NHÂN LỰC NGÀNH DU LỊCH TRƯỚC BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÔNG MINH TẠI VIỆT NAM
ThS. Đỗ Thị Thu Huyền1
Tóm tắt: Bài viết của tác giả giới thiệu khái quát về cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 với những ưu thế
vượt trội về công nghệ tác động đến ngành du lịch với sự phát triển của mơ hình “du lịch thơng minh”. Đồng
thời, bài viết phân tích thực trạng du lịch thơng minh đang diễn ra tại Việt Nam xem xét với tất cả các chủ
thể trong ngành du lịch nước ta bao gồm khách du lịch, doanh nghiệp du lịch, điểm đến/ khu du lịch/ điểm
du lịch và cơ quan quản lý du lịch. Trước thực trạng phát triển của hệ thống du lịch và thực trạng nhân lực
du lịch Việt Nam hiện nay, dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra yêu cầu đội ngũ nhân
lực ngành du lịch phải được nâng cao về chất lượng. Điều này đặt ra trách nhiệm đối với các cơ sở đào tạo
du lịch là trước tiên. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp cho các cơ sở đào tạo nhằm nâng cao
chất lượng nhân lực du lịch để thúc đẩy phát triển du lịch thông minh của nước ta trong bối cảnh CMCN 4.0.
Từ khóa: Nhân lực, du lịch, cách mạng công nghiệp, công nghệ, cơ sở đào tạo,…
Abstract: The article by author introduces an overview of the 4.0 industrial revolution with the superior
advantages of technology affecting the tourism industry with the development of the “smart travel” model.
At the same time, the article analyzes the current status of smart tourism going on in Vietnam, considering
all actors in our country’s tourism industry including tourists, tourism businesses, destinations/ resorts/
tourist attractions and tourism management organizations. Facing the development situation of the
tourism system and the current situation of Vietnam’s tourism human resources, under the impact of the 4.0
industrial revolution, it is required that the human resources of tourism industry must be improved in quality
that raises the responsibility for tourism training facilities firstly. On that basis, the article proposes a number
of solutions for training facilities to improve the quality of tourism human resources to promote the smart
tourism development of our country in the context of the 4.0 industrial revolution.
Keywords: Human resources; tourism; industrial revolution; technology; training facilities;...
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động vào nhiều ngành, nhiều lĩnh vực ở nước ta.
Trong đó, ngành du lịch cũng nhanh chóng phát triển theo mơ hình “du lịch thông minh”. Các
doanh nghiệp kinh doanh du lịch đặt ra yêu cầu đội ngũ nhân lực phải đảm bảo kỹ năng, nghiệp vụ
và thành thạo sử dụng các phần mềm, cơng nghệ quản lý du lịch thơng minh. Vì thế, các cơ sở đào
tạo du lịch cần nhanh chóng tiếp cận và đưa các ứng dụng tiên tiến của công nghệ thơng minh, trí
tuệ nhân tạo vào trong giảng dạy và thực hành.
Email: , Khoa Khách sạn – Du lịch, Trường Đại học Thương mại.
1
594
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Trong bối cảnh đó, đã có nhiều cơng trình nghiên cứu đến các vấn đề như cách mạng công
nghiệp 4.0, du lịch thơng minh,… Trong đó, điển hình phải kể đến cơng trình Tổng luận “Cuộc
CMCN lần thứ 4” của Cục Thơng tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2017) nghiên cứu các
vấn đề cơ bản nhất về lịch sử các cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra và cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0 đang diễn ra hiện nay. “Du lịch thơng minh: tầm nhìn chính sách” của Bộ Văn hóa Thể
thao và Du lịch (2018) và “Báo cáo đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin tiếp cận cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ 4 ngành Du lịch Việt Nam” của Tổng cục Du lịch (2018), đã chỉ ra
việc ứng dụng cơng nghệ trong tồn hệ thống du lịch Việt Nam xem xét với các chủ thể như khách
du lịch, doanh nghiệp du lịch, khu du lịch/ điểm đến du lịch và cơ quan quản lý về du lịch. Tạp chí
Du lịch Việt Nam, số 6/2018 có bài của tác giả Hoàng Ngọc Hiển “Yêu cầu nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực trước cách mạng công nghiệp 4.0” đã trình bày thực trạng vấn đề nhân lực du lịch
Việt Nam hiện nay, qua đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng nhân lực du lịch trong
thời gian tới. Tác giả Dương Sao với bài “Giải pháp đột phá cho ngành du lịch” cũng chỉ ra một
trong những giải pháp mang tính đột phá nhằm phát triển du lịch hiện nay đó là phát triển nhân lực
du lịch. Còn rất nhiều các bài viết trên các tạp chí, trang web cũng đã đề cập đến các vấn đề nâng
cao chất lượng nhân lực du lịch, thực trạng nhân lực du lịch hiện nay và các vấn đề liên quan đến
đào tạo nhân lực du lịch,... Tuy nhiên, cho đến nay chưa có cơng trình nào nghiên cứu một cách
toàn diện về nâng cao chất lượng nhân lực ngành du lịch trong bối cảnh cách mạng công nghiệp
4.0 và phát triển du lịch thông minh tại Việt Nam.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả sử dụng phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp
để tập trung nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng nhân lực ngành du lịch trong bối cảnh cách
mạng công nghiệp 4.0 nhằm phát triển du lịch thông minh tại Việt Nam. Bài viết chủ yếu sử dụng
dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các nguồn sách, báo, tạp chí, các dữ liệu trực tuyến và phân tích
theo mục tiêu nghiên cứu, từ đó có những đánh giá, làm cơ sở cho các đề xuất.
2. BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 VÀ DU LỊCH THÔNG MINH
1.1. Lịch sử các cuộc cách mạng công nghiệp
Thế giới đã trải qua ba cuộc CMCN đó là các cuộc CMCN:
- CMCN lần thứ nhất (1784): Cơ khí hóa. Cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên trên thế giới
này được bắt đầu ở nước Anh vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, mở đầu với sự cơ giới hóa ngành
dệt may. Lúc bấy giờ, các nhà máy dệt đều phải đặt gần sông để lợi dụng sức nước chảy, điều đó
gây bất tiện ở nhiều mặt. Năm 1784, James Watt phụ tá thí nghiệm của một trường đại học đã phát
minh ra máy hơi nước. Nhờ phát minh này, nhà máy dệt có thể đặt bất cứ nơi nào. Phát minh này
được coi là mốc mở đầu quá trình cơ giới hố.
- CMCN lần thứ hai (1871-1914): Điện khí hóa. Cuộc cách mạng cơng nghiệp thứ hai lại
được khởi xướng từ cuối thế kỷ 19, kéo dài đến đầu thế kỷ 20. Một trong những đặc điểm đáng
lưu ý trong nền đại công nghiệp là dây chuyền sản xuất hàng loạt - áp dụng nguyên lý quản trị của
F.W.Taylor (đề xuất năm 1909, ứng dụng vào thực tiễn năm 1913 - hãng Ford đi tiên phong). Các
nhà khoa học đã có những phát minh lớn về những cơng cụ sản xuất mới: máy tính, máy tự động
và hệ thống máy tự động, người máy, hệ điều khiển tự động..
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
595
- CMCN lần thứ ba (1969): Tự động hóa. Cuộc cách mạng cơng nghiệp lần ba diễn ra vào
những năm 1970 với sự ra đời của sản xuất tự động dựa vào máy tính, thiết bị điện tử và Internet,
tạo nên một thế giới kết nối. Cách mạng Công nghiệp lần thứ ba diễn ra khi có các tiến bộ về hạ
tầng điện tử, máy tính và số hố vì nó được xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy
tính (thập niên 1960), máy tính cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990).
Cho đến cuối thế kỷ 20, q trình này cơ bản hồn thành nhờ những thành tựu khoa học công nghệ
cao. Vệ tinh, máy bay, máy tính, điện thoại, Internet… là những cơng nghệ hiện nay chúng ta thụ
hưởng là từ cuộc cách mạng này.
Thực tế chỉ ra rằng sự hội tụ các khám phá khoa học và sáng tạo công nghệ đã dẫn đến các
cuộc CMCN và các nước dẫn đầu các cuộc CMCN phát triển vượt bậc so với các nước cịn lại như
Anh, Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản.
Hình 1.1. Lịch sử các cuộc các mạng công nghệ
(Nguồn: Tổng cục Du lịch)
Năm 2013, một từ khóa mới là “Cơng nghiệp 4.0” bắt đầu nổi lên xuất phát từ một báo cáo của
chính phủ Đức đề cập đến cụm từ này nhằm nói tới chiến lược cơng nghệ cao, điện tốn hóa ngành
sản xuất mà không cần sự tham gia của con người. Đây được gọi là cuộc cách mạng số, thông qua
các cơng nghệ như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại
ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động, phân tích dữ liệu lớn (SMAC)… để chuyển
hóa tồn bộ thế giới thực thành thế giới số.
Cuộc CMCN 4.0 tạo ra mơi trường mà máy tính, tự động hố và con người sẽ làm việc cùng
nhau theo những cách thức hoàn toàn mới. Tại đây, robot và các loại máy móc sẽ được kết nối vào
những hệ thống máy tính, những hệ thống này sẽ sử dụng các thuật tốn để điều khiển mà khơng
cần sự can thiệp của con người.
CMCN 4.0 sẽ diễn ra trên ba lĩnh vực chính gồm: Cơng nghệ sinh học, Kỹ thuật số và Vật lý.
Trong đó, những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số sẽ là trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối - Internet
of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data). Trong lĩnh vực công nghệ sinh học, CMCN 4.0 tập trung
nghiên cứu để tạo ra những đột phá trong nông nghiệp, thuỷ sản, y dược, chế biến thực phẩm, bảo
vệ mơi trường, năng lượng hố tái tạo, hố học và vật liệu. Cùng với đó lĩnh vực vật lý với robot
thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới và công nghệ nano.
596
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
1.2. Du lịch thông minh
Cuộc CMCN 4.0 đang tác động vào nhiều ngành, nhiều lĩnh vực ở nước ta, trong đó có ngành
Du lịch. Thực hiện CMCN 4.0 mang lại cho ngành Du lịch rất nhiều cơ hội nhưng cũng không
khỏi vấp phải những khó khăn:
Hình 1.2. Tác động của CMCN 4.0 đến ngành Du lịch
(Nguồn: Tổng cục Du lịch)
Cơ hội: Áp dụng những đổi mới về công nghệ sẽ giúp quá trình sản xuất nhanh hơn, tốn ít
sức người và dữ liệu được thu thập đầy đủ hơn. Chất lượng sản phẩm được đảm bảo do kiểm soát
được từ khâu nguyên vật liệu cho đến khi thành hình và chuyển đến tay người tiêu dùng. Hơn nữa,
con người sẽ không phải trực tiếp làm việc ở những môi trường làm việc nguy hiểm, giảm tỷ lệ tử
vong, bệnh tật trong quá trình lao động.
Thách thức: Nhiều lao động sẽ mất việc làm do bị máy móc thay thế. Các doanh nghiệp cũng
gặp khó khăn trong việc tuyển dụng nguồn nhân lực đáp ứng được u cầu của cơng việc. Điều
này có thể dẫn tới sự bất bình đẳng, thậm chí là phá vỡ thị trường lao động. Ngồi ra, CMCN 4.0
địi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi. Muốn tồn tại và phát triển, họ phải đầu tư và nâng cấp
công nghệ, cùng lúc nâng cao chất lượng nhân sự. Những bất ổn về kinh tế sẽ dẫn đến những bất
ổn về đời sống, thậm chí là chính trị. Cơng nghệ mới sẽ gây ra sự thay đổi về quyền lực, mối lo
ngại về an ninh, làm tăng khoảng cách giàu nghèo. Bên cạnh đó, những thay đổi về cách thức giao
tiếp trên Internet cũng đặt ra thách thức về bảo mật thông tin cho cả các hệ thống và cá nhân con
người. Chúng ta phải làm gì để bảo mật khi dữ liệu có ở khắp mọi nơi và được trao đổi thường
xuyên giữa các hệ thống.
Các chuyên gia cho rằng, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang trong giai đoạn khởi phát và
sẽ tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, mở ra nhiều cơ hội phát triển cho Việt Nam vì nó
khơng chỉ nhằm vào cơng nghiệp, nó nhằm vào cơng nghệ số, đem những thành tựu vượt bậc của
công nghệ số tới mọi lĩnh vực, trong đó có du lịch. Ở đây, ngành Du lịch được hình dung có rất
nhiều khâu. Du lịch trong cách mạng công nghiệp 4.0 cũng cần được phát triển với sự hỗ trợ của
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
597
công nghệ số. Việc sử dụng cơng nghệ số có thể tạo lập thông tin và cung cấp các dịch vụ tốt nhất
cho khách du lịch, làm cho du khách thật sự hài lịng khi đến Việt Nam.Vì vậy, phát triển du lịch
tiếp cận mơ hình du lịch thơng minh là rất cần thiết.
Hình 1.3. Mơ hình tiếp cận CMCN 4.0 và du lịch thông minh
(Nguồn: Tổng cục Du lịch)
2. PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÔNG MINH VÀ THỰC TRẠNG NHÂN LỰC NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Phát triển du lịch thông minh tại Việt Nam
Sự phát triển của du lịch thông minh hiện nay trước bối cảnh CMCN 4.0 diễn ra trong toàn hệ
thống du lịch của Việt Nam, đối với tất cả các chủ thể bao gồm du khách, doanh nghiệp Du lịch,
điểm đến và cơ quan quản lý du lịch.
Đối với du khách tìm địa chỉ, tra cứu trên mạng, tìm kiếm khách sạn, tìm các chỗ đi lại và giá
cả hợp lý nhất. Tiếp theo là mua vé máy bay rồi các chỉ dẫn đường đi. Trong mỗi khâu này, cách
mạng cơng nghiệp 4.0 đều có tác dụng. Bên cạnh đó, với cạch mạng 4.0 đã phủ sóng toàn cầu, việc
sử dụng viber hay dùng các phần mềm khác như zalo… cho phép tương tác gần như tức thì, khơng
có chậm trễ ngay cả khi ở nước ngồi. Nên khi khách du lịch đi du lịch ở nước ngồi vẫn có thể
giữ được liên lạc thường xun với gia đình, người thân, giải quyết cơng việc.
Bảng 2.1. Du khách thơng minh
Tiêu chí cơng nghệ 4.0: Internet
vạn vật
- Sử dụng kết nối Internet (với máy tính
và điện thoại thơng minh)
- Tìm kiếm thơng tin dịch vụ trên mạng
Internet
- Đặt, mua dịch vụ trực tuyến
- Thanh toán trực tuyến
- Ý kiến phản hồi
Đánh giá hiện trạng ứng dụng
- Điều tra khách du lịch quốc tế đến (2017)
+ 71% có tham khảo thơng tin điểm đến trên Internet
+ 64% có đặt, mua dịch vụ trên mạng trong chuyến đi đến Việt Nam
- Khách du lịch nội địa
+ Trên 50 dân số VN có sử dụng Internet
+ Trên 30% dân số VN có tham gia ít nhất một diễn đàn trên mạng xã hội
(Nguồn: Tổng cục du lịch)
Theo điều tra của Tổng cục Du lịch, khách du lịch ứng dụng công nghệ 4.0 chủ yếu là Internet
vạn vật bằng việc sử dụng kết nối Internet (với máy tính và điện thoại thơng minh), tìm kiếm thơng
598
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
tin dịch vụ trên mạng Internet, đặt và mua dịch vụ trực tuyến, thanh toán trực tuyến, gửi ý kiến
phản hồi. Năm 2017, có 71% khách du lịch quốc tế tham khảo thông tin điểm đến trên Internet,
64% khách đặt, mua dịch vụ trên mạng trong chuyến đi đến Việt Nam, trên 50 dân số Việt Nam
có sử dụng Internet, trên 30% dân số Việt Nam có tham gia ít nhất một diễn đàn trên mạng xã hội.
Đối với các doanh nghiệp Du lịch đây cũng là một cơ hội để tuyên truyền, quảng bá những
thông tin lên mạng, lên website. Đưa những hình ảnh tốt đẹp lên nhằm quảng bá điểm đến, đồng
thời cũng nhận lại những thông tin xấu về tuyến điểm như có chỗ nào chặt chém, chèo kéo hay
đeo bám du khách để giảm thiểu và đi đến giải quyết dứt điểm. Đây là biện pháp rất tốt để có thể
tăng du khách, giảm tình trạng khách du lịch đến và không muốn quay lại nữa. Hiện nay, 100%
các doanh nghiệp du lịch đều quan tâm sử dụng Internet trong hoạt động quảng cáo và kinh doanh.
Tuy nhiên, ứng dụng CNTT trong đại đa số các doanh nghiệp Du lịch mới dừng ở mức cơ bản,
chưa khai thác được tối ưu các lợi thế của công nghệ trong cạnh tranh, thu hút khách hàng cũng
như trong quản lý, điều hành doanh nghiệp.
Bảng 2.2. Doanh nghiệp Du lịch thông minh
Tiêu chí cơng nghệ 4.0: Internet vạn vật,
trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn
Đánh giá hiện trạng ứng dụng
- Website giới thiệu, quảng bá sản phẩm.
- Gần 100% các doanh nghiệp
- Bán hàng, thanh toán online
- Trên 50% doanh nghiệp có áp dụng nhưng hiệu quả
khơng đồng đều, doanh số thu được qua mạng chưa cao
- Sàn giao dịch điện tử du lịch: giúp khách
lựa chọn dịch vụ và thanh toán online; giúp
doanh nghiệp quảng cáo và bán hang
- Khoảng 10 sàn điện tử như Tripi.vn, gotadi.vn, ivivu.
com…, chiếm khoảng 20% các giao dịch dịch vụ, còn lại
do sàn điện tử nước ngoài thực hiện.
(Nguồn: Tổng cục Du lịch)
Theo điều tra của Tổng cục Du lịch, doanh nghiệp Du lịch ứng dụng công nghệ 4.0 chủ yếu
là Internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn bằng việc gần 100% doanh nghiệp sử dụng các
website giới thiệu, quảng bá sản phẩm; Trên 50% doanh nghiệp có áp dụng bán hàng và thanh tốn
online nhưng hiệu quả khơng đồng đều, doanh số thu được qua mạng chưa cao; Khoảng 10 sàn
điện tử du lịch như Tripi.vn, gotadi.vn, ivivu.com…, chiếm khoảng 20% các giao dịch dịch vụ,
còn lại do sàn điện tử nước ngoài thực hiện giúp khách lựa chọn dịch vụ và thanh toán online, giúp
doanh nghiệp quảng cáo và bán hàng.
Đối với các điểm đến du lịch cần các phương pháp mới để phục vụ các loại nhu cầu mới. Việc
sử dụng công nghệ thông tin trong ngành được thúc đẩy bởi cả sự phát triển của quy mô và sự phức
tạp của nhu cầu du lịch cũng như sự mở rộng nhanh chóng và sự tinh tế của các sản phẩm du lịch
mới nhằm giải quyết các phân đoạn thị trường nhỏ.
Bảng 2.3. Điểm đến du lịch thông minh
Tiêu chí cơng nghệ 4.0: Internet vạn vật,
Đánh giá hiện trạng ứng dụng
trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn
- Website giới thiệu thông tin dịch vụ
- 100% các điểm đến có website, chủ yếu tiếng Việt, bằng chữ và ảnh,
ít các video có cốt truyện
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
- Quảng bá điểm đến bằng cơng cụ tìm kiếm,
mạng xã hội
- Phát triển các ứng dụng di động giới thiệu
điểm tham quan, kết nối giao thông, dịch vụ
tại điểm đến.
- Cung cấp đường truyền Internet không dây
(wifi, 5G)
599
- Chủ yếu sử dụng dịch vụ miễn phí, hiệu quả chưa cao
- Đang thí điểm: Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng…
- Thí điểm ở một số địa phương với các hãng taxi
- Hầu hết các khách sạn, điểm vui chơi, nhà hàng đều có wifi miễn phí.
- Các nhà mạng đang thí điểm dịch vụ 5G ở một số khu vực các thành
phố lớn.
- Thiết bị ứng dụng, Robot thuyết minh ngôn - Đang thí điểm: Hà Nội (Văn Miếu - 8 ngơn ngữ); Huế (Di tích Huế
ngữ và hướng dẫn
- 5 ngơn ngữ), một số bảo tàng.
- Ứng dụng công nghệ thực tế ảo
- Hạn chế
- Hệ thống camera an ninh
- Hầu hết các điểm du lịch lớn đã có camera
- Hệ thống sốt vé tự động
- Đã có nhưng chưa phổ biến
(Nguồn: Tổng cục du lịch)
Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, các điểm đến du lịch ứng dụng công nghệ 4.0 chủ yếu
là Internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn bằng việc 100% các điểm đến có website giới thiệu
thông tin dịch vụ, nhưng chủ yếu bằng tiếng Việt, nhiều chữ và ảnh, ít các video có cốt truyện.
Quảng bá điểm đến bằng cơng cụ tìm kiếm, mạng xã hội chủ yếu sử dụng dịch vụ miễn phí, hiệu
quả chưa cao. Phát triển các ứng dụng di động giới thiệu điểm tham quan, kết nối giao thông, các
dịch vụ tại điểm đến đang thí điểm chủ yếu tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, cịn mới chỉ thí
điểm một số địa phương khác các hãng taxi. Cung cấp đường truyền Internet không dây (wifi, 5G)
hầu hết các khách sạn, điểm vui chơi, nhà hàng đều có wifi miễn phí, các nhà mạng đang thí điểm
dịch vụ 5G ở một số khu vực các thành phố lớn. Thiết bị ứng dụng, Robot thuyết minh ngôn ngữ
và hướng dẫn đang thí điểm tại Hà Nội (Văn Miếu - 8 ngơn ngữ), Huế (Di tích Huế - 5 ngôn ngữ)
và một số bảo tang; ứng dụng công nghệ thực tế ảo còn hạn chế. Hầu hết các điểm du lịch lớn đã
có camera an ninh, hệ thống sốt vé tự động đã có nhưng chưa phổ biến.
Đối với cơ quan quản lý du lịch, thị trường du lịch đang thay đổi do sự phát triển của công
nghệ, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng nhanh của du lịch trực tuyến. Thực tế này buộc tất cả các thành
phần trong ngành du lịch, trong đó có các cơ quan quản lý du lịch đứng trước yêu cầu phải thực
hiện quá trình chuyển đối số càng sớm càng tốt, hướng tới hình thành một hệ thống tích hợp và
trao đổi dữ liệu du lịch thông minh của Việt Nam. Hệ thống dữ liệu thông minh này sẽ thống nhất
khối dữ liệu du lịch khổng lồ đang tản mát hiện nay, được cơ quan quản lý du lịch chỉ đạo tất cả
các thành phần trong ngành du lịch cùng xây dựng và khai thác, qua đó tạo giá trị gia tăng cho sản
phẩm và dịch vụ du lịch nhờ khả năng cá nhân hóa được xu hướng và nhu cầu của các du khách.
Bảng 2.3. Cơ quan quản lý du lịch thơng minh
Tiêu chí cơng nghệ 4.0: Internet vạn
Đánh giá hiện trạng ứng dụng
vật, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn
- Dịch vụ công trực tuyến
- 100% các cơ quan quản lý thực hiện chế độ 1 cửa và dịch vụ
công trực tuyến.
- Hành chính cơng trực tuyến
- 100% cơ quan quản lý du lịch có website giới thiệu thơng tin
hoạt động, 80% có mạng nội bộ quản lý điều hành.
- Chiến lược E-Marketing
- Đã có, nhưng thực hiện chưa hiệu quả.
600
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
- Kết nối mạng liên thơng: quản lý, điều - Đã có nhưng triển khai chưa hiệu quả.
hành, thống kê du lịch
- Xây dựng cơ sở dữ liệu ngành du lịch - Đã có nhưng chưa đầy đủ, một số lĩnh vực còn thiếu như: thị
trường, nhân lực du lịch, thanh tra…
- Thị thực điện tử
- Đã có, cần mở rộng.
- Hồn thuế điện tử
- Chưa có.
- Thanh tốn điện tử
- Đã có, nhưng chưa đồng bộ hóa giữa các ngân hàng.
- Đào tạo nhân lực trực tuyến
- Đã có, nhưng chưa được xã hội thực sự quan tâm.
(Nguồn: Tổng cục du lịch)
Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, các cơ quan quản lý du lịch ứng dụng công nghệ 4.0
chủ yếu là Internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn bằng việc 100% các cơ quan quản lý thực
hiện chế độ 1 cửa và dịch vụ công trực tuyến, 100% cơ quan quản lý du lịch có website giới thiệu
thơng tin hoạt động, 80% có mạng nội bộ quản lý điều hành; đã có chiến lược E-Marketing, kết
nối mạng liên thông (quản lý, điều hành, thống kê du lịch) nhưng thực hiện chưa hiệu quả; đã có
xây dựng cơ sở dữ liệu ngành du lịch nhưng chưa đầy đủ, một số lĩnh vực còn thiếu như thị trường,
nhân lực du lịch, thanh tra…; đã có và cần mở rộng thị thực điện tử; thanh tốn điện tử cịn chưa
đồng bộ hóa giữa các ngân hàng; đào tạo nhân lực trực tuyến chưa được xã hội thực sự quan tâm.
Để phát triển du lịch thông minh, ngành Du lịch cần chủ động đón đầu xu thế và yêu cầu của thị
trường lao động, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số vào trong hoạt động giảng
dạy và nâng cao năng lực và chất lượng của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý. Đặc biệt cần sự kết hợp
giữa Nhà trường – Nhà khoa học – Nhà doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực phục vụ CMCN 4.0.
2.2. Thực trạng chất lượng nhân lực du lịch Việt Nam hiện nay
Theo Tổng cục Du lịch, cả nước hiện có trên 1,3 triệu lao đợng du lịch, chiếm khoảng 2,5%
tổng lao động cả nước; trong đó chỉ 42% được đào tạo về du lịch, 38% được đào tạo từ các ngành
khác chuyển sang và khoảng 20% chưa qua đào tạo chính quy mà chỉ được huấn luyện tại chỗ.
Điều này dẫn đến một thực tế là số lao động có chuyên môn, kỹ năng vừa thiếu vừa yếu nhưng lại
dư thừa số lao động chưa đáp ứng được yêu cầu.
Dự báo đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng của ngành Du lịch đạt từ 25 - 35%/năm và tồn ngành
cần trên 2 triệu lao đợng trực tiếp làm việc cho các cơ sở dịch vụ du lịch; chưa kể một lượng lao
động cung cấp cho du lịch tàu biển. Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, yêu cầu mỗi năm phải đào
tạo thêm 25.000 lao động mới và phải đào tạo lại số lượng tương tự. Tuy nhiên, thực tế mỗi năm,
các trường đào tạo chuyên ngành về du lịch chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu của ngành, dẫn đến tình
trạng thiếu trầm trọng nguồn nhân lực du lịch. Bên cạnh đó, cơ cấu trình độ nguồn nhân lực du lịch
Việt Nam có sự chênh lệch rất lớn; trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng chiếm 51%, trình độ dưới
sơ cấp chiếm 40%, trình độ đại học và sau đại học chiếm 9%. Tỷ lệ 40% trình độ dưới sơ cấp là một
thách thức rất lớn đối với ngành Du lịch Việt Nam. Đội ngũ trình độ dưới sơ cấp chưa được đào tạo
bài bản, thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng nghiệp vụ đặc biệt là thiếu về ngoại ngữ giao tiếp.
Hiện nay, hàng loạt khách sạn 4, 5 sao liên tục được các doanh nghiệp lớn đầu tư đưa vào hoạt
động như VinGroup, SunGroup, FLC, Saigontourist... Cùng với đó, nhiều thương hiệu quốc tế
hàng đầu về bất động sản du lịch như Accor, JW Marriott, Hyatt, InterContinental, Four Seasons...
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
601
đã và đang rốt ráo tăng thêm thị phần tại Việt Nam. Vì thế, nguồn lao động chất lượng cao được
“săn đón” quyết liệt; đầu ra từ các trường đào tạo chuyên ngành du lịch gần như không đủ cung
cấp cho thị trường thời điểm này và cả những năm tới. Để khắc phục tình trạng thiếu hướng dẫn
viên, Tổng cục Du lịch đã chỉ đạo các địa phương tăng cường công tác đào tạo, cấp thẻ và tăng
cường số lượng hướng dẫn viên. Mặt khác, có những biện pháp linh hoạt, khơng cứng nhắc trong
công tác quản lý, đào tạo và cấp thẻ cho hướng dẫn viên. Đặc biệt, Tổng cục Du lịch cũng đã khẩn
trương triển khai ứng dụng công nghệ mới trong việc cung cấp dịch vụ, thông tin điểm đến cho du
khách... hướng tới phát triển mơ hình du lịch thơng minh. Điều này cho thấy nâng cao chất lượng
nhân lực ngành du lịch là một yêu cầu cấp bách hiện nay. Ngành Du lịch Việt Nam phải nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực hướng tới tiêu chuẩn khu vực, quốc tế và phù hợp với cuộc cách mạng
công nghiệp 4.0 đang diễn ra trên mọi lĩnh vực.
Trước thực trạng nêu trên, nếu khơng có các giải pháp kịp thời và phù hợp thì ngành Du lịch
Việt Nam sẽ khó bắt kịp được xu thế phát triển “du lịch thông minh” trên thế giới. Bên cạnh đó, thị
trường lao động Du lịch Việt Nam còn bị cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà, bởi nguồn lao động
du lịch có trình độ, năng lực và kỹ năng giỏi trong khối cộng đồng kinh tế ASEAN đã và đang tiếp
cận, làm việc tại Việt Nam.
2.3. Vấn đề đặt ra đối với các cơ sở đào tạo về du lịch
Nhu cầu về nhân lực của ngành Du lịch rất lớn, nhưng học sinh, sinh viên ra trường tìm được
việc làm khơng dễ mà nguyên nhân chính vẫn là do kiến thức được trang bị trong thời gian đào tạo
chưa đáp ứng yêu cầu cơng việc. Sở dĩ có tình trạng trên là do các cơ sở đào tạo, đặc biệt là các
trường đại học đều chú trọng đào tạo sinh viên theo diện rộng, để sinh viên sau khi ra trường dễ
thích ứng với hoàn cảnh, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi ngành Du lịch đang là ngành mang
tính cạnh tranh cao hơn so với các ngành dịch vụ khác.
Nhiều trường đại học và cao đẳng chưa trang bị được phòng thực hành, xưởng thực tập ngành
nghề, nghiệp vụ nên sinh viên phải học lý thuyết q nhiều, ít có cơ hội thực hành để vận dụng lý
thuyết đã được học.
Một số trường chưa có định hướng thực tập cuối khóa và thực tập môn học cho sinh viên một
cách cụ thể, rõ ràng và chưa xác định được thời gian cần thiết cho cơng việc này.
Chương trình ngoại ngữ chưa tập trung vào chuyên ngành, chưa được nhấn mạnh các kỹ năng
cần thiết cho sinh viên du lịch như nghe nói, giao tiếp... Do đó, phần lớn sinh viên sau khi tốt
nghiệp khơng có khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ…
Trình độ đội ngũ giảng viên cần được nâng cao hơn nữa, vẫn còn hiện tượng giảng viên chưa
đạt chuẩn về chuyên môn, ngoại ngữ theo quy định mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Chưa có sự gắn kết giữa Nhà trường – Doanh nghiệp trong quá trình đào tạo người lao động
nên vẫn còn hiện tượng đầu vào của các doanh nghiệp thì thiếu nhưng đầu ra của các trường thì
thừa. Sinh viên ra trường khơng đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng.
3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC NGÀNH DU LỊCH TRONG BỐI CẢNH CMCN 4.0
NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÔNG MINH TẠI VIỆT NAM
Thống nhất năng lực tiếng Anh cho các cơ sở đào tạo: Tiếng Anh là phương tiện quan trọng
đầu tiên giúp chúng ta tiếp cận hiệu quả hơn với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Vì vậy, các cơ
602
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
sở đạo tạo nguồn nhân lực du lịch hiện nay cần thực hiện nâng cao trình độ ngoại ngữ đầu vào và
đầu ra cho sinh viên theo học ngành Du lịch. Cần thống nhất lấy khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc
(từ sơ cấp đến đại học) dùng cho Việt Nam áp dụng cho các chương trình đào tạo tại các trường,
cơ sở đào tạo nguồn nhân lực Du lịch tại Việt Nam theo Thông tư số 01/2014/TT - BGDĐT, Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam
(KNLNNVN) với mục đích, đối tượng sử dụng và mức độ tương thích với Khung tham chiếu châu
Âu. KNLNNVN được phát triển trên cơ sở tham chiếu, ứng dụng CEFR và một số khung trình độ
tiếng Anh của các nước, kết hợp với tình hình và điều kiện thực tế dạy, học và sử dụng ngoại ngữ
ở Việt Nam. KNLNNVN được chia làm 3 cấp (Sơ cấp, Trung cấp và Cao cấp) và 6 bậc (từ Bậc 1
đến Bậc 6 và tương thích với các bậc từ A1 đến C2 trong CEFR). Cụ thể như sau:
Bảng 3.1. Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam
KNLNNVN
Sơ cấp
Trung cấp
Cao cấp
CEFR
A1
A2
B1
B2
C1
C2
Bậc 1
Bậc 2
Bậc 3
Bậc 4
Bậc 5
Bậc 6
(Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Để triển khai hiệu quả khung năng lực trên, cần có sự phối hợp, thống nhất giữa Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao Động, Thương binh và Xã hội có quy định
bắt ḅc các trường trực thuộc bộ mình quản lý thực hiện. Sự thống nhất này sẽ tạo ra sự đồng bộ,
công bằng giữa các cơ sở đào tạo trong vấn đề tuyển sinh đầu vào đảm bảo chất lượng tiếng Anh
đầu ra. Xin đưa ra đề xuất tham khảo như sau:
Bảng 3.2. Bảng tham chiếu quy đổi một số chứng chỉ Ngoại ngữ tương đương cấp độ 3/6
Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc
Tiếng Anh
Khung năng lực
ngoại ngữ VN
Cấp độ 3/6
IELTS
4.5
TOEFL
450 ITP
133 CBT
45 iBT
TOEIC
450
Cambridge
Exam
PET
BEC
BULATS
Preliminary
40
CEFR
B1
Các điểm số nêu trên là điểm tối thiểu cần đạt được.
(Nguồn: Đại học Quốc gia Hà Nội)
Đây là quy định đầu ra ngoại ngữ cho sinh viên tốt nghiệp đại học của nhiều trường đại học
hiện đang áp dụng tại Việt Nam và cần áp dụng rộng rãi hơn nữa, thống nhất giữa tất cả các cơ sở
đào tạo trong cả nước.
Xây dựng quy định về điều kiện cơ sở thực hành áp dụng cho các cơ sở đào tạo nguồn nhân
lực Du lịch tại Việt Nam: Các cơ sở đào tạo cần đồng bộ trong việc trang bị phòng thực hành cùng
PHẦN 3: MÔI TRƯỜNG VẬN HÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP
603
với các phần mền quản lý, ứng dụng công nghệ thông minh vào giảng dạy các môn chuyên ngành.
Để thực hiện giải pháp này, mỗi phân ngành cần ký liên kết với các doanh nghiệp để được phép
trang bị phần mềm tương tự đối với doanh nghệp, giúp người học nhanh chóng bắt nhịp khi học
tập thực tế, thực tập và làm việc khi ra trường.
Xây dựng quy định về chất lượng giảng viên áp dụng cho các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực du
lịch tại Việt Nam: Cần quy định các giảng viên tham gia giảng dạy tại các cơ sở đào tạo nguồn nhân
lực du lịch phải có chứng chỉ nghề Du lịch Việt Nam, đặc biệt là các giảng viên tham gia giảng dạy
các môn nghiệp vụ, hướng dẫn thực hành theo hai phân ngành Lưu trú và Lữ hành.
Áp dụng thống nhất về đề cương, bài giảng theo bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề Du lịch VTOS và
bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia cho các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực Du lịch tại Việt Nam:
Xây dựng giờ học tại trường và giờ thực hành làm việc thực tế tại các doanh nghiệp kinh doanh
Du lịch song song với nhau là yếu tố rất quan trọng giúp sinh viên nắm chắc được kiến thức và kỹ
năng làm việc thực tế được hoàn thiện. Tuy nhiên, hiện nay hầu như toàn bộ các cơ sở đào tạo du
lịch khơng quan tâm và khơng có tiêu chí để đánh giá được chất lượng sinh viên thực hiện giờ học
thực tế. Cần xây dựng ngay quy định cụ thể về việc đánh giá bằng điểm đối với giờ học thực tế của
sinh viên trong tổng thể điểm hồn thành mơn học. Tức là quá trình đào tạo tại trường và quá trình
sinh viên thực hiện giờ học thực tế cần thực hiện song song, chứ không phải như hiện nay kết thúc
quá trình học mới cho sinh viên đi thực tập ngoài doanh nghiệp.
Gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp và các tổ chức, hiệp hội du lịch trong nước, khu
vực và thế giới: Cần xây dựng cơ chế mới cho việc đào tạo theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp
kinh doanh về du lịch. Cụ thể là trong quá trình đào tạo, tới giai đoạn sinh viên học các môn chuyên
ngành, đặc biệt là các môn nghiệp vụ các trường được phép đào tạo theo yêu cầu của doanh nghiệp
trong khuôn khổ bộ tiêu chuẩn VTOS. Đánh giá giá kết quả của sinh viên sẽ được tiến hành giữa
cơ sở đào tạo và doanh nghiệp ngay khi ký kết, và tiến hành ngay việc sinh viên học tại trường
và học việc thực tế tại doanh nghiệp trong thời gian hồn tất chương trình học. Các cơ sở đào tạo
nguồn nhân lực du lịch cần tham gia vào các tổ chức, hiệp hội Du lịch trong nước và quốc tế để
nắm bắt được xu thế phát triển du lịch của khu vực và thế giới. Đây cũng là một trong những cơ
sở để xây dựng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực du lịch phù hợp với từng giai đoạn phát triển,
từng khu vực và trên thế giới.
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong
ngành Du lịch trở thành điều kiện tất yếu để tạo nên nhiều sản phẩm du lịch mới hấp dẫn, kích thích
sự tăng trưởng và phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam. Sự ra đời và phát triển của du lịch thông
minh là kết quả tất yếu. Để phù hợp với bối cảnh mới, các yếu tố tham gia vào du lịch phải thay
đổi, trong đó có nguồn nhân lực. Chất lượng nhân lực Du lịch cần được nâng cao để có thể thích
nghi điều kiện mới và ứng dụng những giải pháp công nghệ trong cung ứng phục vụ các sản phẩm
du lịch cũng như hoạt động kinh doanh nhằm đạt được những hiệu quả nhất định.
604
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Thông tư số 01/2014/TT – BGDĐT ban hành Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc
dùng cho Việt Nam, />
2.
Bộ VHTTDL (2018), Du lịch thơng minh: tầm nhìn chính sách.
3.
Cục Thơng tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2017), Tổng luận “Cuộc Cách mạng cơng nghệ lần thứ 4”.
4.
Hồng Ngọc Hiển (2018), “Yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trước cách mạng cơng nghiệp 4.0”,
Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 6, 2018.
5.
Dương Sao, Giải pháp đột phá cho ngành Du lịch, ngày 08/9/2018. Tổng cục du lịch, Báo cáo đề án tổng thể ứng dụng công nghệ
thông tin tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 ngành Du lịch Việt Nam, />index.php/items/26069, ngày 14/3/2018.