milk yield and lameness. Results recorded changes in milk yield and quality and reproduction.


Movement and body scores in cows with hoof trimming better than in cows without hoof trimming by 0.5.
Hoof trimming shown significant therapeutic results, cows with hoof trimming gave lower than 2 times of
artificial insemination compared with 2.75 times without hoof trimming. All hoof trimming cows got
estrus and artificial insemination of 100%. Waiting days for getting the estrus in hoof trimming cows was
89 days and without hoof trimming cows was 92 days. The hoof trimming cows gave milk yield increased
by 2.45 kg/head/day. Milk quality improved significantly, especially the number of milk somatic cells
decreased significantly. Dry matter, protein and fat contents increased by 0.22; 0.11 and 0.13% compared
with no hoof trimming.
Keywords: Hoof triming, milk yield, milk quality, somatic cells, body score, reproduction.

1120


1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm 2008, số lượng bò sữa ở Việt Nam là khoảng 110 nghìn con, trong đó có trên 55 nghìn con đang vắt
sữa; khoảng 80% tổng đàn bị sữa được ni ở các tỉnh phía Nam và 20% đàn bị sữa ở các tỉnh phía Bắc
(Đỗ Kim Tuyên, 2007). Trong chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020, Bộ Nông nghiệp và phát
triển nông thôn đã đề ra mục tiêu tăng đàn bò sữa từ 104,12 nghìn con vào năm 2005, tăng lên 200 nghìn
con vào năm 2010; 350 nghìn con vào năm 2015 và đạt 500 nghìn con vào năm 2020 (Đỗ Kim Tuyên,
2007). Hiện tại, tỷ lệ bò bị loại thải trước chu kỳ sữa thứ 3 rất cao với nhiều nguyên nhân khác nhau.
Nghiên cứu của Phan Việt Thành (2010) đã chỉ ra một số nguyên nhân cơ bản của việc loại thải này là
chậm lên giống, đẻ khó, sót nhau, đau chân móng, sẩy thai, bại liệt sau đẻ, viêm tử cung. . . Loại thải bị
sữa do bệnh chân móng hiện nay chiếm tỉ lệ cao và đứng hàng thứ ba trong các nguyên nhân phải loại thải
bò (Lê Đăng Đảnh và ctv, 2013). Thống kê của một số bang ở Mỹ cho thấy bệnh viêm chân móng gây
thiệt hại kinh tế 20% cho đàn bò sữa so với bệnh viêm vú chỉ gây thiệt hại 16,5% (Lê Đăng Đảnh và ctv,
2013). Bò bị đau chân làm giảm đáng kể sản lượng sữa trong mỗi chu kì (Green và ctv, 2002; Enting và
ctv, 1997). Đau chân móng làm kéo dài khoảng cách giữa hai lứa đẻ (Enting và ctv, 1997), tỉ lệ đậu thai ở
lần gieo tinh đầu tiên thấp và nguy cơ bị u nang buồng trứng cao (Melendez và ctv, 2003). Mặt khác, bị bị
đau chân móng có nguy cơ bị loại thải cao gấp 8,4 lần so với bị khơng bị đau chân (Sprecher và ctv,
1997), và tốn khá nhiều chi phí để điều trị (Enting và ctv, 1997). Những nghiên cứu cũng đã cho thấy

rằng, bệnh chân móng trên bị sữa xảy ra thường xun và trên hầu hết các đàn bị, thậm chí có những kết
quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ bò bị bệnh trong tổng đàn lên tới 50% tại một số trại (Whay và ctv, 2003).
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm thử nghiệm phương pháp phịng trị bệnh chân móng tại Trung tâm
Nghiên cứu và Chuyển giao Khoa học Công nghệ, Trường Đại Học Nơng Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ đó xác định hiệu quả của gọt tỉa móng lên năng suất và chất lượng sữa trong điều trị bệnh chân móng.

2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP
2.1. Vật liệu
Dụng cụ được sử dụng là dao để gọt móng, máy mài để cắt, chuồng ép để cố định thú.

2.2. Thời gian và địa điểm
Từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 8 năm 2018 tại Trại bò sữa, Trung Tâm Nghiên Cứu Và Chuyển giao
Khoa học Công nghệ, Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.

2.3. Phƣơng pháp và đối tƣợng
Chọn ngẫu nhiên 10 bị sữa lai trên ¾ máu Holstein Friesian. Bị được thử nghiệm có cùng điểm thể trạng,
điểm vận động trên 3.
Phương pháp điều trị bao gồm cắt tỉa móng, rửa chân bằng kháng sinh sau khi gọt tỉa. Kết quả sẽ được ghi
nhận, tính tốn và đưa ra qui trình ứng dụng từ đó cho thấy cắt tỉa vết loét định kỳ là cần thiết cho toàn đàn
chăn ni bị sữa.

2.4. Chỉ tiêu khảo sát
Lượng ăn vào, năng suất và chất lượng sữa, tế bào soma trong sữa, thể trạng trước và sau khảo sát, lên và
phối giống, phục hồi vết thương.

2.5. Xử lí số liệu
Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mền Microsoft Excel (2013), sau đó được xử lý thống kê bằng phần
mềm Minitab (version 16.2). Các giá trị trung bình được so sánh bằng trắc nghiệm Tukey, tỉ lệ được so
sánh bằng trắc nghiệm χ2 khi khác biệt có ý nghĩa với P ≤ 0,05.


1121


3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Ảnh hƣởng của gọt bỏ tế bào hoại tử, cắt tỉa vết loét trên lƣợng ăn vào
Kết quả được trình bày qua Bảng 1. Kết quả cho thấy tổng lượng ăn vào tăng lên rõ rệt khi cắt bỏ tế bào
hoại tử trên móng thì tổng lượng ăn vào tăng 0,25 kg VCK/con/ngày so với không cắt bỏ tế bào hoại tử
(P>0,05).

3.2. Ảnh hƣởng của gọt bỏ tế bào hoại tử/cắt tỉa vết loét trên năng suất sữa
Kết quả được trình bày qua Biểu đồ 1.
Kết quả biểu đồ 2 cho thấy năng suất sữa đã được cải thiện đáng kể khi cắt tỉa. Việc loại bỏ tế bào hoại tử
và vết loét được tiến hành đối với những bò đang trong gian đoạn cho sữa đã làm tăng 1,34 kg/con/ngày
so với lô đối chứng. Kết quả biểu đồ 2 cho thấy những bò được gọt tỉa móng cho sản lượng sữa bình qn
(16,58 kg/con/ngày) cao hơn những con khơng được gọt tỉa móng (15,24 kg/con/ngày). Sarel và ctv
(2002) cũng đã chỉ ra rằng tác động khơng tốt của bệnh chân móng lên sản lượng sữa. Warnick và ctv
(2001) đã cho thấy sản lượng sữa bị bị chân móng giảm 1,5 kg/con/ngày so với những con khơng bị chân
móng. Manson và ctv (1988).
Bảng 1. Thành phần và lượng ăn vào

Cắt tế bào hoại tử

Chỉ tiêu

SEM

P

0,018


0,116

0,021

0,038

1,89

0,021

0,070

5,26

5,36

0,040

0,123

14,89

15,14

0,090

0,058

Khơng




5
5,91

5
5,95

Bã mì, Kg VCK/con/ngày

1,88

b

1,94

a

Hèm bia, Kg VCK/con/ngày

1,84

Cám, Kg VCK/con/ngày
Tổng VCK ăn vào, Kg VCK/con/ngày

n, bị
Cỏ, Kg VCK/con/ngày

20
18


a

b

Kg/con/ngày

16
14
12

10
8

16.58

15.24

6
4
2

0
Khơng

Cắt tế bào hoại tử



Biều đồ 1. Ảnh hưởng của gọt tỉa vết loét trên năng suất sữa


Nghiên cứu ảnh hưởng của việc cắt gọt móng định kì đến năng suất sữa, kết quả cho thấy cắt gọt móng
định kì làm giảm khó khăn trong vận động của bò, rút ngắn thời gian điều trị đối với những con bị chân
móng và tăng sản lượng sữa. Theo Warnick và ctv (1988) đã ghi nhận những bị bị chân móng có sản
lượng sữa giảm 1,5 – 2 kg trong tuần đầu tiên bò bị đau móng.

1122


3.3 Ảnh hƣởng của gọt bỏ tế bào hoại tử, cắt tỉa vết loét trên chất lƣợng sữa
Kết quả được trình bày qua Bảng 2. Bảng 2 cho thấy cắt bỏ vết loét không những đã làm tăng năng suất
sữa mà cịn cải thiện chất lượng sữa của nhóm bị được điều trị một cách đáng kể. Chất lượng sữa được
đánh giá qua sự thay đổi chất khô, đạm và béo. Các chỉ số tăng lần lượt là 0,22; 0,11 và 0,13%. Nishimori
và ctv (2005) đã ghi nhận có sự thay đổi về chất lượng sữa khi sử dụng phương pháp gọt móng trong điều
trị, đạm sữa tăng 0,6%, béo sữa tăng 0,2% so với trước khi điều trị. Kibar và ctv (2016) đã kiểm tra và
điều trị trên 18 bị sữa Holstein bị chân móng bằng cách gọt móng ở thời điểm 45 ngày sau khi sanh. Kết
quả đã ghi nhận sự tăng năng suất sữa của nhóm bị được điều trị từ 10 - 30 ngày sau khi điều trị. Nhiều
nghiên cứu khác cũng đã cho thấy rằng, khi bị bệnh chân móng sẽ bị đau đớn, nên thường nằm nhiều hơn
(Palmer và ctv,2012), từ đó làm tăng nguy cơ đau chân móng. Viêm chân móng đã làm loại thải đến 20%
tổng đàn bò sữa, trong khi viêm vú chỉ loại thải 16,5% (Cục Chăn Nuôi và Thú Y, 2009). Greenough và
ctv (1995) đã ghi nhận những bò bị chân móng sẽ giảm sản lượng sữa từ 1,7 - 3 lít/ ngày.
Stankov và ctv (2015) đã nghiên cứu ảnh hưởng của tình trạng viêm chân móng trên năng suất, hàm lượng
đạm và béo sữa của 300 bò HF được phân thành 2 nhóm bị bình thường và bị bị chân móng. Kết quả cho
thấy, sản lượng sữa bị bị chân móng 30 ngày đầu sau khi sanh thấp hơn 516,8 kg so với nhóm bị khỏe
mạnh. Hàm lượng chất béo và đạm sữa giảm lần lượt là 0,16 và 0,04% so với bò khỏe mạnh.
Bảng 2. Ảnh hưởng của gọt bỏ tế bào hoại tử, cắt tỉa vết loét trên chất lượng sữa

Gọt bỏ tế bào hoại tử, vết loét

Chỉ tiêu

n, con
Chất khô sữa
Đạm sữa
Béo sữa
3

SCC, x10 tế bào/ml

Khơng



5

5

SEM

P

8,55

b

8,77a

0,019

0,001


3,93

b

4,04

a

0,023

0,002

3,81

b

3,94

a

0,039

0,025

7,60

0,001

461,0


a

128,0

b

3.4 Ảnh hƣởng của gọt bỏ vết lt trên phục hồi vết thƣơng, lên và phối giống
Kết quả được trình bày qua Bảng 3.
Bảng 3. Ảnh hưởng của gọt bỏ vết loét trên lành và phục hồi móng, lên và phối giống

Chỉ tiêu

Gọt bỏ tế bào hoại tử, vết lt
Khơng



n, con

5

5

Điểm dáng đi

3

3,5

Điểm thể trạng


3

3,5

Không lên giống

1

0

Số ngày chờ phối
Số lần phối

104
3

88
2

Thời gian lành vết thương, ngày

-

16

Thời gian phục hồi móng, ngày

-


60

Kết quả cho thấy bị được gọt tỉa móng đã lên và phối giống tốt hơn bị khơng gọt tỉa. Bị gọt tỉa móng có
số lần phối giống 2 lần, thấp hơn bị khơng được gọt tỉa móng là 2,75 lần. Tất cả bị gọt móng đều lên

1123


giống. Kết quả này phù hợp với khảo sát của Greenough và ctv (1995) đã cho thấy khi bò bị bệnh chân
móng đã giảm khả thụ thai nhiều. Theo Bolog và ctv (2015), bị bị chân móng thì khả năng sinh sản thấp
hơn đáng kể so với bò khỏe mạnh. Kết quả khảo sát đã cho thấy rằng, việc gọt tỉa vết lt trên móng có tác
động tích cực đến khả năng sinh sản của bò sữa, đặc biệt là bị có dấu hiệu bệnh chân móng. Gọt tỉa móng
đã loại bỏ tổn thương, giúp bàn chân bò khỏe mạnh, đi đứng cân đối hơn. Một số nghiên cứu khác cũng
chỉ ra rằng bị bị bệnh chân móng đã ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh sản (Sprecher và ctv, 1997;
Hernandez và ctv, 2001; Garbarino và ctv, 2004). Gần đây, báo cáo cho rằng bị bị bệnh chân móng lâm
sàng, được phát hiện trong vòng 70 ngày đầu cho sữa, đã có khả năng mang thai thấp hơn 25% so với bị
khơng bị chân móng (Bicalho, 2007).

4. KẾT LUẬN
Cắt tỉa móng sẽ hạn chế mơ chết, loại bỏ khu trú vi sinh vật gây viêm đã làm giảm tình trạng bệnh chân
móng. Cải thiện năng suất và chất lượng sữa sau khi điều trị.

CẢM ƠN
Nhóm tác giả chân thành cảm ơn Sở Khoa học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đã tài trợ kinh phí cho
nghiên cứu này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]

Bicalho RC., Machado VS. and Caixeta LS. (2009). Lameness in Dairy Cattle. A Debilitating

Disease or a Disease of Debilitated Cattle? A Cross-Sectional Study of Lameness Prevalence and
Thickness of the Digital Cushion. Journal of Dairy Science, 92.

[2]

Britt JS., Gaska J., Garrett EF., Konkle D. and Mealy M. (1996). Comparison of topical application
of three products for treatment of papillomatous digital dermatitis in dairy cattle. Journal Amer-ican
Veterinary Medical Association 209, 1134–1136.

[3]

Đỗ Kim Tuyên, Hoàng Kim Giao, Nguyễn Viết Hải, Vũ Văn Nội, Lã Văn Thảo, Trần Sơn Hà, Vũ
Ngọc Hiệu, Nguyễn Sức Mạnh, Nguyễn Hồng Sơn và Nguyễn Thị Dương Huyền (2007). Nghiên
cứu một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của bị sữa Úc nhập nội Việt Nam. Tạp chí khoa học công nghệ
chăn nuôi số 4-2007.

[4]

Enting H., Kooij D., Dijkhuizen AA., Huirne RBM., Noorduizen SEN. (1997). Economic losses due
to clinical lameness in dairy cattle. Livest Prod. Sci. 49: 259 –267.

[5]

Estill CT. (2002). Diseases of dairy animals.

[6]

Greenough PR. and Vermunt JJ. (1991). Evaluation of subclinical laminitis in a dairy-herd and
observations on associated nutritional and management factors. Veterinary record 128: 11–17.


[7]

Green LE., Hedges VJ., Schukken YH., Blowey RW. and Packington AJ. (2002). The Impact of
Clinical Lameness on the Milk Yield of Dairy Cows. Journal of Dairy Science 85: 2250–2256.

[8]

Hernandez MJ., Shearer JK., 2002. Effect of lameness on milk yield in dairy cows. J Am Vet Med
Assoc, 220: 640 - 644.

[9]

Kibar M. and Caglayan T. (2016). Effect of hoof trimming on milk yield in dairy cows with foot
disease. Acta Sci. Vet. 44: 01-07.

[10] Lê Đăng Đảnh (2012). Bệnh viêm móng trên bị sữa. Tạp chí khoa học kỹ thuật cơng ty UV Việt
Nam, số UVTY-007: 1-10.

1124


[11] Manson FJ., Leaver JD. (1988). The influence of concentrate amount on locomotion and clinical
lameness in dairy cattle. Anim. Prod. 47: 185–190.
[12] Melendez P., Bartolome J., Archbald LF. and Donovan A. (2003). The association between
lameness, ovarian cysts and fertility in lactating dairy cows. Theriogenology, 59: 927 – 937.
[13] Nishimori K., Okada K., Ikuta K. (2006). The effects of one-time hoof trimming on blood
biochemical composition, milk yield, and milk composition in dairy cows. J Vet Med Sci 2006; 68:
267–70.
[14] Palmer MA., Law R. and O‟Connell NE. (2012). Relationships between lameness and feeding
behavior in cubicle-housed Holstein-Friesian dairy cows. Appl. Anim. Behav. Sci. 140: 121–127.

[15] Phan Việt Thành (2010). Ngiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và thử nghiệm một số biện pháp phịng
và trị bệnh chân móng cho bị sữa khu vực Đông Nam Bộ. Luận văn Thạc sĩ Đại Học Nông Lâm
TP. Hồ Chí Minh. Trang 4-120.
[16] Sarel RS, Shearer AJ. 2006. Manual for treatment and control of lameness in cattle. Ames (IA):
Blackwell Publication. Pp: 31–41.
[17] Sprecher DJ., Hostetler DE. and Kaneene JB. (1996). A lameness scoring system that uses posture
and gait to predict dairy cattle reproductive performance. Department of Large Animal Clinical
Sciences and „Population Medicine Center College of Veterinary Medicine Michigan State
University, East Lansing, MI 48824.
[18] Warnick LD., Jansen D. and Guard CL. (2001). The effect of lameness on milk production in dairy
cows. J. Dairy Sci. 84: 1988-1997.
[19] Whay RH., Main DCJ., Green LE. and Webster AJF. (2003). Assessment of the welfare of dairy
cattle using animal – based measurement: direct observations and investigation of farm record. The
Veterinary Record 153: 197 – 202.

1125



×