Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

Phân tích các nguyên tắc kinh doanh bất động sản theo quy định của pháp luật kinh doanh bất động sản hiện hành

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (127.96 KB, 12 trang )

MỞ ĐẦU
Bất động sản đóng vai trị quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, ngày
càng chiếm tỷ trọng lớn và có ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển của nền kinh
tế mỗi quốc gia đó. Thị trường bất động sản là một thị trường đặc biệt, hàng hố là
bất động sản có giá trị rất lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội.
Bất động sản là loại tài sản có giá trị lớn, do đó Nhà nước quản lý chúng bằng pháp
luật là cơ sở để bảm đảm an toàn cho các giao dịch bất động sản. Theo từng thời kỳ
phát triển và những biến động xung quanh thị trường bất động sản là sự thay đổi
của pháp luật để phù hợp. Do đó, trong bài tiểu luận này em xin trình bày về vấn
đề: “Phân tích các ngun tắc kinh doanh bất động sản theo quy định của pháp
luật kinh doanh bất động sản hiện hành? Anh Chị có nhận xét, đánh giá gì về
sự tn thủ các nguyên tắc đó của các nhà đầu tư kinh doanh bất động sản trên
thực tế thời gian qua? Cho những ví dụ minh chứng cho những nhận định,
đánh giá đó?”

NỘI DUNG

I.

Khái quát về kinh doanh bất động sản

1. Khái niệm
1.1. Kinh doanh bất động sản
Theo khoản 1 Điều 3 Luật kinh doanh bất động sản quy định: “kinh doanh bất
động sản” là việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, mua, nhận chuyển
nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động
sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản;
dịch vụ tư vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm mục đích sinh lợi.
1.2.

Nguyên tắc trong kinh doanh bất động sản


1


Nguyên tắc trong kinh doanh bất động sản (BĐS) là những quy định chung nhất,
thống nhất khi các chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh phải tôn trọng và tuân
theo. Nếu vi phạm các nguyên tắc này sẽ coi là vi phạm pháp luật.
2.

Căn cứ pháp lý về nguyên tắc kinh doanh bất động sản

Nguyên tắc kinh doanh BĐS được quy định tại Điều 4 Luật kinh doanh BĐS
2014, cụ thể như sau:
1.

Bình đẳng trước pháp luật; tự do thỏa thuận trên cơ sở tơn trọng quyền và
lợi ích hợp pháp của các bên thông qua hợp đồng, không trái quy định của
pháp luật.

2.

BĐS đưa vào kinh doanh phải có đủ điều kiện theo quy định của Luật này.

3.

Kinh doanh BĐS phải trung thực, công khai, minh bạch.

4.

Tổ chức, cá nhân có quyền kinh doanh BĐS tại khu vực ngồi phạm vi bảo
vệ quốc phịng, an ninh theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được cơ

quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

II.

Phân tích các ngun tắc kinh doanh bất động sản theo quy định của

1.

pháp luật kinh doanh bất động sản hiện hành
Bình đẳng trước pháp luật; tự do thỏa thuận trên cơ sở tôn trọng quyền
và lợi ích hợp pháp của các bên thơng qua hợp đồng, khơng trái quy

định của pháp luật
1.1.
Bình đẳng trước pháp luật
Quy định này của pháp luật là hoàn toàn chính đáng và cần thiết. Trong phạm vi
quy định của Điều 10 Luật kinh doanh BĐS quy định về Điều kiện của tổ chức, cá
nhân kinh doanh BĐS thì các chủ thể có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau.
Hơn ai hết chúng ta đều hiểu vai trò của sự bình đẳng trong xã hội hiện tại. Quan hệ
bình đẳng giúp các bên cạnh tranh một cách công bằng, lành mạnh, khơng có uất
2


ức, tiêu cực. Là sự tích cực trong cơng cuộc phát triển lợi ích cá nhân nói riêng
cũng như phát triển kinh tế đất nước nói chung.
1.2.

Tự do thỏa thuận trên cơ sở tơn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của
các bên thông qua hợp đồng và không trái pháp luật.


Bản chất của các giao dịch liên quan đến BĐS thực chất là sự thỏa thuận về các
nội dung của các chủ thể. Theo đó pháp luật để các chủ thể tự do ý chí để thỏa
thuận những gì mình mong muốn trong phạm vi khơng trái với các quy định của
pháp luật. Qua đó có thể thấy việc tơn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của đối tác
cũng chính là cơ cở để đối tác tin tưởng và tơn trọng chính mình, góp phần phát
triển tốt đẹp các mối quan hệ trong kinh doanh BĐS.
Nguyên tắc này sẽ đảm bảo cho việc kinh doanh BĐS trở nên thuận lợi bởi sự
bình đẳng giữa các chủ thể, thu hút các nhà kinh doanh bởi khi đó họ có sự an tồn,
khơng bị phân biệt đối xử với các nhà kinh doanh khác. Việc tự do thỏa thuận giữa
các bên sẽ là một không gian mở để các bên tự do khai thác, tìm kiếm nguồn lợi
cho mình thơng qua các cuộc đàm phán, đương nhiên, những thỏa thuậ này cần
tuân theo các quy định của pháp luật về kinh doanh BĐS. Mặt khác, họ hiểu được
nhu cầu của bản thân mình cũng như xã hội cho nên họ có quyền được phát triển
theo xu hướng cửa mình, điều này góp phần tạo nên sự đa dạng trong hoạt động
kinh doanh BĐS, giúp thôi thúc và phát triển nền kinh tế nước nhà.
2.

Bất động sản đưa vào kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện do luật
định

Theo Điều 9 Luật kinh doanh BĐS 2014 thì BĐS đưa vào kinh doanh phải đáp
ứng đủ các điều kiện được nêu. Các quy định tại Điều 9 Luật kinh doanh BĐS 2014
là các quy định cơ bản và cần thiết khi đưa các tài sản là BĐS vào kinh doanh. Đây
là các quy định tối thiểu và cần có để chứng mình chủ sở hữu của BĐSđưa vào giao
dịch, chứng mình tình trạng pháp lý của tài sản sẽ đảm bảo an toàn cho các bên
3


giao dịch, đồng thời, việc quy định quyền sử dụng đất không bị tranh chấp giúp giải
quyết các vấn để rắc rối có thể phát sinh khi cử lý (như thi hành án). Đây cũng là

một cách bảo đảm an toàn cho người giao dịch BĐS. Do vậy, các quy định do luật
định là các quy định cơ bản, bảo về các chủ thể tham gia, do đó tuân thủ các quy
định của pháp luật nhằm tránh các rủi ro, thất thốt, gian dối trong kinh doanh.
Như vậy, muốn có một mơi trường kinh doanh BĐS an tồn và phát triển thì cần
hạn chế những sai sót, mối nguy cơ đe dọa từ các khách thể, chủ thể, trong đó việc
đảm bảo đối tương kinh doanh BĐS phải đúng pháp luật là một điều hết sức cần
thiết. theo đó, khi quy định chặt chẽ về điều kiện BĐS đưa vào kinh doanh thì từ đó
sẽ hạn chế các vấn đề xảy ra như kinh doanh BĐS khơng có nguồn gốc rõ ràng,
thuộc dự án của nhà nước phục vụ cho quốc phịng an ninh…Quy định này nhằm
tạo mơi trường đầu tư an toàn cho các nhà đầu tư kinh doanh BĐS bởi đối tượng
kinh doanh BĐS là phù hợp với quy định của pháp luật, được pháp luật cơng nhận.
Ngồi ra, chúng ta có thể nhận thấy việc quy định những BĐS nào được đưa vào
kinh doanh sẽ còn tạo ra được sự phân biệt, ranh gới rõ rang giữa cái đúng pháp
luật và cái vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể tham gia, đặc biệt là
chủ thể có nhu cầu sử dụng BĐS, giảm tránh những rủi ro xảy ra, bảo vệ quyền lợi
cho họ.
3.

Kinh doanh bất động sản phải trung thực, công khai, minh bạch

Trung thực, công khai, minh bạch tức là các chủ thể khi thực hiện các giao dịch
BĐS phải có thái độ đúng đắn, thành thật về BĐS là đối tượng được giao dịch.
Luôn công khai, không che giấu, cố gắng lấp liếm, tạo thông tin giả về bấtđộng sản
để trục lợi, đánh lức đối tác, gây cho đối tác sự hiểu nhầm, nắm bắt thông tin một
cách sai lệch mà phải luôn minh bạch ưu và khuyết điểm của BĐS mà mình giao
dịch, mặt khác cũng phải trung thực đối với cơ quan nhà nước khi tiến hành làm
thủ tục hành chính, cần khai báo chính xác những số liệu có liên quan đến BĐS.
4



Như vậy, trước hết, việc trung thực, công khai, minh bạch sẽ cung cấp cho các
chủ thể các thông tin chính xác, đáng tin cậy từ đó có thể giúp các chủ thể tìm được
đối tượng mà mình mong muốn, tạo nên sự thuận tiện trong giao dịch liên quan đến
BĐS. Mặt khác, việc kinh doanh BĐS được công khai, minh bạch sẽ tạo nên một
môi trường kinh doanh BĐS lành mạnh, các chủ thể hồn tồn có thể tìm hiểu một
cách nhanh chóng, hiểu được thị trường BĐS thực chất đang biến chuyển như thế
nào để có thể đưa ra những phương án phù hợp cho những mục tiêu, chiến lược của
mình.1 Đó sẽ là một só liệu quan trọng góp phần vào việc quản lý của nhà nước về
kinh doanh BĐS, nhà nước có thẻ dựa vào đó để đưa ra những chính sách phù hợp
để giúp thị trường BĐS phát triển. Quan trọng hơn là vấn đề cơng khai, minh bạch
thì sẽ tạo ra một mơi trường an toàn, đáng tin tưởng nhằm thu hút sự đầu tư của các
nhà đầu tư kinh doanh BĐS.
4.

Tổ chức, cá nhân có quyền kinh doanh bất động sản tại khu vực ngồi
phạm vi bảo vệ quốc phịng, an ninh theo quy hoạch và kế hoạch sử
dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Khu vực bảo vệ an ninh quốc phịng là vấn đề thuộc về chính trị, chính sách của
một quốc gia. Nó có tầm ảnh hưởng rộng lớn cho quốc gia đó, nắm giữ các bí mật
kinh tế quân sự của Nhà nước, là khu vực quan trọngảnh hưởng đến sự tồn tại của
quốc gia đó, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và nên kinh tế của toàn thể dân cư
của quốc gia. Do đó các chủ thể khơng được phép kinh doanh BĐS trong khu vực
này là hợp lý.
Chúng ta thấy rằng việc quy định nguyên tắc sẽ tạo ra sự thống nhất trong một
hành động nào đó của các chủ thể khác nhau. Nó tạo ra như một khung pháp lý để
các chủ thể tham gia phải tuân theo. Từ đó kéo theo sẽ là sự đơn giản khi thực hiện

1 PGS.TS.Thái Vĩnh Thắng, Các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt nam trong điều kiện đổi mới và hội
nhập quốc tế, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội 2005.


5


các thủ tục, tạo ra sự gọn nhẹ khi thực hiện khi có hoạt động giám sát, kiểm sát
hoạt động.
Như vậy, ngun tắc này bảo đảm sự hịa bình ổn định, sự bình ổn của an ninh
quốc phịng nước nhà. Chúng ta đều biết cùng với sự đi lên mạnh mẽ của nền kinh
tế thì một đất nước vững mạnh cần có sự bảo về của chế độ an ninh quốc phịng.
Do đó, ta hiểu được tầm quan trọng vơ cùng lớn của những BĐS lên quan đến vùng
này. Chúng cần được quy định chặt chẽ và áp dụng chế tài. Quy định những BĐS
sẽ không được đưa vào kinh doanh nếu nó đã được dùng để phục vụ mục đích qn
sự là hết sức hợp lý. Vì khi đó việc bảo vệ an ninh của quốc gia sẽ không bị tác
động bởi việc đưa một BĐS nào đó vào kinh doanh. 2 Còn những BĐS khác sẽ được
tự do trong vịng hoạt động kinh doanh của mình, hơn nữa khi xác định nó thuộc
hay khơng thuộc loại BĐS phục vụ cho mục đích an ninh, quốc phịng thì sẽ an
tồn cho các chủ thể tiến hành kinh doanh, khơng bị thiệt hại xảy ra khi có sự thay
đổi xảy ra.
Bên cạnh đó, sẽ tạo ra một mơi trường rộng lớn nhưng rõ ràng để các chủ thể
tiến hành các hoạt động của mình bởi sẽ khơng bị tác động bởi chính sách của nhà
nước.
III.

Sự tuân thủ các nguyên tắc đó của các nhà đầu tư kinh doanh bất
động sản trên thực tế thời gian qua và ví dụ minh chứng

Lý thuyết là những bước đệm đầu tiên và cũng là lý luận nền tảng để dẫn đến
những hành động thực tế. Tuy nhiên, các quy định có hồn hảo trên giấy đến đâu
cũng cần tuân thủ trong thực tiễn để có được kết quả như mong muốc. Các nguyên
tắc quy định trong luật kinh doanh BĐS cũng vậy, nó cần được đảm bảo thực hiện

nghiêm chỉnh trên thực tế thì mới mang lại hiệu quả.

2 PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến, Pháp luật về kinh doanh dịch vụ bất động sản ở Việt Nam, Nxb.Tư pháp, Hà Nội,
2012, t.18

6


1.

Về mặt tích cực

Chúng ta thấy rằng các nguyên tắc này tương đối rõ rang và đơn giản các chủ
thể tham gia vào hoạt động kinh doanh BĐS có thể dễ dàng thực hiện, không quá
phức tạp và rườm rà.3 Nó là những nguyên tắc chung được quy định một cách
thống nhất cho nên sẽ giúp cho mọi người có thể tuân thủ một cách tự nguyện hơn.
Việc quy định các ngun tắc đó nó mang lại lợi ích cho đa số chủ thể thực hiện
kinh doanh BĐS thì vấn đề tự nguyện thực hiện các nguyên tắc đó là tương đối lón,
từ đó góp phần vào việc quản lí của nhà nước cũng nhanh chóng, gọn nhẹ hơn.
Các nguyên tắc được qui định là những điều phù hợp với chính sách phát triển
của nhà nước thì tất yếu nó sẽ được nhà nước đảm bảo thực hiện theo một cơ chế
nhất định, có chế tài để bảo đảm, cho nên các nguyên tắc sẽ không chỉ là những
nguyên tắc “sng”.
Ví dụ quy định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán nhà,
cơng trình (điều 21-24) thì pháp luật về kinh doanh BĐS nói rằng ngồi những
nghĩa vụ cơ bản thì các chủ thể được thực hiện quyền cũng như thi hành nghĩa vụ
theo như các bên đã thỏa thuận. Việc này là tơn trọng hồn tồn vào ý chí của các
bên khi tham gia giao dịch. Tuy nhiên pháp luật cũng quy định là các chủ thể phải
thực hiện các quyền, nghĩa vụ nhất định để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng
của chủ thể cịn lại, như: bên án nhà có quyền u cầu bên mua thanh tốn đầy đủ

tiền nhà khi hồn thành tất cả các thủ tục thì họ cũng phải có nghĩa vụ bàn giao nhà
cho bên mua hay như tại Điều 15 luật quy định: “Giá mua bán, chuyển nhượng,
cho thuê, cho thuê mua BĐS do các bên thỏa thuận và được ghi rõ trong hợp đồng.
Trường hợp Nhà nước có quy định về giá thì các bên phải thực hiện theo quy định
đó.”

3 Ngun Huy Cơng, Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh BĐS của Công ty Cổ phần VIncom, Luận văn thạc sĩ
kinh tế xây dựng

7


2.

Về mặt tiêu cực:

Do vấn đề lợi nhuận luôn luôn có sức hấp dẫn lớn đối với các nhà kinh doanh
BĐS. Trong khi đó, việc khơng trung thực theo quy định của pháp luật như khai
man về giá trị của BĐS, tâng bốc về BĐS mang lại lợi nhuận vô cùng lớn, nhất là
trong thời buổi tấc đất tấc vàng như hiện nay. Do đó, có ít hay nhiều các chủ thể
không tuân theo, thực hiện các nguyên tắc là điều khơng thể tránh khỏi, từ đó dẫn
đến việc ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các chủ thể khác. Đồng thời khi đó thị
trường BĐS sẽ bị hỗn loạn.
Pháp luật kinh doanh BĐS mặc dù có những tác động tích cực nhằm nâng cao
tính cơng khai, minh bạch của thị trường BĐS, song điều này dường như là chưa
đủ. Còn thiếu các quy định về việc xây dựng, lưu trữ, công bố hệ thống cơ sở thông
tin, dữ liệu về thị trường BĐS. Các nhà đầu tư kinh doanh BĐS gặp nhiều khó khăn
trong việc tiếp cận các quy định về trình tự thủ tục, giao đất, cho thuê đất, lập dự án
đầu tư v.v.. Hơn nữa, tính khả thi của một số quy định của pháp luật kinh doanh
BĐS còn thấp. Các nhà đầu tư kinh doanh BĐS vẫn gặp phải tình trạng nhũng

nhiễu khi thực hiện những thủ tục hành chính liên quan về đầu tư kinh doanh BĐS.4
Không phải mọi quy định về nguyên tắc của hoạt động kinh doanh BĐS đều có
chế tài đủ khắt khe để khiến các chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực này cần phải
kiêng nể. Họ có thể tìm cách lách luật để mang lại nguồn lợi nhuận cho mình. ví dụ
như ngun tắc phải trung thực, cơng khai, minh bạch…họ có thể ngơn ngữ hóa từ
ngữ để khiến BĐS của mình trở nên có giá trị hơn so với thực tế để đội giá, họ chỉ
chú ý đến lợi ích của bản thân mình cho nên làm ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ
thể khác, ảnh hưởng đến thị trường BĐS.
Từ đầu năm 2011 đến nay là thời điểm phản ánh rõ nét nhất các bất cập của thị
trường, nhiều thơng tin, tín hiệu sai lệch và thiếu lành mạnh đã tác động tiêu cực
4 Đề tài nghiên cứu khoa học “Tác động của sự minh bạch thông tin trong thị trường BĐS Việt Nam đến công tác
thẩm định giá BĐS”, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

8


đến tâm lý của nhà đầu tư khiến thị trường xuất hiện những trạng thái bùng phát
một cách thái quá về giá cũng như lượng giao dịch. Trong những thời điểm nóng,
thị trường BĐS thực sự đã hấp thụ được một lượng lớn dòng tiền từ các nhà đầu tư
cũng như từ nhân dân, nhưng thực tế hiện tượng cầu ảo vẫn diễn ra tràn lan, mua đi
bán lại chuyển từ người này sang người khác nhưng không thực sự tìm được đầu ra
cho thị trường.
Điều đáng nói nhất là thị trường Việt Nam bị xếp hạng rất kém minh bạch trong
năm 2006 đến năm 2008 vẫn còn bị đánh giá nằm trong vùng kém minh bạch so
với nền kinh tế thế giới. Nhưng ngun nhân chính dẫn đến tình trạng kém minh
bạch trong thị trường BĐS Việt Nam có rất nhiều lý do. Từ các nguồn thông tin
không rõ ràng gây ra hạn chế lớn trong việc cập nhật thông tin của các nhà đầu tư,
rất nhiều dự án đã được phê duyệt, nhiều cơng trình đã được xây dựng và hồn
thành nhưng thơng tin về những vấn đề liên quan cịn thiếu chính xác.
IV.


Biện pháp khắc phục hạn chế

Để khắc phục những hạn chế nêu trên cần thực hiện các biện pháp sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp kinh doanh BĐS đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên
quan tới công khai, minh bạch thông tin BĐS tới Nhà nước như: Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật có tính pháp lý cao về thơng tin BĐS; xây dựng hệ thống thông
tin, dự báo về thị trường bất động sản thống nhất, tin cậy; tạo lập hành lang pháp lý
chính thức cho các hoạt động dịch vụ hỗ trợ thị trường BĐS;…
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật xử lý hành vi vi phạm: cần thường xuyên rà soát hệ
thống các văn bản pháp luật về hoạt động kinh doanh BĐS nhằm loại bỏ các quy
định không cần thiết. Cùng với đó là sửa đổi, bổ sung các quy định bất hợp lý để
các tổ chức, cá nhân khơng có cơ hội thực hiện các hành vi vi phạm. Cấn sửa đổi
các quy định về chế tài xử lý vi phạm theo hướng nghiêm khắc hơn, phù hợp với

9


tính chất mức độ vi phạm của hành vi, phù hợp với điều kiện thị trường BĐS hiện
nay. Các mức phạt tiền cần nâng lên để có tính răn đe triệt để hơn;
Thứ ba, doanh nghiệp kinh doanh BĐS hoàn thiện cơ chế cổng thông tin nội bộ và
kênh thông tin qua website: Website công ty là cầu nối giữa khách hàng và doanh
nghiệp, là kênh thông tin cơ bản mà khách hàng có thể tiếp cận. Tuy nhiên hiện nay
nhìn vào thực trạng ta thấy mức độ cập nhật thơng tin và giao diện website nhiều
doanh nghiệp cịn chưa tốt. Do đó, doanh nghiệp kinh doanh BĐS cần phải tự xây
dựng và hoàn thiện chặt chẽ các quy định công bố thông tin nội bộ, ban hành rõ
ràng trách nhiệm của nhân viên cơng bố, đối tượng có quyền thay mặt công ty thực
hiện công bố và hệ thống cơng bố nhằm đáp ứng tính kịp thời khi sự kiện xảy ra;
Thứ tư, phát triển nguồn thông tin về thị trường BĐS như: Xây dựng hệ thống quản
lý hàng hóa BĐS thống nhất; xây dựng hệ thống thơng tin về hoạt động của thị

trường;…
Thứ năm, minh bạch hóa thơng tin tài chính của tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh
BĐS là minh bạch về thơng tin tài chính và quản trị của tổ chức, công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán, cơ quan quản lý, nhà thầu xây dựng, người bán và
người mua; minh bạch về hoạt động đầu tư, thông tin về sản phẩm BĐS.

KẾT LUẬN
Như vậy, qua những gì phân tích ở trên chúng ta có thể nhận thấy rằng thị
trường kinh doanh BĐS là một miếng thịt béo bở luôn thu hút các nhà đầu tư, các
nguyên tắc quy định trong luật kinh doanh BĐS 2014 đã mang lại những ý nghĩa
nhất định, góp phần vào sự ổn định của thị trường cũng như sẽ tạo nên một môi
trường kinh doanh BĐS sôi động, phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế đất
nước.

10


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật kinh doanh bất động sản năm 2014
2. Giáo trình Pháp luật về kinh doanh bất động sản, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2009
3. PGS.TS.Thái Vĩnh Thắng, Các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt
nam trong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
trường, Hà Nội 2005
4. PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến: Pháp luật về kinh doanh dịch vụ bất động sản ở
Việt Nam, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, 2012
5. Nguyên Huy Công, Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh BĐS của Công ty
Cổ phần VIncom, Luận văn thạc sĩ kinh tế xây dựng
6. Đề tài nghiên cứu khoa học “Tác động của sự minh bạch thông tin trong thị
trường BĐS Việt Nam đến công tác thẩm định giá BĐS”, Đại học kinh tế thành phố
Hồ Chí Minh

7. Một số trang web:


/>
cua-san-giao-dich-bat-dong-san-va-dua-ra-nhung-binh-luan-danh-gia-39698/


/>
bat.html


/>
dong-cua-san-giao-dich-bat-dong-san-va-nhung-quy-dinh-cua-phap-luat-ve-sangiao-9699/


/>
doanh-vao-doanh-nghiep-13284/
11


MỤC LỤC

12



×