ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÀI ĐÁNH GIÁ HẾT HỌC PHẦN
Chương trình bồi dưỡng Nghiệp vụ Quản lý giáo dục
Họ và tên:…………………….
Ngày sinh:…………….,
Nơi sinh:
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Nam Hồng
Câu hỏi:
Câu 1: Khái quát chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý
giáo dục
Câu 2: Trình bày những chuyên đề mà anh/chị tâm đắc nhất
trong chương trình bồi dưỡng Nghiệp vụ Quản lý giáo
dục. Anh/ chị hãy lý giải vì sao chọn các chuyên đề đó?
Hà Nội - 2021
Câu 1: Khái quát chương trình bồi dưỡng nghiệp
vụ Quản lý giáo dục
- Mục đích bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
Ngày 26/8/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 28/2014/TTBGDĐT quy định về bồi dưỡng và cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý
giáo dục. Thông tư này quy định về việc bồi dưỡng và cấp chứng chỉ bồi dưỡng
nghiệp vụ quản lý giáo dục (sau đây gọi tắt là bồi dưỡng), bao gồm: điều kiện,
thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục giao nhiệm vụ bồi dưỡng; tổ chức bồi
dưỡng, kiểm tra, xếp loại, cấp chứng chỉ bồi dưỡng.
Theo đó, mục đích bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục là một trong
những nội dung trọng tâm và được quy định tại Điều 2 Thông tư 28/2014/TTBGDĐT. Cụ thể như sau:
1. Bồi dưỡng những kiến thức về nghiệp vụ quản lý, phương pháp, kỹ
năng quản lý ban đầu, bắt buộc, tối thiểu đối với cán bộ quản lý đáp ứng tiêu
chuẩn bổ nhiệm chức danh cán bộ quản lý giáo dục.
2. Cập nhật kiến thức về chính trị, kinh tế - xã hội, chuyên môn, nghiệp
vụ; bồi dưỡng, củng cố về kỹ năng, phương pháp lãnh đạo và quản lý giáo dục
nhằm nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, chất lượng, hiệu quả
công tác quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục.
- Đối tượng bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
Các trường sư phạm, các cơ sở giáo dục đại học có khoa, ngành quản lý
giáo dục và cơ sở giáo dục được giao nhiệm vụ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý
giáo dục.
Cán bộ quản lý ở các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên,
trung cấp chuyên nghiệp; cán bộ quản lý khoa, phòng cơ sở giáo dục đại học;
2
cán bộ quản lý sở giáo dục và đào tạo, phịng giáo dục và đào tạo; cơng chức,
viên chức dự nguồn đã được quy hoạch cho các chức danh quản lý trên (sau đây
gọi tắt là cán bộ quản lý) và tổ chức, cá nhân liên quan.
- Nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
Module 1: Quản lý sự thay đổi và Phong cách lãnh đạo + hướng dẫn bài tập.
Module 2: Đường lối phát triển GD & ĐT và Lập kế hoạch phát triển
trường phổ thông/ mầm non
Module 3: Tổng quan về khoa học quản lý và Quản lý Nhà nước về
GD&ĐT+ Hướng dẫn bài tập
Module 4: Thanh tra, kiểm tra và kiểm định chất lượng giáo dục phổ
thông/ mầm non
Module 5: Quản lý nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ trong trường
mầm non / Quản lý HĐDH, GD trong trường phổ thông
Module 6: Xây dựng và phát triển nhà trường
Module 7: Quản lý hoạt động NCKH SP và Ứng dụng CNTT trong trường
phổ thông/ mầm non
Module 8: Quản lý nguồn lực trong trường phổ thông/ mầm non
Module 9: Kĩ năng hỗ trợ quản lý trường phổ thơng/ mầm non
Thời lượng: 360 tiết
- Hình thức tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
3
Căn cứ vào điều kiện thực tế của cơ sở giáo dục làm nhiệm vụ bồi dưỡng
(sau đây gọi tắt là cơ sở bồi dưỡng) và nhu cầu của học viên, cơ sở bồi dưỡng
được quyền chủ động lựa chọn một trong 2 hình thức:
1. Bồi dưỡng tập trung: học tập trung tại cơ sở bồi dưỡng trong 8 tuần
(315 tiết); 4 tuần còn lại (45 tiết) thực hiện các công việc: đi thực tế và viết tiểu
luận tại địa phương; đánh giá tiểu luận và tổng kết khóa học tại cơ sở bồi dưỡng.
2. Bồi dưỡng bán tập trung (vừa làm vừa học): học viên đảm bảo đủ các
nội dung và thời lượng thực học như hình thức học tập trung, nhưng tổng thời
gian bồi dưỡng không quá 20 tuần.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý
giáo dục
1. Kết thúc mỗi module của chương trình bồi dưỡng, học viên phải thực
hiện một bài kiểm tra viết trong thời gian tối thiểu 60 phút. Bài kiểm tra được
chấm theo thang điểm 10.
2. Học viên tham gia tối thiểu 80% thời lượng chương trình bồi dưỡng
quy định cho mỗi module thì được tham gia kiểm tra kết thúc module đó. Học
viên có tất cả các bài kiểm tra kết thúc module đạt từ 5 điểm trở lên thì được viết
tiểu luận cuối khóa.
3. Bài tiểu luận cuối khóa phải áp dụng kiến thức đã học vào giải quyết
vấn đề thực tiễn tại nơi đang công tác (có ý kiến nhận xét của cơ quan quản lý
trực tiếp học viên). Bài tiểu luận cuối khóa được đánh giá theo thang điểm 10.
- Xếp loại kết quả bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
1. Điểm xếp loại kết quả bồi dưỡng là điểm trung bình cộng của điểm các
module và điểm tiểu luận cuối khóa, làm trịn đến một chữ số sau phần thập phân.
4
Ví dụ: Học viên A có điểm 5 module lần lượt là: 5,0; 6,0; 6,5; 8,0; 9,0 và
điểm tiểu luận cuối khóa là 9,5 thì điểm xếp loại kết quả bồi dưỡng là: (5,0 + 6,0
+ 6,5 + 8,0 + 9,0 + 9,5) : 6 = 44 : 6 = 7,33 làm tròn thành 7,3.
2. Xếp loại kết quả bồi dưỡng.
a) Loại trung bình: điểm xếp loại đạt từ 5 điểm đến dưới 7 điểm;
b) Loại khá: điểm xếp loại đạt từ 7 điểm đến dưới 9 điểm (khơng có điểm
dưới 6);
c) Loại giỏi: điểm xếp loại đạt từ 9 điểm đến 10 điểm (khơng có điểm
dưới 7).
3. Học viên khơng được cơng nhận hồn thành chương trình bồi dưỡng
khi điểm xếp loại đạt dưới 5 điểm hoặc chưa đủ số điểm các module và tiểu luận
theo quy định.
- Cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
1. Người học được cấp chứng chỉ bồi dưỡng sau khi hồn thành chương
trình và có điểm xếp loại kết quả bồi dưỡng quy định tại khoản 1, Điều 10 đạt từ
5 điểm trở lên.
2. Các cơ sở bồi dưỡng cấp chứng chỉ cho học viên đạt các điều kiện quy
định tại khoản 1 Điều này.
3. Việc quản lý và cấp chứng chỉ bồi dưỡng thực hiện theo Quyết định số
33/2007/QĐ-BGDĐT ngày 20/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân và Quyết
định số 34/2008/QĐ-BGDĐT ngày 10/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành mẫu chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân.
- Kinh phí bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý giáo dục
5
1. Kinh phí bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục bao gồm:
a) Ngân sách nhà nước dành cho đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên của
ngành, địa phương;
b) Kinh phí của các đơn vị cử người đi bồi dưỡng;
c) Kinh phí từ các nguồn hỗ trợ hợp pháp khác.
2. Hàng năm, cơ sở bồi dưỡng phải báo cáo quyết toán kinh phí theo quy
định hiện hành.
6
Câu 2: Trình bày những chuyên đề mà anh/chị tâm đắc nhất trong
chương trình bồi dưỡng Nghiệp vụ Quản lý giáo dục. Anh/ chị hãy lý giải vì
sao chọn các chuyên đề đó?
Chuyên đề mà em tâm đắc nhất là “MODULE 1 ĐƯỜNG LỐI PHÁT
TRIỂN GD-ĐT VIỆT NAM” và “MODULE 2: LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ”. Lý
do e chọn chuyên đề này vì:
1. Chuyên đề “MODULE 1: ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN GD-ĐT
VIỆT NAM”
Nghiên cứu chuyên đề “Đường lối phát triển giáo dục - đào tạo Việt Nam”
có ý nghĩa quan trọng đối với học viên. Qua chủ đề giúp học viên nhận thức
được:
Về vai trò của giáo dục, đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực. Qua
đó tích cực học tập, nâng cao trình độ để đap sứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Ngày nay, trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, tỷ lệ
lao động cơ bắp ngày một giảm, lao động trí tuệ ngày càng gia tăng, lợi thế so
sánh dựa trên số lượng lao động và giá nhân công rẻ cũng ngày một giảm và đang
chuyển dần về phía những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao. Do đó,
chất lượng nguồn nhân lực đang trở thành yếu tố quyết định nhất đối với việc tăng
lợi thế cạnh tranh cũng như sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia. Ở
Việt Nam, Đảng ta cũng nhất quán quan điểm khẳng định: “Nguồn lực con người
là quý báu, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính
và nguồn lực vật chất cịn hạn hẹp. Tuy nhiên, để phát triển nguồn nhân lực có
chất lượng, đáp ứng địi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện
đại hóa, chúng ta phải cần đến một hệ thống giải pháp đồng bộ về giáo dục, đào
tạo, chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng dân số, cải thiện môi trường sống,
tạo việc làm, tổ chức khai thác lực lượng lao động, phát triển văn hóa tạo ra động
lực kích thích tính tích cực ở con người” [2, tr.153].
Không chỉ trong điều kiện hiện nay, mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác - Lênin lúc đương thời đã đặt giáo dục, đào tạo ở vị trí trung tâm trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong tác phẩm “Bàn về chế độ hợp tác”, V.I.
7
Lênin viết: “Sự thay đổi căn bản đó là ở chỗ: trước đây chúng ta đã đặt và không
thể không đặt trọng tâm công tác của chúng ta vào cuộc đấu tranh chính trị, vào
cách mạng, vào việc giành lấy chính quyền... thì trọng tâm cơng tác của chúng ta
hiện nay quả thật là xoáy vào hoạt động giáo dục” [4, tr.189] . Người cũng giải
thích rõ tại sao giáo dục, đào tạo lại có tầm quan trọng đặc biệt như vậy. Đó là vì
cơ sở vật chất duy nhất của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại cơng nghiệp
cơ khí có khả năng cải tạo cả nơng nghiệp và để có được cơ sở đó, khơng có
cách nào khác là nước Nga phải tiến hành điện khí hóa tồn quốc. Nhưng cơng
việc điện khí hóa tồn quốc lại “không thể do những người mù chữ mà thực hiện
được, mà chỉ biết chữ thơi thì cũng khơng đủ. Cơng việc tiến hành điện khí hóa
tồn quốc chỉ có thể thực hiện trên cơ sở một nền học vấn hiện đại, nền học vấn
mà thiếu nó thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một nguyện vọng mà thơi” [4,
tr.190]. Và để có được nền học vấn đó thì cũng chỉ có một cách duy nhất là tập
trung vào phát triển giáo dục, đào tạo.
Từ những chỉ dẫn của các nhà kinh điển và yêu cầu của thực tiễn, Đảng ta
đã coi giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu. Bởi lẽ, “Giáo dục và đào tạo có
sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp
phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt
Nam” [3, tr.120]. Đồng thời, Đảng xác định ba mục tiêu mà sự nghiệp giáo dục,
đào tạo phải đạt tới là nâng cao dân trí, phát triển nhân lực và bồi dưỡng nhân
tài, trong đó phát triển nhân lực là mục tiêu có ý nghĩa quan trọng và được ưu
tiên hơn. Nói đến nguồn nhân lực là nói đến tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực,
kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc, kinh nghiệm sống, đạo đức,
lý tưởng, chất lượng văn hóa, năng lực chun mơn, tính năng động trong cơng
việc mà bản thân con người và xã hội có thể huy động vào cuộc sống lao động
sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Phát triển nguồn nhân lực có thể
hiểu là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm tạo
ra sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực; đồng thời, nâng
cao hiệu quả quản lý, sử dụng để nguồn lực này đáp ứng ngày càng tốt hơn sự
phát triển bền vững của đất nước.
8
Từ nội dung của phát triển nguồn nhân lực như vậy, chúng ta có thể thấy
vai trị của giáo dục, đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực thực chất là làm
gia tăng về chất lượng của nguồn nhân lực và đảm bảo cơ cấu về số lượng lao
động một cách hợp lý trong từng ngành, lĩnh vực. Vai trò của giáo dục, đào tạo...
Sở dĩ giáo dục, đào tạo có vai trị quan trọng đối với phát triển nguồn nhân lực là
vì, đối tượng hướng đến của giáo dục là con người và mục tiêu của nó là trang bị
những năng lực cần thiết cho con người tham gia vào đời sống xã hội. Giáo dục
tác động vào chính con người với tư cách là chủ thể của hoạt động xã hội nhằm
biến đổi chủ thể đó thành con người nhân cách, tăng sức mạnh thể chất và tinh
thần của con người, tăng khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội của con
người. Giáo dục, đào tạo góp phần nâng cao trình độ văn hóa, trình độ học vấn,
trình độ khoa học - kỹ thuật, xử lý công nghệ, tổ chức quản lý và năng lực hoạt
động thực tiễn của người lao động, ảnh hưởng đến thể lực, trí lực, đức dục của
con người. Như vậy, giáo dục tái sản xuất ra năng lực hoạt động của con người,
thúc đẩy xã hội phát triển. Giáo dục, đào tạo không chỉ là phương thức chủ yếu
để giữ gìn, phổ biến, giao lưu, phát triển văn hóa, khoa học, mà còn tạo ra nguồn
nhân lực cho việc tái sản xuất ra sức lao động. Chính vì vậy, ngày nay, người ta
quan niệm giáo dục không chỉ là một phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống tinh
thần, là một bộ phận của cách mạng văn hóa - tư tưởng, của kiến trúc thượng
tầng mà còn là yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng, giữ vị trí nền tảng, vai trò quyết định
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Qua nghiên cứu “Đường lối phát triển giáo dục - đào tạo Việt Nam” giúp
cho bản thân tôi nhận thức được thực trạng giáo dục, đào tạo ở Việt Nam trong
những năm qua. Từ thực trạng chung đó, bản thân tôi nhận thức sâu sắc để chủ
động đề ra các giải pháp khắc phục trên các cương vị công tác khác nhau trong
ngành giáo dục.
Giáo dục, đào tạo ở nước ta trong những năm qua đã góp phần quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để cung cấp cho các ngành, lĩnh
vực kinh tế của đất nước. Trình độ học vấn, trình độ chun mơn kỹ thuật, thể
lực của người lao động Việt Nam đã từng bước được nâng lên. Tỉ lệ lao động
9
qua đào tạo năm 2020 đạt 40% tổng số lao động đang làm việc. Giáo dục, đào
tạo đã tạo ra nguồn nhân lực có kỹ năng, nghiệp vụ trong nhiều ngành nghề của
nền kinh tế, cả những ngành, nghề mới xuất hiện ở Việt Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu kể trên thì vẫn phải thừa nhận rằng,
giáo dục, đào tạo ở Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân
lực cả trong hiện tại lẫn tương lai. Đảng ta đã nhìn nhận những yếu kém của
ngành giáo dục, đó là: “Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu
phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn cịn hạn chế; chưa
chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Chưa giải quyết tốt mối
quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và
dạy người. Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, chậm đổi
mới; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo”.
Hầu như mọi người đều khơng hài lịng về thực trạng của nền giáo dục của
nước ta, từ giáo dục mầm non, tiểu học cho đến bậc cao đẳng đại học, từ đào tạo
dạy nghề đến giáo dục phổ thông, cả giáo dục sau đại học. Trong mấy chục năm
qua, đã có bao lần chúng ta cải cách giáo dục, nhưng hình như kết quả khơng có gì
tiến triển. Hàng năm, cứ đến mùa thi cử, mùa ra trường của sinh viên hay mùa khai
giảng lại có hàng loạt bài báo ta thán, nêu nào đề thi lại sai, nào sinh viên tốt
nghiệp ra trường khó có việc làm vì trình độ và nội dung học khơng phù hợp hay
không theo kịp yêu cầu của xã hội. Trong khi đó, phụ huynh học sinh lại kêu
chương trình học quá nặng nề, việc học thêm dạy thêm bổ sung cho thời gian học
tại lớp tràn lan ở mọi cấp lớp, làm ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của học
sinh ở lứa tuổi trưởng thành.
Một số chính sách về giáo dục, đào tạo đang thực hiện đã bộc lộ những
bất cập, mang tính giải quyết tình thế, chưa đáp ứng yêu cầu hình thành chiến
lược lâu dài hướng tới tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao theo yêu cầu và bảo
đảm tính đồng đều giữa các vùng miền trên phạm vi cả nước. Trong chính sách
“Xây dựng và phát triển hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, tạo
nguồn”, thì về quy mơ các trường và giữa các vùng, miền rất không đồng đều.
Các dự án xây dựng vừa gây lãng phí, vừa bất cập lại chồng chéo với quy mô
10
huy động số học sinh theo mật độ dân cư và khả năng kinh tế. Sự phối hợp giữa
chính quyền các cấp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thiếu chặt chẽ, dẫn đến cơ cấu
ngành nghề được đào tạo cử tuyển chưa phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Nhiều nơi nảy sinh các sai sót trong việc cử tuyển, “lách
luật” để giành chỉ tiêu đào tạo như: thay đổi địa chỉ nơi cư trú, thành phần dân
tộc để được xét cử tuyển. Tình trạng một bộ phận sinh viên diện cử tuyển đã phá
bỏ cam kết để tìm kiếm việc làm ở thành phố; ngược lại, có địa phương cử học
sinh đi học khi trở về lại không nhận vào các cơ quan làm việc. Số cán bộ được
đào tạo không được sử dụng hết dẫn đến sự lãng phí rất lớn.
Chất lượng giáo dục, đào tạo nhìn chung cịn chưa đáp ứng được yêu cầu
của xã hội, do đó chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta còn thấp. Mặc dù ngành
giáo dục trong những năm đổi mới có nhiều bước phát triển, nhưng chúng ta còn
quá tập trung vào việc tăng số lượng, quy mô đào tạo mà chưa thật sự chú ý đến
chất lượng. Chương trình, nội dung và phương pháp dạy học là yếu tố quyết
định nhất đến chất lượng của nguồn nhân lực. Tuy nhiên, cả chương trình, nội
dung lẫn phương pháp dạy học vẫn cịn lạc hậu. Chúng ta quá chú trọng đến dạy
kiến thức mà không quan tâm nhiều đến việc dạy kỹ năng, tác phong, văn hóa,
đạo đức... cho người lao động. Dạy kiến thức thì chủ yếu thiên về lý thuyết; dạy
thực hành rất ít, thường chỉ trong mấy tháng cuối khóa học. Mặc dù chúng ta
cũng có nhiều nỗ lực để đổi mới phương pháp dạy học, khuyến khích sử dụng
phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm, nhưng vì nhiều lí
do mà phương pháp truyền thống vẫn chiếm ưu thế, phương pháp mới chưa tạo
ra sự chuyển biến. Tất cả những hạn chế đó của ngành giáo dục, đào tạo thể hiện
rõ nét trên sản phẩm của nó, đó chính là chất lượng của nguồn nhân lực cịn
thấp. Người lao động cịn thiếu tác phong cơng nghiệp và kỷ luật lao động, một
bộ phận chậm thích nghi với cơ chế thị trường, tính tổ chức và kỷ luật chưa tốt,
trình độ vận dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ kém...
Qua nghiên cứu “Đường lối phát triển giáo dục - đào tạo Việt Nam” giúp
cho bản thân tơi nhận thức được vai trị quan trọng giáo dục và đào tạo trong
sự phát triển của đất nước.
11
Từ lâu, song hành với quá trình phát triển, đi lên của đất nước, Đảng, Nhà
nước, Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm, xác định rõ tầm quan trọng của việc
giáo dục và đào tạo. Theo đó, với quan điểm khơng có sự đầu tư nào mang lại
nhiều lợi ích như đầu tư cho giáo dục và đào tạo, bởi đây là lĩnh vực, nền tảng
góp phần hình thành, tạo nên nhân cách chuẩn mực cho mỗi công dân, đào tạo
nên những người lao động có trình độ nghề, năng động, sáng tạo, là tiền đề cho
sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Vì tầm quan trọng này, Hiến pháp năm 1992, đã quy định trong Điều 35
nêu rõ “GD&ĐT là quốc sách hàng đầu”, đến năm 2001, Hiến pháp năm 1992
được sửa đổi, bổ sung, nhấn mạnh thêm “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng
đầu”. Ngày nay, trong xu thế tồn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng, Nhà
nước, Chính phủ Việt Nam còn xác định giáo dục và đào tạo như một lợi thế,
nhân tố, chìa khóa, động lực mới cho việc thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển.
Đánh giá về tầm quan trọng không thể thiếu này, Nghị quyết số 29NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới
căn bản, tồn diện GD&ĐT, đáp ứng u cầu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc
tế” nhấn mạnh: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả
giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc và nhu cầu học tập của nhân dân” [1, tr.80].
Nghị quyết xác định: Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện
và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình,
yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả; xây dựng nền giáo
dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương
thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện
nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội
nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩavà bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt
trình độ tiên tiến trong khu vực.
12
Qua nghiên cứu “Đường lối phát triển giáo dục - đào tạo Việt Nam” giúp
cho bản thân tôi nhận thức được vai trò quan trọng giáo dục và đào tạo trong
tạo ra nền kinh tế tri thức phát triển xã hội.
Trên quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng,
đây được xem là một chiến lược, chính sách, biện pháp quan trọng hàng đầu để
phát triển, đưa đất nước đi lên giàu mạnh. Cũng nhờ việc xác định cụ thể đó,
giáo dục và đào tạo góp phần nâng cao dân trí cho người dân, phát huy được
hiệu quả, nguồn lực con người, và chính điều này mới tạo nên những giá trị,
động lực, yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội, cốt lõi là nền
kinh tế tri thức - hạt nhân có ý nghĩa sống cịn trong xu thế tồn cầu, phát triển
hội nhập quốc tế hiện nay.
Nói cách khác, muốn làm tốt việc nâng cao hiệu quả chất lượng nguồn
nhân lực, tri thức con người, chỉ có một con đường duy nhất không chỉ ở Việt
Nam mà các quốc gia khác cùng lựa chọn, chính là thơng qua việc đầu tư, nâng
cao phát triển mạnh mẽ chất lượng cho việc giáo dục và đào tạo.
Bởi lẽ, giáo dục và đào tạo là một hoạt động tác động trực tiếp đến việc
nâng cao trí tuệ, sự hiểu biết và vận dụng những tri thức khoa học, kỹ thuật vào
sản xuất của con người. Đồng thời, đây là con đường tốt nhất để con người tiếp
cận kịp thời những thông tin mới, cập nhật, làm giàu thêm nguồn tri thức và
năng lực sáng tạo. Bên cạnh đó, cịn giúp con người phát huy nội lực - trình độ
trí tuệ dân tộc, trong đó hàm lượng trí tuệ trong lao động do giáo dục và đào tạo
mang lại là cái làm cho con người trở thành nguồn lực đặc biệt của sản xuất,
nguồn lực cơ bản, nguồn lực vô tận để phát triển kinh tế tri thức.
Cũng thông qua giáo dục và đào tạo mới tạo dựng, động viên và phát huy
có hiệu quả mọi nguồn lực trong xã hội, trước hết là nguồn lực con người cho sự
phát triển kinh tế - xã hội. Con người được giáo dục và biết tự giáo dục sẽ có
khả năng giải quyết một cách sáng tạo và có hiệu quả những vấn đề do sự phát
triển của kinh tế tri thức đặt ra. Năng lực sáng tạo của con người là vô tận,
nhưng năng lực đó chỉ được khơi dậy và phát huy thông qua giáo dục và đào tạo.
13
Do đó, việc chấn hưng giáo dục và đào tạo là bí quyết để thúc đẩy sự phát triển
của kinh tế tri thức.
Điều chúng ta dễ nhận thấy, trước đây muốn đạt năng suất lao động chủ
yếu dựa vào kinh nghiệm, giờ đây đã khác, việc đạt năng suất chủ yếu dựa vào
tri thức. Cũng nhờ có nền kinh tế tri thức, chúng ta mới nhanh chóng, dễ dàng
tạo ra sự đột phá để phát huy năng lực nội sinh “đi tắt, đón đầu” rút ngắn thời
gian, q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hóa đất nước.
Chúng ta đều biết, tri thức của con người không phải tự nhiên mà có được,
mà phần nhiều được tạo dựng thơng qua q trình học hỏi, tích lũy, nỗ lực trong
mơi trường giáo dục và đào tạo. Cũng chính trong mơi trường này, những giá trị
văn hóa, tri thức xã hội sẽ dễ trở thành tài sản của mỗi cá nhân và nhờ đó những
giá trị quý giá này sẽ lại được tiếp tục lan tỏa, rộng khắp ngoài cộng đồng, xã
hội. Bên cạnh đó, cũng thơng qua giáo dục và đào tạo, các hệ thống giá trị xã hội
mới được tạo ra, góp phần bảo vệ chế độ chính trị của mỗi quốc gia, dân tộc, tạo
ra những con người, những công dân xã hội có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ
sức đề kháng chống lại các cuộc “xâm lăng văn hóa” trong chính q trình hội
nhập quốc tế và xu thế tồn cầu.
Tóm lại, nghiên cứu chun đề “Đường lối phát triển giáo dục - đào tạo
Việt Nam” có ý nghĩa quan trọng đối với học viên. Qua chủ đề giúp học viên
nhận thức được một cách toàn diện về đường lối phát triển giáo dục Việt Nam.
2. Chuyên đề “MODULE 2: LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ”
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, yêu cầu đổi mới giáo dục địi
hỏi phải có những thay đổi căn bản trong phát triển đội ngũ cán bộ quản lý .
Điều này địi hỏi người cán bộ quản lý giáo dục nói chung, cán bộ quản lý
trường học nói riêng có những năng lực mới, đáp ứng nhiệm vụ quản lý nhà
trường. Người lãnh đạo trường học, ngoài các năng lực, phẩm chất của một
nhà giáo, cịn cần phải có tố chất của nhà lãnh đạo và nhà quản lý. Do vậy, đây
là một trong những chủ đề mà em cảm thấy tâm đắc nhất.
14
Nếu như quan điểm cũ trong quản lý giáo dục là quản lý bằng mệnh lệnh
hành chính, cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, phương thức 1 chiều, từ trên
xuống thì quan điểm mới trong quản lý giáo dục là quản lý bằng pháp luật, theo
cơ chế phân cấp, dân chủ, tự chủ và trách nhiệm giải trình với phương thức
tương tác, lấy nhà trường làm trung tâm.
Quan điểm mới về quản lý nhà trường là quan điểm hiện đại và phù hợp
với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và phát triển giáo dục trong thời đại hội
nhập, kinh tế tri thức và phát triển khoa học cơng nghệ. Với mỗi quan điểm có
mơ hình quản lý nhà trường tương ứng.
Mơ hình cũ ít chú ý đến khía cạnh lãnh đạo để thay đổi nhà trường; Chưa
xây dựng rõ tầm nhìn, sứ mạng, các giá trị và các chương trình hành động; Quản
lý nhà trường chưa chú ý đến phát triển năng lực, động lực của giáo viên, học
sinh. Chưa thực sự chú ý đến kỹ năng nhận thức và kĩ năng xã hội của người
học; Chờ đợi sự chỉ đạo từ cơ quan quản lý cấp trên; Truyền đạt một chiều, mục
tiêu kế hoạch có tính áp đặt.
Mơ hình mới tập trung nhiều hơn vào lãnh đạo thay đổi để phát triển nhà
trường. Nhà trường là nơi quyết định tầm nhìn sứ mạng, tạo giá trị, xây dựng và
thực hiện các chương trình hành động phát triển nhà trường. Học sinh là ưu tiên
hàng đầu, giáo viên là nhân tố hàng đầu. Chú ý đến rèn luyện tư duy, phương
pháp giải quyết vấn đề và giáo dục kỹ năng nhận thức và kỹ năng xã hội…
Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã đặc biệt quan tâm đến vai trò
lãnh đạo của người hiệu trưởng và tập trung vào lãnh đạo sự thay đổi trong nhà
trường. Vì vậy, yêu cầu đặt ra với người hiệu trưởng gồm: Phẩm chất chính trị,
đạo đức nghề nghiệp của người đứng đầu; yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ;
Quản trị nhà trường theo hướng tự chủ và trách nhiệm giải trình ; xây dựng mơi
trường giáo dục dân chủ và hoạt động xã hội. Tất cả các điều trên phải hướng tới
15
phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhà lãnh đạo, quản lý giáo dục, đặc biệt là Hiệu trưởng không phải chỉ là
người quản lý Nhà nước về giáo dục mà còn là một nhà sư phạm giỏi, một nhà
chuyên mơn giỏi. “Vai trị kép” của hiệu trưởng đặc biệt hơn nhà quản lý của các
ngành nghề khác, vì thế cũng phải đào tạo họ khác hơn.
Nếu ở đại học người ta có thể khơng cần một giáo sư giỏi để quản lý nhà
trường thì ở bậc phổ thơng hiệu trưởng phải là người giỏi về chuyên môn trước
khi trở thành nhà quản lý. Vì tính chất “kép” ấy, cần phải đào tạo kiến thức quản
lý Nhà nước cho các nhà giáo giỏi và chỉ để những nhà giáo giỏi tham gia các
khóa học về quản lý Nhà nước trước khi giao chức hiệu trưởng cho họ.
Giáo dục luôn được coi là lĩnh vực mà sự thay đổi diễn ra chậm hơn mọi
lĩnh vực khác trong xã hội, khoa học công nghệ, thông tin và truyền thông lại
thay đổi vô cùng nhanh chóng. Lãnh đạo nhà trường phải là người tiếp nhận
nhanh với sự thay đổi đó nhưng quan trọng hơn là tiếp nhận sự thay đổi đó như
thế nào và quyết định sự thay đổi trong nhà trường và chịu trách nhiệm với sự
thay đổi đó. Và muốn có được quyết định chính xác thì họ phải biết cách xây
dựng và phát triển nhà trường.
Từ sự phân tích trên thấy được ý nghĩa quan trọng của học “MODULE 2:
LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ” đối với mỗi học viên. Qua bài học cũng giúp cho
học viên trên các cương vị khác nhau xác định được mục tiêu cần hướng tới
trong cơng tác, đó là:
Về phẩm chất: phải có bản lĩnh chính trị, kiên định với chủ trương, đường
lối của Đảng và Nhà nước. Cán bộ quản lý giáo dục cần có tư duy sáng tạo, biết
tiếp thu cái mới, biết giữ gìn và kế thừa truyền thống giáo dục tốt đẹp của dân tộc.
Về năng lực: trong công tác quản lý, cán bộ quản lý giáo dục phải là
những người sẵn sàng đổi mới và có tầm nhìn chiến lược; có năng lực sáng tạo,
16
năng lực thích ứng và hội nhập, năng lực tiếp thu nhanh trong lĩnh vực quản lý
hiện đại, năng lực kiểm tra, đánh giá... Bên cạnh đó, cán bộ quản lý giáo dục cần
được bổ sung và trau dồi các kỹ năng phục vụ công tác quản lý như: kỹ năng
ngoại ngữ, tin học, kỹ năng quản lý dự án, phát triển chương trình, kỹ năng trình
bày và giao tiếp, kỹ năng lãnh đạo, nghiên cứu, kết nối, xây dựng mạng lưới,
khả năng cộng tác và thuyết phục.
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 77.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội Đại biểu tồn quốc lần thứ
XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật Hà Nội, 2021.
3. Nguyễn Đức Viện (2019), Về đổi mới quản lý giáo dục - một số vấn đề
về lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. V.I.Lênin, toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1976.
18