BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH
BỘ MÔN BẢO TỒN VÀ TRUNG TU CÁC DI TÍCH KIẾN TRÚC
(THAM QUAN QUẦN THỂ DI TÍCH KIẾN TRÚC
ANGKOR – CAMPUCHIA)
GVHD:
HVTH:
MSHV:
LỚP:
PGS.TS.KTS. NGUYỄN KHỞI
NGUYỄN HỮU THÁI AN
15KT02
CAO HỌC K22
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 08/2016
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
A. LỜI NÓI ĐẦU
Chuyến tham quan, học tập tại đất nước chùa tháp Campuchia là một cơ hội tuyệt
vời để Học viên trước tiên có thêm kiến thức khoa học, tạo điều kiện nghiên cứu và
tìm hiểu nhiều hơn về một nền văn hóa của một dân tộc mới đầy thú vị, sau đó là có
hiện trường thực địa để đối chiếu, xem xét cách vận dụng vào thực tế những kiến thức,
những nguyên tắc của công tác bảo tồn trùng tu, ngun lí chung của các Hiến chương
và Văn kiện khơng chỉ riêng của Bộ môn Bảo tồn và trùng tu di sản kiến trúc mà cịn
của Bộ mơn lịch sử kiến trúc phương Đông.
Quả thật di sản kiến trúc kỳ vĩ ấy có sức hút cực kỳ to lớn, ẩn chứa trong mình
những giá trị làm thay đổi nhận thức của mỗi người làm nghiên cứu khoa học. Sau
chuyến đi Học viện nhận thức rõ hơn rằng giữa bảo tồn và phát triển ln có mối quan
hệ khăng khí, là hai mặt của một vấn đề, con người khi muốn phát triển thì ln cần
có cơ sở, nền tảng vững chắc, biết điều gì là đúng hay là sai, là nên hay không nên
trong hoạt động xây dựng, làm nghề của bản thân khi đụng chạm đến di tích, di sản.
Hiểu rằng ngày nay khi kiến trúc mang tính quốc tế làm cho ở đâu kiến trúc cũng
giống nhau, thiếu bản sắc văn hóa dân tộc, vì vậy cần phải gìn giữ các giá trị đặc trưng
mà khơng thể nào tạo dựng lại được khi chỉ cần một lần xóa bỏ đi các di tích – di sản.
Bài thu hoạch là tổng hợp, chắt lọc kiến thức nghiên cứu về công tác bảo tồn trùng
tu hiện nay tại khu vực Angkor, sau đó đi trực tiếp vào một vài cơng trình đã được
tham quan để nhận định các giá trị quan trọng của di tích, phát hiện, gọi tên, phân tích
và đánh giá các phương pháp bảo tồn và trung tu đang được áp dụng tại đây so với
những lý luận đã được học.
Cao học kiến trúc khóa 22 tại đất nước chùa tháp Campuchia – Nguồn hình: Học viên
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
2
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
B. NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ TRÙNG TU DI
TÍCH KIẾN TRÚC - QUẦN THỂ ANGKOR
Angkor đã từng là kinh đô của Đế quốc Khmer và đã phát triển rực rỡ vào khoảng
thế kỷ IX đến thế kỷ XV. Thời kỳ Angkor có thể được định nghĩa là thời kỳ từ năm
802 đến năm 1431 SCN. Quần thể đền Angkor nằm giữa rừng và vùng đồng bằng
canh tác nông nghiệp về phía bắc của Biển Hồ (Tonle Sap) và phía nam của đồi
Kulen, gần thành phố Siem Reap ngày nay - là một di sản thế giới được UNESCO
công nhận vào năm 1992. Các ngôi đền của khu vực Angkor có số lượng trên 1000
cơng trình với kích cỡ và hình dáng khác nhau mang đậm phong cách kiến trúc
Khmer.
Mặt bằng tổng thể khu di tích Angkor – Nguồn hình: Internet
( />Theo UNESCO, quần thể Angkor được cơng nhận là di sản thế giới trên cơ sở 4 tiêu
chí sau:
Nó đại diện cho một thành tựu nghệ thuật độc đáo, một kiệt tác về tài năng
sáng tạo của con người.
Nó đã ảnh hưởng mạnh mẽ trong một khoảng thời gian dài và trong phạm vi
một vùng văn hoá của thế giới, về sự phát triển trong kiến trúc, nghệ thuật xây
dựng đền đài, và cảnh quan.
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
3
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
Nó mang một bằng chứng độc đáo cho một nền văn minh đã biến mất.
Nó là một ví dụ nổi bật của một quần thể kiến trúc minh họa một giai đoạn
quan trọng, có ý nghĩa trong lịch sử nhân loại.
Tồn cảnh quần thể di tích Angkor – Nguồn hình: Học viên
Khi xét trên góc độ khoa học bảo tồn trùng tu, quần thể Angkor vừa là những di tích
khảo cổ, vừa là những di tích kiến trúc. Đặc trưng của một di tích kiến trúc nói chung
ngồi ý nghĩa lịch sử cịn thể hiện ở ý nghĩa văn hóa - xã hội của nó. Nó là sản phẩm
của lịch sử văn hóa vật chất mang tính nhân văn. Quần thể Angkor từng có một chức
năng xã hội riêng biệt, tạo ra một mơi trường nhân tạo có tổ chức, là một phạm vi sinh
hoạt lao động và văn hoá. Vì vậy, nó vừa có giá trị nhận thức lịch sử, vừa có giá trị
kiến trúc – nghệ thuật thẩm mỹ. Các giá trị này cần được gìn giữ, xem như là tải sản
vô giá không chỉ của riêng đất nước con người Campuchia mà còn là của cả nhân loại.
Từ năm 1907 đến 1970 công việc nghiên cứu, bảo tn v trựng tu Angkor do c quan
Ecole Franỗaise d'Extrme-Orient (EFEO) – Pháp tổ chức thực hiện việc nghiên cứu,
bảo tồn, kỹ thuật trùng tu, quản lý di sản. Đến năm 1965, sau khi trường Đại Học Mỹ
Thuật được thành lập ở Phnom Penh, công tác huấn luyện trong lĩnh vực trùng tu cho
người Khmer mới được thực hiện. Ban bảo tồn được thành lập để đảm bảo thực hiện
chuyển giao việc quản lý và nghiên cứu di sản văn hoá cho người Khmer. Tuy nhiên
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
4
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
tổ chức vừa mới thành lập này đã bị ngưng hoạt động và công việc trùng tu Angkor đã
bị tạm ngưng do chiến tranh và những biến động về chính trị. Sau khi hồ bình được
lập lại, đặc biệt là sau khi Angkor được cơng nhận là di sản văn hố thế giới năm
1992, hoạt động bảo tồn và trùng tu đã được thực hiện trở lại với sự giúp đỡ của nhiều
quốc gia trên thế giới. Nhờ hoạt động bảo tồn và trùng tu được thực hiện tốt với các
chiến dịch bảo tồn được phối hợp thành cơng giữa chính quyền và các tổ chức quốc tế
dưới sự giám sát của tổ chức UNESCO, đến tháng 4/2004 Angkor đã được đưa ra
khỏi danh sách các di sản đang bị đe doạ.
Công tác bảo tồn và trùng tu di tích tại đây không chỉ là bảo tồn, trùng tu các đền đài
riêng lẻ mà bao gồm cả quần thể kiến trúc, môi trường thiên nhiên và kiến trúc bao
quanh nó. Đúng theo tinh thần của Hiến chương Athen, Hiến chương Washington
công tác bảo tồn, trùng tu không chỉ quan tâm đến việc trùng tu các đền đài và khu
vực bảo vệ trực tiếp chung quanh quần thể kiến trúc mà còn nghiên cứu cả khu vực
thành phố trong giới hạn tầm nhìn rõ của quần thể, quan tâm đến các yếu tố hình thành
hình dáng nghệ thuật độc đáo riêng biệt cho thành phố, khu vực đô thị lịch sử. Tháng
5/1994, sắc lệnh xác định ranh giới khu vực bảo vệ di sản văn hố trong vùng
Siemriep được cơng bố, bao gồm 5 khu vực bảo vệ :
Khu vực 1: khu vực các đền đài, đây là khu vực cần được bảo vệ ở cấp độ cao
nhất bao gồm 3 nhóm quần thể đền đài chính là Angkor, Banteay Srei,
Roulous. Mỗi nhóm quần thể bao gồm các đền đài nổi tiếng với hệ thống các
hồ, kênh đào, đập nước.
Khu vực 2: khu vực bảo vệ bao quanh các đền đài chính. Đây cũng là khu vực
có giá trị về mặt khảo cổ, đã và đang tiếp tục được nghiên cứu. Khu vực này
còn bao gồm cả khu dân cư địa phương. Cả khu vực 1 và 2 đòi hỏi phải được
quản lý chặt chẽ. Lớn nhất là khu vực quần thể đền Angkor gồm khu vực đất
dự trữ xung quanh nó rộng khoảng 400km2. Khu vực dự trữ này cịn đóng vai
trị là vùng đệm giữa Angkor và Siemriep, nó rất cần thiết cho việc bảo tồn
nguyên vẹn Angkor, góp phần thu hút khách du lịch và ngăn ngừa sự phát triển
làm ảnh hưởng tới việc bảo vệ di sản văn hoá.
Khu vực 3: cảnh quan văn hoá, là khu vực có những đặc trưng cảnh quan đặc
biệt cần được bảo vệ trên các mặt: đặc trưng truyền thống, mơi trường sống của
dân cư, những cơng trình lịch sử,… những thứ tạo nên những giá trị văn hoá,
phản ánh lối sống truyền thống của dân tộc. Đó là cảnh quan lưu vực các dịng
sơng được đào từ xa xưa là Siemriep và Roulous chảy từ Phnom Kulen về biển
Hồ, những con đường cổ từ Angkor theo hướng tây bắc về phía Banteay Srei.
Khu vực 4: khu vực có giá trị cho việc nghiên cứu về lịch sử, nhân chủng học,
khảo cổ học. Bao gồm tất cả vị trí khảo cổ quan trọng khác nhưng ít ý nghĩa
hơn quần thể Angkor. Những khu vực này cũng cần phải được bảo vệ cho việc
nghiên cứu, giáo dục, và làm du lịch. Một số vị trí khảo cổ quan trọng được xác
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
5
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
định trong vùng Siemriep như: Phnom Krom, Wat Athvea and Chau Srei
Vibol.
Khu vực 5: khu vực phát triển văn hoá, kinh tế, xã hội của toàn vùng Siemriep,
bao gồm toàn bộ tỉnh Siemriep. Toàn khu vực này rộng khoảng 10.000km2 bao
gồm Phnom Kulen, bờ hồ Tonle và vùng Angkor. Trong vùng này cịn có các
khu vực thiên nhiên quan trọng cần được bảo vệ và phát triển cho phù hợp.
Vùng này sẽ được quản lý theo hướng nhấn mạnh sự phát triển kinh tế và xã
hội theo du lịch. Những hoạt động phát triển có thể làm hại đến khảo cổ, thiên
nhiên, di sản phải được điều chỉnh bởi những chính sách phối hợp toàn diện.
Những sự đánh giá tác động môi trường và khảo cổ phải được thực hiện trước
bất kỳ dự án nào được thực hiện trong vùng. Những u cầu này khơng phải để
kìm hãm phát triển nhưng sự phát triển phải phù hợp với vị trí và định hướng
chung, và đáp ứng yêu cầu của bảo tồn di sản.
Các phân khu với mức độ yêu cầu bảo tồn khác nhau – Nguồn hình: Cuốn Angkor
Tourism Management Plan compressed của UNESCO
Hiện nay, tại khu vực 1 nói chung và khu vực Angkor nói riêng, các dự án trùng tu
hầu hết đều do các nhóm trùng tu quốc tế đảm nhận. Trong đó:
Các thành viên của Trường Đại học Khoa học ở Cologne (Đức) từ năm 1995 đã
tham gia công tác bảo tồn (nghiên cứu và trùng tu) 1.850 bức tượng chạm khắc
ở đền Angkor Wat;
Nhóm người Ấn Độ thực hiện trùng tu ở Ta Prohm;
Nhóm người Mỹ ở đền Preah Khan và Ta Som;
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
6
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
Nhóm Trung Quốc ở Chao Say Tevoda;
Nhóm người Pháp ở quảng trường Voi, quãng trường Vua và Bapuon;
Nhóm người Indonesia ở cung điện hồng gia Angkor Thom;
Nhóm người Ý ở Preup và hào nước xung quanh Angkor Wat. Italy đã gởi các
kỹ sư xây dựng trong đó có chuyên gia Vittorio Gallinaro để tìm cách ngăn
ngừa sự sụp đổ của các tháp Pre Rup được xây dựng vào thế kỷ 10…
Nhóm người Nhật Bản trùng tu ở Bayon, Prasat Suor Prat, thư viện phía Bắc
Angkor Wat. Ngồi ra, đường dẫn vào phiá Tây Angkor Wat, Banteay Kdei do
Đại Học Sophia của Nhật Bản thực hiện
Việc có nhiều nhóm khoa học cùng thực hiện công tác bảo tồn trung tu sẽ vận dụng
được nhiều chất xám cũng như các phương pháp, kỹ thuật tiên tiến khác nhau nhằm
lưu giữ những giá trị gốc một cách tốt nhất, tránh được tư duy chủ quan, duy ý gây
thiệt hại hàng loạt một khi mắc sai lầm, dễ so sánh, lựa chọn, nhận định phương pháp
tốt nhất xong sự phong phú trong giải pháp bảo tồn trung tu dễ gây thiếu đồng bộ
trong cả quần thể di tích, đơi khi làm các di tích bị sai lệch tương quan với nhau. Vậy
nên các dự án đều phải được nghiên cứu trên cơ sở khoa học và được thơng qua bởi
hội đồng chun mơn. Các nhóm trùng tu này thường xuyên tổ chức các hội thảo khoa
học, báo cáo về các hoạt động trùng tu đã thực hiện được, lấy ý kiến đóng góp của
các chuyên gia khắp nơi trên thế giới, từ đó bổ sung, điều chỉnh dự án hợp lý và kịp
thời. Tất cả nỗ lực đều nhằm bảo vệ di tích với hình dáng của nó tồn tại đến ngày hơm
nay, khơng phạm đến tính chất ngun gốc, khơng đe dọa và xóa bỏ bất cứu một giá
trị nào khi chưa được làm sáng tỏ - Đây cũng chính là mục đích của phương pháp bảo
quản, một phương pháp bao trùm và vận dụng chủ yếu ở quần thể di tích kiến trúc
Angkor. Chi tiết hơn có phương pháp gia cố, tái định vị là sử dụng nhiều nhất, bên
cạnh đó cịn có phương pháp bổ khuyết và phục hồi.
Hiện này cịn có Cơ quan Apsara là Cơ quan bảo vệ, quản lý Angkor tại Siem Reap
được chính phủ Campuchia lập ra, mục đích phụ trách bảo vệ, nghiên cứu và bảo tồn
các di sản văn hóa, cũng như các đơ thị và phát triển du lịch của Siemriep nói riêng và
Campuchia nói chung. Apsara, phối hợp với các cơ quan khác của chính phủ, chịu các
trách nhiệm chính: Bảo vệ, duy trì, bảo tồn và nâng cao giá trị của quần thể khảo cổ
học, văn hóa, mơi trường và lịch sử của khu vực Angkor; Điều chỉnh và áp dụng quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch theo 5 khu vực quy định bảo tồn và hành động chống
lại nạn phá rừng, chiếm đóng lãnh thổ bất hợp pháp ở Siemreap-Angkor; Tìm nguồn
tài chính và đầu tư. Cơ quan Apsara có nhiều ban khác nhau, nhưng Ban Di tích và
Khảo cổ 1 là bộ phận chịu trách nhiệm trực tiếp trong bảo tồn và trung tu di tích trong
quần thể Angkor. Ban có nhiều chuyên gia trong nước như các nhà khảo cổ học, kiến
trúc sư và kỹ sư, và những ngành chuyên nghiệp khác được hỗ trợ theo thể chế của
FSP (chương trình chính phủ Pháp), với các chun gia tư vấn làm việc trong các lĩnh
vực khảo cổ học, kiến trúc và kiến trúc cảnh quan. Ban Di tích và Khảo cổ 1 được trao
trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
7
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
Lập kế hoạch và thực hiện quản lý các di tích bao gồm cả bảo trì trong quần thể
Angkor và tại các điểm nơng thơn với văn hóa truyền thống.
Thiết lập một chương trình bảo tồn quần thể Angkor, về giá trị sinh thái và lịch
sử của nó, bao gồm cả dữ liệu về tình trạng của các di tích và những rủi ro đe
dọa chúng.
Bảo vệ các khu vực trong danh sách Di sản Thế giới, bao gồm cả vùng đệm.
Lập kế hoạch khảo sát, khai quật khảo cổ học và khảo cổ học với tất cả các
biện pháp phòng ngừa và bảo vệ cần thiết. Hợp tác với các nhóm quốc tế làm
việc trong khu vực Angkor và đảm bảo rằng họ thực hiện theo các hướng dẫn
khảo cổ học cho khu vực Angkor.
Sơ đồ toàn cảnh thể hiện môi liên hệ giữa hoạt động nghiên cứu bảo tồn, chính sách
Nhà nước và hệ thống mơi trường ở quần thể di tích Angkor – Nguồn hình: Internet
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
8
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
C. CÁC DI TÍCH KIẾN TRÚC
1. Angkor Wat
Angkor Wat cổ kính soi mình trên mặt nước - Nguồn hình: Học viên
1.1.
Nghiên cứu – nhận định các giá trị của cơng trình
Khi đến tham quan Angkor Wat, giá trị đầu tiên dễ dàng nhận định được của quần
thể di tích này chính là giá trị lịch sử. Thiết kế và xây dựng được tiến hành vào nửa
đầu Thế kỷ XII dưới thời vua Suryavarman II (trị vì từ năm 1113 – 1150 SCN),
Angkor Wat được biết đến là một khu di tích bằng đá lớn nhất thế giới và cũng là
cơng trình tơn giáo lớn nhất từng được xây dựng nên, với chức năng ban đầu là là một
đền thờ Ấn Độ giáo của Đế quốc Khmer, rồi dần chuyển thành đền thờ Phật giáo vào
cuối thế kỷ XII đến mãi cho đến thế kỷ XVII. Không như các đền thờ khác bị lãng
qn, Angkor Wat vẫn cịn một số dấu tích cho thấy người hành hương Phật giáo có
thành lập những khu định cư nhỏ ở đây. Năm 1859, Quần thể Angkor được nhà thực
vật học – nhà thám hiểm người Pháp Henri Mouhot phát hiện khi đi xuyên qua cánh
rừng nhiệt đới ở Campuchia để tìm kiếm một thành phố vĩ đại bị mất tích. Hàng dãy
các ngơi đền trải khắp cả một cùng Angkor, trải rộng trên 100 m2 là hàng ngàn di tích,
một nền văn minh cổ đã dây dựng trung tâm tơn giáo của mình, trong đó Angkor Wat
là một ngơi đền trung tâm và cịn tồn tại tốt nhất, nơi đây có những tàn tích của một
nền văn hóa cổ tồn tại với kiến trúc tuyệt vời, xây dựng với một số lượng lớn nhân
cơng. Sau đó, khu quần thể Angkor cũng như Angkor Wat trải qua các thời kỳ bảo
tồn, trùng tu, thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ nội chiến, thời kỳ Khmer đỏ và cho đến ngày
nay. Giá trị lịch sử được tăng lên qua thời gian, trải qua rất nhiều thời kỳ và biến cố
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
9
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
lích sử của đất nước, nó như một nhân chứng sống lưu giữ những giá trị văn hóa, lịch
sử của dân tộc Campuchia.
Ngôi đền được ngưỡng mộ bởi vẻ hùng vĩ và hài hòa của kiến trúc, sự phong phú
của nghệ thuật điêu khắc và số lượng lớn các vị thần được trang hồng trên những bức
tường đá. Để có thể hiểu được lý do xuất hiện một cơng trình mà khi nói về số lượng
đá được dùng nó sánh ngang với kim tự tháp Ai cập, về độ chính xác trong thiên văn
thì khơng hề thua kém những di tích của nền văn minh Maya, về độ sáng chói trong
nghệ thuật nó thách thức cơng viên khủng long ở Châu Âu, chưa kể vẫn cịn có nhiều
dấu ấn trong lịng đất và gần như nguyên vẹn chưa được khai phá, ta cần tìm hiểu về
người đã xây dựng nên nó. Vua Suryavarman đệ nhị được biết đến là một vị vua
quyền lực hùng mạnh nhất, dù nắm quyền tối cao nhưng động lực để ơng xây dựng
Angkor Wat có lẽ là do sự bất an. Lí do nằm ở cách thức mà Suryavarman lên năm
quyền. Vào năm 1113 SCN, 14 tuối Suryavarman chưa lên ngôi mà hiện là ông chú
đang tại vị, tuy khơng phải thái tử nhưng ơng tin mình phải là vua, theo truyền thuyết
một nhóm thanh niên trẻ đã phục kích vua khi vi hành, Suryavarman tách riêng leo lên
mình voi giết chú chiếm ngơi, lấy tên mới là Suryavarman nghĩa là tấm khiên mặt trời.
Chiếm được ngôi vua theo cách như thế nên để củng cố ngôi vị, tránh kẻ chống đối
sốn ngơi ơng phải biến mình thành vị vua thần thánh trong mắt dân chúng. Việc này
rất phổ biến trên thế giới khi mà một vị vua có lí lịch khơng tốt sẽ tự đề cao thơng qua
kiến trúc và nghệ thuật đó là lí do Angkor ra đời.
Mang trong mình Giá trị kiến trúc – nghệ thuật đặc sắc. Angkor Wat là sự kết hợp
của hai nét cơ bản của kiến trúc Khmer: kiến trúc đền-núi cùng với những dãy hành
lang dài và nhỏ hẹp. Kiến trúc này tượng trưng cho Núi Meru, quê hương của các vị
thần trong truyền thuyết Ấn Độ giáo. Angkor Wat có chu vi gần 6km và diện tích
khoảng 200ha, nơi cao nhất là đỉnh tháp của ngơi đền chính, có độ cao 65m. Đền
Angkor Wat có 398 gian phịng, nối liền nhau bởi 1.500m hành lang. Bên trên, 5 toà
tháp liên hoàn nhau bằng 3 tầng kiến trúc, trong đó tồ tháp cao nhất lên tới 65m, 4
tháp phụ cao 40m. Con đường dẫn tới chính mơn của Angkor Wat cũng làm bằng đá
tảng dài 230m, rộng gần l0m và có độ cao 5m so với mặt nước hồ ở hai bên đền. Khu
đền chính gồm 398 gian được gắn kết với nhau một cách chặt chẽ. Toàn khu đền tồn
tại nhiều hình ảnh nghệ thuật chạm khắc đá như các tấm phù điêu khổng lồ, các cột,
cửa, trần, tường, hành lang, lan can, mái..., tất cả toát lên sức mạnh phi thường và bàn
tay điêu luyện của người Khmer cổ đại. Trong khoảng 3cm đá là các bức phù điêu có
thể diễn tả lẫn tiền cảnh, hậu cảnh cũng như thần thái của cá bức điêu khắc, còn một
vài dấu hiệu cho thấy các phù điêu của vua và đội quân có dát vàng, chúng phát sáng
lên khi có ánh sáng mặt trời chiếu vào. Đền Angkor thực sự là một thành tựu kiến trúc
huy hồng, nó thể hiện một trình độ sâu sắc về thể tích, khơng gian và sự tổ hợp kỷ hà.
Thời bấy giờ, kỹ thuật phong cách kiến trúc còn hết sức giới hạn - việc sử dụng đá lại
có tính chất như sử dụng gỗ, những kết cấu có hình bán nguyệt và nóc vịm, là những
kỹ thuật mà ta chưa biết - những hiệu quả tồn diện của nó làm cho mọi người phải
ngạc nhiên. Không giống những ngôi đền theo phong cách Angkor khác, Angkor Wat
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
10
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
quay mặt về phía Tây, để giải thích cho điều này ta phải hiểu vua Suryavarman chọn
thần Vishnu là thần bảo trợ cho mình, là thần được các vị vua viện đến khi có chiến
tranh, mà hướng Tây chính là hướng của Vị thần này. Mặt khác vua Suryavarman
muốn xây dựng Angkor Wat là đền thờ thần nhưng cũng được dùng để đè cao danh
xưng của vua nên có khác biệt về hướng như vậy.
Mơ hình tổng thể Đền Angkor Wat – Nguồn hình: Sách Cambodia, John R. Mullaney
Giá trị kiến trúc nghệ thuật của đền Angkor wat còn thể hiện ở kỹ thuật xây dựng.
Vươn lên từ đồng bằng Campuchia lớn hơn bất kỳ thánh đường trung cổ nào, trong
khi đội kĩ sư của vua chỉ mất chưa đến một đời người để hồn thành, đây là một trong
những cơng trình đá có phương pháp thi cơng bí ẩn. Vì tính chất thiêng liêng của ngôi
đền Angkor Wat phải được xây dựng trên một nền đất thuần khiết nhất, đội thợ phải
đào sâu xuống vài mét đất, sau đó đổ các lớp cát dày lên trên, sau đó đến một lớp đá,
và cuối cùng là một lớp cát để san phẳng nền - cấu trúc như móng ngày nay. Nằm ở
trung tâm đền là các lễ vật: đá Saphia trắng biểu tượng của mặt trăng, còn các lá vàng
biểu tượng của mặt trời, họ chôn lễ vật xuống đất. Từ vị trí trung tâm này họ sẽ xâu
đường thơng nối từ hầm chôn lên gian phong thiêng trung tâm rồi các núi đền xây
dựng theo trục đối xứng, có mặt bằng hình vng chính xác 4 phương 8 hướng. Với
thiết kế phần nền theo dạng bậc thang núi đền nhìn như 3 khuôn cát khổng lồ chồng
lên nhau, tầng hai và tầng ba cao gấp đôi tầng thứ nhất trên cùng là năm ngọn tháp
tượng trưng cho đỉnh núi Meru và các ngọn núi xung quanh, tồn bộ cơng trình nặng
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
11
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
đến hàng ngìn tấn. Ở Campuchia có hai mùa rõ rệt 6 tháng mùa mưa với nguồn nước
dồi dào, nhưng 6 tháng mùa khô tiếp theo lại không đủ lượng nước. Họ phải nghĩ cách
dự trữ nước vào mùa mưa để chống trọi khi vào mùa khô, giải pháp của họ không hề
đơn giản, người Khmer đã tạo nên một hệ thống thủy lợi rộng khắp, một mạng lưới
hàng trăm kênh đào, lạch nước, bể chứa nước trải rộng khắp một khu vực rộng gần
1500 m2 – nó như một Venice mở rộng, cung cấp cho đô thị khoảng một triệu người
khi đó. Có thể nói Angkor là thành phố lớn nhất thế giới trước cuộc cách mạng công
nghiệp. Vấn đề là mặc dù nền móng cơng trình vững trên nền đất ướt nhưng mùa mưa
đến kéo theo lũ lụt cũng có thể đánh chìm mọi thứ và phá hủy bất cứ cơng trình nào
tại đây, trong lịng đất khoảng trống giữa các hạt đất sẽ chứa đầy nước khi mực nước
dâng lên theo mùa mưa điều này phần móng hư hại nghiêm trọng, vào mùa khô nước
rút đi, đất khô và mất độ xốp co thể kéo đổ tường và nền móng. Thay vì phải nghĩ
cách xậy dựng một cơng trình đứng vững ,chịu đựng mực nước lên và xuống trong cả
mùa mưa lẫn màu khơ, thì họ lợi dụng khả năng của nước. Angkor Wat được xậy
dựng theo kiểu một còn thuyền nổi trên đại dương của các mạch nước ngầm. Vậy đến
mùa khô nước ở đâu để nâng cho cịn tàu đá này khơng chìm xuống, để giữ đền ổn
định phải một bể chưa nước gần đó và giữ nước đầy quanh năm đó chính là những hào
nước cực rộng bao quanh Angkor Wat, chiều dài lên tới 5km, bề ngang rộng 200m
mùa mưa thu nước để kiểm soát mực nước lên, mùa khô nước ngấm qua hào cũng giữ
cho mực nước trong nền móng ổn định, móng cũng chính là mặt nước nên cơng trình
khơng bị lún chìm vào bùn lầy. Đậy thực sự là một phát kiến đầy sáng tạo và tài ba.
Nhìn từ khơng ảnh, Angkor Wat như một con thuyền đá nổi lên trên đại dương của
những mạch nước ngầm – Nguồn hình: Internet
Việc đào hào thu được một khối lượng đất bùn rất lớn và dùng số cát đó để xây các
bức tường bào quanh đền, nhưng làm sao để giữ được lớp đất cát không ổn định này?,
họ dung tới vật liệu là đá ong - đá dễ cắt, dễ tạo hình, cứng như đá tảng mà lại rất bền,
nằm khuất trong vùng đồng bằng, nhiệt độ cao và mưa xối xả là điều kiện lý tưởng để
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
12
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
hình thành đá ong, nước thấm xuống bề mặt đá hòa tan một số chất bên trong để lại
một cấu trúc làm từ nhơm, sắt và thạch anh. Phải xử lí nhanh khi đá còn mềm và một
đội khác sẽ ghép chúng lại với nhau cứ như thế một kiến trúc thiêng liêng, đồ sộ được
hình thành. Tuy nhiên bề mặt của đá ong thiếu thẩm mỹ nhiều lỗ nhỏ li ti và khó tạo
những chi tiết phức tạp xứng với vị vua thần thánh, họ trang trí mặt tiền bằng cách
phủ bên ngoài đá ong là lớp sa thạch phản chiếu lấp lánh trong ánh sáng mặt trời.
Phương pháp này ảnh hưởng từ văn hóa Ấn Độ - họ lấy những tảng đá lớn đẽo gọt
thành đền thờ, nhưng ở đây người Khmer cổ đẽo gọt các tảng đá và ghép chúng lại với
nhau rồi mới tạo hình thể hiện, điều này thể hiện văn hóa riêng của người Khmer. Để
tìm kiếm đá sach thạch cho Angkor Wat các kĩ sư của vua đã ngược lên phương Bắc –
Đồi Kulen, là núi đá tập trung những ngôi đền Khmer cổ xưa nhất nơi tổ tiên sinh
sống, để biết ơn họ đã tạc nên những biểu tượng linga trong lịng sơng để ban phúc
cho nguồn nước, cho nó sức mạch và quyền lực trong suốt hành trình để đổ về vương
quốc ở hạ nguồn. Hành trình này dài ít nhất 30km. Việc khai thác đá được nghiên cứu
là dùng đục để đập vụn đá, sau đó chèn nêm gỗ, khi đỗ nước vào, nêm gỗ dãn nở và
cắt đôi tảng đá, sau đó vận chuyển đá về bằng cách làm bè tre nứa có thể chịu được đá
2-12 tấn và cả 1 đội quân, rồi nương theo một trong những dòng kênh đổ về đền, sau
đó họ dùng bị, voi hoặc trâu để kéo, mùa khơ thì chặn những dịng phụ tạo khóa điều
chỉnh cho lực nước ổn định để vận chuyển. Cịn vấn đề vận chuyển đá trong cơng
trình một lần nữa lại nhờ ích lợi của hào nước, nó như một bến cảng, thả trôi các khối
đá quanh hào , đá có thể chuyển trực tiếp đến bất cứ đâu trong công trường. Riêng trên
các tảng đá là các lỗ để luồn thanh gỗ qua, cho gỗ ngấm nước dãn nở để có thể dễ
dang buộc dây để vận chuyển ở cả 2 mặt đá và dể thao tác lắp ghép hơn cột bằng dây
thừng. Các nhà khoa học cho ràng cơng nhân dùng giàn giáo và rịng rọc thơ sơ để
nâng đá vào vị trí. Các khối đá tiếp xúc hoàn hảo với nhau ở tất cả các mặt, để đặt đến
độ găn khít tuyệt vời này họ đã dùng phương pháp kỹ thuật mài mịn, sa thạch có bề
mặt thơ ráp tự nhiên khi mài mịn và thêm nước có thể làm phẳng tự nhiên cả 2 mặt,
việc không dùng hồ vữa sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chạm trổ điêu khắc trên
phù điêu, đá không bị gián đoạn.
Minh họa khơng khí cơng trường, cơng việc xây dựng cũng được ghi chép lại trên các
bức phù điêu của Đền – Nguồn hình: Internet
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
13
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
Mái vòm là một thiết kế tuyệt vời rất hiệu quả và sử dụng ở rất nhiều cơng trình
trên thế giới, tuy nhiên nó gây ra nhiều khó khắn mà khó khăn lớn nhất là mái vòm
phải thắng được sức hút trọng lực. Ở Angkor để khắc phục vấn đề này mái vòm tạo
dựng là bằng chứng kỹ thuật vòm tay đỡ (đặt viện đá chồng lên nhau không thẳng
hàng và hơi so le đến khí tạo thành hình vịm cung) nhưng mái vòm ở Angkor Wat
chuộng hành lang hẹp và phòng họp nhỏ rất phù hợp với kỹ thuật này. Các vòm lên
cao sẽ tạo ra lực đẩy mạnh về 2 bên, dễ đổ tường người Khmer đã xây dựng gia cố
thêm cho các bức tường bằng các bậc thang cực dốc đi lên với lan can đá ở cả hai bên
của một bức tường để ép đứng lại – dung lực cân bằng lại. Hiệu quả giống như những
cuốn bay của các nhà thờ Gothic. Trước khi được chiêm ngưỡng núi đền lừng lẫy,
phải vượt qua hào nước cũng không kém phần nổi tiếng, xây dựng được nó cũng tốn
kém khơng thua gì ngơi đền bên trong để chống được áp lực nước. Tất cả những phân
tích trên đều cho thấy một kỹ thuật xậy dựng cao và điêu luyện thời bấy giờ.
Cấu trúc vịm tay đỡ - Nguồn hình: Học viên
Thể hiện những giá trị văn hóa của người Khmer cổ, Angkor Wat cho thấy nhận
thức và tư tưởng của những con người xây dựng nên di tích. Nghiên cứu những bức
phù điêu thì lịch sử campuchia cũng được khai phá, dân tộc Khmer có thế lực khoảng
802 SCN, vị vua Suzzavaman đệ nhị – là vị vua quyền lực nhất, ông được tôn là đấng
sinh thành của vũ trụ, mỗi một vị vua khi lên ngôi đều phải xây dựng cho mình một
ngơi đền thờ riêng, đây là ảnh hưởng văn hóa Hindu giáo. Angkor Wat mơ phịng thế
giới thần linh ở thiên đàng trên mặt đất. Họ quan niệm sự vĩnh hằng tồn tại ở thiên
đường trên đỉnh núi Meru – Phía Bắc Hymalaya, giống như các kim tự tháp, ngơi đền
phải được hồn thành trước khi vua qua đời thì mới giúp nhà vua mở một cánh cổng
đến thế giới vĩnh hằng. Xây dựng trong 35-37 năm, một khoảng thời gian thật ngắn
so với quy mô cơng trình trong khi các cơng trình thánh đường nổi tiếng khác trên thế
giới mất đến 200-300 năm xây dựng nhưng quy mô lạ nhỏ hơn Angkor Wat rất nhiều.
Bên cạnh đó một nhà sử học Elena Monika cịn phát hiện cơng trình là một cuốn lịch
bằng thiên văn rất phức tạp: kích thước khu đền rất chính xác, các hành lang có kích
thước bằng nhau đến từng cm, đặc biệt vào ngày 21-6, ngày hạ chí bình minh lên ngay
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
14
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
tại chính giữa cổng phía bắc, ngay chính giữa lối lên, đến ngày 21-12, ngày đơng chí,
nhìn về phía nam sẽ thấy mặt trời mọc ở ngày chính giữa cổng phía nam, chính xác
đến hồn hảo như một chiếc đồng hồ Thụy Sĩ. Các bức phù điêu cũng thể hiện không
chỉ là để trang trí mà như những cuốn lịch: thế giới của người Khmer ở trung tâm của
vũ trụ, số lượng thần thể hiện số ngày trong năm, các ngày đặc biệt thì thần được
chạm trổ kích thước lớn và đặc biệt hơn, ta có thể thấy khi mà Châu Âu mải mê khám
phá mặt đất thì nền văn minh cổ này đã có kiến thức về thiên văn, khám phá bí mật và
mối liên hệ với vũ trụ.
Hiện nay Angkor Wat còn mang giá trị biểu tượng của đất nước Campuchia, xuất
hiện trên quốc kỳ và là điểm thu hút du khách hàng đầu đất nước. Ngôi đền là một
biểu tượng mạnh mẽ của Campuchia và là niềm tự hào tổ quốc to lớn đã có ảnh hưởng
đến mối quan hệ ngoại giao của Campuchia với Pháp, Hoa Kỳ và người láng giềng
Thái Lan. Đây chính là giá trị tinh thần – một giá trị phi vật thể đầy tự hào của con
người Campuchia, một giá trị mang lại ý nghĩa xã hội của cơng trình – đúng như tinh
thần của Văn kiện Nara. Hình ảnh Angkor Wat đã xuất hiện trên quốc kỳ
Campuchia ngay từ khi nó mới được ra mắt vào năm 1863. Tuy nhiên, từ một góc độ
lịch sử và văn hóa lớn hơn, trong quá khứ Angkor Wat không phải chỉ là một biểu
tượng quốc gia độc đáo và đã xuất hiện trong quá trình hình thành nên di sản thuộc
Pháp về văn hóa - chính trị. Ngôi đền được giới thiệu tại triển lãm thuộc địa Pháp và
thế giới tại Paris và Marseilles vào giữa những năm 1889 và 1937. Vẻ đẹp của Angkor
Wat cũng xuất hiện trong bảo tàng thạch cao của Louis Delaporte với tên gọi bảo tàng
Đông Dương (musée Indo-chinois) từng nằm trong Cung điện Trocadéro tại Paris từ
năm 1880 cho đến giữa thập niên 1920.
Vẻ đẹp huy hoàng trong kiến trúc của Đền Angkor Wat – Nguồn hình: The Khmer
Empire Cambodia s‟ Medieval Splendor
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
15
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
Quần thể Angkor nói chung và Angkor Wat nói riêng cịn mang trong mình Giá trị
kinh tế to lớn – đây là di tích sống, nó vẫn cịn được sử dụng điều này rất đúng với
tinh thần của Hiến chương Athen. Từ những năm 1990, Angkor Wat đã trở thành một
địa điểm du lịch lớn. Năm 1993, chỉ có 7,650 du khách đến đây; đến năm 2004, số
liệu chính phủ đã cho thấy đã có 561,000 du khách nước ngồi đến tỉnh Xiêm Riệp,
chiếm xấp xỉ 50% lượng du khách nước ngoài đến Campuchia. Đến năm 2007 con số
này là trên một triệu, và trên hai triệu vào năm 2012. Phần lớn mọi người đến thăm
Angkor Wat với trên 2 triệu du khách nước ngồi năm 2013. Khu di tích được quản lý
bởi tập đoàn tư nhân SOKIMEX, tổ chức đã thuê lại Angkor Wat từ Chính phủ
Campuchia. Du lịch cũng mang về một nguồn thu khác cho cơng tác bảo trì, cho đến
năm 2000, khoảng 28% nguồn thu từ bán vé tại khu vực Angkor được sử dụng cho
ngôi đền, cho dù phần lớn công việc được tiến hành bởi các đội được tài trợ bởi các
chính phủ nước ngồi chứ không phải các nhà chức trách Campuchia.
1.2.
Nhận biết – đánh giá các phương pháp bảo tồn và trung tu áp dụng cho
di tích
Trong suốt thế kỷ XX các nhà khảo cổ học đã cố gắng bảo vệ ngôi đền Angkor
Wat khỏi sự xâm chiếm của rừng già và cố tìm hiểu xem ai là người đã xây dựng lên
nó. Khơng chỉ riêng đền Angkor Wat mà cả quần thể Angkor bị tàn phá bởi rừng
nguyên sinh, bởi chính người dân Angkor, bởi chiến tranh. Năm 1972 các nhà khoa
học Pháp dời đi vì nội chiến, đến 1991 họ cũng là những nhà khoa học đầu tiên quay
lại và tiếp tục đam mê bị bỏ ngỏ, sau khi quan sát kĩ lưỡng, vẽ ghi họ đánh số và dỡ
dần các tảng đá ra, họ xây tường bê tơng ở phía trong để gia cố rồi đặt lại các phiến đá
về vị trí cũ, việc sử dụng bê tơng cũng gây tranh cãi. Xong cách thức này là đúng theo
nguyên tắc của phương pháp bảo quản: tác động kỹ thuật chứ không tác động đến mỹ
thuật, khi bổ sung kết cấu chịu lực thì phải giấu đi, yếu tố mỹ thuật phải cố gắng thể
hiện lại. Năm 1986, các nhà khoa học Ấn Độ được phép đến đây nghiên cứu, sau đó là
người phương Tây đã quay lại, tình trạng của khu di tích là mối lo chung nhưng họ
chưa bao giờ nhất trí với nhau về cách thức bảo vệ, phục hồi tốt nhất đối với ngôi đền,
thách thức lớn nhất là ngăn không cho thực vật lấn sâu vào đền.
Đặc biệt, những lần trùng tu trước đó người ta đã cố gắng áp dụng các kĩ thuật xây
dựng của phương Tây vào một cơng trình đậm chất phương Đơng và đã gây nguy
hiểm cho ngôi đền. Ở những năm 1980 sau một cuộc đại trùng tu các viên đá được
dựng trở lại và trám xi măng để chống mưa thật khơng may giải pháp đó khiến các
loại hóa chất ăn mòn trong xi măng thấm vào đền ảnh hưởng lên cách bức phù điêu
nổi tiếng, trong đó quan trọng nhất là bức phù điêu minh họa cho câu chuyện – Biển
sữa trường sinh (một bên là các thần, một bên là ác quỷ tranh giành sự trường sinh, họ
kéo đầu và đuôi rắn thần Naga đang quấn quanh một trục trụ trời tựa ngọn núi Meru,
vị trí trung tâm là thân Vishnu - thần hộ mệnh, qua một ngàn năm giằng co, họ làm
xoay trục trung tâm làm khuấy động biển sữa từ đây sự sống hình thành, tạo ra các vị
thần, tạo ra còn người và các sinh vật từ đáy biển sữa). Các bức phù điêu tuyệt tác này
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
16
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
bị phá hủy là do nước mưa dột từ mái mang theo muối cộng thêm sự phát triển của
nấm mốc. Theo thiết kế nguyên bản để bảo vệ các bức phù điêu thực chất đã có một
hệ thống thốt nước mưa từ mái do người Khmer cổ tạo ra theo nguyên tắc nước thoát
theo các khe hở mối tiếp xúc, các mối tiếp xúc này đều hở, nước không ngấm thẳng
vào bên trong mà theo các rãnh này thốt ra ngồi trong khi đó các nhà bảo tồn lại
trám, che lấp các khe và rãnh hẹp này bằng xi măng, những người làm cơng tác trung
tu đang gặp rắc rối lớn vì đã khơng nghiên cứu kĩ lưỡng, nên sau đó một cuộc trung tu
khác được thực hiện, mái đền đá được đánh số đánh dấu vị trí, sau đó dỡ ra, ta thấy
rất nhiều phiến đá bị bong tróc bởi muối, họ hạ xuống và loại bỏ sạch, vệ sinh cẩn
thận, lớp vữa cạo sạch để lấy lại rãnh thoát nước, sau đó chúng được nhúng qua một
dung dịch tạo lớp vỏ để tránh tác động của môi trường và rồi được tái định vị lại chỗ
cũ. Một lần nữa lại minh chứng cho sự xuất sắc trong kỹ thuật xây dựng của người
Khmer mà nếu không làm sai các nhà khoa học cũng khó nhận thấy sự tỉ mỉ, cẩn trọng
ấy.
Một lần sai lầm trong phương pháp bảo tồn đã gây ra hậu quả các bức phù điêu bị ăn
mòn, loang lỗ, làm giảm tính thẩm mỹ vốn có của di tích. – Nguồn hình: Học viên
Tổ chức Dự án Bảo tồn Apsara Đức đang làm công tác bảo vệ các hoa văn và họa tiết
điêu khắc đá khỏi hư hại. Khảo sát của công ty cho thấy khoảng 20 phần trăm các họa
tiết đang trong tình trạng tồi tệ, chủ yếu bởi sự xói mịn tự nhiên và sư xuống cấp của
đá, nhưng một phần cũng do các cố gắng phục dựng trước đó. Các cơng việc khác bao
gồm sửa chữa các phần bị sụp đổ của cấu trúc, và đề phịng sự sụp đổ thêm: mặt phía
tây của tầng trên đã được củng cố thêm bằng giàn giáo từ năm 2002, trong khi một đội
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
17
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
từ Nhật Bản đã hồn thiện việc phục dựng thư viện phía bắc của khoảng đất phía
ngồi năm 2005. Quỹ Di tích Thế giới (World Monuments Fund) bắt đầu công việc
phục dựng hành lang có bức phù điêu miêu tả câu chuyện Biển sữa trường sinh năm
2008 sau một vài năm nghiên cứu tình trạng. Dự án khơi phục hệ thống mái truyền
thống của người Khmer và loại bỏ xi măng được dùng trong các lần phục dựng trước
khiến muối thấm vào sau các bức điêu khắc đá, làm phai màu và gây hư hại các bề
mặt điêu khắc. Sự mất nước và vi khuẩn lam dạng sợi chống bức xạ có thể sản xuất
các axit hữu cơ phân hủy đá. Một loại nấm dạng sợi, tảo đã được tìm thấy trong các
mẫu vật trong và ngoài đền. Các bản sao cũng đã được thực hiện để thay thế và dự
phòng cho một số các điêu khắc bị mất hoặc hư hỏng.
Dự án bảo tồn chia làm hai giai đoạn: khảo sát và trùng tu. Ở giai đoạn đầu tiên
các kiến trúc sư và các nhà khảo cổ khảo sát cơng trình để đánh giá toàn bộ về câú
trúc và tác động có hại của mơi trường lên cơng trình. Tiếp theo là phân tích so sánh
theo nhiều cấp độ khác nhau để làm rõ những hạng mục cần trùng tu. Sau đó tiến hành
lập chương trình trùng tu thích hợp. Việc bảo tồn và trùng tu Angkor Wat có một ý
nghĩa quan trọng trong việc: Bảo vệ cho ngôi đền không bị hư hỏng thêm, tơn tạo ngơi
đền ở tình trạng thật của nó, mở rộng khu vực bảo tồn và xây dựng đường giao thông,
tạo điều kiện cho khách tham quan.
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
18
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
Bên cạnh việc bảo tồn, trùng tu di tích dưới tác động phá hủy của thiên nhiên thì việc
bảo quản cơng trình để nó tồn tại được sau khi được phục dựng lại cũng vô cùng quan
trọng nhất là khi lượng khách du lịch đến với Angkor nói chung và Angkor Wat nói
riêng ngày càng nhiều . Những đồn du khách đó cũng là một trong những ngun
nhân làm xói mịn các bức tường và con đường trải đá của Angkor Wat - ngôi đền lớn
nhất và nổi tiếng nhất của di sản này, bởi ý thích và nguyên vọng là leo lên di tích. Vì
vậy trong q trình bảo tồn và trùng tu di sản này các nhà quản lý Angkor đã tiến hành
xây dựng một cầu thang sắt có tay vịn và bục gỗ phụ vụ làm lối giao thông đi lại và
nhằm che chắn các phiến đá, bảo vệ cơng trình di tích.
Các phương pháp bảo tồn sử dụng trong dự án trùng tu Angkor Wat
Các nhà bảo tồn trước đây đều tiên hành theo phương pháp hiện đại, sử dụng chủ yếu
vữa ximăng và bê tông cốt thép để tu sửa toàn bộ đền Angkor Sử dụng chất liệu dễ
phân biệt với đá tổ ong và sa thạch, khơng làm giả di tích.
Bên cạnh đó cịn có phương pháp tái định vị bằng cách đánh số và sắp xếp vào đúng
vị trí cũ vốn có của nó Dựa vào những cứ liệu chắc chắn, cẩn thận bảo quản
khơng làm thay đổi những gì vốn có của di tích.
Gia cố những vị trí có nguy cơ bị sụp hoặc hư hại. Có thể gia cố bằng hệ khung gỗ
hoặc vữa xi măng, hoặc bổ sung trụ bê tông đỡ với vật liệu khác hẳn với chất liệu
công trình bảo tồn để tránh sự nhầm lẫn. Gia cố là phương pháp ưu tiên nhất để
giữ vững lại những gì cịn tồn tại của di tích
Bổ khuyết và phục hồi lại những hư hại của cơng trình. Phương pháp trùng tu từng
phần làm phát lộ hoặc phục dựng lại một số vị trí bị khuyết của cơng trình dựa trên
những cứ liệu có cấu trúc tương đồng trong cơng trình, xong phần bổ khuyết vẫn phải
dễ dàng phân biệt được với các yếu tố gốc, chân xác.
Vậy, phương pháp trùng tu được thực hiện tại Angkor Wat được thực hiện theo đúng 5
hình thức của “trùng tu khảo cổ học” đối với kiến trúc gạch – đá.
Hiện tại, Angkor Wat đang được bảo tồn và trùng tu với nhiều đơn vị từ các quốc
gia khác nhau trên thế giới với 4 dự án chính, bao gồm:
Dự án bảo tồn Angkor của Đức: trùng tu phù điêu (bas-relief) của Angkor Wat.
Dự án trùng tu đường dẫn phía Tây giai đoạn 2 (Đại học Sophia – Nhật Bản).
Dự án trùng tu thành phần Angkor Wat của Viện kết cấu và địa kỹ thuật Ý.
Dự án bảo tồn phù điêu Khuấy động Biển Sữa của Quỹ di tích thế giới (WMF).
Dự án trùng tu đoạn đê phía Tây lối vào Angkor Wat do trường Đại học
Sophia, Nhật Bản thực hiện trùng tu. Cơng tác trùng tu được thực hiện theo
trình tự: Tháo dỡ đoạn bị sập sau khi lập hồ sơ hiện trang Lắp dựng tường
chắn đá ong sau khi kiểm sốt mực nước và gia cố nền móng Đầm nén đất
(gồm lớp sét và cát) Lát lại lối đi bằng nền đá ong
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
19
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
Một số vị trí gia cố bằng trụ hoặc đúc bê tơng vừa bổ khuyết vừa gia cố phần nền –
Nguồn hình: Học viên
Một số vị trí gia cố bằng hệ khung gỗ - Nguồn hình: Học viên
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
20
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
Rất nhiều cột phải gia cố bằng đai thép – Nguồn hình: Học viên
Các phần cấu kiện chờ tái định vị sau gia cố kết cấu, tập trung ở sân trên của đền –
Nguồn hình: Học viên
Để tổ chức một cách tiếp cận chặt chẽ và áp dụng cho việc bảo tồn ngôi đền rộng
lớn này, một bản đồ đánh giá nguy cơ hư hại của di tích được chuẩn bị theo thứ tự ưu
tiên các vấn đề khác nhau và cho phép các kỹ thuật để ứng phó với mỗi phần bị hư hại
của ngôi đền theo một cách hợp lý và có hệ thống. Dự án tồn diện bao gồm tất cả các
phù điêu, bắt đầu với các hàng lang Tây Nam và sau đó chuyển đến góc Tây Bắc. Rất
cẩn trọng với di tích Điều 9 của Hiến chương Venice có quy định: “Tiến trình
trùng tu là một thao tác có tính chun mơn cao. Mục đích của trùng tu là bảo tồn và
làm lộ ra giá trị thẩm mỹ và lịch sử của di tích, và phải dựa trên cơ sở tôn trọng vật
liệu gốc và các cứ liệu xác thực. Trùng tu phải ngừng lại ngay khi bắt đầu có sự phỏng
đốn, hơn nữa trong trường hợp đó, nếu xét thấy nhất thiết phải làm thêm một cái gì
đó vì lý do thẩm mỹ hoặc kỹ thuật thì bộ phận làm thêm đó phải phân biệt được với bố
cục kiến trúc và phải ghi rõ dấu ấn niên đại lúc thực hiện. Bất kỳ trong trường hợp
nào, trước và sau khi trùng tu phải có nghiên cứu di tích về mặt khảo cổ và lịch sử”.
Như vậy, có thể thấy, sau những sai lầm bước đầu khi mà các chuyên gia Ấn Độ đã
phủ hết cái gọi là “lớp bụi thời gian” – dấu vết của lịch sử, thì ngày nay, quá trình
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
21
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
trùng tu Angkor Wat đã đảm bảo được nguyên tắc quan trọng nhất của bảo tồn và
trùng tu là bảo vệ tính xác thực của di tích.
Dự án trùng tu đoạn đê phía Tây lối vào Angkor Wat là một ví dụ cụ thể. Trong dự án
này, các chuyên gia Nhật Bản đã cố gắng sử dụng phương pháp xây dựng ngày xưa
mà người ta đã sử dụng để xây dựng di tích, đồng thời cố gắng giữ lại tối đa chất liệu
gốc, sắp xếp những bộ phận bị sụp đổ trở lại vị trí ban đầu của chúng. Họ đã sử dụng
chất liệu là đá sa thạch, giống như chất liệu gốc để thay thế những bộ phận đã bị mất
nhưng được gia công bề mặt đơn giản hơn chứ không mơ phỏng bắt chước hồn tồn
cái cũ Đúng tinh thần ngun tắc khơng làm giả di tích.
Đoạn đê được trùng tu vào năm 2000 -2007 – Nguồn hình: Internet
Hiện tại các đoạn đê, đường dẫn khác cũng đang bị hư hại. Sử dụng phương pháp
đắp kè chắn áp lực nước và gia cố, bổ khuyết bằng vật liệu bê tơng với các chi tiêt
thành lan can – Nguồn hình: Học viên + Cao Tâm K22
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
22
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
Phương pháp bảo quản được sử dụng cho mảng tường đá điêu khắc chạy dọc theo
hành lang mà GACP đã thực hiện. Sau một thời gian để cho người tham quan tự do
dùng tay chạm vào và làm bóng lên những chi tiết, nay nó đã được cách ly bằng hàng
rào vì mồ hơi tay cũng có thể làm hư hại những kiệt tác nghệ thuật này. Đồng thời,
phương pháp bổ khuyết cũng được sử dụng ở một vài vị trí. Việc làm rõ phần cũ –
mới để không gây hiểu nhầm là đúng, nhưng về mặt chất liệu, màu sắc…lại không
gần giống với bản gốc, gây ra cảm giác loang lổ, gây phản cảm với người tham quan
là điều nên tránh. Bên cạnh đó, giải pháp gia cố cũng được thực hiện đúng với điều 10
của Hiến chương: “Ở đâu mà kỹ thuật truyền thống tỏ ra bất cập thì để đảm bảo việc
gia cố di tích ở chỗ đó, có thể dùng mọi kỹ thuật hiện đại về bảo tồn và xây dựng.
Tính hiệu quả của thao tác này phải được chứng minh bằng cứ liệu khoa học và được
kinh nghiệm bảo đảm”. Đây là giải pháp được sử dụng phổ biến trong phương pháp
bảo quản. Điều này giúp tăng khả năng chịu lực cho kết cấu mà vẫn giữ được hình
dáng sơ khai của cơng trình.
Các hoạt động bảo tồn và trùng tu lại các bức phù điêu của các nhà khoa học –
Nguồn hình: Sách Conservation of the Reliefs on the Temple of Angkor
Sự giúp đỡ của các công cụ kỹ thuật hiện đại cho thấy bao quát các cơng tác bảo tồn
trùng tu ở Thư viện phía Bắc Angkor Wat. Nguồn hình: Học viên
Đền Angkor Wat là ngơi đền gần như cịn ngun vẹn, ít bị hư hỏng nhất qua thời
gian và thời kỳ chiến tranh. Bên cạnh những hư hại của cấu trúc ngôi đền, những tác
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
23
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
động của thiên nhiên và con người lên từng khối đá, còn một khó khăn nữa của việc
trùng tu di tích đó là việc tìm kiếm tư liệu về quá trình xây dựng và bí ẩn của các cơng
trình này ln gặp khó khăn. Với sự giúp đỡ của cơng nghệ tin học, hình khối của
cơng trình được chia thành từng bộ phận nhỏ hơn và dựng lại trên máy tính để có một
cái nhìn bao qt hơn trong việc sắp xếp lại các viên đá, đảm bảo cơng trình xây dựng
đúng với hình khối của nó trước đây.Đã từng xảy ra tai nạn đối với du khách nên các
nhà quản lý Angkor phải xây dựng một cầu thang sắt có tay vịn và bục gỗ che chắn
nhằm bảo vệ khách tham quan lẫn di tích. Bốn mặt của tháp đã được xây dựng một
tháp có cầu thang sắt đi lên. Để leo lên được tháp, yêu cầu du khách không được mặc
váy ngắn, đội mũ để thể hiện lịng tơn kính với các vị thần.
Lan can, cầu thang sắt bục gỗ là giải pháp bảo quản di tích khỏi tác động của khách
du lich – Nguồn hình: Học viên
Một sự nỗ lực với các hợp tác quốc tế đã khôi phục lại giá trị chân xác của di tích
kiến trúc Angkor Wat, cũng như ngăn chặn việc bị phá hủy do cấu trúc cơng trình
khơng ổn định. Cho tới nay, khu di tích này đã và đang được 16 quốc gia, 28 tổ chức
quốc tế đầu tư tơn tạo.Trong vịng 10 năm qua, có 250 triệu USD được sử dụng để sửa
chữa và bảo tồn các ngôi đền cổ trong quần thể Angkor. Mặc dù Angkor Wat phải đối
mặt với rất nhiều khó khăn, nhưng sức sống của di sản với mơ hình quản lý và bảo tồn
mới, vẫn thu hút hàng triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới đến tham quan, tìm
hiểu, nghiên cứu.
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
24
BẢO TỒN DI SẢN KIẾN TRÚC
[GVHD: PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI]
2. Đền Bayon - Angkor Thom
Đền Bayon nằm trong quần thể di tích Angkor Thom - Nguồn hình: Học viên
2.1.
Nghiên cứu – nhận định các giá trị của cơng trình
Xây dựng sau Angkor Wat gần 100 năm, mang trong mình giá trị lịch sử to lớn,
Angkor Thom cũng có sức hấp dẫn huyền bí khơng kém Angkor Wat. Vào cuối thế kỷ
thứ XII đầu thế kỷ XIII: Vua Jayavarman VII cho xây dựng khu kinh thành lớn đó là
Angkor Thom cũng là kinh đô cuối cùng của đế chế Khmer. Bên trong có nhiều đền
thờ từ các thời kỳ trước cũng như các đền thời được Jayavarman và những người nối
nghiệp ông xây dựng. Đền Bayon nằm giữa trung tâm Angkor Thom. Vua Jayavaman
VII đã cho xây ngôi đền Bayon với 54 tháp lớn nhỏ, mỗi tháp đều có điêu khắc 4
gương mặt của thần Lokesvara về 4 hướng, tổng cộng có 216 gương mặt trên tất cả
các tịa tháp vì vua theo Phật Giáo Đại thừa, khác biệt hẳn với tín ngưỡng của các vị
vua trước. Giữa thế kỷ XIII: sau khi Vua Jayavarman VII mất ngôi đền cũng bị thay
đổi bởi các vị vua sau này, ngôi đền Bayon Phật Giáo được thay đổi để phù hợp
với Ấn Độ Giáo, bởi những vị vua sau này theo đạo Ấn Độ Giáo nên đã thay đổi tất cả
để phù hợp với đạo giáo. Angkor khơng cịn ngun vẹn do các vị vua có sự đấu tranh
về tơn giáo gay gắt, sự thay đổi tôn giáo của các vị vua làm cho các đền đài tại
Angkor ln thay đổi theo tín ngưỡng tơn giáo của vị vua đó, dẫn đến Angkor khơng
cịn nguyên thủy. Xong đó lại là sự thay đổi do lịch sử của từng thời kỳ tạo ra, mang
tính chất tư liệu nghiên cứu cũng có giá trị riêng. Ngơi đền Bayon rất may là không bị
đập phá nhờ những gương mặt cười làm Ấn Độ Giáo nhằm tưởng là gương mặt của
thần Shiba nên giữ lại không cho đập phá.
NGUYỄN HỮU THÁI AN – 15KT02 – K22
25